1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VĂN học TRUNG QUỐC

16 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 33,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KỊCH BẢN TẠP KỊCH "TÂY SƯƠNG KÝ" TỪ TRIỀU ÐẠI MÔNG NGUYÊN 1279-1368 ÐẾN THỜI ÐƯƠNG ÐẠI Có thể xem đây là Tám thế kỷ phát triển của Văn chương Trung Quốc.Trong tám thế kỷ ấy,lịch sử Trung

Trang 1

VĂN HỌC TRUNG QUỐC

VĂN CHƯƠNG THỜI MÔNG NGUYÊN

I NHỮNG NÉT NỔI BẬC CỦA GIAI ĐOẠN VĂN CHƯƠNG THỜI MÔNG NGUYÊN

II HOÀN CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI

III TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VĂN CHƯƠNG

QUAN HÁN KHANH VỚI KỊCH BẢN TẠP KỊCH "ĐẬU NGA OAN"

I MẤY NÉT VẾ QUAN HÁN KHANH

II KỊCH BẢN TẠP KỊCH "ĐẬU NGA OAN"

VƯƠNG THỰC PHỦ VỚI KỊCH BẢN TẠP KỊCH "TÂY SƯƠNG KÝ"

I MẤY NÉT VẾ VƯƠNG THỰC PHỦ

II KỊCH BẢN TẠP KỊCH "TÂY SƯƠNG KÝ"

TỪ TRIỀU ÐẠI MÔNG NGUYÊN (1279-1368) ÐẾN THỜI ÐƯƠNG ÐẠI

Có thể xem đây là Tám thế kỷ phát triển của Văn chương Trung Quốc.Trong tám thế kỷ ấy,lịch

sử Trung Quốc đã diễn ra nhiều biến thiên trọng đại Từ chế độ phong kiến, Trung Quốc đã trải qua chế độ nửa phong kiến nửa thuợc địa Từ cách mạng dân chủ tư sản kiểu cũ đã chuyển sang cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do giai cấp công nhân lãnh đạo.Sau khi thực hiện thắng lợi hai cuộc cách mạng dân tộc và dân chủ, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội

Cũng trong tám thế kỷ ấy, văn chương Trung Quốïc không ngừng phát triển Từ hình thái văn chương cổ điển, nền văn chương Trung Quốc đã chuyển mình trên con đường hiện đại hóa để có được sự phát triển đồng đều của nhiều loại thể và thể loạüi, đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đóng góp xứng đáng cho nền văn chương nhân loại

VĂN CHƯƠNG THỜI MÔNG NGUYÊN (1279 - 1368)

Mỗi giai đoạn lịch sử đều có những đặc điểm và những yếu tố khác nhau tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển của văn chương Những đặc điểm và những yếu tố ấy có khi tác động trực tiếp, cũng có khi tác động gián tiếp Nó tạo nên những nguyên nhân chủ quan và khách quan thúc đẩy

sự phát triển của văn chương

Thời Mông Nguyên có thể tính từ 1279 (lúc Mông Cổ chiếm được toàn bộ đất đai của Trung

Trang 2

Quốc) đến 1368 (lúc xây dựng được nhà nước thống nhất của Hán tộc) Nét nổi bật nhất của giai đoạn lịch sử này là sự thống trị hà khắc và tàn bạo của xâm lược Mông Cổ đè nặng lên đời sống mọi mặt của người dân Trung Quốc Từ trong bối cảnh ngột ngạt ấy, văn chương vẫn phát triển, đặc biệt là thể loại tạp kịch Sân khấu tạp kịch đã trở thành diễn đàn để cho các văn nhân, nghệ sĩ chân chính bày tỏ tâm tư, ước vọng của quần chúng nhân dân Trung Quốc trước bạo lực cường quyền của quân xâm lược

I NHỮNG NÉT NỔI BẬT CỦA GIAI ÐOẠN VĂN CHƯƠNG THỜI MÔNG NGUYÊN

Về lịch sử xã hội:

Mông Cổ xâm lược Trung Hoa và thiết lập nên triều đại nhà Nguyên trên đất Trung Hoa, nên sử gọi là thời Mông Nguyên

Mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt, đặc biệt là mâu thuẫn dân tộc

Về văn chương:

Ở giai đoạn này, có sự phát triển phồn thịnh nhất của thể tạp kịch Tạp kịch phát triển đã tạo nên diện mạo riêng cho nền văn chương Trung Quốc ở thời Mông Nguyên

