Công tác tuyên truyền, PBGDPL luôn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH TÂM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TỪ THỰC TIỄN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN MINH TÂM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TỪ THỰC TIỄN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN MINH PHƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 2018
Học viên
Nguyễn Minh Tâm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 10
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, 10
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN 10
1.1 Nhận thức chung về thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên 10
1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên 21
1.3 Các bước thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên, các yêu cầu cơ bản và phương pháp thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên 25
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên 34
Chương 2 39
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC 39
PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 39
2.1 Thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách phổ biến giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 39
2.2 Kết quả thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 54
2.3 Đánh giá chung về thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 60
Chương 3 64
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ 64
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN 64
3.1 Mục tiêu và định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên 64
Trang 53.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục
pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội 68 3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục
pháp luật cho sinh viên KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6sở của trường Đại học Nội vụ Hà Nội 52 Bảng 2.5: Bảng tổng hợp số liệu về tài liệu sách, báo, tài liệu điện tử liên quan
vụ Hà Nội 54
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho công dân nói chung và cho sinh viên nói riêng là một vấn đề quan trọng của mọi quốc gia
vì được coi là một phương thức để xây dựng, phát triển nền văn hóa pháp lý, đảm bảo sự ổn định và bền vững của mỗi quốc gia Trong đời sống xã hội, pháp luật giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Pháp luật là phương tiện không thể thiếu để đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của xã hội Ngoài chức năng là một công cụ quản lý Nhà nước hữu hiệu, pháp luật còn là thước đo hành vi xã hội của con người và là công cụ để chúng ta kiểm nghiệm nhận thức, điều chỉnh xã hội Công tác tuyên truyền, PBGDPL luôn có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
và sự điều phối, tổ chức thực hiện của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể; là khâu then chốt, quan trọng để chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống xã hội, đi vào ý thức, hành động của từng chủ thể trong xã hội PBGDPL là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống Nói cách khác, quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động PBGDPL
Thực hiện chính sách PBGDPL là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật và có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân, tất cả mọi người đều phải “Sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật” thì việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như
một yếu tố khách quan Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội
có trật tự, kỷ cương, văn minh mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó ý thức pháp luật đóng một vai trò quan trọng
Trang 8Tại các trường đại học và cao đẳng, chính sách PBGDPL được thực hiện thông qua các hoạt động, chương trình giáo dục chính khóa và ngoại khóa, đây là hoạt động có vai trò to lớn đối với sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, trong đó có việc hình thành ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý trong nhân dân Thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên nhằm trang bị tri thức pháp luật cơ bản, định hướng, phát triển nhân cách và tư cách công dân, nâng cao nhận thức, góp phần điều chỉnh hành
vi, hình thành thói quen tự giác xử sự đúng pháp luật, có ý thức tuân thủ pháp luật và có tri thức pháp luật về chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề lĩnh vực mình được đào tạo
Trong những năm qua, xuất phát từ vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác PBGDPL, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này Trong rất nhiều văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã đề cập đến công tác PBGDPL Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới chỉ rõ: “Đẩy mạnh công tác
tuyên truyền, PBGDPL với nhiều hình thức phong phú, sinh động, đặc biệt là thông qua các phiên tòa xét xử lưu động và bằng những phán quyết công minh để tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân”
Nhiều văn bản pháp luật của Thủ tướng Chính phủ đã đề cập đến việc tăng cường công tác PBGDPL như Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác PBGDPL trong giai đoạn hiện nay, Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch triển khai công tác PBGDPL từ năm 1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL… Đặc biệt, Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán
bộ, nhân dân đã khẳng định: “PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục
Trang 9chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”; Luật PBGDPL ngày 20/6/2012 và các văn bản hướng
dẫn tổ chức, thực hiện…
Thực hiện các văn kiện của Đảng và pháp luật của nhà nước về PBGDPL, thời gian qua, Đảng ủy, Ban Giám hiệu các trường đại học đã chỉ đạo, tổ chức, triển khai thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên có trọng tâm, trọng điểm gắn với các ngành nghề đào tạo đặc thù của từng trường Về
cơ bản, sinh viên các trường đại học đã được học thì đều hiểu biết về pháp luật Đại bộ phận sinh viên có ý thức tôn trọng pháp luật, chấp hành nội quy, quy chế của các nhà trường, thực hiện tốt các quy tắc và lối sống công cộng Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận sinh viên có biểu hiện xuống cấp về đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật, thậm chí phạm tội nghiêm trọng làm cho cả xã hội phải quan tâm, lo lắng
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trực thuộc Bộ Nội vụ, được thành lập tại Quyết định số 2016/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ, là
cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, trực thuộc
Bộ Nội vụ, có chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình
độ đại học và sau đại học trong lĩnh vực công tác nội vụ và các ngành nghề khác có liên quan; hợp tác quốc tế; nghiên cứu khoa học và triển khai áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Như các cơ sở đào tạo khác trong hệ thống giáo dục, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL thông qua các hoạt động, chương trình giáo dục chính khóa, giáo dục ngoại khóa và đạt được một số kết quả nhất định Đã có những thay đổi theo hướng đa dạng hóa và chuyển dần từ truyền thụ một chiều sang phát huy tính chủ động, tích cực của sinh viên; giảng viên đưa ra nhiều tình huống cụ thể và sáng tạo phương pháp mới nhằm tăng tính tích cực, sáng tạo của sinh viên, tạo hứng thú và nâng cao hiệu quả PBGDPL Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì việc thực hiện PBGDPL vẫn
