Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIV đề ra phương hướng nhiệm vụ tổng quát phát triển đến năm 2000: “Phát huy thành tựu đạt được, tranh thủ thời cơ thuận lợi, khắc phục khó khăn,
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐINH QUANG HẢI
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 28 tháng 03 năm 2018
Tác giả luận văn
Mai Thu Hằng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn 5
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÀ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN NGA SƠNTRƯỚC NĂM 1995 8
1.1 Vài nét về mảnh đất, con người huyện Nga Sơn 8
1.1.1 Đặc điểm về địa lý, dân cư 8
1.1.2 Đặc điểm về văn hóa truyền thống 10
1.1.3 Đặc điểm về kinh tế huyện Nga Sơn trong lịch sử 11
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Nga Sơn từ năm 1986 đến trước năm 1995 13
1.2.1 Những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 1995) 13 1.2.2 Khái quát về kinh tế huyện Nga Sơn từ 1986 đến năm 1995 16
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2 CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ HUYỆN NGA SƠNTỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2015 23
Trang 52.1 Chủ trương về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Đảng bộ huyện Nga
Sơn từ năm 1995 đến năm 2015 23
2.2 Thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện Nga Sơn từ năm 1995 đến năm 2015 28
2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện từ năm 1995 đến năm 2005 28
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện từ năm 2006 đến năm 2015 42
Tiểu kết chương 2 56
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA HUYỆN NGA SƠN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2015 58
3.1 Nhận xét 58
3.1.1 Đánh giá kết quả chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế huyện Nga Sơn 58
3.2 Tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tình hình văn hóa - xã hội huyện Nga Sơn 60
3.2.1 Với giáo dục - đào tạo 60
3.2.2 Với y tế 61
3.2.3 Đối với công tác giải quyết việc làm và chính sách người có công 62
3.2.4 Đối với hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao 64
3.3 Một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện Nga Sơn từ năm 1995 đến 2015 66
Tiểu kết chương 3 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 83
Trang 6Cơ cấu kinh tế Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đảng Cộng sản Việt Nam Hội đồng nhân dân
Hợp tác xã Kinh tế - xã hội Mặt trận Tổ quốc Nghị quyết Phó giáo sư, tiến sĩ Quyết định
Thể dục thể thao Tiến sĩ
Trung ương Trung học phổ thông Trung học cơ sở Tiểu thủ công nghiệp
Xã hội chủ nghĩa, Tư bản chủ nghĩa Xây dựng cơ bản
Uỷ ban nhân dân
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng gia súc, gia cầm và sản lượng thịt hơi xuất chuồng 32
Bảng 2.2 Số lượng thủy sản từ năm 2001 đến năm 2005 34
Bảng 2.3 Diện tích và cây sản lượng có hạt từ năm 2006 đến năm 2009 43
Bảng 2.4 Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội huyện Nga Sơn (2010 – 2014) 55
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Nga Sơn từ năm 2001 đến năm 2005 42Biểu đồ 2.2 Tỉ trọng công nghiệp từ năm 2006 đến năm 2015 51Biểu đố 2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2011 đến năm 2015 56
Trang 9MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu hướng quốc tế hóa thì công nghiệp hóa hiện đại hóa có ý nghĩa quan trọng đối với các nước, trong đó có Việt Nam Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước, cơ cấu kinh tế Việt Nam đã và đang chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Những kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế chính là một mắt xích quan trọng đưa đến thành tựutrong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phân công lao động xã hội, xã hội hoá lực lượng sản xuất, phát triển kinh
tế hàng hoá, tạo nhiều việc làm, tăng khối lượng và giá trị sản phẩm hàng hoá, dịch
vụ, nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nội dung quan trọng để phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đưa đất nước nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một đất nước văn minh, hiện đại
Thanh Hóa là tỉnh nằm trong trung tâm kinh tế khu vực Bắc Trung Bộ Tuy có những thuận lợi như vậy nhưng Thanh Hóa vẫn có sự phát triển khó khăn về kinh tế
Do đó, vấn đề chuyển dịnh cơ cấu kinh tế luôn được cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh và các địa phương quan tâm
Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIV đề ra phương hướng nhiệm vụ
tổng quát phát triển đến năm 2000: “Phát huy thành tựu đạt được, tranh thủ thời cơ
thuận lợi, khắc phục khó khăn, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tích cực, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, triệt để khai thác và
sử dụng tốt các nguồn lực để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững” [3, tr
250]
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thanh Hóa, cùng với nhân dân cả nước trong nhiều năm qua đã ra sức phát
Trang 10huy tiềm năng, thế mạnh, khắc phục khó khăn, vượt qua thử thách, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được nhiều thành tựu to lớn
Huyện Nga Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa, tiếp giáp với huyện Kim Sơn (Ninh Bình), phía nam giáp huyện Hậu Lộc, phía tây giáp huyện Hà Trung và phái đông giáp biển Đông, có vị trí địa lý thuận lợi, truyền thống văn hóa lịch
sử lâu đời rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Cùng với sự phát triển chung của tỉnh Thanh Hóa trong công cuộc đổi mới, cơ cấu kinh tế của huyện Nga Sơn từ sau năm 1995 đã có chuyển biến tích cực, tạo ra bước phát triển cao trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội Tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm, công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng Tuy vậy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong huyện còn chậm, chưa ổn định, giá trị sản phẩm nông nghiệp còn thấp, sản xuất nông sản hàng hóa còn nhỏ, manh mún Công nghiệp đang trong thời
kỳ phát triển nên còn nhiều hạn chế,… Tình hình đó đặt ra yêu cầu bức thiết phải tiếp tục chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH của huyện mạnh hơnnhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội
Từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa nói chung, huyện Nga Sơn nói riêng Song vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào toàn diện, có hệ thống về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện Nga Sơn từ sau năm 1995 Chính vì vậy, việc nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện Nga Sơn và rút ra những bài họckinh nghiệm là điều cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt đối với địa phương Để góp phần đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, tôi chọn
đề tài “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh
Hóa) từ năm 1995 đến năm 2015” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành
Lịch sử Việt Nam
Trang 112 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được nhiều
cơ quan, nhà khoa học tiếp cận tiêu biểu là các công trình sau đây:
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã
hội - Hà Nội (2006); Ban tư tưởng - Văn hóa Trung ương và Bộ Nông nghiệp phát
triển nông thôn (2005); Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
nền kinh tế quốc dân; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội; PGS Đỗ Hoài
Nam (1996); Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển mũi nhọn, Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội và nhân văn, Hà Nội; TS Đặng Văn Thắng, TS Phạm Ngọc