II HOÀN CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI

Trung Quốc nằm dưới ách thống trị của quân Mông Mông Cổ đã thiết lập nên triều đại nhà Nguyên Vì vậy xã hội Trung Quốc thời này có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc Nổi bật là mâu thuẫn dân tộc

Thế kỉ XIII đế quốc Mông Cổ bành trướng thế lực Mông Cổ đánh xuống phương Nam đồng thời tiến đánh vùng Trung Á, đánh Nga, Ðông Âu Mông Cổ trở thành một đế quốc án ngự giữa hai châu lục Âu-Á Khi đế quốc Mông Cổ bành trướng thế lực Trung Quốc bị chia làm hai miền: miền Bắc do nhà Kim (ngoại tộc), miền Nam do Nam Tống (Hán tôc) thống trị

1210, Mông Cổ đánh nhà Kim

1234, Mông Cổ đã chiếm được phần đất nhà Kim

Trang 3

1267, Mông Cổ cất quân đánh Nam Tống.

1279, toàn bộ đất đai của Nam Tống bị lọt vào tay Mông Cổ Mông Cổ trong thời này còn ở tình trạng lạc hậu Họ sống bằng nghề chiến tranh, cướp bóc Quân của Mông Cổ rất giỏi cưỡi ngựa, bắn cung Khi quân Mông Cổ xâm lược Trung Quốc, đi đến đâu họ tàn phá đến đó, khiến cho bao nhiêu làng mạc, bao nhiêu thành phố ở Trung Quốc lâm vào cảnh tiêu điều xơ xác

1 Kinh tế:

Nông nghiệp Trung Quốc thời Mông Nguyên không phát triển bởi triều Nguyên không trọng nông ức thương như các triều đại Hán tộc trước đó Thời này, ruộng đất của nông dân Trung Quốc hầu hết bỏ hoang vì chiến tranh, một phần còn lại bị quân Mông Cổ chiếm đoạt Người nông dân sản xuất không được là bao, lại bị thiên tai dồn dập và phả chịu thuế khóa rất nặng nề

Họ không có ruộng cày và lâm vào tình trạng đói kém, bị biến thành công nô hay nông nô Người nông dân ở phương Bắc của Trung Quốc không chịu được sự bóc lột quá nặng nề, nên họ

đã tìm xuống phương Nam, mong có một cuộc sống đỡ hơn Nhưng chạy trời không khỏi nắng- tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa, khi họ xuống phương Nam thì đời sống của nông dân phương Nam cũng khó khăn chẳng khác gì đời sống của người nông dân phương Bắc Ðời sống của nông dân

cả nước hết sức cùng quẫn bế tắc Cho nên nông nghiệp Trung Quốc dưới triều Mông Nguyên có phần tiêu điều

Thủ công nghiệp-thương nghiệp: Triều đại nhà Nguyên có sự phát triển khá cao của thủ công nghiệp và thương nghiệp Quan lại triều đình Mông Nguyên rất coi trọng thương nghiệp Giao thông đường bộ và đường biển đều được mở mang, tạo điều kiện cho việc thông thường, giao dịch, trao đổi hàng hóa Nếu như trước kia, Trung Quốc nằm trong tình trạng bế quan tỏa cảng thì đến triều Nguyên, Trung Quốc đã thông thương với Châu Âu và các nước vùng Trung Á cũng như các nước vùng Ðông Nam Á Các bến cảng cũng tấp nập thuyền bè buôn bán ra vào Việc đi lại, giao lưu giữa Trung Quốc với các nước khác đã trở nên dễ dàng Nhờ vậy việc trao đổi buôn bán đã diễn ra khá sôi nổi, nhộn nhịp mà trước đó chưa từng có Các địa khu, các đô thị trên cả nước đều trở nên sầm uất Ðại Ðô (ngày nay là Bắc Kinh) không chỉ là trung tâm chính trị của cả nước mà đã thực sự trở thành một trong những trung tâm kinh tế nổi tiếng nhất thế giới Máccô Pôlô-một nhà quan sát thị trường người Italia, sau chuyến đến quan sát thị trường Trung Quốc vào thời này, đã viết trong cuốn du kí của ông những lời ca ngợi, đề cao đối với nền công-thương nghiệp của Trung Quốc dưới triều nhà Nguyên Ông đã cho rằng: các nơi Nam Bắc Trung Quốc,

đô thị buôn bán như sao sa Ở Hàng Châu đã xuất hiện một số phường dệt có quy mô lớn Nghề

in ấn, nghề làm giấy, nghề làm thuốc súng, nghề làm kim chỉ nam (la bàn) được truyền vào Châu