Trang 10còn một số hạn chế như chưa kết hợp hài hòa giữa trang bị kiến thức pháp luật với việc hình thành kỹ năng, ý thức pháp luật và thói quen chấp hành pháp luật của sinh viên Chính vì vậy, công tác PBGDPL trong những năm qua đã được Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường cùng các đoàn thể và đặc biệt là đội ngũ giảng viên chuyên ngành triển khai thực hiện sâu rộng nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho sinh viên, góp phần ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, giữ vững kỷ cương, kỷ luật, tăng cường sự đoàn kết nội bộ, góp phần giữ vững trật tự trị an trong nhà trường
Để việc thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên thực sự mang lại hiệu quả, có tác động tích cực nhằm nâng cao ý thức tuân thủ và xây dựng thói quen chấp hành pháp luật cho sinh viên, thì việc tìm hiểu thực trạng thực hiện chính sách PBGDPL và đưa ra những định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách ấy là một đòi hỏi khách quan, cần có sự đi sâu nghiên cứu bài bản
và nghiêm túc Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên từ thực tiễn Trường Đại học Nội vụ Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Chính sách công có
ý nghĩa lý luận, thực tiễn, thiết thực
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính sách PBGDPL là một chính sách mang tính cấp thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đây là vấn đề đã và đang được các nhà khoa học pháp lý quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công
bố, như:
- Luận văn thạc sĩ ngành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật (2011)
của tác giả Trần Phúc Lộc: “Giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên ở thành
phố Hà Nội hiện nay, thực trạng và giải pháp” [18] đã phân tích một số vấn
đề lý luận chung về giáo dục pháp luật, luận văn phân tích rõ đặc điểm, vai trò
và nguyên tắc giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên; Nghiên cứu, đánh giá
Trang 11thực trạng, phân tích nguyên nhân thực trạng của công tác giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên thành phố Hà Nội; Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên thành phố Hà Nội
- Luận văn thạc sĩ Triết học (2013) của tác giả Phạm Thị Thanh Huyền:
“Vấn đề giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên Việt Nam hiện nay (qua khảo
sát thực tế ở Hà Tĩnh)” [15] đã phân tích một số vấn đề lý luận chung về giáo
dục ý thức pháp luật; phân tích rõ đặc điểm, cấu trúc, tầm quan trọng và nội dung của việc giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên Việt Nam hiện nay; nêu thực trạng và đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay
- Tác giả Vũ Thị Hồng Vân với bài “Giáo dục pháp luật cho sinh viên
và Pháp luật đã khái quát thực trạng giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học và nêu ra các giải pháp giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học như: nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy giáo dục pháp luật cho sinh viên; hoàn thiện pháp luật về giáo dục pháp luật cho sinh viên; chuẩn hóa nội dung chương trình, giáo trình giảng dạy chính khóa; đổi mới phương pháp dạy và học pháp luật trong chương trình chính khóa; xây dựng chương trình giáo dục pháp luật ngoại khóa và đổi mới cách thức hoạt động giáo dục pháp luật ngoại khóa; nâng cao chất lượng giảng viên giảng dạy pháp luật trong các trường đại học; tăng cường công tác xã hội hóa trong các hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học
- Tác giả Dương Thị Thanh Mai với luận án Phó Tiến sĩ Luật học
(1996): “Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam – hình thức
đặc thù của giáo dục pháp luật” [21] đã phân tích vai trò của giáo dục pháp
luật trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam Luận án nêu
rõ những đặc trưng của công tác giáo dục pháp luật và đưa ra những giải pháp
Trang 12nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp
- Tác giả Lê Thị Thùy với luận văn thạc sĩ Luật học (2015): “Giáo dục
pháp luật cho sinh viên trường cao đẳng nghề qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa”
[27] đánh giá khách quan về thực trạng giáo dục pháp luật cho sinh viên trường cao đẳng nghề Thanh Hóa, thông qua đó có phương pháp đổi mới chương trình dạy và học bộ môn giáo dục pháp luật, nâng cao chất lượng công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường
- Tác giả Đinh Xuân Thảo với Luận án Phó Tiến sĩ Luật học (1996):
“Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và
dạy nghề ở nước ta hiện nay”[26] đã nêu thực trạng giáo dục pháp luật trong
các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, từ đó rút ra kinh nghiệm, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho sinh viên
- Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Phạm Trung Nghĩa (2000): “Giáo
dục pháp luật trong các trường sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”[22] đã nêu việc phổ biến, giáo dục pháp luật là công tác thường xuyên,
quan trọng nhằm nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật quân đội, pháp luật của nhà nước của cán bộ, chiến sĩ Trước yêu cầu cao của sự nghiệp xây dựng quân đội, bảo vệ tổ quốc, công tác này cần tiếp tục được coi trọng, đổi mới
- Bài viết trên Trang Web của Trường Đại học Vinh: “Giáo dục pháp
luật kết hợp giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Vinh” của ThS
Đinh Văn Liêm và SV Trương Hồ Khánh Ly (2016)[16] đã tập trung tìm hiểu thực trạng kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Vinh, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức cho sinh viên nói chung, sinh viên Trường Đại học Vinh nói riêng
- Tác giả Phùng Thị Loan với bài viết “Tăng cường công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật trong các trường Đại học nhằm nâng cao ý thức pháp luật
Trang 13cho sinh viên hiện nay”[17] đưa ra một số hình thức phổ biến, giáo dục pháp
luật trong các trường đại học hiện nay nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội không những đảm bảo yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn
có ý thức: sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
Nhận xét chung: Đến nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu xung quanh vấn
đề về phổ biến, giáo dục pháp luật Mỗi đề tài nghiên cứu, cách tiếp cận và mục tiêu khác nhau, đưa ra nhiều vấn đề rất cơ bản cả về lý luận và thực tiễn trong hoạt động giáo dục pháp luật trên nhiều góc độ, nhưng cho đến nay chưa công trình nào được công bố nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống về việc thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên từ thực tiễn Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Tuy nhiên, các công trình trên là những tài liệu tham khảo giá trị để tác giả kế thừa và hoàn thiện luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về chính sách PBGDPL cho sinh viên đại học đồng thời kết hợp với phân tích thực trạng và đánh giá chất lượng PBGDPL cho sinh viên của trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong thời gian từ năm 2014 - 2017, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên đại học ở nước ta hiện nay;
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên của Trường Đại học Nội vụ Hà Nội; chỉ rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân;
- Đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên trong thời gian tới