Dũng (2003); Phan Thanh Phố (1996); Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông
nghiệp nông thôn Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội; Lê Du Phong
(1999); Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế
Bắc Trung bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóacủa Nguyễn
Văn Bằng (2002), NXB Nông nghiệp, Hà Nội; Một số kinh nghiệm điển
hình về phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH, HĐH của
GS, TS Lưu Văn Sùng (2004)
Nhóm các bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí:
Lê Văn Quang (2011) “Chiến lược để phát triển đất nước bền vững và vượt
qua thách thức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng” Tạp chí Giáo dục
lý luận chính trị quân sự, số 127; Nguyễn Đình Phan (2005), “Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển Số 95/2005; Trương
Tuấn Biểu (2011) “Về ba khâu đột phá trong quan điểm, mục tiêu, chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 - 2015”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 127; Tào Hữu
Phùng (2002), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 12nước ta”, Tạp chí Cộng sản, số 127, (9/2002); Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt
Nam (2014), “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn”
Những công trình khoa học ít nhiều có đề cập đến các khía cạnh của chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho rằng: Cơ cấu kinh tế có tính khách quan của nó, không thể áp đặt theo ý muốn chủ quan, nên phải vận dụng và tôn trọng tính khách quan trong sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế Từ đó có cơ sở bố trí cơ cấu kinh tế của đất nước, của địa phương cho phù hợp giữa các yếu tố trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Mọi sự chủ quan nóng vội hoặc bảo thủ trong việc xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý đều
có thể dẫn đến một hậu quả không thể lường trước được trong sự nghiệp phát triển kinh tế Cơ cấu kinh tế luôn gắn với sự biến đổi phát triển không ngừng của các bộ phận, yếu tố bên trong của nền kinh tế và những mối quan hệ giữa chúng Do đó, muốn có một nền kinh tế phát triển chúng ta phải luôn luôn lựa chọn cho được một
cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với quá trình phát triển trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Đặc biệt là trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khi các yếu tố của sản xuất còn rất hạn chế, cho nên, ta phải lựa chọn những khâu, những mối quan hệ cần thiết, then chốt, tập trung lực lượng để phát triển, tạo nên sự cân đối thích hợp, nhờ vậy mà có thể nắm lấy những khâu, những mắt xích quan trọng tiếp theo để đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước đi tới thắng lợi
Nghiên cứu về quá trình chuyển biến cơ cấu ngành kinh tế huyện Nga Sơn còn đang là một vấn đề khá mới mẻ, mới chỉ được đề cập trong số ít công trình từ những
góc độ chuyên môn khác nhau, mới chỉ có cuốn lịch sử địa phương như: “Lịch sử
Đảng bộ huyện Nga Sơn, tập 2 (1975 – 2010)”, NXB Chính trị quốc gia là công trình
nghiên cứu dưới góc độ lịch sử Đảng nhưng ít nhiều vấn đề kinh tế cũng được đề cập
Có thể nói rằng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế huyện Nga Sơn từ năm 1995 đến năm 2015 chưa được chuyên sâu nghiên cứu, còn phải được đầu tư thời gian, công sức nhiều hơn
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn
Làm rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện Nga Sơn
từ năm 1995 đến năm 2015
Đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện Nga Sơn từ năm 1995 đến năm 2015
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn
Trình bày một cách có hệ thống quá trình huyện Nga Sơn thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của của từ năm 1995 đến năm 2015
Phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện và làm rõ nguyên nhân của những kết quả đó
Rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện Nga Sơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, của huyện Nga Sơn từ năm 1995 đến năm 2015
Nội dung nghiên cứu của luận văn là: Luận văn tập trung nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, thương mại)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về thời gian: Đề tài luận văn nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế của huyện Nga Sơn từ năm 1995 đến năm 2015 Trong những năm Đảng và Nhà nước ta thực hiện đổi mới thì huyện Nga Sơn là một trong những địa phương tích cực thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đưa huyện phát triển Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2015 là khoảng thời gian có thể nhìn nhận rõ nhất trong sự phát triển kinh tế của huyện cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 14hóa Điều này đã được thể hiện rất rõ qua các báo cáo hàng năm của Đảng bộ cũng như Huyện ủy qua từng năm và các nhiệm kỳ
Phạm vi về không gian: Đề tài luận văn nghiên cứu sự chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế trên địa bàn huyện Nga Sơn từ năm 1995 đến năm 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứuchủ yếu như:phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, kết hợp một số phương pháp khác như tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích, hệ thống hóa, đặc biệt chú trọng sử dụng phương pháp điền dã thực địa để làm rõ quá trình chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế ở huyện Nga Sơn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Hệ thống hóa các chủ trương, biện pháp chỉ đạo của Đảng bộ huyện Nga Sơn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện từ năm 1995 đến năm 2015
Đánh giá, luận giải sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện từ năm 1995 đến năm 2015
Rút ra một số kinh nghiệm trong thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện Nga Sơn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu lịch sử huyện Nga Sơn trong thời kỳ đổi mới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát chung và thực trạng kinh tế - xã hội của huyện Nga
Sơn trước năm 1995
Trang 15Chương 2: Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện Nga Sơn từ năm 1995
đến năm 2015
Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm của huyện Nga Sơn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế từ năm 1995 đến năm 2015
Trang 16Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÀ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ
HỘI HUYỆN NGA SƠNTRƯỚC NĂM 1995 1.1 Vài nét về mảnh đất, con người huyện Nga Sơn
1.1.1 Đặc điểm về địa lý, dân cư
Nga Sơn là huyện vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa Nằm ở gần phần đông bắc của tỉnh, Nga Sơn có tọa độ địa lý là 19o56’30” đến 20o3’35” vĩ Bắc và
105o34’30” đến 106o3’10” kinh Đông
- Phía Bắc giáp huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
- Phía Nam giáp huyện Hậu Lộc
- Phía Tây giáp huyện Hà Trung và Thị xã Bỉm Sơn
- Phía Đông giáp biển Đông
Huyện Nga Sơn gồm có 26 xã và một thị trấn với diện tích tự nhiên là 14.632 ha, dân số là 139.987 người (theo thống kê 1991), chủ yếu là người Kinh, có một số bộ phận dân cư theo Đạo Thiên Chúa Trên bản đồ hành chính, hình dáng của huyện Nga Sơn gần giống như lá cờ đuôi nheo mà cạnh thuyền chạy theo hướng đông bắc - tây nam, kéo dài từ xã Nga Điền, qua phần tiếp giáp với biển xuống xã Nga Thạch
- Thời tiết, khí hậu