Âu từ đời nhà Nguyên Kinh tế đô thị phát triển, nên tầng lớp thị dân càng đông đúc và trưởng thành Ðây là yếu tố quan trọng làm nảy sinh thị hiếu thẩm mỹ mới

Trang 4

2 Chính trị:

Sau khi lên nối ngôi (1260), Hốt Tất Liệt áp dụng kiến nghị: phải thi hành Hán pháp thì mới giữ vững được lâu dài Tuy thi hành theo Hán pháp, nhưng mâu thuẫn dân tộc vẫn ngày càng trở nên sâu sắc bởi triều Nguyên dựa vào Hán pháp để thẳng tay áp bức người Hán Nhà Nguyên đã thực hiện tứ đặng nhân chế, chia quốc dân trong nước ra thành bốn đẳng cấp, hay nói cách khác là chia quốc dân thành bốn hạng người: hạng cao quý nhất được dành cho người Mông Cổ, hạng thứ hai là người sắc mục (mắt có màu) ở vùng Tây Vực và Tây Hạ, hạng thứ ba là người Cao Li, người Khiết Ðan và người Hán ở phương Bắc, hạng cuối cùng là người Hán ở phương Nam Không những thế triều Nguyên còn chia xã hội thành mười thứ người: nhất quan, nhì lại, ba tăng

đồ, bốn đạo sĩ, năm thầy thuốc, sáu thợ thuyền, người đi săn, tám con hát, chín nho sĩ, văn nhân nghệ sĩ, mười là kẻ hành khất

Hệ thống quan lại từ trung ướng xuống các địa phương hầu hết là người Mông Cổ, có một ít là người sắc mục Rất hiếm người Hán được làm quan và nếu có cũng chỉ được làm quan nhỏ

Mặt khác, sợ nhân dân Trung Quốc chống lại, triều Nguyên đã dadựt ra những luật lệ cấm đoán rất khắt khe như cấm tàng trữ binh khí, cấm tập luyện võ nghệ, cấm đi săn, cấm nuôi ngựa, cấm họp nhau cầu đạo, tế thần, cấm họp chợ mua bán, cấm thắp đèn ban đêm

3 Văn hóa-giáo dục: Triều Nguyên không trọng Nho giáo mà sùng tín Phật giáo và Ðạo giáo

Sức mạnh thống trị về tư tưởng của Nho giáo bị giảm sút rất nhiều so với các triều đại trước đó

Thời này, chế độ thi cử bị bãi bỏ, khiến cho các nho sĩ, văn nhân nghệ sĩ mất hết đường sống Họ

đã tổ chức thành các Thư hội để biểu diễn và sáng tác tạp kịch Thư hội gồm các tài nhân là những tác gia của các kịch bản tạp kịch thời Mông Nguyên

Mông Cổ thống trị Trung Quốc cũng đã mang những yếu tố lạ của văn hóa Mông Cổ vào Trung Quốc, làm phong phúc thêm nền văn hóa Trung Quốc dưới triều Nguyên

III TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VĂN CHƯƠNG

Nét nổi bật của văn chương thời Mông Nguyên là sự phát triển rực rỡ của tạp kịch Nếu như thời Hán có sự phát triển của thể phú, thời Ðường có sự phát triển của thơ ca, thời Tống có sự phát triển rực rỡ của từ (biến thức của thơ) và thời Minh-Thanh sau này có sự phát triển rực rỡ của tiểu thuyết cổ điển thì thời Mông Nguyên có sự phát triển đạt đến mức hoàng kim của thể tạp kịch

Trang 5

Trên văn đàn Trung Quốc thời này cũng có sự phát triển của thơ nhưng thơ chủ yếu là do quan lại người Trung Quốc làm tay chân cho người Mông Cổ sáng tác Xét về số lượng thì nhiều, nhưng về chất lượng thì thơ ca Trung Quốc thời này đi vào sự sáo mòn về câu chữ, nghèo nàn về nội dung Nhiều bài thơ chủ yếu đi vào thú vui chơi hoặc ca công tụng đức đối với giai cấp thống trị và mang nặng tư tưởng nô lệ

Bên cạnh khuynh hướng văn chương ấy, còn có một khuynh hướng dựa trên văn chương dân gian để phát triển và tạo được những thành tựu, văn chương mới đáp ứng yêu cầu của thời đại Ở khuynh hướng văn chương này có sự phát triển của khúc còn gọi là Nguyên khúc Khúc bao gồm tản khúc và tạp kịch

