Nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ loãng xương tăng cao hơn ở những người có mật độ xương thấp: Mật độ xương là một trong những yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
NGUYỄN QUỐC HUY
THỰC TRẠNG MẬT ĐỘ XƯƠNG CỦA PHỤ NỮ 25-60 TUỔI VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ QUẢN LÝ PHÒNG CHỐNG LOÃNG XƯƠNG TẠI MỘT SỐ XÃ, PHƯỜNG THUỘC THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
THÁI BÌNH – 2017
Trang 2NGUYỄN QUỐC HUY
THỰC TRẠNG MẬT ĐỘ XƯƠNG CỦA PHỤ NỮ 25-60 TUỔI VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ QUẢN LÝ PHÒNG CHỐNG LOÃNG XƯƠNG TẠI MỘT SỐ XÃ, PHƯỜNG THUỘC THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Trang 3Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn tới: Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, các Khoa, Phòng,
Bộ môn, các Thầy, Cô giáo trường Đại học Y Dược Thái Bình đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới NGND.GS.TS Lương Xuân Hiến, PGS.TS Trần Thị Phương – Những người Thầy đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và có những ý kiến góp ý quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, Bộ Y tế và Trung tâm Y tế dự phòng các quận/huyện Hồng Bàng, Kiến An, và An Dương đã nhiệt tình giúp
đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong nghiên cứu này
Các Đồng chí trong Ban Giám đốc cơ quan đã tạo điều kiện cho tôi đi học và thực hiện nghiên cứu
Bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Trang 4
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này do chính tôi thực hiện với
sự hỗ trợ của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, Bộ Y tế, phối hợp với Trung tâm Y tế các quận/huyện Hồng Bàng, Kiến An và An Dương thành phố Hải Phòng Các số liệu, kết quả trong nghiên cứu là trung thực và chưa được
ai công bố
Tác giả
Nguyễn Quốc Huy
Trang 5
BMI Body mass index
Chỉ số khối cơ thể BMD Bone Mineral Density
Mật độ khoáng xương DXA/DEXA Dual energy X-ray absorptiometry
Đo hấp thụ tia X năng lượng kép ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
PBM Peak Bone Mass
Khối lượng xương đỉnh QUS (Quantitative Ultrasound)
Siêu âm định lượng
T – score Chỉ số đo mật độ xương (Bone mineral density) TTYT Trung tâm y tế
WHO (World Health Organization)
Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 6Bảng 3.1 Phân bố phụ nữ theo nhóm tuổi 48
Bảng 3.2 Cơ cấu nghề nghiệp của phụ nữ 25 – 60 tuổi 49 Bảng 3.3 Phân bố mức sống của gia đình đối phụ nữ 25 – 60 tuổi 50 Bảng 3.4 Tỷ lệ biết tình trạng loãng xương của người thân trong gia đình của
phụ nữ 25 – 60 tuổi 50 Bảng 3.5 Tuổi có kinh và mãn kinh trung bình của phụ nữ 25 – 60 tuổi (n=425) 51 Bảng 3.6 Phân bố trung bình cân nặng, chiều cao của phụ nữ 25 – 60 tuổi (n=425) 51 Bảng 3.7 Phân bố phụ nữ 25 – 60 tuổi theo BMI 51 3.8 Giá trị trung bình các chỉ số nhân trắc phụ nữ 25 – 60 tuổi theo tình trạng loãng xương (n=425) 52 3.9 Tỷ lệ loãng xương của phụ nữ 25 – 60 tuổi theo BMI 53 3.10 Giá trị trung bình T-score và tỷ lệ loãng xương của phụ nữ 25 – 60 tuổi 53 Bảng 3.11 Tỷ lệ tình trạng loãng xương theo tuổi của phụ nữ 25 – 60 tuổi 54 Bảng 3.12 Phân bố trung bình T-score theo tuổi của phụ nữ 25-60 tuổi 54 Bảng 3.13 Giá trị trung bình T-score theo tình trạng mãn kinh ở phụ nữ 25-60 tuổi 55 Bảng 3.14 Giá trị trung bình T-score theo thời gian mãn kinh 55 Bảng 3.15 Phân bố tình trạng loãng xương theo nghề nghiệp của phụ nữ 25-
60 tuổi (n=425) 56 3.16 Tỷ lệ loãng xương theo thời gian có kinh của phụ nữ 25-60 tuổi 56 Bảng 3.17 Giá trị trung bình T-score tuổi có kinh lần đầu của phụ nữ 25-60 tuổi 577
Trang 7Bảng 3.19 Kiến thức của cộng tác viên và cán bộ y tế phường/xã về hậu quả của bệnh loãng xương (n=80) 60 Bảng 3.20 Tỷ lệ cộng tác viên và cán bộ y tế phường/xã biết triệu chứng thường gặp của bệnh loãng xương (n=180) 60 Bảng 3.21 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về việc cần làm khi có biểu hiện của bệnh loãng xương (n=180) 61 Bảng 3.22 Kiến thức của cộng tác viên và cán bộ y tế về cách phòng bệnh loãng xương 61 Bảng 3.23 Kiến thức của cộng tác viên và cán bộ y tế về các loại thuốc sử dụng có nguy cơ gây bệnh loãng xương (n=180) 62 Bảng 3.24 Tỷ lệ cộng tác viên và cán bộ y tế theo địa bàn nghiên cứu biết địa phương có buổi nói chuyện về bệnh loãng xương 63 Bảng 3.25 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết địa phương có khám phát hiện bệnh loãng xương 63 3.26 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo địa bàn nghiên cứu biết có khám phát hiện bệnh loãng xương 64 Bảng 3.27 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có nhu cầu tham gia lớp tập huấn về quản lý chăm sóc bệnh nhân loãng xương 64 Bảng 3.28 Tỷ lệ đối tượng theo địa bàn nghiên cứu có nhu cầu tham gia lớp tập huấn về quản lý chăm sóc bệnh nhân loãng xương 65
Trang 8Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo quận/huyện 49 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ loãng xương của phụ nữ 25-60 tuổi 52 Biểu đồ 3.3 Phân bố tỷ lệ loãng xương theo thời gian mãn kinh ở nữ giới 57 Biểu đồ 3.4 Thực trạng nghe/biết về mật độ xương/ bệnh loãng xương của cộng tác viên và cán bộ y tế phường/xã (n=180) 58 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ cộng tác viên và cán bộ y tế biết địa phương có buổi nói chuyện phòng chống bệnh loãng xương 62
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm 3
1.1.1 Loãng xương 3
1.1.2 Giảm mật độ xương 3
1.1.3 Nhuyễn xương 3
1.2 Cấu tạo và chức năng của xương 3
1.2.1 Cấu tạo xương 3
1.2.2 Chu chuyển của xương 4
1.2.3 Sinh lý xương và bệnh loãng xương 5
1.3 Tình hình mắc loãng xương và một số yếu tố liên quan 7
1.3.1 Tình hình mắc loãng xương trên thế giới 7
1.3.2 Tình hình mắc loãng xương tại Việt Nam 9
1.3.3 Một số yếu tố liên quan tới loãng xương 11
1.4 Các phương pháp đánh giá mật độ xương 18
1.4.1 Vai trò của X quang quy ước trong chẩn đoán loãng xương 18
1.4.2 Phương pháp đo mật độ xương 19
1.4.3 Một số phương pháp khác 21
1.4.4 Ý nghĩa của đo mật độ xương 24
1.4.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương dựa trên đo mật độ xương 24
1.5 Một số nghiên cứu liên quan tới kiến thức, thực hành phòng chống loãng xương tại cộng đồng 25
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Địa bàn, đối tượng, thời gian nghiên cứu 33
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 33
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 34
Trang 102.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 35
2.2.3 Các chỉ số và biến số sử dụng trong nghiên cứu 36
2.2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 41
2.2.5 Tổ chức thu thập số liệu 42
2.3 Các biện pháp hạn chế sai số trong nghiên cứu 45
2.4 Xử lý số liệu 45
2.5 Phạm vi nghiên cứu 46
2.6 Đạo đức nghiên cứu 46
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
3.1 Thông tin đối tượng nghiên cứu 48
3.2 Phân bố mật độ xương và loãng xương ở đối tượng nghiên cứu 51
3.3 Kiến thức, thực hành phòng chống loãng xương của cộng tác viên và cán bộ trạm y tế phường/xã 58
Chương 4 BÀN LUẬN 66
4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 66
4.1.1 Về độ tuổi của đối tượng nghiên cứu 67
4.1.2 Về nghề nghiệp và mức sống hộ gia đình của người dân 68
4.2 Thực trạng loãng xương của phụ nữ từ 25-60 tuổi 69