Vị trí địa lý đã mang lại cho Nga Sơn loại khí hậu hải dương đặc trưng và mang tính chuyển tiếp giữa đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ: nắng lắm, mưa nhiều, rét sớm và chịu tác động trực tiếp của bão biển theo mùa Nga Sơn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng biển nên nhiệt độ cao, với hai mùa chính: mùa hạ khí hậu nóng ẩm, mùa đông khô hanh Xen kẽ giữa hai mùa chính là khí hậu chuyển tiếp giữa hạ sang đông là mùa thu ngắn hạn thường có bão lụt, giữa đông sang hạ, mùa xuân không rõ rệt có mưa phùn Khí hậu chịu ảnh hưởng của gió khô tây nóng về mùa hạ và sương muối về mùa đông
Trang 17Hàng năm, nhiệt độ trung bình của các ngày từ 23oC đến 26oC, lượng mưa trung bình là 1.540 mm, lượng bốc hơi là 808mm, độ ẩm không khí là 84% Về mùa đông gió lạnh, ít mưa nhưng sương muối nhiều, Nga Sơn là huyện ven biển nên cũng chịu ảnh hưởng của những cơn bão biển đổ bộ vào Nhìn chung, điều kiện khí hậu của Nga Sơn thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp với nhiều chủng loại cây, con phong phú
- Địa chất, địa hình
Nga Sơn nằm giữa các con sông Hoạt và sông Báo Văn, đoạn chạy qua huyện dài 12km; sông Lèn của hệ thống sông Mã đoạn chảy qua huyện dài 11km Tổng lưu lượng nước mùa mưa của các con sông lên tới 1.720 m3/s, nhưng mùa cạn chỉ còn 20 m3/s Trong cuộc kháng chiến giữ nước trước đây, sông Hoạt là đường giao thông đường thủy rất quan trọng
Bờ biển Nga Sơn dài 11km có nhiều giá trị kinh tế cao Liên quan đến một nền nông nghiệp trồng trọt ven biển, từ lâu Nga Sơn đã nổi tiếng với nghề trồng cói, dệt chiếu Cói Nga Sơn sợi nhỏ mà dai, người Nga Sơn lại có nghề dệt chiếu truyền thống Từ lâu, trong ý nghĩ của người Việt Nam, nhắc đến Nga Sơn là nói đến quê hương của chiếu cói nổi tiếng
Bờ biển Nga Sơn có tốc độ bồi tụ khá nhanh Sông Đáy và xa hơn là sông Hồng, từ bao đời nay đã mang phù sa đến bồi đắp cho vùng đất này Từ năm 1960 đến năm 1994, diện tích tự nhiên của toàn huyện đã tăng hàng ngàn
ha do việc mở mang diện tích bằng quai đê lấn biển Nga Sơn có những vùng đánh bắt hải sản truyền thống bao gồm cả khơi và lộng Bãi tôm Nẹ là một trong những bãi tôm lớn của tỉnh Thanh Hóa với trữ lượng cho phép khai thác hàng năm từ 300 đến 500 tấn Ngoài ra còn có các loại hải sản khác như cá, cua, cua, mực, moi,… cũng được đánh bắt nhiều ở Nga Sơn Toàn huyện có vùng triều quy mô khai thác khoảng 1.900 ha, có tiềm năng lớn cho nuôi trồng trong môi trường mặn - lợ
Trang 18Là một vùng đất do phù sa bồi tụ nên địa hình Nga Sơn nói chung được kiến tạo theo dạng sóng, tạo thành ba vùng: vùng đồng chiêm, vùng đồng màu
và vùng ven biển Độ cao giữa các vùng chênh lệch nhau từ 0,3m đến 0,5m, không thuận lợi cho việc tưới tiêu nước trong sản xuất nông nghiệp
Ở phía bắc, từ Nga Thiện, Nga Giáp đến Nga Phú là phần cuối của dãy Tam Điệp được chia làm hai dãy, một bên là núi Thiết Giáp, một bên là núi Thần Phù, dài 8,3km và độ cao trung bình là 100m, chạy theo hướng ra biển Giữa hai dãy núi là con sông Chính Đại, ngày xưa là cửa biển Thần Phù Đây
là dãy núi đá vôi có trữ lượng lớn và giá trị kinh tế cao mà trước mắt là trong việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng, vôi
1.1.2 Đặc điểm về văn hóa truyền thống
Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã có những bằng chứng để khẳng định ngay từ thời đồng thau đã có con người sinh sống ở đấy Họ là những chủ nhân của văn hóa Hoa Lộc (khoảng 3000 tới 1500 TCN) Một số di chỉ ở khảo cổ ở Nga Phú, Thần Phù, núi Yên Ngựa (Nga Điền), chùa Tiên (Nga An) và Nga Thiện cho thấy các bộ lạc ở đây đã sinh sống bằng nghề nông, khai thác thủy sản và săn bắn thú rừng Họ đã biết trồng lúa với chiếc quốc đá
dễ sử dụng trên loại đất phù sa ven biển Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu việc trồng lúa chỉ mang lại một phần thức ăn cho con người Công việc đánh cá biển và săn bắt thú rừng vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của họ Trong các di chỉ của văn hóa Hoa Lộc, các nhà khảo cổ tìm thấy được một số lượng khá lớn về xương, răng trâu, bò, lợn bên cạnh dấu vết các loài thú rừng khác như nai, hươu, hoẵng,… Như vậy ngoài việc săn bắn, người Việt cổ ở đây đã bắt đầu chăn nuôi để chủ động hơn về nguồn thực phẩm và nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có thể họ đã sử dụng trâu, bò trong việc quần ruộng hoặc kéo cày
Trang 19Như vậy, từ cách đây mấy nghìn năm, vào thời đại đồng thau, đã có những cư dân đầu tiên sinh sống trên đất Nga Sơn Có thể đây là thời kỳ tan
rã của chế độ công xã nguyên thủy nhưng chưa hình thành nhà nước
Từ năm 1838 (năm Minh Mạng thứ 19), địa danh huyện Nga Sơn được thay cho các địa danh cũ và tồn tại tới ngày nay Cho tới trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, huyện Nga Sơn vẫn thuộc phủ Hà Trung Năm 1977, hai huyện Nga Sơn và Hà Trung sap nhập với nhau gọi là huyện Trung Sơn Đến ngày 30/8/1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) lại ra Quyết định số 149 - HĐBT chia huyện Trung Sơn thành hai huyện là Hà Trung và Nga Sơn như ngày nay
Là địa đầu của tỉnh Thanh Hóa, có vị trí vừa là tụ điểm vừa là sự nghiệp tiếp nối trong giao lưu giữa miền Bắc và miền Trung, nên từ lâu đời trong lịch
sử, ở Nga Sơn đã có một nền văn hóa mang nhiều sắc thái Đặc trưng địa lý - văn hóa ảnh hưởng khá rõ trong căn tính, dáng dấp, giọng nói của người Nga Sơn: vừa có cái nền nã của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, lại vừa có cái chất phác của người xứ Thanh Từ trong cái nôi của nền văn hóa làng xã, văn hóa nhân dân đó, dưới thời phong kiến, cùng với sự phát triển chung của Nho giáo trong cả nước, ở Nga Sơn cũng đã xuất hiện nhiều nhân tài có tiếng, thành đạt trong đường khoa cử Đó là truyền thống hiếu học của người Nga Sơn Nga Sơn có 6 vị đỗ tiến sỹ vào thời kỳ này Đó là các ông Mai Thế Chuẩn, Mai Anh Tuấn, Mai Duyên (xã Nga Thạch), Mai Duy Tinh, Mai Hữu Dụng (xã Nga Mỹ) và Nguyễn Giới (xã Nga Văn)
1.1.3 Đặc điểm về kinh tế huyện Nga Sơn trong lịch sử
Người Nga Sơn có truyền thống lao động sáng tạo từ lâu trong lịch sử Sống ở vùng duyên hải không mấy màu mỡ, đất bị nhiễm mặn, khó canh tác, lại đương đầu với đại dương bao la, con người ở đây đã phải chống chọi với thiên nhiên, ngày đem lao động cần cù, một nắng hai sương để khẳng định sự tồn tại của mình
Trang 20Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ít nhất là từ đầu công nguyên cách đây gần 2000 năm, người Nga Sơn đã biết đến kỹ thuật quai đê lấn biển Vào những năm đầu công nguyên, cư dân địa phương đã khai thác đá núi, xây kè ngăn sóng biển, vừa ngăn chặn sự tàn phá của sóng biển, vừa lấn biển Địa giới Nga Sơn ngày càng được mở rộng về phía đông cũng bởi sức lao động của nhân dân trong huyện từ hàng nghìn năm nay đã nhiều lần quai đê lấn biển như vậy
Ngoài nghề nông thì thủ công cũng là nghề có truyền thống từ lâu đời ở Nga Sơn và nổi tiếng nhất là nghề dệt chiếu cói Từ lâu, trong ý nghĩ của người Việt Nam, nhắc đến Nga Sơn là nói đến quê hương của chiếu cói nổi tiếng bên cạnh những sản tiêu biểu của các địa phương khác:
“Ai về mua vại Hương Canh
Ai lên mình gửi cho anh với nàng Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định, lụa làng Hà Đông”
Ngoài ra nghề mộc và nghê xây dựng cũng phát triển mà chúng ta có thể nhận rõ qua những đường nét, chi tiết chạm khắc phức tạp ở đình, chùa, nhà thờ vẫn còn đến nay
Vì thế có thể hình dung, dưới thời phong kiến, ở Nga Sơn đã sớm xuất hiện nhữn tụ điểm trao đổi, buôn bán khá sầm uất, nhất là dọc theo những trục giao thông chính Từ thời Lê Hoàn, Thần Phù đã là một trong những trung tâm kinh tế ven biển quan trọng của Thanh Hóa Đến thời Nguyễn, Nga Sơn