Thời này có sự phát triển của tản khúc Ðội ngũ sáng tác tản khúc có tên tuổi gồm 187 tác gia Thực chất của tản khúc cũng là thơ Tản khúc kế thừa những làn điệu dân ca thời Kim (1115-1234) Tản khúc giống Tống từ ở chỗ dựa vào làn điệu để sáng tác và hòa âm nhạc vào để hát So với Tống từ thì tản khúc có nhiều yếu tố được cách tân, đặc biệt là về hình thức Ngôn ngữ của Tống từ thường được gọt giũa trau chuốt, còn ngôn ngữ của tản khúc thì lại rất gần gũi với ngôn ngữ của quảng đại quần chúng nhân dân, rất giản dị và mộc mạc Về số từ và số tiếng trong những câu của Tống từ đều được quy định chặt chẽ Còn số tiếng trong mỗi câu của tản khúc thì

có phần tự do, cởi mở và uyển chuyển hơn Trong một bài tản khúc có câu dài đến hàng chục tiếng nhưng có câu chỉ có hai, ba tiếng Về âm luật thì tản khúc cũng rất thoáng Nội dung vẫn chưa thoát khỏi những tình điệu xưa, có những bài tản khúc chỉ là những lời than thở, trách phận hay thể hiện tình cảm riêng tư Bên cạnh đó, cũng có những bài tản khúc đã phản ánh những nét thực tại của đời sống lúc bấy giờ Như vậy tản khúc thời Mông Nguyên có hai khuynh hướng Khuynh hướng hướng nội (nghiêng về bộc lộ tình ảm bên trong) và khuynh hướng hướng ngoại (nghiêng về phản ánh thực tại bên ngoài) So với nội dung của Tống từ thì tản khúc thiếu hẳn cái khí vị hào hùng của Tống từ với tên tuổi của Lục Du, Tô Ðông Pha, Tân Khí Tật Những tác giả tản khúc nổi tiếng thời này là Trương Dưỡng Hạo, Lưu Thời Trung, Quan Hán Khanh, Bạch Phác, Mã Trí Viễn, Trương Khả Cửu, Kiều Cát

Nhưng sự phát triển của văn chương thời này không chỉ là sự phát triển của tản khúc mà chủ yếu

là sự phát triển của tạp kịch Tạp kịch thời này phát triển mạnh mẽ chưa từng có trong suốt cả tiến trình phát triển văn chương Trung Quốc Tạp kịch là loại ca vũ kịch của Trung Quốc, còn gọi

là hí khúc Sự phát triển tạp kịch thời Mông Nguyên dựa trên cơ sở của loại hình sân khấu đã có trước đó như Ðạp dao nương, Viện bạn và Chư cung điệu thời Tống-Kim Loại hình sân khấu dân gian chư cung điệu là loại hình sân khấu sơ khai, diễn viên chỉ có một người vừa nói, vừa hát

và trình diễn bất kì chỗ nào Tạp kịch là một bước phát triển so với chư cung điệu Nó phát triển

ở chỗ loại hình sân khấu này có yếu tố gần gũi với sân khấu hiện đại , có nhiều diễn viên, các diễn viên vừa nói vừa hát, có cả múa nữa Có sân khấu được trần thiết, diễn viên được hóa trang

có nhạc nền, lời hát của diễn viên tạp kịch lấy từ tản khúc

Số lượng kịch bản tạp kịch thời này rất nhiều, có trên 700 kịch bản tạp kịch Ðội ngũ sáng tác

Trang 6

kịch bản tạp kịch thời này cũng khá đông Các tác gia tạp kịch nổi tiếng thời Nguyên gồm: Quan Hán Khanh, Bạch Phác, Mã Trí Viễn, Trịnh Quang Tổ Bốn tác gia tạp kịch này đã được gọi là Nguyên khúc tứ đại gia

Sở dĩ kịch bản tạp kịch thời này phát triển mạnh là bởi những nguyên nhân sau đây:

Thời Nguyên kinh tế đô thị phát triển chưa từng có trước đó Nên tầng lớp thị dân cũng phát triển Vì vậy, thị hiếu thẩm mỹ của tầng lớp thị dân có sự thay đổi Lúc này tầng lớp thị dân ham thích đi xem biểu diễn tạp kịch nên tạp kịch phát triển

Quan quân Mông Nguyên rất thích xem vũ kịch Ðây là một điều kiện để tạp kịch phát triển