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên và thực tiễn tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội dưới góc độ khoa học chính sách công
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và thực tế; phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp,
so sánh
Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để thu thập, phân tích
và khai thác thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu của Đảng, Nhà nước; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của các tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chính sách PBGDPL nói chung và cho sinh viên nói riêng
Đồng thời, luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, khái quát
Trang 15thực tiễn, phân tích định lượng, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích, đánh giá chính sách và phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: hệ thống hóa các lý thuyết về chính sách công, làm rõ vị trí, vai trò, nội dung, các bước cơ bản thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên; đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận về công tác PBGDPL cho sinh viên
Về thực tiễn: Luận văn đề xuất các giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên nói chung và sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN 1.1 Nhận thức chung về thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm “chính sách” và “chính sách công”
- Khái niệm “chính sách”
"Chính sách" là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu
và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên đến nay vẫn khó có thể đưa ra một định nghĩa duy nhất Theo cách hiểu thông thường, chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo, quản lý đưa ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình Chính sách là khái niệm thường được đề cập trong khoa học hành chính, nhưng thực sự nó còn là phạm trù của khoa học chính trị
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, có thể có các định nghĩa khác nhau về chính sách:
Theo từ điển tiếng Anh, chính sách (policy) là một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng phái, nhà cai trị, chính khách Theo sự giải thích này thì chính sách không phải là một quyết định
mà nó là một đường lối hay phương hướng hành động
David Easton (1953) cho rằng chính sách là chuỗi các quyết định và các hành động phân phối các giá trị [39]
Hugh Hécslo (1972) định nghĩa một chính sách có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc những hành động cụ thể [40]
Theo Smith (1976), khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của những lực lượng có quan hệ với nhau [42]
Trang 17Như vậy, từ các định nghĩa của các tác giả trên, có thể hiểu Chính sách
là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình
Cấu trúc của chính sách gồm 3 bộ phận: Một là: Những đường hướng hành động ứng xử (là quan điểm và định hướng chính sách) Hai là: Biện pháp thực hiện chính sách, các công cụ của chính sách Ba là: Mục tiêu mà chính sách hướng tới
- Khái niệm “chính sách công”
Trên thế giới "chính sách công" hiện là một khái niệm được tranh luận từ nhiều góc độ và chưa đạt được sự thống nhất rộng rãi Một số định nghĩa tiêu biểu của các học giả nước ngoài có thể kể đến là:
William Jenkin trong tác phẩm "Policy Analysis: A Political and
Organisatinonal Perspective" (1978) cho rằng: "Chính sách công là một tập
hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó" [44]
Tác giả của "Understanding Public Policy" (1984) Thomas R Dye lại
đưa ra một định nghĩa ngắn gọn về chính sách công, song định nghĩa này lại được nhiều học giả tán thành Theo ông, "chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm" [43]
Theo Peter Aucoin trong tác phẩm "The New Public Management:
Canada in Comparative Perspective" (1995) cho rằng "chính sách công bao
gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành" Aucoin cho rằng, chính sách có thể vừa là hành động riêng biệt của Chính phủ (quyết định của chính quyền thành phố về sự phát triển ở một vùng cụ thể) vừa là kết quả của hàng loạt quyết định đa dạng (chính sách môi trường là sự kết hợp của một số lượng lớn các quyết định hành động và quyết định không hành động của
Trang 18nhiều Chính phủ) Thông thường, thuật ngữ "chính sách" được sử dụng theo nghĩa thứ hai – một chính sách được cấu thành từ một loại quyết định [41]
B Guy Peter trong : "American Public Policy: Promise and Performance" (2006) đưa ra định nghĩa: "chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân" Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là Nhà nước, đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách công đến đời sống của người dân với tư cách là một cộng đồng [38]
William N Dunn trong "Public Policy Analysis: An Introduction" (2007)
cho rằng "chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra" Ông dùng thuật ngữ "sự lựa chọn" - đây là điểm đáng lưu ý để tránh sự nhầm lẫn giữa chính sách với các khái niệm khác như quyết định hành chính [45]
Ở nước ta, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra các quan niệm về chính sách công, như:
PGS.TS Lê Chi Mai cho rằng: "Chính sách công có những đặc trưng cơ bản nhất như: Chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau [20]
TS Đặng Ngọc Lợi cho rằng chính sách công là chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra) là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước [19]
PGS TS Đỗ Phú Hải định nghĩa một cách chung nhất về chính sách công như sau: "Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có
Trang 19liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền” [14]
Từ những vấn đề trên có thể quan niệm: Chính sách công là một tập hợp
các quyết định chính trị của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu
đã xác định của đảng chính trị cầm quyền
1.1.1.2 Khái niệm “Thực hiện chính sách”
Thực hiện chính sách có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo Thomas Dye, “thực thi bao gồm tất cả các hoạt động được thiết kế để thực hiện chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp Vì các chính sách công có những tác động mong muốn hoặc có chủ định, nên chúng phải được chuyển thành các chương trình và các dự án mà sau đó được thực hiện để đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích”[43] William N Dunn quan niệm “Các hành động chính sách công có hai mục đích chính: điều chỉnh và phân bổ”, trong đó các hành động điều chỉnh là những hành động được thiết kế để bảo đảm sự tuân thủ các tiêu chuẩn hoặc thủ tục nhất định, các hành động phân bổ đòi hỏi đầu vào như tiền bạc, thời gian, nhân sự và thiết bị Các hành động điều chỉnh và phân bổ có thể có kết quả là phân phối
và phân phối lại, được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước đối với các chương trình và dự án”[45]
Như vậy, có thể hiểu thực hiện chính sách là “Toàn bộ quá trình đưa
chính sách công vào thực tiễn cuộc sống thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công”
1.1.1.3 Khái niệm “pháp luật”
Pháp luật dưới góc độ luật học được hiểu là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí chung
Trang 20của một quốc gia, khu vực, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế
Pháp luật thông thường được thực thi thông qua một hệ thống tòa án trong đó quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý Cách thức mà pháp luật được thực thi được biết đến như là một hệ thống pháp lý, thông thường phát triển trên cơ sở tập quán tại mỗi quốc gia Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành pháp luật Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi pháp luật trước khi được cho phép