đã có bốn chợ Nhân Lý, chợ Bạch Câu, chợ Thiết Giáp, chợ Lao Lũng Đời sống kinh tế của vùng duyên hải phía bắc tỉnh Thanh lúc này đã khá phồn thịnh Truyền thống lao động sáng tạo của người Nga Sơn đã làm nên điều đó
Từ những đặc điểm, vị trí địa lý, con người và truyền thống lịch sử tạo điều kiện cho Nga Sơn bước vào một thời kỳ mới xây dựng nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà đặc biệt tạo điều kiện phát triển hơn trong
Trang 21thời kỳ mới Để hòa vào xu thế phát triển kinh tế chung của đất nước thì yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế sao cho phù hợp với hoàn cảnh của địa phương nhằm mục đích phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân trong huyện được coi là thử thách cũng như là nhiệm vụ của huyện Nga Sơn trong giai đoạn hiện nay
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Nga Sơn từ năm 1986 đến trước năm 1995
1.2.1 Những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng (1986 - 1995)
Trong giai đoạn trước thời kỳ đổi mới vào năm 1986, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nước ta càng thêm nặng nề Các địa phương trong cả nước đều trong tình trạng sản xuất đình trệ, hàng hóa khan hiếm giá tăng cao,…đời sống của các tầng lớp nhân dân hết sức khó khăn Trước thực tế đó, Đảng ta
đã nghiêm túc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm và quyết tâm đổi mới
sự nghiệp xây dựng đất nước bằng cách thực hiện đổi mới toàn diện về kinh
tế, xã hội, chính trị, văn hóa, đối ngoại,… nhằm mục tiêu đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng
Cuối tháng 9 - 1986, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện họp Hội nghị toàn thể và ra Nghị quyết về kế hoạch thực hiện nhiệm vụ 3 tháng cuối năm Nghị quyết nhấn mạnh: phải đẩy mạnh sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, thực sự coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, phát triển xây dựng cơ bản, đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao năng suất lao động, hoàn thành các chỉ tiêu kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh năm 1986
Bước sang năm 1987, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV, với tinh thần thực sự đổi mới tư duy kinh tế, về cơ chế quản lý đã nhanh chóng quyết tâm xây dựng chủ trương đổi mới của Đảng Hội nghị khẳng định các mục tiêu kinh tế - xã hội là mệnh lệnh của cuộc sống Trong
ba chương trình kinh tế lớn của huyện, chương trình sản xuất lương thực, thực
Trang 22phẩm là cơ bản và có tính chất quyết định; xuất khẩu là động lực và mũi nhọn
để tạo ra cơ cấu kinh tế mới, đó là: nông - công - ngư nghiệp
Sau những thành tựu ban đầu trong thời kỳ đổi mới, tháng 1/1994 Hội nghị Trung ương khóa VII đã có bước đột phá mới trong nhận thực về khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học
- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [35, tr 53] Từ việc thúc đẩy chuyển đổi về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã gắn theo sự thay đổi về chuyển dịch cơ cấu kinh tế sao cho phù hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước đang thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bởi vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế lúc này cần phải giảm tỉ trọng nông nghiệp mà thay vào đó là tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ để phù hợp với yêu cầu đặt ra
Căn cứ vào chủ trương phương hướng Đại hội VII của Đảng và tình hình thực tiễn trong tỉnh, Đại hội đề ra các mục tiêu lớn của tỉnh thời kỳ 1991 - 1995: Phát huy thành quả đạt được, khắc phục hạn chế yếu kém, tổ chức thực hiện nghiêm túc sáng tạo Nghị quyết Đại hội VII của Đảng Giữ vững thế ổn định và phát triển về chính trị, kinh tế tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế, hoàn thiện cơ chế quản lý, khuyến khích phát triển nhanh kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cải thiện đời sống nhân dân, đẩy lùi tiêu cực và bất công, tạo đà tiến lên trong giai đoạn tiếp theo [3, tr 187]
Quán triệt những quan điểm đổi mới của Đảng, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nga Sơn lần thứ XVII tiếp tục đề ra những nhiệm vụ phát triển nền kinh tế - xã hội 5 năm (1991 - 1995) Đại hội xác định những mục tiêu cụ thể: tăng nhanh sản lượng lương thực, phất triển nông nghiệp hàng hóa Phấn đấu đưa tổng sản lượng lương thực đạt 36 - 38 ngàn ấn, đưa mức tăng trưởng hàng
Trang 23năm 10 - 12%; bình quân lương thực đầu người 260kg và 500.000 đ/năm Giá trị tiểu thủ công nghiệp đạt 12 -15 tỉ đồng Kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5 - 2 triệu USD [2, tr 194]
Nhằm thực hiện các mục tiêu trên, Đại hội đề ra các giải pháp lớn:
- Tập trung đổi mới mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, thực hiện bằng được nền sản xuất hàng hóa thông qua cơ cấu kinh tế nông - ngư - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
- Thực hiện chương trình tăng nhanh tổng sản lượng lương thực: tập trung vốn của xã viên, hợp tác xã và ngân sách huyện để đưa giống lúa, ngô nguyên chủng cấp I vào sản xuất đại trà Chuyển mùa, vụ ở tất cả các cùng nhất là vùng chiêm trũng để tránh lũ lụt Tổ chức tốt công tác phòng chống sâu bệnh Thực hiện chương trình: “Lúa lấn cói, cói lấn biển” Phát triển diện tích trồng hoa màu: ngô, lạc, khoai, sắn,…
- Thực hiện tốt chương trình phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp (nhất là nghề chiếu cói), sản xuất hàng tiêu dùng và tăng sản phẩm xuất khẩu
- Coi trọng và mở rộng dịch vụ, tổ chức tốt hơn hệ thống dịch vụ ở tất cả các thành phần kinh tế
- Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Phát triển mạnh các loại hình hợp tác tổ hợp, liên kết, liên doanh, tư nhân, tiểu chủ cả trong sản xuất, lưu thông, dịch vụ,…[2, tr 195]
Dựa trên cơ sở đó mà Đảng bộ huyện tiếp tục đề ra nhiệm vụ cụ thể nhằm phát triển kinh tế của huyện những năm 1994 - 1995: xúc tiến mạnh mẽ việc hình thành cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ Khai thác mọi nguồn vốn từ bên trong và bên ngoài huyện, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, xây dưng kết cấu hạ tầng để thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thực hiện nhất quán phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo mội trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển Thực hiện tốt cơ chế quản lý mới trong nông nghiệp để tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Trang 241.2.2 Khái quát về kinh tế huyện Nga Sơn từ 1986 đến năm 1995
Nông - lâm - ngư nghiệp:
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, Huyện ủy chỉ đạo các ngành vật tư, ngân hàng, ngoại thương, tập trung cung cấp đủ vật tư thiết yếu như phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật giúp các hợp tác xã đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng Tuy nhiên, đợt mưa lớn cuối tháng 10/1986 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến kế hoạch sản xuất Toàn huyện có hơn 3.400ha lúa chín, hàng trăm ha rau màu cây vụ đông bị ngập và hơn 3000 tấn cói bị hỏng
Ngay sau khi nước rút, các hợp tác xã đã huy động lực lượng đẩy nhanh tiến độ thu hoạch vụ mùa và tổ chức gieo trồng vụ đông theo phương châm
“sáng lúa, chiều khoai” Đến cuối năm 1986, toàn huyện gieo trồng được 1.200ha Nhân dân đã mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như trồng ngô, khoai lang, khoai tây trên nền đất ướt, trong đó phần lớn
là giống mới có khả năng thích ứng với đồng đất Nga Sơn và cho năng suất cao Năng suất lúa vụ mùa vẫn đạt 24,6 tạ/ha, nâng tổng sản lượng lương thực