4.2.1 Tỷ lệ loãng xương chung của người dân 69 9 4.2.2 Tỷ lệ loãng xương của phụ nữ theo tuổi, nghề nghiệp 70
4.2.3 Tỷ lệ loãng xương của phụ nữ theo chiều cao, cân nặng 73
4.2.4 Tỷ lệ loãng xương của phụ nữ theo tiền sử kinh nguyệt 76
4.3 Kiến thức của cộng tác viên và cán bộ y tế về bệnh loãng xương 77
4.3.1 Kiến thức về đối tương có nguy cơ bị loãng xương 78
4.3.2 Kiến thức về triệu chứng thường gặp và hậu quả của bệnh loãng xương 79
4.3.3 Kiến thức về cách phòng, chống bệnh loãng xương 81
4.3.4 Một số vấn đề quản lý bệnh loãng xương của cộng tác viên, cán bộ y tế 83
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 12ăn của người Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu phòng ngừa loãng xương Lượng can-xi ăn vào trung bình là 524mg/người/ngày, thấp hơn
so với nhu cầu trung bình 800-1.000mg/người/ngày đối với người lớn Mặc
dù đã có một số nghiên cứu về loãng xương được thực hiện ở nước ta, tuy nhiên địa bàn nghiên cứu còn khá tản nạn, hạn hẹp mới chỉ tập trung vào một vài đô thị lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh
Nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ loãng xương tăng cao hơn ở những người có mật độ xương thấp: Mật độ xương là một trong những yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến độ vững chắc của xương
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mật độ xương như tuổi, yếu tố dinh dưỡng, vận động, tình trạng mãn kinh, sử dụng một số thuốc ảnh hưởng đến mật độ xương Mật độ xương, tỉ lệ mất xương, và nguy cơ loãng xương đều liên quan với nhau và cả hai yếu tố mật độ xương thấp và mất nhiều xương đều đã được chứng minh có liên quan đến nguy cơ gãy xương
Các nghiên cứu về mật độ xương đã được thực hiện ở nước ta, sử dụng một số phương pháp đo mật độ xương khác nhau trong đó số đông các tác giả
Trang 13đã áp dụng phương pháp đo DEXA bởi đây là phương pháp đo có giá trị chẩn đoán cao nhất hiện nay Tuy nhiên các nghiên cứu đo DEXA cũng mới chỉ được thực hiện trong một phạm vi hẹp tại cộng đồng hay trong bệnh viện Do vậy, đo mật độ xương bằng phương pháp siêu âm định lượng, tuy độ đặc hiệu không cao bằng phương pháp DEXA nhưng phù hợp với điều kiện kinh tế và thực tiễn ở Việt Nam, có thể tiến hành với quy mô lớn và có giá trị sàng lọc trong cộng đồng Đáng chú ý, hiện chưa có nghiên cứu nào phản ánh được mật độ xương phụ nữ cũng như vấn đề quản lý loãng xương tại Hải Phòng
Xuất phát từ bối cảnh trên, chúng tôi thực hiện đề tài "Thực trạng mật độ xương của phụ nữ 25-60 tuổi và kiến thức, thực hành về quản lý phòng chống loãng xương tại một số phường xã thành phố Hải Phòng" nhằm 2
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Loãng xương (osteoporosis): Còn gọi là thưa xương, xốp xương, là
tình trạng giảm đáng kể khối lượng xương, thường đi kèm với gẫy xương tự nhiên hoặc do một chấn thương rất nhẹ, đặc biệt là sự có mặt của lún một hoặc nhiều đốt sống
1.1.2 Giảm mật độ xương (osteopenia): Chỉ khối lượng xương thấp đơn
thuần so với tuổi và giới, còn được gọi là tình trạng nhược xương sinh lý
1.1.3 Nhuyễn xương (osteomalacia): Là tình trạng xốp xương và rối loạn
quá trình lắng đọng chất khoáng liên quan tới sự thiếu hụt vitamin D, gặp chủ yếu ở những người già
Loãng xương và nhuyễn xương có thể đi kèm với nhau do có sự đề kháng tương đối với vitamin D ở những người già Loãng xương - nhuyễn xương là bệnh phối hợp giữa sự hiếm tổ chức xương và các viền dạng cốt bào [20]
1.2 Cấu tạo và chức năng của xương
1.2.1 Cấu tạo xương
Cấu tạo chung của xương gồm có lớp màng xương (lớp ngoài là lớp mô liên kết sợi chắc, mỏng, dính chặt vào xương, có tính đàn hồi, trên màng có các lỗ nhỏ và lớp trong gồm các tạo cốt bào có nhiều mạch máu và thần kinh đến nuôi xương Nhờ lớp tế bào này mà xương có thể lớn lên, to ra) Kế đến
là phần xương đặc và phía trong là xương xốp (do nhiều bè xương bắt chéo nhau chằng chịt, để hở những hốc nhỏ trong như bọt biển) Trong cùng là phần tủy xương nằm trong lớp xương xốp Bộ xương người có khoảng 220 xương và chiếm khoảng 15% trọng lượng cơ thể Các nhà khoa học xem cấu trúc của xương như một tuyệt tác về kiến trúc
Trang 15Xương có nhiều chức năng, nhưng chủ yếu có các chức năng chính như sau; Chức năng hỗ trợ và vận động; Chức năng đóng vai trò bảo vệ cho các cơ quan trong cơ thể; Chức năng thứ ba là nơi chứa chất khoáng (99% can-xi, 80% phospho và 50% ma-nhê của cơ thể được lưu trữ trong xương Có khoảng 1 đến 1,5kg can-xi được xây dựng vào bộ khung xương dưới hình thức tinh thể hydroxypapatilee); Thứ tư xương còn là kho chứa chất nền protein (50% chất hữu cơ: 25% chất nền và 25% nước) Chất nền có 90% là collagen loại I và 10% các protein khác Bộ xương còn tham gia điều hòa nội tiết và chuyển hóa năng lượng qua cơ chế liên quan đến leptin và osteocalcin,
là chức năng thứ năm của bộ xương
Xương là một mô liên kết đặc biệt có nhiều chức năng quan trọng như góp phần tạo nên dáng dấp cơ thể, nâng đỡ trọng lượng cơ thể, bảo vệ các bộ phận quan trọng trong cơ thể, và cùng với hệ thống cơ giúp cho chúng ta di chuyển dễ dàng Xương còn là một “kho” lưu trữ chất khoáng như can-xi và phospho.Trong cơ thể, xương có những thành phần cơ bản bao gồm các tế bào xương (tạo cốt bào, huỷ cốt bào), chất khuôn xương (bone matrix) với thành phần chủ yếu là chất keo Collagen (chiếm 90%) và các chất khoáng như calci, phosphat, cacbonat, Kali [21]
Dựa vào đặc điểm sinh lý, xương có thể chia làm hai loại: xương xốp (trabecular hay cancellous bones) và xương đặc (cortical bones) Tính trung bình, xương xốp chiếm khoảng 20% tổng khối lượng xương, và phần 80% còn lại là xương đặc Xương xốp được cấu tạo bởi một mạng tế bào rất phức tạp và tinh vi Do đó, xương xốp có độ chuyển hóa cao, có diện tích rộng hơn,
và dễ bị gãy hơn xương đặc
1.2.2 Chu chuyển của xương
Thực tế xương là một mô liên tục có chuyển hóa (metabolism) và đổi mới (remodeling) Cả hai quá trình này được điều hòa bởi các yếu tố tại chỗ
và toàn thân Một chu kỳ đổi mới xương bao gồm 3 giai đoạn: giai đoạn hủy
Trang 16xương (resorption), giai đoạn chuyển đổi (reversal) và giai đoạn tạo xương mới (formation) Để hoàn thành quá trình tái tạo xương cần mất 3-4 tháng, sau đó là giai đoạn nghỉ dài trước khi bắt đầu một chu kỳ đổi mới xương tiếp theo
Trong suốt cuộc đời của một người, xương cũ bị loại bỏ (tiêu xương) và xương mới được thêm vào bộ xương (hình thành) Trong những năm thời thơ
ấu và thiếu niên, xương mới được thêm vào nhanh hơn so với xương cũ bị loại bỏ Kết quả là, xương trở nên lớn hơn, nặng hơn và dày đặc hơn
Quá trình phát triển cơ thể, khối lượng xương trải qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu: khối lượng xương tăng dần để đạt đến giá trị tối đa (gọi
là khối lượng xương đỉnh), Peak Bone Mass – PBM PBM được định nghĩa
là khối lượng mô xương lúc kết thúc giai đoạn trưởng thành Thời điểm đạt được PBM khác nhau giữa nam và nữ Tuy nhiên, đạt mức cao nhất ở tuổi trưởng thành vào khoảng 25 tuổi và duy trì khoảng 10 năm sau đó Đỉnh của khối xương chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó có yếu tố dinh dưỡng [19]
- Giai đoạn hai là giai đoạn mất xương chậm: giai đoạn này phụ thuộc vào tuổi và giới, nữ thường ở tuổi mãn kinh và nam khoảng 52 tuổi
- Giai đoạn ba là giai đoạn mất xương nhanh: giai đoạn này xuất hiện ở