có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ
Xuất phát từ các vấn đề đã phân tích ở trên có thể hiểu định nghĩa pháp
luật như sau: "Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc
chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện
ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình"
Hoặc có thể hiểu ngắn gọn như trong từ điển tiếng Việt thì "Pháp luật là
tổng hợp các quy tắc xử sự có tính bắt buộc do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế"
1.1.1.4 Khái niệm “phổ biến, giáo dục pháp luật”
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một từ ghép giữa “phổ biến pháp luật” và
“giáo dục pháp luật”
Phổ biến pháp luật:
Theo từ điển Tiếng Việt, “Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó hoặc làm cho mọi người đều biết đến” [23]
Phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội
Trang 21và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để nhà nước dùng để trị dân Bên cạnh đó phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể Ở những mức độ khác nhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội nghị, các cuộc tập huấn
Giáo dục pháp luật
Theo Từ điển Từ và ngữ Hán - Việt "Giáo dục là quá trình hoạt động có
ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội"
So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục đích lớn hơn Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thức giáo dục cụ thể
Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả
đã khá thống nhất với khái niệm giáo dục pháp luật: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành
Tóm lại, phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) hiểu theo nghĩa rộng là
công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện PBGDPL (xây dựng chương trình, kế hoạch PBGDPL; triển khai chương trình, kế hoạch PBGDPL thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp PBGDPL; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch PBGDPL) và hiểu theo nghĩa hẹp là: truyền đạt tinh
Trang 22thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành
1.1.1.5 Khái niệm “sinh viên”
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “Student” có nghĩa
là người làm việc, học tập, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức “Sinh viên”
là để chỉ những người theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh đang học ở bậc phổ thông
Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ “sinh viên” được diễn nghĩa ra là người bước vào cuộc sống, cuộc đời Còn theo từ điển tiếng Việt, khái niệm “sinh viên” được dùng để chỉ người học ở bậc đại học
Từ đó có thể hiểu, sinh viên là những người đang học tập tại các trường
đại học, nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của xã hội 1.1.1.6 Khái niệm “thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên”
- Khái niệm chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Từ các quan niệm về sinh viên, pháp luật, chính sách và chính sách công
nêu trên, có thể quan niệm: Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh
viên là tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện việc truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho sinh viên hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành
Chính sách PBGDPL cho sinh viên gồm các bộ phận hợp thành quan trọng là: những đường hướng, hành động hay còn gọi là những quan điểm, định hướng, mục tiêu và biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu đảm bảo việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên đạt hiệu quả, giúp sinh viên hiểu rõ về pháp luật và có ý thức tự giác tuân thủ, chấp hành pháp luật Đây là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy trình chính sách từ khởi động, phân tích, soạn thảo ban hành, thực thi và đánh giá chính sách
Trang 23- Khái niệm thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên là “toàn bộ quá trình đưa
chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật vào thực tiễn Việc thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực nhằm đạt được mục tiêu nhất định” Thực hiện
tốt chính sách PBGDPL cho sinh viên sẽ giúp các nội dung công việc được triển khai theo đúng kế hoạch, đạt được mục đích giúp chính sách đi vào thực
tiễn, theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước: “Đổi mới căn bản và toàn
diện giáo dục, đào tạo”, trong đó “mục tiêu giáo dục phải chuyển mạnh từ chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức sang tập trung phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”
1.1.2 Vai trò, nội dung và hình thức thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
1.1.2.1 Vai trò của thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Thực thi chính sách công có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách, bởi sự thành công của một chính sách phụ thuộc vào kết quả của thực thi chính sách Có thể có 4 khả năng xảy ra, (1) chính sách công tốt và thực hiện tốt dẫn đến thành công; (2) chính sách công tốt, nhưng thực hiện tồi dẫn đến thất bại; (3) chính sách công tồi nhưng thực hiện tốt dẫn đến thành công; (4) chính sách công tồi và thực hiện tồi dẫn đến thất bại kép [46]
Có thể thấy, đối với chính sách PBGDPL cho sinh viên, việc tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách, nó là giai đoạn hiện thực hóa mục tiêu chính sách Vai trò của tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên được thể hiện ở những phương diện sau:
- Thứ nhất, từng bước hiện thực hóa mục tiêu của chính sách PBGDPL
cho sinh viên Các mục tiêu chính sách chỉ có thể đạt được thông qua quá trình thực thi chính sách, bởi thực thi chính sách bao gồm các hoạt động có tổ
Trang 24chức được thực hiện bởi các chủ thể giáo dục, các tổ chức xã hội… trong nhà trường hướng tới đạt được các mục tiêu và mục đích đã tuyên bố trong chính sách Trong quá trình thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên, nhà trường phải ban hành các văn bản, hoặc các chương trình để hiện thực hóa các mục tiêu, mục đích của chính sách và tiến hành các hoạt động để thực hiện các văn bản, chương trình đó
- Thứ hai, khẳng định tính đúng đắn của chính sách PBGDPL cho sinh
viên Quá trình hoạch định chính sách cho ra đời một chính sách Tuy nhiên, chính sách đó có thực sự đúng đắn hay không chỉ có thể được nhận thức đầy
đủ hơn trong giai đoạn thực thi chính sách Thực thi chính sách PBGDPL cho sinh viên cung cấp những bằng chứng thực tiễn về mục tiêu chính sách có thích hợp hay không và các giải pháp chính sách có thực sự phù hợp với vấn
đề mà nó hướng tới giải quyết hay không Về phương diện lý thuyết, chính sách PBGDPL cho sinh viên được ban hành đã phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn của một chính sách tốt và mới chỉ được thừa nhận bởi các chủ thể ban hành, nhưng khi triển khai vào thực tiễn, thì tính đúng đắn của chính sách mới được khẳng định một cách chắc chắn bởi các chủ thể thực hiện và đối tượng thụ hưởng chính sách
Thứ ba, thực thi chính sách PBGDPL cho sinh viên giúp cho chính sách