cả năm lên 26.947 tấn, vượt 27,1% so với năm 1985 Đây là năm Nga Sơn có sản lượng lương thực cao nhất so với các năm trước đó [2, tr 138-139]
Với sự cố gắng vượt bậc của Đảng bộ và nhân dân huyện Nga Sơn, cho đến năm 1992 sản lượng nông nghiệp đạt kết quả khá và liên tục tăng với nhịp
độ cao, bình quân hằng năm tăng 16,2% Bên cạnh đó diện tích cũng không ngừng được mở rộng nên năng suất lúa năm 1992 đạt 27,8 tạ/ha, sản lượng khoai lang đạt 61,2 tạ/ha; tổng sản lượng thóc đạt 31.066 tấn (năm 1991 là 28.995 tấn) Riêng năm 1993, tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 36.718 tấn (có sản lượng cao nhất so với những năm trước đó) đạt 104,9% kế hoạch, tăng 18,2% so với năm 1992 và 56,3% so với năm 1990 [6, tr 2] Điều đáng chú ý là sản lượng lương thực vụ đông và vụ mùa đều tăng nhanh hơn so với những năm trước: vụ đông đạt 3.512 tấn bằng 140% kế hoạch, vượt 84,6% so với năm 1992; vụ mùa đạt 18.885 tấn bằng 115% kế hoạch, tăng hơn so với
Trang 25cùng kỳ năm trước 27,2% Do sản lượng lương thực tăng cao nên lương thực bình quân đầu người tăng từ 230 kg/người năm 1992 lên 270 kg/người năm
1993 [2, tr 206]
Cơ cấu kinh tế ở ba khu vực có sự chuyển dịch theo hướng vừa phát triển sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp Năm 1990 nông nghiệp chiếm tỉ trọng 66%, thủ công nghiệp chiếm 17,8%, đến năm 1995 nông - lâm
- ngư nghiệp là 58,9% Tuy nhiên huyện ủy vẫn chủ trương phát triển nông nghiệp nông thôn và phấn đấu năng suất đạt sản lượng 38 - 40 ngàn tấn đến năm 1994
Các cây công nghiệp chính: cói, đay, lạc nông dân địa phương không ngừng đẩy mạnh sản xuất Năm 1990 đạt 13.277 tấn, năm 1991 đạt 11.914 tấn Đến năm 1995 với chủ trưởng chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển cây cói ra vùng triều nhăm đảm bảo nguyên liệu phục vụ cho thủ công nghiệp nên diện tích cói đã được mở rộng với 2330,2 ha, do vậy tổng sản lượng cói cả năm đạt 16.624 tấn [41, tr 6]
Trong sản xuất lâm nghiệp đã có tiến bộ bước đầu trong việc mở rộng diện tích trên cả ba vùng trong huyện mà điển hình là các xã Nga Nhân, Nga Giáp, Nga Mỹ Tiếp theo đó, việc triển khai thực hiện dự án PAM lâm sinh đã được nhân dân hưởng ứng tích cực và đã đem lại hiệu quả Kết quả gieo trồng được 1,3 triệu cây, đạt 130% kế hoạch và bằng 146% so với cùng kỳ, trồng tập trung 150ha, chăm sóc bảo vệ 100 ha vườn đồi Nhân dân đã chú trọng trồng cây ven biển, ven đường tạo thành một nguồn thu nhập quan trọng trong
cơ cấu kinh tế và góp phần tạo môi trường sinh thái cho sản xuất và đời sống Nga Sơn là một huyện ven biển với chiều dài bờ biển 11 km trong đó có
6 km bờ biển đang được đưa vào sử dụng và khai thác Với vị trí hết sức quan trọng đó, Huyện ủy đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh đâu tư phương tiện đánh bắt hiện đại, gắn với tổ chức khai thác bằng phương pháp truyền thống nhằm tăng nhanh sản lượng, rà xét lại lực lượng lao động để đáp ứng giữa
Trang 26nghề khơi và nghề lộng Đưa 9 hợp tác xã ven biển vào tập trung lực lượng biết nghề khai thác các vào đội chuyên, có định mức khoán, quản cụ thể [5, tr 13] Nhờ đó mà sản lượng đánh bắt năm 1987 lên 1.400 tấn, tăng 200 tấn so với năm 1986, năm 1990 đạt 1500 tấn Diện tích nuôi trồng và sản lượng cá, tôm , cua được mở rộng Toàn huyện đến năm 1990 có hơn 50 ha ao, đầm cải tạo nuôi tôm, cua, cá, mỗi năm bình quân thu nhập từ 700 - 800 tấn sản phẩm, trong đó tôm xuát khẩu là 60 - 70 tấn [39, tr 25] Tuy nhiên công tác nuôi tôm xuất khẩu vẫn chưa được đầu tư đúng mức
Năm 1994, trên địa bàn huyện có gần 400ha ao hồ được đưa vào nuôi cá nước ngọt thông qua hình thức cá nhân và đấu thầu với hợp tác xã Dự án 327 nuôi tôm sú chưa được đưa vào sản xuất đại trà [2, tr 220]
Bước sang năm 1995, ngành kinh tế biển vẫn chưa qua tình trạng khó khăn, nhất là khai thác xa bờ Khắc phục hạn chế này, một số gia đình ngư dân và tổ hợp sản xuất đã chủ động đầu tư để khoanh nuôi hải sản và khai thác tự nhiên Thế nên năm 1995 toàn huyện đã cho đấu thầu 175 ha diện tích
ao, đầm, cải tạo nuôi tôm sú, tôm càng xanh theo phương pháp quảng canh, mỗi năm sản lượng thu hoạch đạt 560 tấn, trong đó tôm sú 85 tấn Bình quân
5 năm trị giá xuất khẩu và khai thác một lao động trên năm đạt 1.904 triệu đồng [8, tr 4]
Tiểu thủ công nghiệp:
Vào những năm 1989 - 1990, do biến động tình hình kinh tế - xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã tác động lớn đến xuất khẩu, vì đây là trị trường tiêu thụ chính của mặt hàng tiểu thủ công nghiệp của huyên, nên thị trường xuất khẩu bị thu hẹp Do đó sản xuất và kinh doanh các mặt hàng thủ công nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, chất lượng hàng hóa ngày càng giảm sút, toàn bộ khối lượng hàng tiểu thủ công nghiệp truyền thống không xuất khẩu được Tổng lượng tồn kho lên đến 300 triệu đồng [2, tr 177]
Trang 27Trước tình hình đó, huyện ủy đã có Nghị quyết lãnh đạo về phát triển tiểu thủ công nghiệp đó là: phải nhanh chóng phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, thực hiện cơ chế “thông thoáng bên trong, mở cửa bên ngoài”, thực hiện đúng phương châm coi hàng xuất khẩu là mũi nhọn, từ đó
áp dụng nhiều hình thức sản xuất quốc doanh, tập thể, gia đình, tổ hợp tư nhân nhằm đẩy mạnh hơn nữa phát triển các mặt hàng thủ công đa dạng, phong phú phù hợp với thị hiếu tiêu dùng
Trên cơ sở đó, sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển nhanh theo kinh
tế hộ và tổ hợp, nhờ vậy mà tổng giá trị sản xuất năm 1993 tăng 5,7% so với năm 1992 (theo giá cố định), hàng hóa vật tư luân chuyển trong thị trường đạt tới 67,137 tỷ đồng, tổng thu nhập tính theo đầu người bình quân năm 1993 đạt giá trị 906.660 đồng Các sản phẩm chủ yếu co khả năng xuất khẩu đạt 2.047.000 USD [7, tr 2] Năng lực sản xuất một số ngành và những sản phẩm tăng lên rõ rệt, hàng hóa phong phú đa dạng, thuận tiện cho nhân dân mua bán, tiêu dùng phục vụ sản xuất đời sống
Nhằm phát huy những kết quả đã đạt được, Hội nghị giữa nhiệm kỳ quyết định bổ sung một số chỉ tiêu mới cho những năm còn lại của kế hoạch 5 năm (1991 - 1995), nâng giá trị tiểu thủ công nghiệp tăng lên 4 - 5% Với mục tiêu đó, bước sang năm 1995, thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của Huyện ủy, các ngành đã tiến hành chuyển đổi một số hộ gia đình sản xuất nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, bước đầu hình thành các tổ hợp ở các lĩnh vực khác nhau như kinh doanh hàng chiếu cói, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí Lực lượng lao động sản xuất tiểu thủ công nghiệp ngày càng đông, sản xuất từng bước đi vào thế ổn định Vì thế giá trị tổng sản lượng đã tăng lên đạt 6,4 tỷ đồng vượt 4% so với năm 1994 Tuy vậy một số tổ hợp sản xuất kinh doanh hàng chiếu cói hiệu quả không cao, không chủ động được thị trường, chủ yếu phải bán nguyên liệu [2, tr 227] Do có sự phát triển về chiều sâu và ngày càng vững chắc nên
Trang 28tiểu thủ công nghiệp bước đầu đã đạt và vượt chỉ tiêu tạo tiền đề để cho nhân dân Nga Sơn đẩy mạnh phát triển hơn nữa trong những năm tiếp theo
c Giao thông vận tải, xây dựng cơ bản:
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế, Huyện ủy Nga Sơn đã chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu
hạ tầng nông thôn mới Tháng 4 - 1992, Huyện ủy Nga Sơn mở hội nghị sơ kết việc thực hiện Nghị quyết 12 (khóa XVI) về “Xây dựng và phát triển nông thôn mới theo quy định hướng xã hội chủ nghĩa” Để tiếp tục đẩy mạnh phát triển và xây dựng nông thôn mới, Huyện ủy chủ trương tiếp tục đổi mới cơ câu kinh tế, cơ cấu sản xuất, coi hộ là đơn vị sản xuất cơ bản, tự chủ trong sản xuất kinh doanh Tăng cường xây dựng vật chất, kết cấu hạ tầng nông thôn