nữ sau mãn kinh Trong toàn bộ cuộc đời một phụ nữ sẽ mất khoảng 35% xương đặc và 50% xương xốp, nam giới mất khoảng 2/3 số này [22]
1.2.3 Sinh lý xương và bệnh loãng xương
Tái mô hình là quá trình xương liên tục sửa chữa và tự làm mới Mục đích của quá trình này là để duy trì mật độ xương ở mức tối ưu.Quá trình tái
mô hình còn có chức năng giúp cho việc sửa chữa những xương bị tổn hại, kể
cả khi xương bị "vi nứt" (microcrack) hay gãy xương Xương bị suy giảm khi các tế bào hủy xương tạo ra những lỗ phân hủy sâu hoặc khi các tế bào tạo
Trang 17xương không có khả năng lắp vào những lỗ hổng do các tế bào hủy xương để lại
Trong quá trình hoạt động, xương chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như nội tiết tố estrogen và testosterone, là hai hormone đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn tạo xương Tác động của estrogen đến xương là qua thụ thể estrogen (estrogen receptor-ER) Ảnh hưởng của estrogen đến quá trình tái mô hình là làm giảm số lượng phát sinh, hình thành các enzym và protein qua những cơ chế phức tạp liên quan đến các hormone khác Estrogen tác động đến các tế bào tạo xương và tế bào hủy xương để ức chế sự phân hủy xương ở mọi giai đoạn trong quá trình tái mô hình xương Ngay thời điểm hay sau thời kỳ mãn kinh, estrogen bị suy giảm và hệ quả là mật độ xương cũng suy giảm nhanh chóng, nhất là trong loãng xương năm đầu sau mãn kinh Testosterone kích thích sự tăng trưởng của cơ và tác động tích cực đến quá trình tạo xương Testosterone còn sản sinh ra estrogen trong quá trình tác động đến cơ và xương [18]
Các chức năng tạo xương, hủy xương và chuyển hóa xương nói chung được điều phối bởi một số yếu tố toàn thân và yếu tố nội tại Các yếu tố toàn thân có vai trò trong việc duy trì quân bình can-xi Những yếu tố này bao gồm các yếu tố tại chỗ ảnh hưởng đến sự vận hành của tế bào (các cytokin và colony stimulating factors) và các yếu tố tăng tưởng (growth factors) kích thích sản sinh các tế bào tạo xương và biệt hóa tế bào Can-xi đóng vai trò rất quan trọng trong hình thành, phát triển và duy trì bộ xương Các hormone cận giáp (Parathyroid hormone này đóng vai trò duy trì sức khỏe của xương Parathyroid hormone giúp duy trì nồng độ can-xi trong máu, tăng trưởng cả hai quá trình tạo xương và hủy xương, giúp di chuyển can-xi trong máu, tăng trưởng cả hai quá trình tạo xương và hủy xương, giúp di chuyển can-xi khỏi xương vào máu, nhưng khi Parathyroid hormone gia tăng sẽ đưa đến chứng cường cận giáp và dẫn đến mất xương Calcitriol hay 1,25D được sản sinh từ
Trang 18cholecalciferol Một trong những nguyên nhân gây nên mất xương dẫn đến bệnh loãng xương là do thiếu estrogen Mất xương trong quá trình tái mô hình
là do tăng các tế bào hủy xương so với các tế bào tạo xương
1.3 Tình hình mắc loãng xương và một số yếu tố liên quan
1.3.1 Tình hình mắc loãng xương trên thế giới
Tại Châu Âu người ta ước tính cứ mỗi 30 giây có một người gãy xương
do loãng xương Nhiều nghiên cứu cho thấy 1/3 số người trên 65 tuổi bị té ngã ít nhất một lần trong năm, 40-60% dẫn đến chấn thương, trong đó 5% bị gãy xương (1% là gãy xương hông) [40] Những người ở độ tuổi từ 50 trở lên
ở Châu Âu ước tính có hàng trăm nghìn người mới gãy xương hông, được cho
là hậu quả nặng nề nhất của loãng xương Với quy mô dân số thế giới dự kiến
sẽ gia tăng sự già hóa dân số, cùng với yếu tố lối sống, tỷ lệ loãng xương được dự báo sẽ tăng gấp đôi trong vài chục năm tới [43]
Theo các nghiên cứu tại Nga, 33,8% nữ giới và 26,9% ở nam giới trên 50 tuổi mắc loãng xương Các chuyên gia y tế ước tính có 14 triệu người (10% dân số) mắc bệnh loãng xương và 20 triệu người giảm mật độ xương tại nước này Bên cạnh đó, Ucraina cũng ước tính số phụ nữ mãn kinh có nguy cơ loãng xương và giảm mật độ xương là 7 triệu người (28% tổng số phụ nữ) [31] Tại Pháp, thống kê cho thấy có khoảng 4- 5 triệu người phụ nữ bị loãng xương, con số đó ở nam giới là khoảng 1,4 triệu người Mỗi năm có từ 3 đến
5 ngàn trường hợp bị gãy cổ xương đùi, trong đó 10% bị tàn phế và chi phí cho điều trị rất cao Năm 2003, thống kê có 7,8 triệu người Đức trong số đó
có 6,5 triệu là phụ nữ đã bị ảnh hưởng bởi bệnh loãng xương, trong đó 4,3%
đã trải qua ít nhất một lần gãy xương lâm sàng và chỉ có 21,7% được điều trị với một loại thuốc chống loãng xương Người ta ước tính sự gia tăng tỷ lệ gãy xương hông ở Đức từ 117.000 trường hợp trong năm 2000 sẽ lên đến khoảng 240.000 trong năm 2040 Ở một số nước thuộc khu vực Nam Âu như Tây Ban Nha, theo thống kê vào năm 2010 có khoảng 2,45 triệu người từ 50 tuổi trở
Trang 19lên bị loãng xương, số gãy xương mới vào khoảng hơn 200.000 trường hợp [35]
Ở Châu Á, mức độ lưu hành loãng xương ở người dân cao hơn những nước phương Tây do sự thấp hơn về chiều cao và chỉ số khối cơ thể [43] Tỷ
lệ gãy xương hông được báo cáo về từ nhiều quốc gia Châu Á cho thấy rằng
tỷ lệ gãy xương đã thay đổi đáng kể trong các quần thể khác nhau, các quốc gia khác nhau.Nhiều trường hợp loãng xương chưa được chẩn đoán và điều trị, ngay cả ở những người bệnh có nguy cơ cao nhất và đã bị gãy xương, đặc biệt là người bệnh ở khu vực nông thôn Trung Quốc là nước đông dân nhất trên thế giới và sự gia tăng đáng kể dân số trong những thập niên gần đây, bệnh loãng xương ngày càng trở nên phổ biến và sẽ tiếp tục tăng trên toàn đất nước Thống kê hiện nay tại Trung Quốc cho thấy, gần 7% ở người trường thành mắc bệnh loãng xương, 22% nam giới và 14,1% nữ giới từ 50 tuổi trở lên mắc loãng xương, khu vực thành thị chiếm thấp hơn khu vực nông thôn Loãng xương đã ảnh hưởng tới nhiều người Trung Quốc trên 50 tuổi và đã gây ra nhiều trường hợp gãy xương mỗi năm tại nước này [33]
Tại Nhật Bản, tần suất bệnh loãng xương ở phụ nữ trong độ tuổi 50-79 được ước tính là khoảng 35% ở cột sống và 9,5% ở hông Tình trạng gãy xương hông mới tăng lên theo thời gian, và tổng số gãy xương hông được dự báo sẽ là khoảng 238.000 vào năm 2030 [47] Tại Thái Lan, qua cuộc khảo sát trên các phụ nữ được đo ở xương hông và cột sống, thì tỷ lệ lưu hành loãng xương là 13,6% ở xương hông và 19,8% ở cột sống Nghiên cứu ở phụ nữ Ấn
Độ trong nhóm có mức thu nhập thấp, mật độ xương được báo cáo là thấp hơn nhiều so với phụ nữ được báo cáo từ các nước phát triển, với tỷ lệ giảm mật độ xương là 52%, loãng xương là 29%[33]
Tại Mỹ, theo các thống kê cho thấy tình trạng loãng xương mỗi năm xảy
ra trên 1,5 triệu trường hợp, trong đó có khoảng 300.000 trường hợp gãy xương hông [58][59] Một cuộc khảo sát loãng xương ở phụ nữ các dân tộc
Trang 20khác nhau tại Mỹ cho kết quả bệnh ở phụ nữ Mỹ bản địa và phụ nữ gốc Châu
Á là xấp xỉ ngang nhau (10%), phụ nữ da trắng 7,2% và phụ nữ da đen thấp nhất 4,2% [60] Tại Canada, loãng xương cũng ảnh hưởng đến khoảng 1,4 triệu người dân, chủ yếu là phụ nữ sau mãn kinh và người cao tuổi Theo các báo cáo cho thấy con số dự báo đến năm 2030 cho các trường hợp gãy xương hông sẽ tăng gấp bốn lần so với thời điểm hiện tại [35]
1.3.2 Tình hình mắc loãng xương tại Việt Nam
Tại Việt Nam, con số dự báo về dân số sẽ tăng lên khoảng 104 triệu người vào năm 2030 và số người trên 65 tuổi dự đoán cũng tăng lên Đã có những công trình nghiên cứu trong vòng vài chục năm qua về bệnh và tình hình loãng xương gần đây đã được giới y khoa quan tâm hơn Trước đây các thầy thuốc đã có một thời gian dài bỏ quên người bệnh loãng xương trên lâm sàng, chưa có những quan tâm chẩn đoán, theo dõi và điều trị phù hợp, việc phòng bệnh gần như chưa được các bác sĩ đặt ra, nhất là thực trạng loãng xương tại cộng đồng Thêm vào đó nền tảng nhận thức của xã hội về bệnh cũng còn rất thấp, phương tiện chẩn đoán còn thiếu và chỉ tập trung ở các đô thị lớn