ngày càng hoàn thiện hơn Chính sách PBGDPL ban đầu chỉ được mang tính định hướng về mục tiêu và giải pháp để giải quyết vấn đề Chính sách này sẽ được cụ thể hóa cho phù hợp với bối cảnh và điều kiện cụ thể của trong quá trình thực thi của cơ quan nhà nước các cấp Căn cứ vào mục tiêu và giải pháp chính sách ban đầu, các cơ quan nhà nước các cấp có thẩm quyền thiết kế và ban hành các quy định, thủ tục hoặc chương trình, dự án để cụ thể hóa các mục tiêu và giải pháp cho phù hợp bối cảnh, điều kiện thực thi cụ thể Hơn nữa, thông qua quá trình thực thi chính sách, những chủ thể thực thi đưa ra những đề xuất điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn và rút ra bài
Trang 25học kinh nghiệm cho thiết kế chính sách trong tương lai
1.1.2.2 Nội dung thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Căn cứ Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án
“Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường”; Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 25/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021; Quyết định số 3957/QĐ-BGDĐT ngày 28/9/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kế hoạch tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” đến năm 2021, thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên gồm các nội dung sau:
- Trang bị kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật
Việc PBGDPL cho sinh viên có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp sinh viên nắm vững chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối và quan điểm của Đảng về nhà nước và pháp luật; giúp sinh viên nắm các kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền và lợi ích của công dân Tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các quy định mới liên quan đến giáo dục, các hành vi bị nghiêm cấm và chế tài xử lý; chú trọng giáo dục ý thức tôn trọng, chấp hành, bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; tác động của chính sách pháp luật; nội dung chính sách pháp luật về hỗ trợ và khởi nghiệp, về phòng chống bạo lực học đường, về cải cách hành chính, về an toàn thực phẩm, về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng…
Việc trang bị kiến thức cơ bản về nhà nước và pháp luật cho sinh viên của các nhà trường nhằm góp phần đào tạo lực lượng sinh viên có phẩm chất đạo đức tốt, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, tích cực học tập, rèn luyện để sau khi ra trường, trên các cương vị của mình cơ bản thực hiện tốt chức trách,
Trang 26nhiệm vụ
- Trang bị kiến thức pháp luật liên quan đến ngành, nghề đào tạo
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp, các bộ luật luôn giữ vai trò tối thượng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, đòi hỏi sinh viên phải nắm vững không chỉ kiến thức
về Hiến pháp, pháp luật nói chung mà phải nắm vững pháp luật liên quan đến chuyên môn của mình để sau đó có thể vận dụng vào công việc chuyên môn
sau khi ra trường, hướng đến mục tiêu “Tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo
dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội”[24]
Những nội dung pháp luật liên quan đến ngành, nghề đào tạo như chính sách văn hóa; chính sách xã hội; chính sách kinh tế; chính sách môi trường; chính sách khoa học và công nghệ; chính sách về phát triển nguồn nhân lực; chính sách tôn giáo…
1.1.2.3 Hình thức thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Việc PBGDPL cho sinh viên được thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú và đa dạng: Giảng dạy các chương trình chính khóa trên lớp; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; tổ chức giao lưu theo chủ đề pháp luật; tọa đàm
về pháp luật hoặc thông qua các hình thức khác như tuần sinh hoạt công dân đầu năm học; chào cờ đầu tuần; phát sách báo, tờ rơi…
1.1.3 Chủ thể thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Tham gia thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên gồm các chủ thể trực tiếp và gián tiếp:
Chủ thể trực tiếp là các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm thực hiện chính sách và các đối tượng thụ hưởng là sinh viên các trường đại học, cao đẳng Chủ thể trực tiếp bao gồm: Bộ Giáo dục và Đào tạo; các trường đại học, cao đẳng trên toàn quốc, trong đó có sự tham gia của cán bộ, công chức, viên chức, giảng
Trang 27viên, người lao động và toàn thể sinh viên các trường đại học, cao đẳng Bên cạnh đó, còn có vai trò quan trọng của các tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên các nhà trường trong việc thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên Ngoài ra, sự phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường cũng góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên
Chủ thể gián tiếp là các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm phối hợp trong việc thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên Chủ thể gián tiếp bao gồm các cơ quan cung cấp nguồn lực (Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp…) Như vậy có thể thấy chủ thể tham gia chính sách PBGDPL cho sinh viên khá đa dạng, mang tính liên ngành Điều này đòi hỏi phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ và hiệu quả trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách để đảm bảo tính hiệu lực và mục tiêu của chính sách này
1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Công tác PBGDPL luôn được Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể
xã hội quan tâm trong nhiều năm qua và coi đây là nhiệm vụ quan trọng, góp phần nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân Hiện nay, đất nước ta đang trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân nên công tác PBGDPL càng trở nên quan trọng và cần thiết
1.2.1 Quan điểm của Đảng về phổ biến, giáo dục pháp luật
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ V, khẳng định “các cấp ủy
Đảng, các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể phải thường xuyên giải thích pháp luật trong các tầng lớp nhân dân, đưa việc giáo dục pháp luật vào các trường học, các cấp học, xây dựng ý thức sống có pháp luật và tôn trọng
pháp luật” [9]
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII nhấn mạnh “coi
trọng công tác giáo dục tuyên truyền, giải thích pháp luật, đưa việc dạy pháp
Trang 28luật vào hệ thống các trường của Đảng, của Nhà nước (kể cả các trường phổ
thông, đại học) của các đoàn thể nhân dân”[9]
Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Triển khai
mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật; huy động lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các đợt vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt động thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong cơ quan nhà nước và trong xã hội”
Tại văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng tiếp tục
nhấn mạnh “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng
cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật” [9]
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định rõ phương phướng
nhiệm vụ “…Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện… tạo môi
trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn và trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật…” Đồng thời đặt ra mục tiêu: “…Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng đạo đức, lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng
và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho thế hệ trẻ” [11]
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng CS Việt
Nam đã xác định một trong các nhiệm vụ trọng tâm: “Trong nhiệm kỳ Đại hội
XII trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện các quan điểm, nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực đã nêu trong Báo cáo chính trị