Dưới triều Nguyên chế độ thi cử bị bãi bỏ Nên tầng lớp nho sĩ, văn nghệ sĩ mất hết đường sống,

họ đã tìm đến con đường sáng tác và biểu diễn tạp kịch, họ lập ra các thư hội và sáng tác tạp kịch

Dân tộc Trung Hoa bị áp bức nặng nề Văn chương nói chung và đặc biệt tạp kịch nói riêng của Trung Quốc thời này đã trở thành tiếng nói đòi tự do Trong một dân tộc bị tước mất tự do xã hội, văn chương là diễn đàn duy nhất mà từ đỉnh cao đó nó buộkc người ta phải nghe tiếng kêu bất bình và tiếng gào thét của ý thưc mình (Ghecxen)

Lực lượng sáng tác tạp kịch thời này khá đông, các tác gia tạp kịch có tên tuỏi là trên 200 người

Họ bị quan quân Mông Cổ đẩy xuống tận dưới đáy xã hội nên đời sống của họ rất gần gũi với các tầng lớp bị áp bức, bóc lột nặng nề trong xã hội Lực lượng này vừa sáng tác cũng vừa tham gia biểu diễn cùng với các diễn viên tạp kịch Do đời sống của họ gần gũi với các tầng lớp bị áp bức nên họ sớm nói được tiếng lòng của quần chúng lao động

Tư tưởng nhân đạo của các tác gia tạp kịch được biểu hiện trong kịch bản, hoàn toàn không có sự cách bậc với quần chúng, không có thứ chủ nghĩa nhân đạo kiểu thư phòng (chữ dùng của Ăngghen)

Tác phẩm tạp kịch thời này tập trung vào 3 đề tài lớn là tình yêu, công án và lịch sử:

Ðề tài tình yêu trong kịch bản tạp kịch chứa đựng tiếng nói đấu tranh đòi quyền tự do yêu đương (tiêu biểu nhất là Tây Sương Kí của Vương Thực Phủ)

Ðề tài công án thường xuất hiện vai trò của Bao Công, đề cao công lí, ca ngợi chính nghĩa (tiêu

Trang 7

biểu là vở Ðậu Nga oan, Hồ điệp mộng của Quan Hán Khanh).

Ðề tài lịch sử gợi lại những sự kiện lịch sử, kích thích tinh thần đấu tranh của quần chúng (tiêu biểu là kịch bản Ðơn đao hội của Quan Hán Khanh)

Trong kịch bản của tạp kịch, tiếng nói đấu tranh đòi quyền sống, đòi tự do được thể hiện rất sâu kín Tuy vậy, tư tưởng chủ đề ở nhiều kịch bản tạp kịch lại được thể hiện khá rõ Hầu hết các kịch bản tạp kịch đều tập trung ca ngợi chính nghĩa, phản đối phi nghĩa, lên án bất công, cường bạo

Về hình thức nghệ thuật, nhiều kịch bản tạp kịch đã đạt được những thành tựu đáng kể Ngôn ngữ trong kịch bản tạp kịch gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân Lời trong kịch bản tạp kịch được lấy từ trong tản khúc

Nhiều tác gia tạp kịch đã kết hợp yếu tố hiện thực với yếu tố lãng mạn khi tạo dựng chi tiết và xây dựng nhân vật Một số tác gia khi xây dựng nhân vật trong kịch bản tạp kịch đã khắc họa được chiều sâu nội tâm của nhân vật Kết cấu của kịch bản tạp kịch là kết cấu theo trình tự thời gian Kết thúc một kịch bản tạp kịch thường là kết thúc có hậu- chính nghĩa thắng gian tà

Nội dung cũng như hình thức nghệ thuật kịch bản tạp kịch rất giàu tính nhân dân

QUAN HÁN KHANH (1220?-1300?) VỚI KỊCH BẢN TẠP KỊCH ÐẬU NGA OAN

I MẤY NÉT VỀ QUAN HÁN KHANH

Quan Hán Khanh còn có hiệu là Dĩ Trai (Nhất Trai) là kịch tác gia lớn nhất của thời Mông Nguyên Ông là người đặt nền tảng cho tạp kịch thời Nguyên và thực sự đã đem lại niềm vinh quang cho tạp kịch Trung Quốc cũng như văn chương Trung Quốc thời này Trịnh Chấn Ðạc- một nhà văn hiện đại Trung Quốc- khi nói về Quan Hán Khanh đã cho rằng: Có thể nói: thời hoàng kim của tạp kịch Nguyên, nếu không có Quan Hán Khanh, cũng khó mà có được cái vẻ xán lạn như ta đã thấy trên lịch sử văn chương Trung Quốc Ông người ở Ðại Ðô (Bắc Kinh) Ông sinh vào khoảng 1220 và mất vào khoảng 1300 Ông sáng tác nhiều kịch bản tạp kịch Số kịch bản tạp kịch Quan Hán Khanh viết có 66 tác phẩm, hiện nay còn lại 18 tác phẩm Trong số còn lại có những vở tạp kịch nổi tiếng: Ðậu Nga oan, Vọng giang đình, Bái nguyệt đình, Ðơn đao hội, Hồ điệp mộng Thời nhà Kim, ông đã từng làm y quan trong thái y viện Sau khi nhà