Nghiên cứu về khảo sát tỷ lệ loãng xương và các yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân lớn hơn 50 tuổi tại huyện Cái Nước, Cà Mau thu thập được từ 260 bệnh nhân tuổi trung bình 69,55±9,7 gồm Nam 40,76%; Nữ 59,24% Tỷ lệ loãng xương chung được khảo sát là 21,53% Tỷ lệ loãng xương ở nam giới là 14,15%, ở nữ giới là 26,62% (p<0,05) Tỷ lệ loãng xương tăng lũy tiến theo tuổi (p<0,05) Trong nhóm gãy xương sống, tỷ lệ loãng xương 53,5% (p>0,05) Tần suất loãng xương trên các yếu tố nguy cơ: gãy xương sống, hút thuốc lá hay té ngã, mạn kinh sớm nhiều hơn nhóm không phơi nhiễm có ý nghĩa (p<0,05) Không ghi nhận sự khác biệt trên các yếu tố nguy cơ: uống rượu, không tập thể dục và không uống sữa [17]
Trang 21Nghiên cứu của Hồ Phạm Thục Lan về chẩn đoán loãng xương trên
1227 cá nhân (gồm 357 nam và 870 nữ), từ 18 đến 89 tuổi, được chọn ngẫu nhiên trong các quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: ở nữ, dựa vào chỉ số TVN (chỉ số T cho từng cá nhân trên 50 tuổi) ở cổ xương đùi, tỉ lệ loãng xương là 28,6%, nhưng dựa vào TDXA (chỉ số T do máy DXA cung cấp) tỉ lệ loãng xương là 43,7% Ở nam, tỉ lệ loãng xương dựa vào TVN là 10,4%, thấp hơn khoảng 20% khi so với tỉ lệ loãng xương dựa vào TDXA (29,6%) [10,11]
Nghiên cứu của Nguyễn Huy Thông về đánh giá mật độ xương và tỷ lệ loãng xương ở các bệnh nhân khám và điều trị tại bệnh viện 103 cho thấy: mật độ xương cổ xương đùi có giá trị lớn nhất ở độ tuổi 20-30, sau đó giảm dần theo tuổi Khi so sánh giữa nam và nữ, mật độ xương của nữ giới thấp hơn nam giới có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Tỷ lệ loãng xương là 14%, trong
đó nữ chiếm 16%, nam giới chiếm 9,6% Tỷ lệ này tăng dần theo tuổi, cao nhất là nhóm trên 70 tuổi [15]
Loãng xương có liên quan đến nhiều yếu tố như tình trạng mãn kinh, thói quen tập luyện, ăn uống Nghiên cứu của Lê Dũng và Nguyễn Trung Kiên trên 324 người cao tuổi tại thành phố Cần Thơ năm 2011 nhằm mục tiêu tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến loãng xương ở người cao tuổi Kết quả cho thấy người cao tuổi là nữ tập luyện <150 phút/tuần có tỷ lệ loãng xương 57,05% gấp 1,81 lần người tập luyện nhiều hơn 150 phút/tuần; Người cao tuổi
là nữ không uống sữa mỗi ngày có tỷ lệ loãng xương 55,81% gấp 1,81 lần người có uống sữa mỗi ngày; Người cao tuổi là nữ ăn kiêng có tỷ lệ loãng xương 55% gấp 1,73 lần người không ăn kiêng; Người cao tuổi uống cà phê mỗi ngày có tỷ lệ loãng xương 55,38% gấp 1,89 lần người không uống mỗi ngày Chưa thấy sự liên quan giữa loãng xương và tình trạng mãn kinh ở nữ giới; thói quen uống rượu, hút thuốc lá ở nam giới; chiều cao, cân nặng và chỉ
số khối cơ thể [5].
Trang 22Nghiên cứu khảo sát mật độ xương và tìm hiểu những yếu tố liên quan đến bệnh loãng xương của phụ nữ ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây được tiến hành trên 305 phụ nữ gồm 161 phụ nữ đã mãn kinh và 144 phụ
nữ chưa mãn kinh Kết quả cho thấy tỷ lệ loãng xương và thiếu xương ở phụ
nữ mãn kinh cao hơn rõ rệt so với phụ nữ chưa mãn kinh Các yếu tố liên quan đến loãng xương bao gồm: tuổi, thể trạng, mức độ lao động thể chất, tình trạng dinh dưỡng, đặc biệt là chất đạm, thực phẩm giàu can xi, và số con [3]
Trong nghiên cứu của Lưu Ngọc Giang thực hiện tại thành phố Mỹ Tho trên 225 phụ nữ mãn kinh, Những đối tượng thỏa mãn tiêu chí chọn mẫu được
đo mật độ xương bằng siêu âm định lượng, máy QUS-2 do Metra Biosystems (Mỹ) sản xuất Kết quả cho thấy: khi chia thời gian mãn kinh của các đối tượng ra 2 nhóm: nhóm A dưới hoặc bằng15 năm và nhóm B > 15 năm, nhóm
A có 59 người có mật độ xương bìnhthường, 73 người có mật độ xương thấp Nhóm B có 23 người có mật độ xương bình thường, 70 người có mật độ xương thấp Nghiên cứu đã kết luận rằng có mối liên quan có ý nghĩa thống
kê giữa thời gian mãn kinh và tình trạng loãng xương tính theo T-score khi siêu âm định lượng mật độ xương [7]
1.3.3 Một số yếu tố liên quan tới loãng xương
Những yếu tố nguy cơ gây ra loãng xương và gãy xương do loãng xương gồm 2 nhóm: nhóm có thể thay đổi được và nhóm không thay đổi được Một số nguy cơ thứ phát khác gồm có một số bệnh lý và thuốc có ảnh
hưởng tiêu cực cho xương
1.3.3.1 Những yếu tố liên quan đến loãng xương thay đổi được
Một bộ xương khỏe mạnh cần một nguồn cung cấp liên tục về năng lượng và các chất dinh dưỡng Thời kỳ ấu thơ và vị thành niên là những thời điểm quan trọng để xây dựng khối lượng xương và thành lập xương mới, làm cho xươngtrở nên lớn hơn và dày đặc hơn Một trong những yếu tố nguy cơ
Trang 23chính có thể ảnh hưởng đến mật độ xương đó là chế độ ăn thiếu can-xi, nhất
là ở trẻ em, vị thành niên và người trưởng thành trẻ [23]
Những nghiên cứu trên đối tượng là thanh thiếu niên cho thấy khi cung cấp một chế độ ăn tăng cường can-xi hoặc uống sữa thì có liên quan đến tăng cường hấp thu can-xi cho xương Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, người trưởng thành cần ít nhất 800 IU vitamin D và1.000 đến 1.200 mg can-
xi mỗi ngày để có thể bảo vệ chống lại loãng xương [34] Tuy nhiên, tại Việt Nam cũng như nhiều nước Đông Nam Á, lượng can-xi được cung cấp qua ăn uống hàng ngày rất thấp [33] Lượng can-xi cung cấp qua bữa ăn trung bình cho phụ nữ sau mãn kinh tại Việt Nam là 683mg/ngày
Cùng với can-xi, protein cũng là một thành phần quan trọng của mô xương Protein có ảnh hưởng đến tính toàn vẹn của xương, vì vậy suy dinh dưỡng do thiếu protein cũng dẫn đến giảm khối cơ và sức mạnh cơ nên có thể
là yếu tố nguy cơ gây té ngã Tình trạng dinh dưỡng kém, đặc biệt là đối với vấn đề thiếu chất đạm thường phổ biến ở người lớn tuổi có liên quan đến mật
độ xương và nghiêm trọng hơn ở những bệnh nhân bị gãy xương hông [17] Ở nam giới và phụ nữ lớn tuổi có tổng số đạm động vật được cung cấp trong chế
độ ăn thấp hơn thì có tỷ lệ mất xương hông và xương cột sống nhiều hơn so với người tiêu thụ số lượng đạm cao Một trong những cơ chế mà lượng sử dụng protein tăngcó thể có tác động thuận lợi trên xương là thông qua sự gia tăngnồng độ của IGF-I trong máu, mà nó là một hợp chất quan trọng trong việc tham gia thúc đẩy hình thành xương [57]
Mặc dù các bằng chứng nghiên cứu ở trên cho thấy protein mang lại lợi ích cho sức khỏe xương và thúc đẩy sự phục hồi ở người bệnh gãy xương hông, nhưng vẫn có những nghiên cứu cho rằng nếu một chế độ ăn quá nhiều protein có thể có tác động tiêu cựctrên sự trao đổi chất can-xi và có thể gây mất xương Điều này liên quan đến giả thuyết cho rằng sự cân bằng axít - kiềm của chế độ ăn uống là một yếu tố nguy cơ tiềm ẩn cho bệnh loãng
Trang 24xương Khi thức ăn đã được tiêu hóa, hấp thu và chuyển hóa trong cơ thể, nó tạo ra những sản phẩm có tính axít, trung tính hoặc kiềm Khi axít được tạo
ra, nó cần phải được trung hòa bởi hệ thống đệm để duy trì độ pH trong máu ở mức tối ưu cho các tế bào trong cơ thể Hệ thống đệm này được điều hòa bởi các hoạt động của thận (bài tiết các chất a-xít) và phổi (thở ra khí carbon dioxide) Đã có giả thuyết cho rằng, nếu chế độ ăn uống cung cấp thực phẩm