và Báo cáo kinh tế - xã hội cần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền
Trang 29vững…” và khẳng định “…Đẩy mạnh tuyên truyền…quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả” [12]
1.2.2 Chính sách của Nhà nước về thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật
Luật phổ biến, giáo dục pháp luật quy định tại Điều 3 về Chính sách của Nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật như sau: Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt Nhà nước bảo đảm nguồn lực cần thiết cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Thực hiện xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được lồng ghép trong chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo; là một nội dung trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học Công tác PBGDPL trong những năm gần đây đã được thực hiện theo các chương trình, kế hoạch cụ thể được Chính phủ phê duyệt Sau khi ban hành Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác PBGDPL trong giai đoạn hiện nay và Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch triển khai công tác PBGDPL từ năm 1998 đến năm 2002 và Thành lập Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL, công tác này đã đạt được những kết quả quan trọng Tiếp nối Chương trình này, ngày 17/01/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình PBGDPL từ năm 2003-2007 Đây là những văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng, khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc đẩy mạnh công tác PBGDPL, làm chuyển biến nhận thức, từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật trong thời kỳ đổi mới
Trang 30Để tiếp tục đưa công tác PBGDPL lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày 09/12/2003 Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân Chỉ thị đã khẳng định PBGDPL là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của các cơ quan Đảng, chính quyền, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, đồng thời công tác PBGDPL một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng Để triển khai Chỉ thị này, Chính phủ ban hành Nghị quyết
số 61/2007/NQ-CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW Ngày 12/3/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình PBGDPL từ năm
2008 đến năm 2012, trong đó có 04 đề án về PBGDPL tạo nguồn lực quan trọng cho công tác này Thủ tướng Chính phủ còn ban hành Quyết định số 2160/QĐ-TTg ngày 26/11/2010 phê duyệt Đề án tăng cường công tác PBGDPL nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011-2015; Quyết định 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) Bên cạnh đó, các Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương đã ban hành nhiều Chương trình, Kế hoạch PBGDPL
Đặc biệt, để tạo cơ sở pháp lý mạnh, đồng bộ, thống nhất cho công tác PBGDPL, góp phần nâng cao hiệu quả công tác này, ngày 20/6/2012, Quốc hội đã thông qua Luật PBGDPL, Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2013 Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/04/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; Quyết định số 27/2013/QĐ-TTg ngày 19/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp
Trang 31phổ biến, giáo dục pháp luật; Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường”; Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 25/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2017-2021
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng ban hành hệ thống văn bản về công tác PBGDPL: Quyết định số 3957/QĐ-BGDĐT ngày 28/9/2017 ban hành Kế hoạch tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” đến năm 2021
Những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể xã hội trong việc thực hiện công tác PBGDPL nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của toàn dân nói chung và của sinh viên nói riêng
1.3 Các bước thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên, các yêu cầu cơ bản và phương pháp thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
1.3.1 Các bước thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho
cụ thể các nội dung, nhiệm vụ trong kế hoạch
Việc lập kế hoạch tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến về các
cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách; số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực hiện; những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản lý và người trực tiếp thực hiện Thứ hai, kế hoạch cần xác định rõ việc cung cấp các nguồn vật lực (bao gồm cả nguồn lực tài chính
Trang 32và cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho việc thực hiện chính sách) Thứ ba, cần xác định thời gian triển khai thực hiện chính sách thông qua dự kiến thời gian duy trì chính sách, dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết, rút kinh nghiệm Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu chính sách Thứ
tư, lên kế hoạch kiểm tra thực hiện chính sách là những dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện chính sách Cùng với việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách, phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức, điều hành thực hiện chính sách
Nếu các nội dung trên của kế hoạch được xây dựng một cách chính xác, đảm bảo tính khả thi thì quá trình thực hiện chính sách sẽ thuận lợi và đạt hiệu quả cao, đồng thời trong quá trình thực hiện sẽ không phải điều chỉnh, bổ sung kế hoạch
Để xây dựng được kế hoạch thực hiện chính sách có chất lượng, chính xác, tính khả thi cao đòi hỏi người tham mưu, xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách phải hiểu và nắm chắc mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô, tầm quan trọng của chính sách PBGDPL cho sinh viên
1.3.1.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Việc phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên giúp cho sinh viên (là đối tượng thụ hưởng trực tiếp của chính sách) hiểu rõ
về mục đích, yêu cầu, tính đúng đắn và tính khả thi của chính sách Đồng thời việc tuyên truyền, phổ biến chính sách này còn giúp cho những người có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách Để phổ biến, tuyên truyền chính sách PBGDPL cho sinh viên đạt hiệu quả cao, đòi hỏi người thực hiện phải am
Trang 33hiểu chính sách, nắm vững chính xác, đầy đủ mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu, phạm vi, đối tượng của chính sách Trên cơ sở đó, xác định lựa chọn
kỹ năng, các giải pháp phổ biến, tuyên truyền chính sách cho phù hợp với đối tượng chính sách là sinh viên Tùy từng chuyên ngành học của sinh viên mà
có hình thức phổ biến, tuyên truyền và quán triệt thực hiện chính sách cho phù hợp Đối với sinh viên chuyên ngành luật thì nhận thức của các em về công tác PBGDPL sẽ có sự khác biệt đối với sinh viên các ngành học khác, do vậy cần có những hình thức phổ biến tuyên truyền chính sách phù hợp với từng đối tượng sinh viên Việc xây dựng các văn bản phổ biến, tuyên truyền phải đảm bảo tính chính xác, đúng với các quy định của chính sách và đơn giản, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện, tuyệt đối không được làm sai lệch chính sách Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách không phải là công việc đơn giản, đòi hỏi người làm công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách phải am hiểu sâu sắc về chính sách, có trình độ năng lực chuyên môn và có kỹ năng phổ biến, tuyên truyền chính sách
