1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHỮNG NGƯỜI KHAI mở KHUYNH HƯỚNG HIỆN THỰC TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN đại

4 198 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 24,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là các truyện: Câu chuyện gia tình, Chuyện ông Lý Chắm, Có gan làm giàu, Câu chuyện nhà sư, Chuyện cô Chiêu Nhì, Câu chuyện một tối của người tân hôn, Dư sinh lịch hiểm ký, Một nhà bá

Trang 1

NHỮNG NGƯỜI KHAI MỞ KHUYNH HƯỚNG HIỆN THỰC TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Thứ tư, 04 Tháng 4 2012 04:15 Quản trị viên

TS Nguyễn Thanh Sơn

1 Trong số các nhà văn mở đường cho truyện ngắn Việt Nam hiện đại, Nguyễn Bá Học nổi lên với 9 truyện ngắn đậm chất giáo huấn đạo lý Sinh năm 1857 trong một gia đình Nho học tại thôn Giáp Nhất, xã Nhân Chính, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (cũ), nay thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội; Nguyễn Bá Học thuộc lớp các nhà Nho cuối mùa Sau hai lần thi Hương không đỗ, Nguyễn Bá Học chuyển sang học chữ Pháp, chữ Quốc ngữ; rồi được bổ làm giáo học ở Sơn Tây, Hà Nội, Nam Định Cuộc đời giáo học của ông khá dài, mãi đến lúc 61 tuổi (1918) ông mới được về hưu

Từ đó, theo gợi ý của người con rể Nguyễn Bá Trác, chủ bút phần Hán văn trên Nam Phong tạo chí, Nguyễn Bá Học bắt đầu con đường sáng tác Thường xuyên viết cho tạp chí Nam Phong, từ năm 1918 đến khi mất (1921), bên cạnh các bài nghị luận về các vấn đề giáo dục, phong hóa, Nguyễn Bá Học để lại 9 truyện ngắn Đó là các truyện: Câu chuyện gia tình, Chuyện ông Lý Chắm, Có gan làm giàu, Câu chuyện nhà sư, Chuyện cô Chiêu Nhì, Câu chuyện một tối của người tân hôn, Dư sinh lịch hiểm ký, Một nhà bác học, À chuyện chiêm bao…

1.1 Gắn bó lâu năm với nghề giáo, ông đúng là một nhà mô phạm, chú trọng giữ gìn nền nếp gia phong đạo lý và tâm đắc với việc bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Chính điều này chi phối đậm nét sáng tác truyện ngắn của ông Nguyễn Bá Học lấy đề tài trong thực tiễn đời thường, những sự việc xảy ra trong cơn biến thiên của

xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX Ông đề cập đến số phận bi thảm của những người theo Nho học Câu chuyện gia tình, Dư sinh lịch hiểm ký, À chuyện chiêm bao phản ảnh sự bế tắc, cùng quẫn cả về tư tưởng lẫn đời sống của những người công chức, trí thức Nho học và cả Tây học Đặc biệt với những người Nho học, bóng dáng của họ trong các truyện ngắn chỉ là những nét chấm phá mờ nhạt Tuy nhiên qua đó, người đọc thấy đời sống những người Nho học hiện lên thật thê thảm Người con lớn trong Câu chuyện gia tình học hành đỗ đạt nhưng chưa làm nên sự nghiệp, trở thành người thất nghiệp giữa thời buổi mạt vận của chữ Nho Cũng cùng cảnh ngộ như thế, anh học trò cựu học Ngô Tự Tỉnh trong Dư sinh lịch hiểm ký bị gia đình từ chối, tự tìm lấy cuộc sống cho chính mình Đó là hình ảnh chung của cả một thế hệ, một lớp người “cựu học đã lỡ, tân học cũng không nên thân” còn bỡ ngỡ lạc hậu, chưa thức thời trong buổi giao thời nửa Á nửa Âu Rồi hình ảnh anh cùng nho Hàn Bán Thiên trong À, chuyện chiêm bao nghề nghiệp không có mà lúc nào cũng mơ tưởng những sự cao xa Gia đình đói nghèo, người vợ làm ruộng, buôn bán thất bại; tình cảnh tiêu điều, cuối cùng phải cầm cái áo ngòai để lấy gạo thổi cơm bữa sáng Với những nét chấm phá về người trí thức cựu học như thế, Nguyễn Bá Học giúp người đọc hiểu rõ hơn số phận những