Trang 8

Kim đổ (1234) ông rời bỏ Ðại Ðô và đi xuống Hàng Châu ở phương Nam Lúc này ông đã già Ông vừa sáng tác vừa biểu diễn tạp kịch như là các diễn viên Ði đây đi đó nhiều, nên ông có vốn sống phong phú để viết tạp kịch Ông không chỉ là tác gia tạp kịch số một mà ông còn sáng tác nhiều tản khúc nữa

Mặc dù Quan Hán Khanh là một tác gia tạp kịch lớn nhưng tên tuổi và văn nghiệp của ông vào thời ấy chưa được đánh giá cao Các nhà nghiên cứu văn chương của Trung Quốc đã dựa vào Lục quỷ ba của Thiên Nhất Các và nội dung của tác phẩm mà ông đã để lại để tìm hiểu về ông Trong bài tản khúc Bất phục lão, Quan Hán Khanh đã bộc lộ tình cảm cũng như bản lĩnh và tính cách của ông Ðây là bài tản khúc mang tính tự thuật Quan Hán Khanh đã xem mình là người ở chốn ca lâu tửu quán nhưng không hề ham thích tửu sắc tục tằn Ông bày tỏ niềm vui sướng của ông là ngắm trăng, làm thơ, ca hát, hướng vào cái đẹp, những cảm xúc thẩm mỹ tinh tế và khoáng đạt Ông nguyện đem sức mình và tài năng của mình để phục vụ cho các diễn viên Ông

đã tự ví mình như một chú gà rừng lão luyện, tinh thông, luôn phát hiện ra dấu chân của người đi săn và không bao giờ bị sa vào cạm bẫy Có lúc ông tự ví mình như là hạt đậu đúc bằng đồng không sợ nghiền, nấu, hầm, xào Bằng những hình tượng này, Quan Hán Khanh đã thể hiện một bản lĩnh kiên cường, rắn rỏi, không chấp nhận mọi sự luồn cúi, xu nịnh Trong nhiều vở tạp kịch, Quan Hán Khanh đã làm bật nổi hình tượng nhân vật phụ nữ mang vẻ đẹp của người phụ nữ Trung Quốc

*Ở kịch bản Hồ điệp mộng, nhân vật chính là bà Vương - mẹ của Vương Ðại, Vương Nhi và Vương Tam Vương Ðại, Vương Nhi là con riêng của ông Vương, còn Vương Tam mới là con ruột của bà Ông Vương vô cớ bị Cát Bưu giết chết làm cho ba con tức giận lập mưu giết chết Cát Bưu Ba con phải ra tòa và bị Bao Công xử án bắt buộc một trong ba người phải có một người chịu án tử hình Vương Ðại, Vương Nhi và Vương Tam đều tự nhận cái chết về mình Trước tình hình đó, Bao Công đã giao cho bà Vương quyết định Cuối cùng bà Vương quyết định

là Vương Tam phải chết thay cho hai anh Bao Công xúc động trước tấm lòng của bà Vương nên

đã hòan tòan tha bổng Vương Tam

* Ở kịch bản Vọng giang đình; nhân vật chính là Ðàm Kí Nhi-một phụ nữ có nhan sắc, can đảm

và nhiều mưu trí.Tên quan hung bạo Dương Nha Nội không chiếm được nàng Ðàm Kí Nhi, bèn lập kế hãm hại người chồng mới cưới của nàng Tính mạng của chồng và hạnh phúc của nàng bị

đe dọa nghiêm trọng Ðàm Kí Nhi cải trang làm người bán cá tìm cách đánh tráo được ngay bên mình của Dương Nha Nội tấm thẻ vàng và thanh gươm mà vua ban cho nó để làm tội chồng nàng Nhờ đó, nàng cứu được chồng và kẻ gian bị vạch mặt