có tính a-xít chiếm ưu thế (bao gồm nguồn protein là chủ yếu) và không đủ thức ăn giàu chất kiềm, thì các muối kiềm của bộ xương có thể bị lôi kéo vào giúp quá trình đệm, sau đó một số lượng can-xi từ xương bị mất qua nước tiểu
Vitamin K cần thiết cho việc sản xuất và hoạt động của osteocalcin (là protein nhiều thứ hai trong xương sau collagen) Một số bằng chứng cho thấy rằng nếu cung cấp Vitamin K thấp trong chế độ ăn hoặc tình trạng thiếu Vitamin K trong cơ thể sẽ góp phần làm giảm mật độ xương và gia tăng nguy
cơ gãy xương ở người già Vai trò của Vitamin A trong nguy cơ gây loãng xương hiện còn đang tranh cãi Nếu tiêu thụ một lượng rất cao Vitamin A (cao hơn mức tiêu thụ hàng ngày được đề nghị) thì có ảnh hưởng xấu đến xương (cùng với gan và da) Một nghiên cứu quan sát dựa vào dân số trên phụ
nữ sau mãn kinh tại Mỹ đã tìm thấy một mối liên hệ giữa mức độ sử dụng vitamin A và nguy cơ gãy xương hông Muối khoáng magie có liên quan đến
sự hằng định nội môi canxi và trong sự hình thành hydroxyapatite (khoáng xương)
Một thử nghiệm cho sự thiếu hụt magie nghiêm trọng thì đưa đến sự bất thường trong cấu trúc và chức năng của xương Ở những người cao tuổi khả năng có nguy cơ thiếu hụt nhẹ magie do có sự giảm hấp thu và thận bài tiết magie tăng theo tuổi Các muối kẽm là thành phần của hydroxyapatite và đóng một vai trò trong chu chuyển xương Kẽm cũng cần thiết cho việc thực hiện chức năng điều chỉnh men phosphatase kiềm, mà men này cần thiết cho
Trang 25quá trình khoáng xương Thiếu kẽm nghiêm trọng thường thấy liên quan với
sự thiếu năng lượng và suy dinh dưỡng, mà nó có sự kết hợp với sự kém phát triển xương ở trẻ em Tuy nhiên, mức độ nhẹ hơn của thiếu kẽm đã được báo cáo ở người già và có khả năng góp phần cho tình trạng xương yếu [31]
Mặc dù một số nghiên cứu quan sát cho thấy cómối liên hệ giữa sử dụng thức uống có Gas mức độ cao với giảm mật độ xương hoặc gia tăng tỷ lệ gãy xương trong thanh thiếu niên, nhưng không có bằng chứng thuyết phục rằng những thức uống có gas ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của xương Một số nhà khoa học giải thích rằng nhiều khả năng trên thực tế là các thức uốngnày thay sữa trong chế độ ăn uống, do đó tác động trên sự cung cấp can-xi Cà phê làm cho sự gia tăng bài xuất can-xi qua đường niệu và giảm hấp thu can-xivào, nhưng sự cân bằng của cơ thể xuất hiện để giảm bài tiết can-xi ngay sau đó trong ngày, do đó ảnh hưởng thực là không đáng kể [31]
Khi nồng độ na-tri cao trong máu sẽ thúc đẩy can-xi bài tiết qua nước tiểu, do đón ăn mặn được coi là một yếu tố nguy cơ cho mất khối xương Sử dụng trái câyvà rau xanh đã chứng minh tác dụng có lợi trên mật độ khoáng xươngở người đàn ông và phụ nữ lớn tuổi Bằng chứng về tác dụng có lợicủa trái cây và rau xanh trên sức khỏe của xương được cung cấp bởi một can thiệp thử nghiệm bằng phương pháp tiếp cận chế độ ăn uống để ngăn chặn tăng huyết áp (Dietary Approaches to Stopping Hypertention – DASH) Nghiên cứu được thực hiệnở người trong độ tuổi từ 23 đến 76 Mặc dù DASH được thiết kế để nghiên cứu về chế độ ăn uống có thể ngăn ngừa bệnh tim mạch, nhưng một trong số thiết kế đó có toàn bộ nội dung của chế độ ăn uống cũng ảnh hưởng đến sức khỏe xương Trong nghiên cứu về xương, một nửa trong
số các đối tượng được yêu cầu thay đổi toàn bộ chế độ ăn uống của họ bao gồm tiêu thụ nhiều trái cây, rau, các sản phẩm sữa ít chất béo và hàm lượng na-tri thấp (chế độ ăn DASH), một nửa khác tiếp tục với chế độ ăn thường xuyên của họ Trong khoảng thời gian một vài tháng, các chế độ ăn theo
Trang 26DASH đã cải thiện các chỉ số của xương và chuyển hóa can-xi, nó có thể có khả năng giúp cải thiện mật độ xương nếu tiếp tục trong thời gian dài [36]
Uống rượu vừa phải sẽ không gây hại cho xương, nhưng nếu uống rượu mức độ cao (hơn 2 đơn vị tiêu chuẩn rượu hàng ngày, 1 đơn vị = 25ml alcohol 40%) sẽ đưa đến gia tăng đáng kể nguy cơ gãy xương hông và các xương khác do loãng xương Uống rượu quá mức sẽ có tác động trực tiếp gây tổn thương trên các tế bào tạo xương và ảnh hưởng trên các nội tiết tố điều chỉnh
sự trao đổi chất can-xi Người hút thuốc lá có khối lượng khoáng xương tại cổ xương đùi và cột sống cũng thấp hơn người không hút Một nghiên cứu thực hiện ở Thụy Điển cho thấy nam thanh niên hút thuốc tuổi từ 18-20 đã làm giảm mật độ xương và làm mỏng lớp vỏ cứng bên ngoài của xương Phát hiện này cho thấy rằng hút thuốc lá ở những người trẻ có thể làm giảm khối lượng xương đỉnh của họ và do đó làm tăng nguy cơ loãng xương trong cuộc sống sau này [32]
Thiếu cân là một yếu tố nguy cơ của bệnh loãng xương bởi vì trọng lượng cơ thể thấp có liên quan với mật độ xương đỉnh thấp hơn trong giai đoạn phát triển xương ở tuổi trẻ và tăng nguy cơ gãy xương ở người già Nguy cơ gãy xương hông gần như tăng gấp đôi ở những người có BMI 20 kg/m² so với những người BMI 25 kg/m² Những người có một lối sống ít vận động có nhiều khả năng bị gãy xương hông hơn những người thường xuyên vận động Chẳng hạn, phụ nữ ngồi hơn chín giờ một ngày thì 50% khả năng
bị gãy xương hông hơn những người ngồi ít hơn sáu giờ một ngày Người bị bệnh loãng xương, đặc biệt là ở người cao tuổi dễ bị té ngã do sức khỏe giảm sút, các cơ quan bị giảm chức năng như cơ teo, khớp thoái hóa, biến dạng xương, rối loạn dáng đi, rối loạn thăng bằng, giảm đáp ứng, sa sút trí tuệ, giảm thị lực, dùng quá nhiều thuốc (thuốc hạ huyết áp, an thần ) và những nguyên nhân này ít nhiều đều có liên quan đến loãng xương [31]
Trang 271.3.3.2 Các yếu tố liên quan đến loãng xương không thay đổi được
Tuổi có liên quan đến loãng xương, tuổi càng cao tỷ lệ bệnh loãng xương càng lớn.Trong toàn bộ cuộc đời phụ nữ mất khoảng 35% khối lượng xương đặc và 50% khối lượng xương xốp, trong khi đó nam giới chỉ mất 1/3 khối xương Theo kết quả của các nghiên cứu, tỷ lệ mất xương ở nam giới và phụ nữ lớn hơn 35 tuổi là khoảng 0,3-0,5% mỗi năm, tỷ lệ này là 2-5% mỗi năm ở phụ nữ sau khi mãn kinh từ 4 đến 6 năm và trở nên ổn định sau đó
Phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ sau mãn kinh dễ bị mất khối xương hơn nam giới vì cơ thể họ sản xuất ít estrogen Một sự khác biệt quan trọng ở nam giới
và nữ giới có thể giải thích tại sao gãy xươnglại thường ít xảy ra ở nam giới,
đó là cùng một lúc xương đang bị mất đi vào bên trong của phần xương tiếp giáp với khoang tủy, thì có xương mới lắng đọng bên vỏ ngoài của xương giống như một lớp sơn Số lượng xương mới lắng đọng trên bề mặt bên ngoài
ở nam giới hơn khoảng ba lần so với phụ nữ Điều này làm tăng kích thước xương và do đó duy trì sức mạnh của xương cũng như bù đắp sự mất xương
từ bên trong Mãn kinh sớm, có kinh muộn và tất cả phụ nữ sau mãn kinh là yếu tố nguy cơ của bệnh loãng xương Hầu hết các quốc gia đều có khuyến nghị đánh giá yếu tố nguy cơ loãng xương cho phụ nữ mãn kinh nhằm đo mật
độ xương cho người có nguy cơ cao (phụ nữ ≥ 65 tuổi, < 65 tuổi và có ≥ 1 yếu tố nguy cơ, phụ nữ mãn kinh đã có gãy xương) [32, 36]
Di truyền cũng đóng một vai trò lớn trong bệnh loãng xương Trong thực tế, cha mẹ có tiền sử gãy xương là một yếu tố nguy cơ và đó là nguy cơ độc lập của mật độ xương Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy khoảng 60-80% sự khác biệt về mật độ xương giữa các cá nhân là do gen chi phối Người