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa
Trong năm, huyện đã tổ chức sửa chữa đường giao thông nông thôn với khối lượng đào đắp 394.000m3, huy động 400.000 ngày công, tổng giá trị thực hiện là 5 tỉ đồng; cơ sở vật chất phục vụ thủy lợi khá lớn với tổng số vốn đầu tư xây dựng của tất cả các nguồn là 2 tỉ đồng; trạm bơm Nga Thiện đã bước đầu được đưa vào hoạt động Tận dụng các nguồn vốn viện trợ, vốn ngân sách, năm 1992 huyện đã tiến hành khởi công một loạt các công trình: bệnh viện huyện (do Chính phủ Pháp tài trợ), trạm đa khoa, 2km đường nhựa Nga Sơn - Bỉm Sơn, trụ sở làm việc của Công an huyện, Trường Phổ thông trung học Ba Đình,… [2, tr 201] Sự phát triển đáng kể của kinh tế và hạ tầng
cơ sở nông thôn đã tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa - xã hội trên địa bàn huyện phát triển
Tiếp đến năm 1993, huyện đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 1,8km đường nhựa Cầu Kênh - Xa Loan, 1,5km đường thị trấn - ngã tư Hạnh và đào đắp hàng triệu m3 đất đá làm đường giao thông nông thôn Ngoài ra, nhờ sự
cố gắng của các cấp chính quyền, nhiều trường học đã được đưa vào sử dụng như: Trường Trung học cơ sở Nga Yên, Trường Phổ thông trung học Ba
Trang 29Đình,… Tổng số vốn xây dựng cơ bản là 5 tỉ đồng, trong đó, các xã thực hiện
3 tỉ đồng Hệ thống đường dây điện hạ thế cũng được xây dựng ở nhiều xã để phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân
Vượt qua những rủi ro do thiên tai gây ra, năm 1994, Đảng bộ và Nhân dân Nga Sơn đã thực hiện tốt các mục tiêu về xây dựng cơ bản Tổng số vón của tỉnh, huyện và các xã huy động là 1,1 tỉ đồng Về giao thông nông thôn, 102km đường liên thôn, liên xã được sửa chữa, nâng cấp thường xuyên Các tuyến đường của các xã Nga Liên, Nga Thanh, Nga Tiến cũng được sửa chữa, nâng cấp bằng nguồn vốn tự có của xã và nhân dân đóng góp Huyện đã đầu
tư hơn 1 tỉ đồng để xây dựng các công trình công cộng: trường học, trạm y tế, khoa nhi bệnh viện huyện,…
Công tác xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa được chú ý đúng mức Diện mạo nông thôn huyện Nga Sơn ngày càng khởi sắc với sự phát triển tương đối đồng bộ của hệ thống: điện, đường, trường, trạm Do sự phát triển của kinh tế - xã hội, đời sống vật chất và văn hóa - tinh thần của nhân dân tăng lên rõ rệt Số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo chỉ còn 13,1%
Tiểu kết chương 1
Với bề dày văn hóa lịch sử cùng với sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, nhân dân huyện Nga Sơn không ngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, bên cạnh những cố gắng và tiến bộ đã đạt được việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế trong 10 năm đổi mới vẫn còn nhiều hạn chế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế không đều, thiếu bền vững, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, tỷ trong công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thấp
Trang 30Sản xuất nông nghiệp không ổn định vẫn độc canh cây lúa là chủ yếu Tuy đã
áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhưng năng suất lúa và các loại cây trồng khác còn thấp, chưa tăng mạnh, chậm đổi mới về cơ cấu cây trồng, vật nuôi Vai trò HTX nông nghiệp trong cơ chế mới bị hạn chế, có mặt bị buông lỏng, phó mặc cho nông dân Sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc vào thời tiết, tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm, hiệu quả thấp Kinh tế biển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của địa phương Cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý còn chậm đổi mới, trình độ lãnh đạo và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chưa theo kịp yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và thiếu đồng đều giữa các vùng, các xã trong huyện Nhiều cơ sở chưa chú trọng và mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi để thúc đẩy sản xuất phát triển Số hộ thuần nông trong nông thôn chiếm tỷ trọng còn lớn, đó là vấn đề khó khăn cần được quan tâm giải quyết trong những năm tới
Trước những hạn chế đó, Đảng bộ huyện Nga Sơn đã tổng kết rút kinh nghiệm để tìm ra hướng đi mới nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự CDCCKT theo hướng CNH, HĐH để phát huy tiềm năng thế mạnh hiện có của địa phương
Trang 31Chương 2 CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ HUYỆN NGA SƠN
TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2015
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Để có một cơ cấu kinh tế hợp lý, mỗi vùng, mỗi quốc gia cần phải xuất phát từ điều kiện lịch sử của mình Thực tế, trong
xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đã tác động không nhỏ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp được hình thành trên các tương quan tỷ
lệ, biểu hiện mối quan hệ tổng hợp giữa các ngành với nhau và phản ánh trình
độ phân công lao động xã hội của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất [5, tr 20]
Nhận thức được tầm quan trọng của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Đảng bộ huyện Nga Sơn cùng với nhândân luôn có ý thức vươn lên thực hiện các mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.1 Qúa trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Đảng bộ huyện Nga Sơn từ năm 1995 đến năm 2015
Nhằm thực hiện góp phần hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVII, đưa ra mục tiêu: Tạo sự chuyển biến nhanh trong quá trình thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế phù hợp với khả năng hiện có, từng bước thực hiện công nghiệp hóa trong nông nghiệp, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, tập trung cho các công trình thủy lợi, giao thông, phúc lợi xã hội
Bước sang năm 1996, năm thứ 10 thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nước ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, tuy còn có mặt chưa vững chắc Từ một nước hàng năm thiếu lương thực, trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới Đời sống của nhân dân được cải
Trang 32thiện, quốc phòng, an ninh, chính trị được giữ vững Đất nước có những biến đổi to lớn trên mọi lĩnh vực
Thế và lực được tăng cường hơn bao giờ hết Từ những điều kiện nói trên, giai đoạn tiếp theo 1996 - 2005 được xem là giai đoạn có nhiều nhiệm vụ quan trọng của thời kỳ đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, phải tập trung mọi nguồn lực, tranh thủ thời cơ nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Tháng 6 - 1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng xác định đường lối và xấy dựng chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1996 - 2000 Tiếp tục phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, hiện đại hóa Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Thực hiện chủ trương:
“Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy lợi thế, tiềm năng của các vùng kinh tế, đồng thời đổi mới cơ chế quản lý, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển”
Tháng 5 - 1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIV chủ trương tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng kinh tế, đồng thời đổi mới cơ chế quản lý, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển Chăm lo giải quyết tốt các vấn đề xã hội, coi đây là nhiệm vụ quan trọng về chiến lược con người Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,…[3, tr 250] Thành công của đại hội đảng các cấp càng củng