II KỊCH BẢN TẠP KỊCH ÐẬU NGA OAN, (còn có tên là TUYẾT GIỮA NGÀY HÈ hay CẢM THIÊN ÐỘNG ÐỊA ÐẬU NGA OAN)

1 Nguồn gốc cốt kịch: Quan Hán Khanh dựa vào tích truyện đã có trong cuốn Liệt nữ truyện

của Lưu Hướng đời Tây Hán thế kỉ I trước Công Nguyên

Trang 9

2 Cốt kịch: ở Sở Châu có người đàn bà tên là Ðoan Vân Ðoan Vân mồ côi mẹ từ nhỏ, sống với

bố là Ðậu Thiên Chương Ðậu Thiên Chương-một ông đồ nghèo phải vay bạc của bà Thái Ðến lúc đi thi, Ðậu Thiên Chương vẫn chưa có bạc trả, nên gán con gái của mình cho bà Thái Sau đó, Ðoan Vân tới ở nhà bà Thái Lớn lên, nàng chính thức làm dâu bà Thái Nàng lấy chồng được hai năm thì chồng chết Nàng ở vậy thờ chồng và nuôi mẹ chồng Bà Thái sống bằng nghề cho vay

nợ lãi Thầy lang Trại Lô vay bạc của bà, nhưng ông ta không có tiền để trả Nên khi bà Thái tới đòi, thầy lang đã dụ bà ra đồng vắng rồi treo cổ bà lên Nhân lúc ấy, cha con Trương Lư đi qua, nên bà được cứu thoát Cảm động trước công ơn của bố con Trương Lư, bà Thái đã kể rõ sự tình Nghe bà Thái kể, Trương Lư đã nói với bố hắn rằng: hắn thì lấy con dâu bà Thái còn bố hắn thì lấy bà Thái làm vợ Lúc đầu bà Thái không chấp nhận Nhưng sau đó, trước sự dọa dẫm của Trương Lư, bà Thái đã phải ưng thuận Khi về tới nhà, bà Thái đã khuyên Ðậu Nga lấy Trương

Lư Nhưng Ðậu Nga một mực cự tuyệt Trương Lư tìm mọi cách để ép buộc Ðậu Nga lấy

hắn.Trước sự cứng rắn và kiên định của Ðậu Nga, Trương Lư đã lập mưu đánh thuốc độc để giết

bà Thái nhằm đẩy Ðậu Nga vào thế cô độc cho dễ bề ép buộc và mặt khác để chiếm toàn bộ gia sản của bà Thái Mưu thâm của Trương Lư không thành Bố của hắn đã trúng thuốc độc mà chết Trương Lư đã dùng cái chết của bố hắn để làm áp lực đối với Ðậu Nga Ðậu Nga vẫn một mực từ chối Sau đó, Ðậu Nga và Trương Lư phải lên hầu kiện Viên quan huyện Ðào Ngột đã lôi Ðậu Nga ra đánh, khiến nàng chết đi sống lại nhiều lần, song nàng vẫn không nhận cái điều mà nàng không hề làm là đánh thuốc độc bố Trương Lư Bất lực trước sự kiên định của Ðậu Nga, quan huyện Ðào Ngột đã cho bắt bà Thái tới và đánh đập bà Khi chứng klến cảnh mẹ chồng bị đánh đập, hành hạ, Ðậu Nga không thể chịu được Nàng nghĩ thà mình bị hãm hại, chứ không thể chấp nhận để cho người mẹ chồng bị hành hạ Vì thế, nàng đã nhận cái điều mà nàng không làm Như vậy là nàng đã nhận bản án tử hình về mình để cho người mẹ chồng được thoát khỏi sự đau đớn Trước khi ra pháp trường, nàng đã xin bọn lính giải nàng đi theo một nẻo đường khác mà không qua cửa nhà nàng bởi nàng sợ nếu mẹ chồng nàng trông thấy cảnh ấy thì bà sẽ rất đau khổ Ðậu Nga đã giành trọn tình cảm của mình cho người mẹ chồng, trước khi nàng bị chết Khi tới pháp trường, nàng đã xin giám trảm quan trải lên vạt đất chỗ nàng đứng một chiếc chiếu sạch và nàng

đã đưa ra ba điều ước nguyện:

Một là: Nếu nàng chết oan, máu của nàng sẽ không chảy xuống đất mà bắn lên nhuộm đỏ giải lụa trắng treo trên cái cột cờ cạnh đấy

Hai là: Nếu nàng chết oan thì tuyết sẽ rơi xuống phủ kín thi thể nàng (mặc dù đang giữa tiết tháng sáu)