có tiền sử gia đình bị gãy xương có nguy cơ bị gãy xương tăng gấp 1,5 đến 2 lần so với người không có Các dân tộc, chủng tộc khác nhau đều có liên quan đến loãng xương ở mức độ khác nhau Bệnh thường gặp ở người da trắng và người Châu Á, tỷ lệ gãy xương hông và xương sống ở người Châu Phi thấp
Trang 28hơn người da trắng Vấn đề này được giải thích là do người Châu Phi có sự khác biệt về cấu trúc xương, khối lượng xương đỉnh cao hơn, tốc độ chậm mất xương sau thời kỳ mãn kinh và chất lượng vi cấu trúc xương tốt hơn
Các nghiên cứu trên toàn thế giới đều cho thấy rằng những người bị gãy xương trước đây thì có nguy cơ gãy xương bất kỳ nhiều hơn so với những người chưa bao giờ bị gãy Điều này đúng cho cả nam giới và phụ nữ, nguy
cơ gãy xương lần thứ hai tăng gần gấp đôi (1,86 lần) so với những người chưa gãy [33,34]
Sử dụng corticoid liệu pháp sẽ dẫn đến nguy cơ loãng xương và liên quan đến gãy xương Người bệnhcó thể bị mất xương đáng kể tùy theo thời gian và liều lượng thuốc sử dụng Một tỷ lệ mất xương trên 15% mỗi năm được báo cáo ở người bệnh dùng liều prednison 30mg/ngày Tác dụng chủ yếu của corticoid là làm giảm sự hình thành xương do nó tác động có hại trên các tế bào tạo xương (osteoblast), mặc dù cũng có bằng chứng cho rằng nó gây tăng hoạt động của các tế bào hủy xương (osteoclast)
Nội tiết tố androgen cần thiết trong sự phát triển của khối lượng xương đỉnh và duy trì khối lượng xương Thiểu năng tuyến sinh dục ở người đàn ông trẻ có mức testosterone thấp thì có mật độ xương thấp Các nghiên cứu đã cho thấy rằng liệu pháp điều trị thay thế testosterone ở người thiểu năng sinh dục nam sẽ làm gia tăng mật độ xương [31]
1.3.3.3 Các yếu tố liên quan gây ra loãng xương thứ phát
Ngoài những yếu tố nguy cơ trên, xương còn chịu ảnh hưởng tiêu cực
từ các rối loạn khác như viêm khớp dạng thấp và các bệnh của hệ thống nội tiết Cường cận giáp làm gia tăng nồng độ hormone cận giáp tác động tế bào xương để giải phóng can-xi từ xương vàomáu Hormone tuyến giáp tăng quá mức không điều trị kịp thời cũng có thể dẫn đến loãng xương Rối loạn nội tiết mà làm ảnh hưởng tới cân bằng bình thường giữa nội tiết tố nữ (estrogen)
và hormone nam giới (androgen) có thể gây ra loãng xương, bởi vì những hor
Trang 29mone này giúp xây dựng xương Sử dụng lâu dài thuốc corticoid uống hoặc hít nhằm điều trị viêm khớp, dị ứng, bệnh Crohn, hen suyễn và các bệnh hô hấp mãn tính sẽ gây suy giảm mật độ xương Kết hợp phân tích dữ liệu từ hơn 40.000 tình nguyện viên trên toàn thế giới cho thấy rằng sử dụng corticoid dài hạn tăng gấp đôi nguy cơ cho gãy xương hông ở phụ nữ và tăng 2,6 lần ở nam giới [31] Các loại thuốc khác có tác động sinh học đến xương bao gồm các thuốc ức chế bơm proton, nó có thể làm giảm sự hấp thu can-xi từ dạ dày và nghiên cứu cho thấy sử dụng lâu dài (> 1 năm) thuốc ức chế bơm proton có thể làm tăng nguy cơ gãy xương hông lên đến 60% Một số thuốc khác cũng ảnh hưởng đến xương như: thuốc chống động kinh, thuốc lợi tiểu thiazid, thuốc chống đông máu (Wafarine), thuốc chống ung thư
1.4 Các phương pháp đánh giá mật độ xương
Vấn đề chẩn đoán loãng xương đã được tìm hiểu và áp dụng từ rất sớm Ban đầu từ X quang qui ước, hình thái tổ chức học, thăm dò sinh hóa, các phương pháp động hóa học và lâm sàng, đồng vị phóng xạ và lần lượt phương tiện đo tỷ trọng khoáng, phương pháp siêu âm, chụp cắt lớp Mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm khác nhau, tùy theo điều kiện của mỗi nghiên cứu để lựa chọn phương pháp cho phù hợp
1.4.1 Vai trò của X quang quy ước trong chẩn đoán loãng xương
Mack (1939), một trong những nhà X quang đầu tiên đã đo phần khoáng dựa trên đậm độ của một phim X quang xương
Cũng trên các phim X quang xương, Laval – Jeanet đã phát hiện những biện pháp tốt hơn để ước tính khối lượng xương bằng việc đo chiều dày vỏ một số xương dài
Nhiều kỹ thuật X quang qui ước đã được thử nghiệm với những cố gắng đạt độ nhậy lớn hơn và giá tiền thấp hơn Những kỹ thuật này bao gồm: Đo chiều dày vỏ xương đốt bàn tay, chỉ số Singh, chỉ số hình thái cột sống
Trang 30Năm 1970 Sing và cộng sự đã đề nghị một phương pháp X quang khác
để đánh giá loãng xương, được gọi là chỉ số Singh, trên cớ ở xác định những nhóm bè xương chủ yếu ở đầu trên xương đùi Dựa vào số lượng những nhóm
bè xương này tác giả phân chia loãng xương thành 7 giai đoạn và cũng là 7 mức độ của loãng xương
Tuy nhiên người ta đều công nhận là biểu hiện tăng độ sáng trên phim X quang chỉ xuất hiện khi lượng chất khoáng đã giảm nhiều tới 30 – 50%
Do những khó khăn trong việc xác định đậm độ cản quang của xương trên X quang, cho nên hầu hết các tác giả đề nghị chẩn đoán loãng xương chỉ nên đặt ra khi biểu hiện tăng độ sáng kèm theo ít nhất một đốt sống bị lún
1.4.2 Phương pháp đo mật độ xương
Các kỹ thuật đo thành phần chất khoáng của xương đã được phát triển từ vài thập kỷ nay, ban đầu hạn chế ở các xương dài ngoại vi, song những kỹ thuật mới gần đây cho phép đánh giá ở mọi vị trí Những kỹ thuật này đang được sử dụng rộng rãi ở Mỹ, Anh, Nhật bản, Bắc Mỹ, Tây Âu Sự phát triển của chúng giúp chúng ta hiểu biết tốt hơn cơ chế bệnh sinh, dịch tễ học, nguyên nhân, điều trị các dạng loãng xương thường gặp Các kết quả thăm dò này giúp chẩn đoán sớm loãng xương thường gặp Các kết quả thăm dò này giúp chẩn đoán sớm loãng xương để từ đó có những biện pháp dự phòng và điều trị thích hợp cho những đối tượng có nguy cơ cao loãng xương
1.4.2.1 Khái niệm về mật độ xương (BMD: Bone Mineral Density) và lượng chất khoáng của xương
- Lượng chất khoáng của xương: Là lượng chất khoáng tính bằng gram của chất hydroxyapaitit ở vùng xương được quét tia Đó chính là lượng xương được hiện diện tại vị trí đó
- Khi lượng chất khoáng của xương được chia cho diện tích vùng được khảo sát, chúng ta có mật độ xương (BMD) và được tính bằng gram/cm2
Khi
Trang 31lượng chất khoáng của xương chia cho thể tích của vùng được khảo sát, chúng ta có tỷ trọng khoáng chất của xương tính bằng gram/cm3
1.4.2.2 Các phương pháp đo mật độ xương
- Đo hấp thụ photon năng lượng đơn (SPA: Single photon absorptiometry)
Kỹ thuật này được phát triển bởi Cameron và Soreason (1963) Sự ra đời của nó là một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực thăm dò trọng lượng khoáng của xương
Phương pháp này bị ảnh hưởng bởi tổ chức mềm bao quanh, nên nó giới hạn trong việc nghiên cứu các xương ở nông Vị trí đo thường chủ yếu ở phần ngoài của xương quay ở đoạn 1/3 dưới chiếm 95% tổ chức xương đặc (phần gần) Thường dùng để đo khối lượng xương ngoại biên (xương gót, xương quay) Thể tích máy hạn chế và liệu tia thấp (5-10 mrem) cho phép sử dụng
dễ dàng các nghiên cứu Thời gian thăm dò 10 -15 phút và tỷ lệ sai lầm là 5%
4-Phương pháp SPA sẽ đo lượng chất khoáng ở chi, điển hình là cẳng tay
và chúng liên quan đến lượng calci toàn cơ thể
Đầu dưới xương quay có tỷ trọng xương xốp xấp xỉ 50% vì vậy đo ở đây
có thể phát hiện mất xương tương đối sớm
- Đo hấp thụ photon năng lượng kép (DPA: Dual Photon Absorpiometry)
Kỹ thuật này được phát triển bởi Mazess, cho phép đo tỷ trọng khoáng của xương ở những vị trí trung tâm như đầu trên xương đùi và cột sống Ở cột sống vùng được quét tia thường từ đốt sống thắt lưng 2 đến đốt sống thắt lưng