“con người thừa” trong thời buổi chuyển giao thế hệ

Ở một khía cạnh khác, xuất phát từ góc nhìn đạo lý, Nguyễn Bá Học phản ánh cuộc sống ê chề, đau đớn của những

cô gái sa chân bị đẩy xuống vực thẳm của sự cơ cực Chuyện cô Chiêu Nhì giãi bày cảnh ngộ đau đớn của cô gái con nhà gia thế phải lặn lội trong chốn giang hồ Ngược lại ở Câu chuyện một tối của người tân hôn, ngòi bút hiện thực Nguyễn Bá Học phản ánh nỗi vất vả, bất hạnh tận cùng của công nhân thợ dệt trong những năm đầu thế kỷ XX Trong thời buổi cạnh tranh việc ít người nhiều, họ phải bán sức lao động cho chủ: “ làm công trong nhà máy, suốt ngày dùng hết sức, hai tay hai mắt cũng chỉ đủ cung một cái dạ dày” Lao động mỗi ngày mười lăm tiếng đồng hồ, lại bị quản thúc, đánh đập như tù nhân, người công nhân bị bóc lột thậm tệ đến nỗi cuối cùng xảy ra tai nạn lao động

mà không được cứu chữa Sống và dạy học lâu năm ở thành phố công nghiệp Nam Định, chứng kiến tận mắt cảnh sống lao động khổ cực của người công nhân, Nguyễn Bá Học ghi lại một cách tỉ mỉ, chân thật hiện thực cuộc sống

Có thể nói, ông là người đầu tiên đem đến cho văn học Việt Nam hiện đại một đề tài mới: cuộc sống của người công nhân Từ cô Chiêu Nhì cho đến người nữ công nhân nhà máy dệt Nam Định, xét đến cùng, tất cả họ đều là nạn nhân của xã hội thực dân nửa phong kiến Họ không có tội lỗi gì cả, chính xã hội nhố nhăng buổi giao thời đã xô đẩy họ

Trang 2

vào con đường ô nhục, lầm than, khổ cực…

Xuất phát từ lập trường đạo đức phong kiến, trong truyện ngắn Chuyện ông Lý Chắm, Nguyễn Bá Học ca ngợi tấm gương hiếu nghĩa, dũng khí của ông Lý Một mình đương đầu với thế lực phong kiến, bằng tiết tháo của mình, ông

Lý Chắm đã chiến thắng mọi trở lực, dẹp bỏ được lệ tiến chim sâm cầm đến vua – một thứ nạn gây hãi hùng, khổ nhọc xiết bao cho người dân Nghi Tàm, Thuyết lý cho chính nghĩa, ca ngợi tấm gương đạo đức sáng ngời, Nguyễn

Bá Học dường như viết theo một chủ định sắp xếp sẵn, không cần tuân theo sự phát triển logich nội tại của nhân vật

và sự kiện

Ở một số truyện ngắn khác như Dư sinh lịch hiểm ký, Có gan làm giàu, Câu chuyện gia tình…, Nguyễn Bá Học còn kêu gọi hô hào cổ vũ cho con đường thực nghiệp Đây cũng là chủ trương cấp thiết của xã hội thời bấy giờ Thông qua nhân vật bà già bán hoa, người chồng họ Lý, Ngô Tự Tỉnh… Nguyễn Bá Học thuyết minh cho chủ trương cải cách xã hội nhằm thay đổi bộ mặt kinh tế vốn trì trệ của nước nhà…