cố niềm tin và tạo động lực mới để Đảng bộ và nhân dân Nga Sơn đẩy mạnh việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trên địa bàn huyện
Trang 33Trước đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nga Sơn lần thứ XVIII (3/1996) đã đề ra các mục tiêu chung: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, khai thác và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vừng [8, tr 20]
Trên cơ sở những định hướng từ Đại hội XIX và hội nghị triển khai qua
các năm, Đảng bộ Nga Sơn nhấn mạnh một số giải pháp lớn sẽ thực hiện trong nửa nhiệm kỳ sau của Đại hội, trong đó có các nhóm giải pháp: “Về đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nhóm giải pháp về thực hiện các nhiệm vụ văn hóa - xã hội; nhóm giải pháp về tăng cường hoạt động của hệ thống chính trị”
Tháng 4 - 2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến hành Đại hội đã ban hành Nghị quyết và thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010) nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp; phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm (2001 - 2005)
Đại hội chỉ rõ: “Cần phải tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, ổn định và
cải thiện đời sống nhân dân, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [3, tr 306]
Dựa trên chủ trưởng của Đảng, ngày 10/12/2001, Ban Chấp hành Đảng
bộ huyện Nga Sơn ra Nghị quyết số 02 “Về đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện” [2, tr 311] Nghị quyết Hội nghị đề ra các quan điểm chỉ
đạo để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo quy hoạch và kế hoạch, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phù hợp với trình độ sản xuất của lao động địa phương
Trang 34Dựa vào đó mà nền kinh tế của huyện liên tục tăng trưởng với nhịp độ khá cao; cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn được đổi mới mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhiều đề án, chương trình được xây dựng và triển khai nhanh, đưa lại hiệu quả rõ rệt, quá đó tạo nên những bước phát triển mới trên các lĩnh vực, mà nổi bật là sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Ngày 25/1/2003, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Nga Sơn ra Nghị quyết
số 03 - NQ/HU “Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm
2003” Phương hướng phấn đấu chung trong năm là: “Phát triển kinh tế tăng
trưởng cao và bền vững, tăng tốc trên một số lĩnh vực kinh tế - xã hội trọng yếu, trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là tạo bước đột phá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo Nghị quyết số 02 của Huyện ủy” [2, tr 312]
Trên cơ sở định hướng từ Đại hội XIX và hội nghị triển khai qua các
năm, Đảng bộ Nga Sơn nhấn mạnh một số giải pháp lớn sẽ thực hiện nửa nhiệm kỳ sau của Đại hội, trong đó có nhóm giải pháp: “Về đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế; nhóm giải pháp về thực hiện các nhiệm vụ văn hóa - xã hội; nhóm giải pháp về tăng cường hoạt động của hệ thống chính trị” [2, tr
313] Như vậy, ưu tiên hàng đầu của Đảng bộ Huyện Nga Sơn là chuyển dịch
cơ cấu kinh tế găn liền với chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng ta đề ra
Phương hướng chung của Đảng bộ và nhân dân Nga Sơn trong 5 năm
2006 - 2010 là phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của Đảng bộ và nhân dân, tiếp tục đổi mới toàn diện, đẩy mạnh CNH, HĐH, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững Phát huy tối đa nội lực, khai thác cao nhất các nguồn lực từ bên ngoài, sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển Phát triển mạnh nguồn lực con người, tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống [2, tr 352]
Trang 35Thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản và dịch vụ thương mại Đảng bộ huyện đã chỉ đạo tích cực đầu tư xây dựng cụm sản xuất tiểu thủ công nghiệp làng nghề, phong trào xây dựng làng nghề, phát triển các
tổ hợp sản xuất tiểu thủ công nghiệp
Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XX (11/2005) đưa ra nhiệm
vụ trọng tâm lớn về kinh tế trong giai đoạn 2006 - 2010 là tiếp tục đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tạo ra những bước cơ bản để phát triển đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững
Huyện ủy chọn khâu đột phá trong sản xuất nông nghiệp là dồn đổi ruộng đất Sau khi tổ chức triển khai, chỉ đạo điểm ở 3 xã Nga Thành, Nga Thắng, Nga Lĩnh (đại diện 3 vùng) để rút kinh nghiệm, Huyện ủy đã mở hội
nghị sơ kết và đưa ra Nghị quyết số 05 - NQ/HU “Về việc vận động nhân dân
dồn, đổi ruộng đất nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” Sau một thời gian triển khai, thực
hiện Nghị quyết, đến cuối năm 2007, Nga Sơn cơ bản đã hoàn thành việc dồn, đổi ruộng đất Kết quả toàn huyện bình quân từ 5,04 thửa/hộ xuống còn 1,76 thửa/hộ Sau dồn, đổi ruộng đất, nông dân có điều kiện thuận lợi tập trung đầu
tư sản xuất, kinh doanh Hàng trăm trang trại, gia trại được hình thành, bước đầu làm ăn có hiệu quả
Vào tháng 7/2010, Đại hội đại biểu lần thứ XXI Đảng bộ huyện Nga Sơn được tổ chức Bên cạnh đánh giá về tình hình thực hiện nhiệm vụ nhiệm kỳ
2005 - 2010 thì Đại hội còn đề ra phương hướng, nhiệm vụ của nhiệm kỳ
2010 - 2015 là: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng bộ, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, tiếp tục đổi mới toàn diện, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn cho đầu tư phát
Trang 36triển Nâng cao chất lượng và đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa -
xã hội, phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ tài nguyên và môi trường Gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiển giảm nghèo vững chắc Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh Xây dựng quê hương Nga Sơn giàu mạnh, văn minh [31, tr 13].
Với việc chỉ đạo sát sao của Huyện ủy nhằm thực hiện cho được phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển nền kinh tế đa dạng Do vậy, trong thời
kỳ này nền kinh tế của huyện Nga Sơn có sự chuyển biến rõ rệt
2.2 Thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện Nga Sơn từ năm 1995 đến năm 2015
2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của huyện từ năm 1995 đến năm
2005
Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
Về trồng trọt: Trong không khí phấn khởi, sự tin tưởng của các tầng lớp
nhân dân vào thắng lợi bước đầu của công cuộc đổi mới, Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, mạnh dạn đưa các giống cây, con có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, đẩy mạnh thâm
canh tăng năng suất cây lương thực và chăn nuôi gia súc gia cầm [2, tr 241]
Có sự chỉ đạo sát sao của các ngành, các cấp và sự cố gắng của toàn thể nhân dân nên mọi mặt kinh tế - xã hội của huyển trong năm 1995 đều phát triển mạnh Diện tích gieo trồng 16.845ha, đạt 100,2% kế hoạch và bằng 100,7% so với năm 1994, trong đó, điện tích cây vụ trồng trọt vượt 13% so với năm 1994 Trồng 1.283ha ngô và 1.925ha khoai lang, đưa sản lượng màu quy thóc lên 7.605 tấn, chiếm 20,3% tổng sản lượng lương thực [2, tr 226]
Nga Sơn là một trong ba huyện đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa thực hiện đổi mới hợp tác xã nông nghiệp Đến cuối năm 1996, 49 hợp tác xã ở Nga Sơn đều tiến hành xong bước 1, tổng kết kiểm kê và chấm dứt hoạt động của
Trang 37hợp tác xã kiểu cũ Chỉ rõ 15 hợp tác xã kiểu mới được thành lập tiến độ như vậy là quá chậm Trước tình hình đó, ngày 3/3/1997, Ban Thường vụ Huyện
ủy ra thông báo về việc tiếp tục lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đổi mới hợp tác