4 (gồm vùng thân đốt sống, các phần phía sau đốt nhưng không gồm phần mỏm ngang đốt sống) Đầu trên xương đùi, được đo ở 3 vùng gồm vùng cổ xương đùi, vùng tam giác Ward và vùng mấu chuyển xương đùi Kết quả nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng siêu âm định lượng có thể dùng để nghiên cứu sàng lọc loãng xương tại cộng đồng
Trang 32Phương pháp DPA sẽ đo lượng chất khoảng ở các vị trí sâu như đầu trên xương đùi và cột sống Các thông số này rất có giá trị vì đây là những vùng xương thường hay bị gẫy nhất
- Ưu điểm: Phương pháp đo chất lượng xương bằng siêu âm định lượng được đánh giá cao do không phơi nhiễm bức xạ, an toàn, không phức tạp, không dùng tia X, chi phí thấp, thời gian đo loãng xương phút, tỷ lệ sai 2% Phương pháp này có thể đo lượng chất khoáng trong xương ở các vị trí xương ngoại vi: 1/3 dưới xương quay, điểm giữa xương chày
Máy siêu âm thiết kế gọn nhẹ, cơ động, dễ vận chuyển Kết quả tính toán
tự động cho hai chỉ số T-score và Z-score so sánh với nhóm thanh niên trẻ hoặc nhóm cùng giới, cùng dân tộc, cùng thể trọng
- Nhược điểm: Độ chính xác bị ảnh hưởng bởi phần mềm bao quanh, sự
ổn định của kết quả còn đang được tiếp tục nghiên cứu
1.4.3 Một số phương pháp khác
- Đo mật độ khoáng của xương bằng kỹ thuật cộng hưởng từ (Magnetic resonance imaging): Kỹ thuật này chưa được quan tâm nhiều trong đánh giá tình trạng xương Hiện nay, kỹ thuật này được dùng chủ yếu trong nghiên cứu
- Sinh thiết xương: Sinh thiết xương không những cho phép chẩn đoán sớm, chính xác loãng xương mà còn cho phép phân loại typ loãng xương, nhưng là thủ thuật xâm nhập nên có nhiều biến chứng như: Đau, chảy máu, nhiễm khuẩn, ít được sử dụng trong lâm sàng, chủ yếu dùng trong nghiên cứu được biểu diễn bằng lượng chất khoáng trên một đơn vị diện tích vùng được quét (gr/cm2) Thời gian thăm dò khá dài trên 20 phút và tỷ lệ sai lầm là 3-6% tùy vị trí đo
- Đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA: Dual Energy Xray Absorptiometry): Đang được sử dụng thông thường hơn và giá trị hơn so với
DPA Thời gian thăm dò ngắn (loãng xương-7 phút) thay cho trên 20 phút
Trang 33trong DPA và khả năng tái tập kỹ thuật tốt hơn Phương pháp này có thể đo lượng chất khoáng trong xương ở nhiều vị trí: Cột sống, khớp háng, nhiều vùng xương đặc biệt hay toàn cơ thể Đo mật độ xương bằng phương pháp DEXA được coi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán loãng xương nhưng mới chỉ được áp dụng ở một số Bệnh viện và các cơ sở Y tế tuyến Trung ương
- Đo khối lượng xương bằng chụp cắt lớp vi tính (QCT: Quantitative Computer Tomegraphy): QCT là một phương pháp mới đo tỷ trọng khoáng và
- Đo mật độ xương bằng siêu âm định lượng
Siêu âm là phương pháp thăm dò mới áp dụng trong những năm gần đây, nhằm đánh giá tình trạng xương Siêu âm có thể cho biết thông tin về đặc tính cấu trúc của xương cũng như sự xuất hiện gẫy xương, loãng xương
Những bằng chứng về sự dẫn truyền sóng âm qua mô xương có thể phản ánh lượng khoáng chất của xương và tính chất của cấu trúc xương hay tính nối kết của các bè xương
Có hai kỹ thuật siêu âm xương:
- Đo tốc độ của âm (SOS: Speed of sound): Tốc độ truyền âm được tín bằng tỷ lệ giữa thời gian dẫn truyền xung siêu âm qua xương và đường kính của xương SOS được áp dụng để đánh giá chất lượng xương đùi, xương quay, và xương chày Kết quả được tính bằng m/giây
Trang 34- Hấp thụ siêu âm dải rộng (BUA: Broadband Ultrasound Attennuation)
Nguyên lý siêu âm xương: Phát chùm sóng siêu âm đi qua tổ chức xương
để đánh giá chất lượng xương Khi xương bị xốp do loãng xương khả năng dẫn truyền sóng siêu âm qua xương sẽ kém đi và khả năng hấp thụ sóng siêu
âm cũng giảm đi
Siêu âm định lượng sử dụng hai đầu dò, một đầu dò truyền xung siêu âm
và một đầu dò nhận xung siêu âm ở bên đối diện của xương
Trong quá trình truyền xung siêu âm, đầu dò sẽ đi đến chuyển dọc theo xương của bệnh nhân và truyền xung siêu âm có tần số từ 160 – 600 KHz xuyên qua mô Bằng cách tính toán tốc độ truyền của các xung siêu âm và những biến odoir của xung quanh sau khi đã qua mô người ta đánh giá được thực trạng của xương Những xung siêu âm được truyền qua cấu trúc xương bình thường sẽ có thời gian truyền ngắn, tốc dộ truyền xung nhanh hơn và biên độ của xung nhận được bên đối diện cũng giảm đi nhiều Ngược lại những xung được truyền qua cấu trúc xương bị loãng sẽ có thời gian truyền dài hơn, tốc độ truyền chậm hơn và biên độ của những xung nhận được sẽ giảm đi ít hơn
Ưu nhược của một số phương pháp:
Trang 35(DEXA) gồm cả cột sống và
xương chậu
theo 2 chiều Có thể làm tăng giả tạo mật độ xương
- Chỉ đo ở xương ngoại vi
- Thời gian thăm dò dài (trên 20 phút)
- Tỷ lệ sai lầm 2%
- Tốt chỉ ở xương ngoại vi
- Tính ổn định của kết quả còn đang được tiếp tục nghiên cứu
1.4.4 Ý nghĩa của đo mật độ xương
- Dự đoán gẫy xương: Đo BMD để dự đoán nguy cơ gẫy xương có thể so sánh như dùng trị số huyết áp để dự đoán nguy cơ tai biến mạch máu não và
nó còn có ý nghĩa tốt hơn việc dùng nồng độ cholesterol để dự đoán nguy cơ nhồi máu cơ tim
- Phát hiện những người đang mất xương nhanh để sớm có những biện pháp can thiệp làm chậm quá trình mất xương và dự phòng gẫy xương do loãng xương
1.4.5 Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương dựa trên đo mật độ xương
Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương theo WHO – 1994:
Để phân biệt được giảm mật độ xương và loãng xương thực sự, điều quan trọng là phải đo được khối lượng xương Dựa vào đó người ta phân biệt các đối tượng:
- Mật độ xương bình thường: Khi mật độ xương (BMD: Bone Mineral Density) không thấp hơn dưới một độ lệch chuẩn (SD: Standard deviation) so
Trang 36với giá trị mật độ xương ở người trưởng thành trẻ cùng giới, tương đương với T-Score -1
- Giảm mật độ xương: Khi BMD từ -1,0 đến 2,5 lần SD, tương đương với -2,5 < T-score <-1
- Loãng xương: Được xác định khi BMD -2,5 lần SD (T-score -2,5) Loãng xương thông thường được chia làm hai loại chính: Loãng xương tiên phát và loãng xương thứ phát
- Loãng xương tiên phát: Khi loãng xương xuất hiện tự nhiên, không tìm thấy bất kỳ một nguyên nhân nào khác ngoài tuổi tác hoặc tình trạng mãn kinh thì nó được gọi là loãng xương tiên phát
- Loãng xương thứ phát: Bên cạnh loãng xương tiên phát, một dạng loãng xương có liên quan chặt chẽ tới những yếu tố bệnh lý mà người ta biết rất rõ ràng chúng ta có thể gây ra mất xương, đó là loãng xương thứ phát được phát hiện ở cả hai giới là hậu quả của một số tình lý Ngoài những bệnh như: Cường chức năng vỏ thượng thận, cường giáp, hội chứng kém hấp thu, các bệnh gan, thận mãn tính Đáng lưu ý là một khối lượng xương thấp còn thấy
ở những đối tượng có tình trạng dinh dưỡng kém, nghiện rượu, thuốc lá Đặc biệt loãng xương như là một hậu quả chắc chắn của một số thuốc điều trị: Glucocorticoid, Heparin, thuốc chống co giật khi sử dụng kéo dài
1.5 Một số nghiên cứu liên quan tới kiến thức, thực hành phòng chống loãng xương tại cộng đồng
Qua nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh loãng xương là một căn bệnh phổ biến ở người cao tuổi hiện nay Quá trình này diễn ra tự nhiên, âm thầm trong xương nhưng nguy hiểm trong quá trình lão hóa đặc biệt là có thể làm cho xương trở nên giòn và gãy sớm [24,25,55] Bệnh này hay gặp ở người cao tuổi và phụ nữ sau thời kì mãn kinh thì quá trình này âm thầm diễn ra Chính