1.2 Trên phương diện nghệ thuật, truyện ngắn Nguyễn Bá Học mang đậm tính giao thời cũ - mới trong kết cấu - cốt truyện, xây dựng nhân vật và sử dụng ngôn ngữ Truyện ngắn Nguyễn Bá Học thường có kết cấu theo đường thẳng Chuyện ông Lý Chắm thuật lại trình tự một đoạn đời làm lý trưởng của ông Lý, trong đó nổi bật hành động anh hùng đập đầu kêu quan của ông nhằm mục đích xóa bỏ lệ cống chim sâm cầm cho làng Hành động nhân vật Lý Chắm phát triển dựa trên sự kiện có tính chất đột biến “gieo đầu xuống thềm đá, nằm vật xuống, máu người chan chứa lẫn máu chim” trước công đường Qua đó có thể thấy nhân vật Lý Chắm được miêu tả như là biểu tượng của sức mạnh, lòng dũng cảm, sự khéo léo và mưu trí… Bên cạnh kiểu kết cấu theo trình tự thời gian, truyện ngắn Nguyễn Bá Học còn ảnh hưởng kiểu kết cấu đối lập giữa hai tuyến nhân vật của truyền thống như cũ mới, giàu có -khốn khổ…Câu chuyện gia tình được viết theo kiểu kết cấu này Hình ảnh anh chàng học chữ Tây hư hỏng tán gia bại sản vì theo nhân tình đối lập với hình ảnh người anh cả học chữ Nho sống mô phạm, chăm lo làm ăn Kiểu kết cấu này làm nổi bật sự trái ngược, mâu thuẫn hai con người, hai cá tính giữa hai môi trường cũ - mới, mà xét đến cùng là đạo đức theo nền nếp phong kiến và đạo đức theo khuynh hướng tư sản giữa thời buổi nhố nhăng lúc bấy giờ Ở một truyện ngắn khác, Có gan làm giàu lại có sự cách tân trong kết cấu Mở đầu tác phẩm Nguyễn Bá Học

mô tả cuộc sống cần kiệm, hạnh phúc của một đôi vợ chồng nghèo Cho đến một hôm, vợ biết bí mật của chồng Người chồng thuật lại quá khứ và khát vọng vươn lên làm giàu của mình Kết cấu như thế, tác giả muốn chuyển chú

ý người đọc từ sự kiện xảy ra bên ngoài sang nội tình bên trong, nhấn mạnh ý chí mãnh liệt của nhân vật

Trong truyện ngắn Nguyễn Bá Học, phần lớn nhân vật chỉ có tên, có tuổi, có nghề nghiệp và nếu có phát ngôn thì nói một giọng như nhau không phân biệt được ngôn ngữ riêng của từng nhân vật Ở truyện ngắn đầu tiên, Câu chuyện gia tình nhân vật không có cả tên, chỉ được gọi là “bà già”, “anh cả”, “anh thứ” Không có dòng nào miêu tả ngoại hình nhân vật, giữa lời nói và tính cách mâu thuẫn nhau: bà già quê mùa nói những lời nói của một bậc túc nho văn hoa Bà già thay lời tác giả, phát ngôn cho tư tưởng tác giả Do vậy người đọc khó có thể hình dung được hình dáng và cá tính của nhân vật Truyện ông Lý Chắm, tác giả cố gắng khắc họa một vài nét ngoại hình và suy nghĩ của nhân vật Mặc dù chưa có tính cánh hoàn chỉnh nhưng với vài nét miêu tả ngoại hình, khắc họa suy nghĩ nội tâm nhân vật, ông Lý Chắm sơ lược để lại ấn tượng trong tâm trí người đọc So với truyện trước, tác giả quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng khắc họa nhân vật Về sau khi ngòi bút sáng tác của Nguyễn Bá Học già dặn dần, hình bóng nhân vật trong tác phẩm cũng dần dần đậm thêm, có nét hơn Nhà sư họ Trần trong Câu chuyện nhà sư;