1.3.1.3 Phân công, phối hợp thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Bước tiếp theo sau tuyên truyền, phổ biến là phân công, phối hợp các cơ quan, đơn vị, các tổ chức, đoàn thể thực hiện chính sách theo kế hoạch được phê duyệt Chính sách công được thực thi trên phạm vi rộng lớn, nên số lượng
cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn Không chỉ có vậy, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách cũng diễn ra hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen nhau, thúc đẩy hay kìm hãm nhau theo quy luật Bởi vậy, muốn thực thi chính sách PBGDPL cho sinh viên
có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp một cách chặt chẽ, khoa học
và hợp lý giữa các cơ quan quản lý, các Bộ, ngành, Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh, các cấp chính quyền địa phương, các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng Đó là việc phân công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân có liên
Trang 34quan trong thực hiện chính sách: xác định tổ chức, cơ quan, cá nhân chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các cá nhân, tổ chức, cơ quan tham gia phối hợp trong quá trình thực hiện chính sách Đối với chính sách PBGDPL cho sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo là đơn vị chủ trì và các Bộ, ngành liên quan, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh… được giao phối hợp tổ chức thực hiện Thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách khoa học, hợp lý sẽ phát huy nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu quả chính sách
1.3.1.4 Duy trì chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Duy trì chính sách PBGDPL cho sinh viên đảm bảo cho chính sách này tồn tại và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế Muốn cho chính sách được duy trì, đòi hỏi phải có sự nhất trí và quyết tâm cao của những người tổ chức, thực thi chính sách Khi thực hiện chính sách gặp khó khăn do môi trường thực tế biến động, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách cần phải có năng lực và kiến thức để sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách; chủ động tham mưu, đề xuất với chủ thể ban hành chính sách điều chỉnh chính sách và áp dụng các biện pháp, giải pháp thực hiện chính sách phù hợp với hoàn cảnh mới Duy trì chính sách PBGDPL cho sinh viên có ý nghĩa rất quan trọng bảo đảm cho chính sách này tồn tại và phát huy tác dụng bền vững Nếu không duy trì chính sách sẽ dẫn đến hiệu quả chính sách thấp, gây lãng phí, không đáp ứng được yêu cầu quản lý, yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước Việc duy trì và bảo đảm cho chính sách PBGDPL cho sinh viên phát triển bền vững đòi hỏi đội ngũ nhân lực thực hiện chính sách phải am hiểu sâu sắc về chính sách, phải nắm chắc mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, yêu cầu, đối tượng, công cụ thực hiện chính sách này Đồng thời phải biết sử dụng các công cụ quản lý khác tác động đến việc thực hiện chính sách, đề xuất các giải pháp hỗ trợ duy trì chính sách
1.3.1.5 Điều chỉnh chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Trang 35Việc điều chỉnh chính sách là để chính sách được thực hiện có hiệu quả
mà không làm thay đổi mục tiêu chính sách Trong quá trình thực hiện chính sách, nếu gặp khó khăn do môi trường thực tế thay đổi, do chính sách còn nhiều bất cập, hạn chế, chính sách không sát và không phù hợp với thực tiễn cần có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu chính sách và phù hợp với tình hình thực tế Điều chỉnh để chính sách được thực hiện có hiệu quả nhưng không làm thay đổi mục tiêu chính sách, nếu thay đổi mục tiêu thì chính sách này coi như thất bại
Thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách PBGDPL cho sinh viên thuộc thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức ban hành chính sách nhưng việc điều chỉnh các biện pháp, các cơ chế thực hiện chính sách diễn ra linh hoạt trong quá trình thực hiện chính sách Do vậy, đội ngũ nhân lực thực thi chính sách PBGDPL cho sinh viên cần phải có năng lực hay kiến thức, kỹ năng đề xuất các giải pháp, biện pháp, cơ chế để thực hiện chính sách có hiệu quả, đảm bảo mục tiêu đã đề ra Họ phải nắm chắc các quy định, các công cụ thực hiện chính sách; phải có kiến thức, kỹ năng phân tích các hạn chế, bất cập của chính sách, các yêu cầu thực tiễn đặt ra trong thực hiện chính sách; phải đề cao trách nhiệm trong tham mưu điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách; tôn trọng nguyên tắc khi điều chỉnh chính sách Chính sách PBGDPL cho sinh viên hiện nay có cần điều chỉnh hay không hoặc điều chỉnh ít hay nhiều phụ thuộc vào tính hợp lý của chính sách và các vấn đề phát sinh khi tổ chức thực hiện chính sách trong thực tế Vì vậy, các cơ quan và cán bộ có nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách mới kịp thời phát hiện những hạn chế, bất cập để điều chỉnh, bổ sung
1.3.1.6 Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra là một nhiệm vụ, một khâu quan trọng trong
Trang 36thực thi chính sách, qua đó giúp kịp thời điều chỉnh, bổ sung chính sách và chấn chỉnh công tác thực hiện chính sách, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách Để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi những người thực thi chính sách PBGDPL cho sinh viên phải am hiểu sâu sắc mục tiêu của chính sách này, đối tượng thụ hưởng của chính sách và các quy định, công cụ, giải pháp thực hiện chính sách Đồng thời, nắm chắc và chính xác các quy định trong kế hoạch thực hiện chính sách, quy chế và nội quy thực hiện chính sách
Để thực hiện việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên, cần cập nhật đầy đủ các nguồn thông tin, các cơ sở
dữ liệu thông tin phản ánh về quá trình triển khai thực hiện chính sách từ các
cơ quan, tổ chức liên quan, đặc biệt là từ đối tượng thụ hưởng chính sách là sinh viên Trên cơ sở đó, xử lý phân tích thông tin, đối chiếu so sánh với các quy định trong chính sách, các quy định trong kế hoạch, trong quy chế, nội quy thực hiện chính sách để có cơ sở phát hiện phòng ngừa và xử lý vi phạm (nếu có), phát hiện sơ hở trong quản lý, trong tổ chức thực hiện để đề xuất các giải pháp chấn chỉnh việc thực hiện, điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách góp phần hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả chính sách
1.3.1.7 Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Đánh giá, tổng kết việc thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên là quá trình xem xét, kết luận về sự chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện chính sách của chủ thể thực hiện chính sách (Đảng ủy, Ban Giám hiệu các trường, các tổ chức đoàn thể và cán bộ, giảng viên) và việc chấp hành, thực hiện của các đối tượng thụ hưởng chính sách (sinh viên) Để công tác đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm được chính xác cần phải căn cứ vào các tiêu chuẩn, tiêu chí và các nguyên tắc nhất định Cơ sở để xây dựng tiêu chí đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách của chủ thể thực hiện chính sách là bản
Trang 37kế hoạch và quy chế, nội quy ban hành kèm theo Để tổng kết, đánh giá chính xác, phải căn cứ vào các nguyên tắc đã được xác định, thống nhất giữa các cơ quan liên quan bảo đảm tính toàn diện, công bằng và khách quan Việc đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm phải chỉ ra được chính xác ưu điểm, nhược điểm, kinh nghiệm thực hiện chính sách, các tổ chức cá nhân thực hiện tốt hoặc không tốt