xã nông nghiệp Sau hai năm thực hiện thì đến cuối năm 1997, Nga Sơn là huyện duy nhất của Thanh Hóa thành lập được 100% hợp tác xã kiểu mới ở các xã Đổi mơi hợp tác xã nông nghiệp ở Nga Sơn bước đầu góp phần phân công lại lao động, bố trí lại cây trồng, vật nuôi và đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất Hiệu quả kinh tế của hợp tác xã được khẳng định, vốn được bảo toàn và có lãi, được nông dân trong huyện ủng hộ
Năm 1997, các lĩnh vực kinh tế - xã hội phát triển tương đối toàn diện Việc thực hiện các nhiệm vụ do Huyện ủy đề ra kết quả khá Tổng giá trị sản phẩm năm 1997 đạt 297 tỉ đồng, tăng 11% so với năm 1995 Thu nhập bình quân trên 1ha canh tác đạt 16,9 triệu đồng Vùng 2 vụ lúa đạt 11 triệu đồng Vùng màu đạt 13,5 triệu đồng Vùng biển đạt 25 triệu đồng/ha/năm Bình quân lương thực đầu người 260 kg/người/năm, tăng 5,7 % so với năm 1995 Bình quân thu nhập đầu người 1.350.000 đồng/năm tăng 8,8 % so với năm
1995 Năng suất lúa bình quân cả năm đạt 35,5 tạ/ha Tổng sản lượng lương thực cả năm đạt 37.652 tấn (bằng 94% kế hoạch) [13, tr 1]
Năm 1998, kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi tiếp tục được chuyển dịch đúng hướng Giá Trị sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp đạt 180.254 triệu đồng (tăng 6,9%) so với năm 1997, riêng sản xuất lương thực đạt 41.603 tấn (tăng 10,5%), khai thác thủy sản đạt 15.200 triệu đồng (tăng 19,5%) Có chủ trương đúng trong việc bố trí lại cơ cấu giống, mùa vụ, đưa mạnh các giống nội có tiềm năng thâm canh phù hợp với đất đai và các giống lúa lai vào sản xuất, kinh doanh cả trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi như: Các giống lúa nội X21, XI23, các giống lúa lai: tạp giao 1, tạp giao 5, tạp giao 4, ngô DDK888, DDK999, bò lai sin, lợn hướng nạc, gà vịt siêu trứng Đưa diện tích ngô đông xuống diện tích 2 vụ lúa,
Trang 38phá thế độc canh, tăng sản phẩm, giải quyết việc làm cho người lao động, đem lại hiệu quả giá trị kinh tế cao [14, tr 1-2]
Việc sớm triển khai và hoàn thành dồn điền, đổi thửa những năm qua
đã phục vụ tốt cho thâm canh cây lúa Ủy ban nhân dân huyện và các xã tập trung, kiên quyết hơn trong chỉ đạo, điều hành, xác định cơ cấu giống và lịch gieo trồng cho từng vùng, nắm chắc khâu thủy lợi, tận dụng mọi nguồn nước, tích cực chống hạn để gieo cấy hết diện tích, đúng thời vụ Bước đầu thống nhất về mặt quản lý, cung ứng giống lúa và thuốc bảo vệ thực vật Xí nghiệp thủy lợi, trạm khuyến nông, trạm bảo vệ thực vật và nhiều hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp đã hoạt động có hiệu quả, làm tốt các khâu dịch vụ sản xuất cho các hộ nông dân, góp phần vào kết quả chung về sản xuất lương thực trên địa bàn huyện
Trên lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, thành tựu nổi bật nhất là sản xuất lương thực Tổng sản lượng lương thực quy thóc cả năm đạt 45,7 nghìn tấn, vượt mức kế hoạch (kế hoạch 43 nghìn tấn) Các xã trong huyện đã thực hiện mạnh mẽ việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, mùa vụ, đưa lúa lai, ngô lai vào thâm canh, nhằm tăng nhanh năng suất, sản lượng lương thực Vụ mùa năm 1999, riêng các xã Nga Điền, Nga Phú, Nga Thái, Nga An, Nga Thành
có vùng lúa lai tập trung hơn 1.000ha, đạt năng suất bình quân 65 - 70 tạ/ha, gấp 2 lần năng suất của các giống lúa khác gieo cấy trên địa bàn huyện Diện tích lúa lai Bắc ưu 64 (tạp giao 4) ở Nga Sơn chiếm gần 60% diện tích gieo cấy lúa lai vụ mùa của cả tỉnh Năm 1998 - 1999, Nga Sơn liên tục là huyện dẫn đầu về năng suất lúa toàn tỉnh Ngày 10/9/1999, Tỉnh ủy và Sở nông nghiệp đã tổ chức hội nghị đầu bờ cho hầu hết các huyện bạn đến tham quan, học tập về kinh nghiệm gieo cấy lúa lai ở Nga Sơn
Năm 2000, mọi hoạt động kinh tế - xã hội đều được Đảng bộ tập trung sức lãnh đạo và chỉ đạo Thế nên vụ lúa chiêm xuân năm 2000 đạt kết quả cao nhất so với những năm trước đây Toàn huyện cấy 2.994ha lúa lai đạt 80,5%
Trang 39diện tích, năng suất lúa chiêm đạt 62,4 tạ/ha, riêng lúa lai đạt 65 tạ/ha Việc chỉ đạo sản xuất 8,5ha lúa lai F1 tại thị trấn đạt kết quả tốt
Với việc dồn thửa đổi ruộng, mở rộng diện tích cacnh tác cho nên đã nâng tổng diện tích toàn huyện lên tới 18.029 ha năm 2001 (năm 2000 là 17.700ha) và diện tích gieo trồng không ngừng được tăng lên Điều đó đã làm cho nền kinh tế của huyện tăng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng Riêng năm 2001 - 2002, tổng sản lượng lượng lương thực tăng lên 54.486 tấn, tăng hơn năm 2000 là 2.859 tấn, trong đó sản lượng lúa cả năm đạt 56,8 tạ/ha năm 2002 (năm 2000 là 52,3 tạ/ha), ngoài ra sản lượng khoai lang cũng không ngừng tăng lên với năng suất từ 46 tạ/ha năm 2000 đã tăng lên 47,7 tạ/ha năm
2002, bên cạnh đó các loại rau củ quả cũng không ngừng tăng lên
Về chăn nuôi : Năm 1995 số đàn trâu bò đạt 7.981 con, bằng 99,8% so
với cùng kỳ năm 1994 Đàn lợn 37.500 con đạt 98,7% kế hoạch và bằng 101,6% so với năm trước Điều đáng chú ý là trong chăn nuôi đã chú ý nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua chương trình cải tạo đàn lợn và sin hóa đàn bò Công tác tiêm phòng dịch bệnh thường xuyên được duy trì nên đã không xảy ra dịch bệnh
Năn 1997, chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển nhanh về số lượng và chất lượng Tổng đàn lợn 37.143 con bằng 108% so với cùng kỳ Tổng số đàn
bò 6.270 con bằng 120% so với cùng kỳ [13, tr 2] Năm 1999, chăn nuôi gia súc vẫn giữ ở mức ổn định Tổng đàn trâu 2.400 con bằng 97,9% so với cùng
kỳ Tổng đàn bò là 6.600 con tăng 2,9% so với cùng kỳ Tổng đàn lợn có 38.500 con tăng 1,2% so với cùng kỳ [15, tr 2]
Năm 2000, chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định và đều tăng so với cùng kỳ năm trước Kinh tế trang trại bước đầu phát triển có hiệu quả (tính đến tháng 7/2000, toàn huyện có 14 trang trại)
Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIX (11/2000) chú trọng khơi dậy các nguồn lực nhân dân, phát huy sự năng động, sáng tạo của nhân dân trong
Trang 40phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, nhân rộng các mô hình thâm canh lúa lai, ngô lai, sản xuất kết hợp như lúa - cá, lúa - tôm, thâm canh cói, rau màu có giá trị cao, chăn nuôi lợn, bò, nuôi trồng thủy sản,…
Bảng 2.1 Số lượng gia súc, gia cầm và sản lượng thịt hơi xuất chuồng
Tổng số Trâu
(con)
Bò (con)
Lợn (con)
Gia cầm (1000 con)
Trọng lượng thịt hơi xuất chuồng (Tấn)
(Nguồn: Niêm giám thống kê huyện Nga Sơn)
Trong lĩnh vực chăn nuôi luôn được duy trì, đàn trâu có 1.495 con (2001), đàn bò là 6.884 con (2002), đàn lợn tăng lên từ 49.025 (2001) lên đến 50.941 con (2002) Bằng việc chỉ đạo thực hiện khá tốt đề án cải tạo đàn lợn,
đề án chăn nuôi lợn ngoại xuất khẩu giá cả cơ lợi cho người chăn nuôi, nên tổng đàn lợn tăng từ 6,3% so với trước đây Nhiều mô hình chăn nuôi có sự phát triển như mô hình chăn nuôi gà ở Nga Bạch với 5 trại, tổng số 20.000 con, gà phát triển tốt, tỷ lệ hao hụt thấp
Với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành trong huyện đã làm cho diện mạo của nền kinh tế không ngừng thay đổi Diện tích đất gieo trồng ngày càng mở rộng nên tổng sản lượng lương thực không ngừng tăng lên Đến năm
2004 thì tổng sản lượng lương thực 56.400 đạt 98% kế hoạch Trong đó vụ chiêm cho sản lượng 22.141 tấn, vụ mùa 26.680 tấn, ngô 4.848 tấn, lạc 2.562 tấn, cói 27.086 tấn Trong chăn nuôi có giảm nhưng không đáng kể Tuy nhiên đàn bò có tăng từ 7.808 con (2003) lên 9.368 con (2004) Ngành nuôi trồng và đánh bắt hải sản được 29.000 tấn, trong đó khai thác đánh bắt hải sản biển 1.400 tấn, tôm xuất khẩu 30 tấn, mực xuất khẩu 10 tấn, hải sản các loại