cô Chiêu Nhì trong Chuyện cô Chiêu Nhì có thể xem như một bước tiến của Nguyễn Bá Học trong việc xây dựng nhân vật Chân dung về một nhà sư đau khổ trằn trọc phải sống trong hối hận, dằn vặt; một cô con gái con nhà khá giả bị sa sút, sống với mẹ được chiều chuộng, đến may vá, nấu nướng cũng không biết, cuối cùng trở nên sa ngã hư hỏng, cuộc đời bất hạnh…đã được tác giả phối hợp giữa miêu tả ngoại hình với khắc họa nội tâm qua ngôn ngữ người kể chuyện Ở những nhân vật này, quá trình đưa đến sa ngã, đau khổ được tác giả dẫn dắt bằng một hệ thống những sự việc, những hành động hợp lo gic

Trong chặng đầu của văn học Quốc ngữ, ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Bá Học là ngôn ngữ của một nhà Nho khả kính, truyền đạt tư tưởng Nho giáo, răn dạy đời; ít chú trọng đến tính cá thể hóa ngôn ngữ Ông thường sử dụng từ Hán Việt, do đó câu văn có vẻ trang nghiêm, cổ kính Và nhiều truyện, Nguyễn Bá Học xen vào những đoạn trữ tình, bình luận ngoại đề thể hiện tư tưởng đạo lý của mình Trong số 9 truyện của ông, 5 truyện Câu chuyện gia tình, Câu chuyện nhà sư, Có gan làm giàu, Một nhà bác học, Chuyện ông Lý Chắm mở đầu hoặc kết thúc bằng đoạn bình luận kiểu: “Ngán thay! Cái thị dục loài người càng lớn, thì sự đua tranh trong xã hội càng ghê gớm, đường sinh nhai càng khó khăn thì cảnh đoàn viên trong gia đình càng tiêu tóp” Hạn chế dễ nhận thấy ở một số truyện còn thể hiện ở cách chuyển đoạn ảnh hưởng tiểu thuyết chương hồi: “Nói rồi, tôi dắt bà già vào ngồi bên lò sưởi” Ở truyện ngắn Câu chuyện nhà sư, Nguyễn Bá Học sử dụng nhiều câu văn biền ngẫu, thành ngữ nhịp nhàng, cân xứng Dĩ nhiên với một cây bút tiên phong, những hạn chế về mặt ngôn ngữ là điều có thể chấp nhận Dần dần theo năm tháng, câu văn xuôi ngày càng trong sáng, giản dị hơn

Trên con đường hình thành và phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại, Nguyễn Bá Học là một trong những cây bút mở đường mẫn cán Hướng về mục đích giáo huấn đạo lý, truyện ngắn của ông đề cập đến nhiều vấn đề cấp thiết

Trang 3

của cuộc sống trong buổi giao thời cũ - mới Một số tác phẩm đã có những thành công nhất định về phương diện nghệ thuật Tuy nhiên trong quá trình vận động, tính chất giao thời đan xen cũ - mới là chuyện hiển nhiên, dần các yếu tố cũ bị loại bỏ Và Nguyễn Bá Học với tư cách là người đi tiên phong xứng đáng có vị trí trang trọng trong lịch

sử truyện ngắn Việt Nam hiện đại

2 Cùng với Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn định vị trong lịch sử văn học Việt Nam với tư cách là người khai mở cho khuynh hướng hiện thực trong truyện ngắn Sinh năm 1881 tại Hà Nội trong một gia đình tiểu thương, Phạm Duy Tốn được học hành đến nơi đến chốn Là người thông minh, học giỏi, đương thời Phạm Duy Tốn được xếp vào một trong bốn người tài giỏi nhất Bắc Kỳ “Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố” Năm 1901 sau khi tốt nghiệp trường Thông ngôn, Phạm Duy Tốn được bổ làm phiên dịch tại Tòa Thống sứ Bắc Kỳ Chỉ một thời gian ngắn, ông bỏ nhiệm sở,