Bên cạnh đó còn phải xem xét, đánh giá kết quả việc thực hiện của các đối tượng thụ hưởng trực tiếp và gián tiếp từ chính sáchPBGDPL Căn cứ để đánh giá kết quả thực hiện chính sách của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách, ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu và các quy định cụ thể của chính sách
Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm là công việc khó, phức tạp trong quá trình thực hiện chính sách, đòi hỏi các cơ quan, tổ chức cán bộ tham gia vào công việc này phải có trình độ, năng lực, kiến thức và kỹ năng nhất định Không có trình độ, năng lực, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm khó có thể đánh giá được chính xác kết quả thực hiện và rút ra được các bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách
1.3.2 Những yêu cầu cơ bản thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
Trong tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên ở nước ta hiện nay cần phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau:
Một là, yêu cầu đảm bảo mục tiêu chính sách Đây là yêu cầu quan trọng
và xuyên suốt trong quá trình thực hiện chính sách Đảm bảo mục tiêu chính sách tức là đảm bảo cho vấn đề chính sách được giải quyết Trong quá trình thực thi chính sách, nếu phát sinh những vấn đề phức tạp có thể điều chỉnh,
bổ sung nhưng tuyệt đối không được làm thay đổi mục tiêu của chính sách Mục tiêu chính sách PBGDPL cho sinh viên là nâng cao chất lượng và hiệu
Trang 38quả công tác PBGDPL trong nhà trường, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi chấp hành pháp luật của sinh viên Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, cần phải đảm bảo mục tiêu trên, nếu thay đổi mục tiêu thì chính sách coi như thất bại
Hai là, yêu cầu đảm bảo tính hệ thống Tính hệ thống trong thực hiện
chính sách thể hiện ở hai khía cạnh: hệ thống trong các cơ quan thực thi chính sách và hệ thống trong chính sách Chính sách cần đảm bảo tính thống nhất từ trên xuống dưới, từ trung ương đến địa phương, từ các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các nhà trường thực hiện công tác PBGDPL Nếu chính sách không có sự thống nhất thì quá trình thực hiện sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, có thể ảnh hưởng đến mục tiêu chính sách
Ba là, yêu cầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị… phải đảm bảo tính pháp lý,
khoa học và hợp lý trong tổ chức thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên Đây là yêu cầu căn bản trong quá trình thực hiện chính sách, nếu không đảm bảo tính pháp lý và khoa học sẽ tác động không tốt đến quá trình thực thi chính sách, ảnh hưởng đến việc bảo đảm mục tiêu chính sách Mặt khác, việc
tổ chức thực thi chính sách một các khoa học, hợp lý sẽ giúp cho việc thực thi chính sách được thuận lợi và dễ dàng đạt được mục tiêu hơn
Bốn là, yêu cầu đảm bảo lợi ích thực sự cho các đối tượng thụ hưởng
Chính sách PBGDPL cho sinh viên nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi chấp hành pháp luật của sinh viên nên nhận được sự hưởng ứng của đông đảo sinh viên Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phải bảo đảm lợi ích thật sự cho họ, tránh việc thực hiện mang tính hình thức, thực hiện cho xong vì như vậy sẽ không giải quyết được vấn đề chính sách là vấn đề nảy sinh trong thực tiễn
1.3.3 Các phương pháp tổ chức thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
1.3.3.1 Phương pháp kinh tế
Trang 39Phương pháp kinh tế là cách thức tác động gián tiếp của chủ thể thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên lên đối tượng thụ hưởng chính sách trong quá trình thực thi chính sách này Trong thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên hiện nay, các phương pháp kinh tế được sử dụng như phần thưởng tại các cuộc thi tìm hiểu pháp luật… Mặc dù trong quá trình thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên hiện nay, phương pháp kinh tế chưa được
sử dụng nhiều nhưng phần nào cũng có tác động tích cực đến quá trình thực thi chính sách này
1.3.3.2 Phương pháp giáo dục, thuyết phục
Phương pháp này được áp dụng để đối tượng thực thi chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách là sinh viên hiểu rõ sự cần thiết của chính sách và
tự giác thực hiện chính sách Phương pháp này được tiến hành thông qua các biện pháp giáo dục, tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn về chính sách PBGDPL và những lợi ích mà chính sách mang lại nhằm tác động đến ý thức, trách nhiệm của mỗi sinh viên để thúc đẩy các em tích cực và trách nhiệm hơn trong quá trình thực hiện chính sách này Trong thực tế, phương pháp này
dễ thực hiện và đem lại hiệu quả cao, thường được thực hiện thông qua các buổi quán triệt, sinh hoạt Đảng, sinh hoạt chi đoàn…
1.3.3.3 Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là phương pháp tác động trực tiếp của các nhà trường, là cơ quan có chức năng thực thi chính sách PBGDPL cho sinh viên thông qua các quyết định dứt khoát có tính bắt buộc trong khuôn khổ quy định của pháp luật lên chủ thể thực hiện chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách là sinh viên Phương pháp này có tính bắt buộc, tính quyền lực và bảo đảm kỷ cương trong quá trình thực hiện chính sách Phương pháp này thường chỉ được sử dụng khi trong quá trình thực hiện chính sách, nảy sinh các vấn đề phức tạp như mất cân bằng về quyền lợi giữa các đối tượng chính sách, gây mất đoàn kết, khiếu nại
Trang 40Trong quá trình thực hiện chính sách, các chủ thể thực hiện chính sách cũng có thể thực hiện đồng thời các phương pháp trên và việc sử dụng phải bảo đảm tính sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt và bảo đảm tính đa dạng, thích hợp
để tác động lên những đối tượng khác nhau
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho sinh viên
1.4.1 Yếu tố khách quan
Một là, tính chất của vấn đề chính sách là PBGDPL cho sinh viên Vấn đề
này có tác động trực tiếp đến sinh viên và có tác động gián tiếp đến toàn xã hội Trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều văn bản chính sách về công tác PBGDPL, trong đó có đối tượng chính sách là sinh viên Việc thực hiện những chính sách này đã có những kết quả tích cực, tạo sự chuyển biến trong tư tưởng, nhận thức của nhân dân nói chung và sinh viên nói riêng về pháp luật, hình thành niềm tin đối với pháp luật và nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật Tính chất cấp bách của vấn đề chính sách có tác động rất lớn đến kết quả của tổ chức thực hiện chính sách Tính chất của vấn đề chính sách là yếu tố khách quan có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện chính sách nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn
Hai là, môi trường thực thi chính sách PBGDPL cho sinh viên ở nước ta
hiện nay, bao gồm toàn bộ các thành phần vật chất và phi vật chất tham gia thực hiện chính sách như: các nhóm lợi ích có được từ chính sách; các điều kiện vật chất, kỹ thuật; bầu không khí chính trị; trật tự xã hội; quan hệ quốc
tế Tuy nhiên cũng cần môi trường là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và quốc
tế Chính vì vậy, một xã hội ổn định, ít biến động về chính trị sẽ đưa đến sự ổn định về hệ thống chính sách, cũng góp phần thuận lợi cho thực thi chính sách Môi trường thực hiện chính sách PBGDPL cho sinh viên ở nước ta có nhiều thuận lợi: Hệ thống chính trị ổn định; công tác PBGDPL được Đảng và