Ba là: Nếu nàng chết oan thì vùng Sở Châu phải chịu hạn hán ba năm liền

Nàng đã được như nguyện Vì Sở Châu bị hạn hán ba năm liền, nên triều đình biết có vụ án xử oan Triều đình đã phái Ðậu Thiên Chương về Sở Châu để truy xét lại các vụ án Lúc này Ðậu

Trang 10

Thiên Chương đã làm quan đề hình Một hôm đang xem lại các hồ sơ của những vụ án đã xử, Ðậu Thiên Chương xem tới hồ sơ của Ðậu Nga, ông ta đã ngủ thiếp đi Trong giấc ngủ thiêm thiếp của Ðậu Thiên Chương, hồn ma của Ðậu Nga đã hiện về kêu khóc Cuối cùng, nỗi oan của Ðậu Nga đã được giải tỏa Vở kịch kết thúc có hậu

3 Giá trị nội dung và nghệ thuật của kịch bản Ðậu Nga oan:

_ Ðề tài công án

_ Chủ đề: quyền sống của người phụ nữ Trung Quốc bị vùi dập, chà đạp dưới chế độ Mông Nguyên

_ Tư tưởng chủ đề: tác giả ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Trung Quốc đồng thời tố cáo sự tàn bạo của chế độ xã hội thời Mông Nguyên

Ðậu Nga oan: là bản cáo trạng đanh thép đối với bản chất tham lam tàn bạo của chế độ xã hội thời Mông Nguyên Trong kịch bản tạp kịch này có bóng dáng của triều đình-cơ quan trung ương tập trung quyền lực cao nhất của chế độ xã hội Mông Nguyên Vụ án Ðậu Nga là vụ án lớn đến mức cảm thiên động địa nhưng triều đình hoàn toàn không hay biết gì Mãi đến khi Ðậu Nga bị

xử oan, vùng Sở Châu bị hạn hán ba năm liền thì triều đình mới nghi ở vùng Sở Châu có vụ án

xử oan Ðiều này chứng tỏ triều đình rất quan liêu Do vậy, quan lại ở các địa phương tha hồ tung hoành, sát phạt, làm mưa làm gió

Nhân vật Ðào Ngột trong kịch bản tạp kịch tiêu biểu cho bọn quan lại địa phương Ðào Ngột làm quan huyện vùng Sở Châu Ngay từ phút đầu tiên xuất hiện trong kịch bản và trên sân khấu, nhân vật này đã tự bộc lộ bản chất của hắn Ðào Ngột đã nói: Ta làm quan hơn người khác, đến kiện cáo phải mang vàng bạc đến ta mới xử cho, không thì ta cáo bệnh không ra công đường Ðào Ngột là quan huyện trực tiếp xử nhiều vụ án Công việc xử án đòi hỏi người xét xử phải có đầy

đủ ba yếu tố: một là phải có lương tâm, hai là phải dựa vào công lí, ba là phải dựa vào pháp luật Ngôn ngữ của nhân vật Ðào Ngột chứng tỏ Ðào Ngột hoàn toàn không có được ba điều kiện cần

và đủ của người đứng ra xét xử một vụ án Ðộng lực xử án của nhân vật Ðào Ngột không còn là lương tâm, là công lí, pháp luật mà đối với hắn chỉ là bạc vàng Ngôn ngữ tự giới thiệu của Ðào Ngột cũng đã phản ánh một phần bản chất tham lam và bạo ngược của giai cấp thống trị thời ấy

Ðó là một thời đại, nén bạc đâm toạc tờ giấy, vàng bạc đã chà đạp lên tất cả, làm khuynh đảo mọi giá trị Khi Trương Lư và Ðậu Nga vào hầu kiện, Ðào Ngột đã quỳ xuống lạy hai người trong sự ngạc nhiên của hai tên lính hầu: Bẩm quan lớn, bọn chúng nó là những kẻ đến hầu kiện sao quan lớn lại quỳ lạy chúng nó Không một chút ngần ngại, Ðào Ngột đã trả lời ngay: Mày không biết những kẻ đến kiện cáo là những kẻ đem cơm áo lại cho ta Ðộng lực xử kiện của Ðào Ngột là vàng bạc, vật chất Nhân vật này hoàn toàn không đếm xỉa đến công lí, đến nhân phẩm Nhân vật Ðào Ngột có ý nghĩa khái quát cao bởi mang được bản chất chung của giai cấp thống trị thời này

Ngày đăng: 01/06/2018, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w