đi dạy học, buôn bán, khai mỏ… cuối cùng lấy việc viết văn, làm báo làm kế sinh nhai Ông vào làng báo từ rất sớm, cộng tác với nhiều báo như: Đại Việt tân báo, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Trung Bắc tân văn, Nông cổ mín đàm…Đương thời Phạm Duy Tốn được nhiều bạn đọc yêu thích, mến mộ với những bài báo có giá trị về khảo luận văn học Đặc biệt gia tài có giá trị nhất của ông là một số truyện ngắn Câu chuyện thương tâm (1914), Sống chết mặc bây (1918), Nước đời lắm nỗi (1919), Con người sở khanh(1919), Ông mất ngày 25/02/1924 tại Hà Nội vì bệnh lao phổi trong độ sung sức của sự nghiệp sáng tác

2.1 Thành công của Phạm Duy Tốn trên lĩnh vực truyện ngắn tập trung ở phương diện đề tài, kết cấu cốt truyện, ở cách xây dựng nhân vật cho đến lời văn Phạm Duy Tốn hướng ngòi bút của mình vào việc phản ánh đời sống khổ cực của người nông dân Câu chuyện thương tâm tả cảnh ông lão nông dân già yếu đem tấm thân gầy gò, khẳng kheo làm con “ngựa người” kiếm mấy đồng tiền lẻ nuôi cháu mồ côi Miêu tả cảnh tượng thương tâm như thế, chứng tỏ Phạm Duy Tốn có cái nhìn nhân đạo sâu sắc và một sự bất bình cao độ Hơn bốn năm sau, tiếp tục cái nhìn hiện thực và nhân đạo, Phạm Duy Tốn đem đến cho văn học một truyện ngắn có giá trị: Sống chết mặc bây Tác giả nhìn thấy được những nỗi vất vả cơ cực của người nông dân; đê vỡ, đời sống của họ còn thê thảm hơn: “kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn” Ở vào hoàn cảnh xã hội Việt Nam thời bấy giờ, với tình cảm cảm thông thương xót của tác giả trước những bất công cơ cực của người nông dân, quả là một điều đáng trân trọng Con người

sở khanh lấy đề tài từ một việc trong đời sống hàng ngày: thầy Thông Ất đẹp trai dùng thủ đoạn “lấy vợ” để lừa lấy của và làm hại đời một người con gái trong trắng, ngây thơ, cả tin Nước đời lắm nỗi phản ánh cảnh suy sụp, tan nát của một gia đình, chỉ vì người chồng công chức chơi bời, đánh đập vợ con

2.2 Truyện ngắn Phạm Duy Tốn hầu hết đều dựa trên kiểu kết cấu đối lập giữa hai tuyến nhân vật của truyền thống như giàu – nghèo, thống trị - bị trị, đạo đức – phi đạo đức Câu chuyện thương tâm kết cấu trên sự đối lập giữa một bên là ông lão “gầy gò yếu đuối khẳng kheo, cố công cùng sức kéo miết cái xe tay mà không sao di nhích được” với một bên là “ một mụ vắt vẻo ngự ở trong xe… mỉa mai nặng lời xỉ vả” Cảnh đối lập tô đậm cuộc sống khổ nhọc của người dân, qua đó người đọc thấy được tấm lòng xót thương những người nghèo khổ của tác giả Tương tự như thế, kết cấu Sống chết mặc bây khá hợp lý Tác giả làm nổi bật hai cảnh tượng đối lập: cái huyên náo khẩn trương ngoài

đê với người dân lam lũ cố sức hộ đê và cái yên lặng trong đình với sự khoan thai, uy nghi lẫm liệt của quan phụ mẫu Nước đời lắm nỗi và Con người sở khanh cũng thế, đó là sự đối lập giữa bề ngoài hạnh phúc và bên trong bất hạnh của một gia đình công chức, sự đối lập giữa hình dáng bên ngoài và bản chất bên trong của thầy Thông Ất, một tên sở khanh

Trên phương diện xây dựng nhân vật, truyện ngắn Phạm Duy Tốn có những thành công nhất định Ngoại hình nhân vật được khắc họa rõ, những nét cơ bản trong tính cách nhân vật được thể hiện sinh động để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc Học tập cách viết phương Tây, Phạm Duy Tốn trong Sống chết mặc bây mô tả khá sinh động, cụ thể nhân vật quan phụ mẫu đang ung dung ngồi đánh bài, thờ ơ trước cảnh đê sắp vỡ Từ hình dáng bên ngoài đến phong thái “uy nghi chễm chệ ngồi” của quan “tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho một tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi…” cho đến những đồ vật sang trọng xung quanh: nào bát yến, khay khảm, tráp đồi mồi, ống thuốc bạc, đồng hồ vàng và cả cái giọng hách dịch, trịch thượng, giận dữ của ngài: “đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày…!” cũng được tác giả miêu tả khá chi tiết, tỉ mỉ Nhân vật trong truyện ngắn Phạm Duy Tốn thường được khắc họa qua các biến cố, các xung đột đối lập, trái ngược nhau nhằm gây ấn tượng ở người đọc: cảnh ông lão kéo xe gầy yếu đối lập với mụ to béo vắt vẻo trên xe; hình dáng ngoại hình thầy Thông Ất đối lập với hành động của y; cuộc sống vẻ ngoài êm đềm của một gia đình công chức đối lập với cảnh tan nát bên trong dẫn đến cái chết của người vợ… Ngòi bút hiện thực của Phạm Duy Tốn trình bày nhân vật như vốn có trong cuộc đời Ông lạnh lùng khắc họa những tính cách nhân vật mà ông chứng kiến dù tốt dù xấu, không làm thay làm

hộ Ông để người đọc trọn quyền đánh giá phẩm bình về nhân vật của mình Sự mở đầu đầy nỗ lực của Phạm Duy Tốn đem lại nhiều thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về nhân vật truyện ngắn đầu thế kỷ XX Các cây bút truyện ngắn cố gắng xóa nhòa ranh giới quen thuộc trong việc khắc họa tính cách, tạo ra những nhân vật mới sống động hơn, đời thường hơn và ít nhiều đi vào tâm lý nhân vật

Thành công của Phạm Duy Tốn còn được thể hiện khá rõ trong việc sử dụng ngôn ngữ Những năm 20 của thế kỷ

XX, khi ngôn ngữ văn học còn mang đậm dấu ấn truyền thống với những câu văn cân xứng nhịp nhàng, có vần có

Trang 4

điệu, lời văn trong truyện ngắn Phạm Duy Tốn khá mới mẻ, gọn gàng, thiết thực Tiếp thu cách viết của Pháp, đem ứng dụng vào cách viết văn của ta: “cái tinh thần logich chính xác của tiếng Pháp”, câu văn Phạm Duy Tốn đã gọn gàng, trật tự, các mệnh đề chính phụ rõ dần… Có thể nói trên phương diện ngôn ngữ, Phạm Duy Tốn có những thành công nhất định, câu văn của ông “linh hoạt hơn hẳn…, đem so với những nhà văn bây giờ, không kém xa mấy tí” (Vũ Ngọc Phan)

Chỉ với một số không nhiều truyện ngắn, Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tốn vượt xa hơn các nhà văn cùng thời trên nhiều phương diện: từ đề tài đến kết cấu cốt truyện, phương thức xây dựng nhân vật và lời văn Mặc dù chưa đạt đến

sự hoàn thiện như tác phẩm Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng… nhưng truyện ngắn Phạm Duy Tốn và Nguyễn Bá Học thực sự có vai trò báo hiệu đặt tiền đề nền móng cho sự phát triển truyện ngắn hiện đại về sau Lịch

sử văn học Việt Nam ghi nhận vai trò hai ông như những người khai mở con đường phát triển khuynh hướng hiện thực truyện ngắn Việt Nam hiện đại

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 04 Tháng 4 2012 04:19 )

Ngày đăng: 01/06/2018, 15:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w