vì vậy nên đây đang là vấn đề cần được quan tâm trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu trong cộng đồng nhất là đối với nhóm người có nguy cơ mắc
Trang 37bệnh cao Cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh một cách hợp lý để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh loãng xương [37,41]
Vấn đề phòng ngừa loãng xương thật sự cần thiết trên những đối tượng
có nhiều khả năng mắc bệnh loãng xương như người cao tuổi, phụ nữ sau mãn kinh [29,42] Để phòng ngừa cần lưu ý một số việc sau đây:
- Trong vấn đề ăn uống: Trong ăn uống nên ăn thêm một số chất chứa nhiều canxi như: rau xanh, tôm, cua, thịt trứng Có thể dùng thêm sữa Nên dùng loại sữa chứa nhiều can xi ít ngọt không béo Những các bạn cần lưu ý không nên ăn quá nhiều dễ dẫn đến dư thừa thậm chí là béo phì
- Tập thể dục thể thao: Tập thể dục thể thao đều đặn mỗi ngày Vì thực tế cho thấy rằng những người ít vận động, không tập thể dục thể thao nhất là những trường hợp bị liệt hay phải nằm điều trị lâu tại giường thì quá trình loãng xương xảy ra nhanh hơn bình thường Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng hoạt động thể dục thể thao vận động cơ bắp làm hạn chế quá trình mất xương và giúp tăng quá trình tạo xương Khi luyện tập thể dục thể thao cần lưu ý một số nguyên tắc sau đây: – Vận động cơ bắp nhịp nhàn từ từ ở mức độ vừa phải, cột sống được tập linh hoạt và uyển chuyển – Trong trường hợp đã bị loãng xương khi tập thể dục thể thao cần tránh những động tác gây hại cho cột sống như: Trồng chuối ngược có thể làm lún xẹp đốt sống, động tác cuối gập người nhanh về phía trước có thể làm gãy nứt đốt sống, nhảy tại chỗ mạnh cũng có thể làm xẹp đốt sống.– Có một số loại hình thể dục như đi
bộ và thể thao như bơi lội cũng có tác dụng rất tốt phù hợp sức khỏe người cao tuổi
- Chú ý việc sử dụng thuốc điều trị bệnh khác: Đối với các loại thuốc tây thì nguy cơ gây ra nhiều tác phụ trên cơ thể của người là rất cao và một số loại thuốc còn tác động rất lớn tới hệ xương khớp, làm quá trình loãng xương xảy ra nhanh hơn Chính vì vậy nên việc dùng thuốc điều trị bênh cần có lời khuyên của các bác sĩ và cần tuân thủ đúng các sử dụng thuốc
Trang 38Công tác tuyên truyền dự phòng loãng xương cần thực hiện tại cộng đồng Trong đó thầy thuốc cần nhấn mạnh những điểm cần lưu ý khi dự phòng bệnh loãng xương: Không nên để tới khi phát hiện ra tình trạng loãng xương mới điều trị; Nên phòng bệnh từ tuổi 30 hoặc trước đó để giảm thiểu những ảnh hưởng tới sức khoẻ do loãng xương gây ra [49,50]
Tác giả Nguyễn Trung Hòa, Nguyễn Văn Tập, Đào Văn Dũng (2015)
đã nghiên cứu đề tài “Hiệu quả một số biện pháp can thiệp cộng đồng phòng, chống loãng xương ở người 45 tuổi trở lên tại thành phố Hồ Chí Minh” như sau: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng được tiến hành điều tra trên 399 người từ 45 tuổi trở lên (nhóm đối chứng 399 người) tại 4 phường,
xã ở thành phố Hồ Chí Minh bằng các biện pháp truyền thông nâng cao kiến thức và thực hành, tăng cường dinh dưỡng bổ sung can-xi, rèn luyện nâng cao thể lực nhằm phòng chống loãng xương Xác định mật độ xương bằng phương pháp DXA (Dual Energy X ray Absorptiometry) đo ở cổ tay và chẩn đoán loãng xương theo tiêu chuẩn của WHO Kết quả cho thấy trung bình mật
độ xương (Bone mineral density - BMD) ở nhóm can thiệp tăng 0,021 g/cm²
Tỷ lệ loãng xương sau can thiệp giảm 7,4%, hiệu quả can thiệp 12,4% Kiến thức tốt sau can thiệp tăng 19,7%, hiệu quả can thiệp là 255% Thực hành tốt sau can thiệp tăng 9,9%, hiệu quả can thiệp là 130% Hiệu quả can thiệp trên hành vi uống sữa, ăn nhiều chất có hàm lượng can-xi cao, uống viên can-xi lần lượt là 20,7%, 179%, 80,7% Tỷ lệ người dân được can thiệp tập thể dục tăng từ 37,9% lên 57,9%, hiệu quả can thiệp là 49,1% Như vậy, tăng cường truyền thông nâng cao kiến thức và thực hành phòng, chống loãng xương sẽ cải thiện tình trạng mật độ xương và gia tăng những hành vi có lợi cho sức khỏe xương ở người dân tuổi trung niên trở lên [9]
Tác giả Hoàng Văn Dũng, Vũ Thị Thu Hiền nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả của sữa đậu nành bổ sung Vitamin D và canxi lên dấu ấn chu chuyển xương ở phụ nữ sau mãn kinh” Đây là một nghiên cứu can thiệp cộng
Trang 39đồng có đối chứng được tiến hành năm 2012- 2013 tại xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai Hà Nội Mục tiêu của nghiên cứu bao gồm đánh giá sự thay đổi nồng độ dấu ấn chu chuyển xương trong huyết thanh phụ nữ mãn kinh sau 6 tháng sử dụng sữa bột đậu nành tăng cường vitamin D2 và can-xi Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ đã mãn kinh ít nhất 5 năm, tuổi từ 50-70 Họ được chia thành 2 nhóm: nhóm can thiệp (n=71) uống hàng ngày sản phẩm sữa đậu nành
có bổ sung 800 UI vitamin D2 và 400 mg canxi; nhóm chứng (n=70) uống sữa đậu nành có 100 mg canxi, trong 6 tháng Nồng độ osteocalcin và CTX huyết thanh được định lượng bằng phương pháp điện hóa phát quang miễn dịch trước và sau can thiệp 6 tháng Sau 6 tháng sử dụng sữa đậu nành có bổ xung vitamin D2 và canxi, nồng độ osteocalcin tronghuyết thanh giảm từ 19,7
± 5,2 ng/ml xuống 15,4 ± 3,6 ng/ml (21,3%), nồng độ CTX trong huyết thanh giảm từ 0,65 ± 0,2 ng/ml xuống 0,51 ± 0,2 ng/ml (giảm 21,5%) Trong khi đó nồng độ osteocalcin và CTX giảm tương ứng 6,5 % và 10,7 % ở nhóm chứng;
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Như vậy, sử dụng sữa đầu này có bổ xung canxi và vitamin D2 có tác dụng làm chậm lại quá trình chu chuyển xương ở phụ nữ mãn kinh
Hoạt động của Hội Dinh dưỡng Việt Nam đã có nhiều đóng góp cho việc phòng chống bệnh loãng xương tầm Quốc gia Vào tháng 5-2017 Hội Dinh dưỡng đã phối hợp với các trường Đại học Y trong cả nước tổ chức Hội nghị liên quan vấn đè này Hội Dinh dưỡng Việt Nam kỳ vọng những hoạt động cụ thể của Viện Dinh dưỡng quốc gia, của Hội Dinh dưỡng Việt Nam và của các Trường Đại học Y dược và toàn xã hội sẽ mang lại hiệu quả cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho cộng đồng Nhận thức của người dân, của cộng đồng sẽ được nâng cao, cùng nỗ lực phòng chống bệnh loãng xương “đảm bảo dinh dưỡng hợp lý và thường xuyên vận động đúng cách”, cùng chung tay chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho toàn dân
Trang 40Hội Dinh dưỡng Việt Nam tham gia Mạng lưới Dinh dưỡng Công cộng Đông nam Á (SEA-PHN) từ tháng 6/2014 với mục đích tăng cường hợp tác trong khu vực góp phần cải thiện dinh dưỡng cho cộng đồng Hàng năm, mạng lưới Dinh dưỡng cộng đồng của Khu vực tổ chức Tháng Dinh dưỡng và nhiều hoạt động nhằm góp phần cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng cho cộng đồng ở mỗi nước Các hoạt động được tổ chức nhằm hưởng ứng Lễ phát động Tháng Dinh dưỡng năm 2017: Ngày Vi chất dinh dưỡng 1-2/6 do Viện Dinh dưỡng Quốc gia triển khai trên toàn quốc; Trường Đại học Y Hà Nội sẽ tổ chức Hội nghị Dinh dưỡng lâm sàng ngày 6 tháng 6; Tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ có chương trình truyền thông, tư vấn trên đài truyền hình và truyền thanh về ”Dinh dưỡng hợp lý phòng chống bệnh loãng xương” và hoạt động
bổ sung vi chất dinh dưỡng cho trẻ em Các hoạt động này sẽ do Trung tâm Dinh dưỡng Tp Hồ Chí Minh tổ chức; Chi hội Dinh dưỡng Nhi khoa sẽ tổ chức Hội thảo khoa học hưởng ứng Tháng Dinh dưỡng với chủ đề “Phòng chống loãng xương theo chu kỳ vòng đời”…
Ngày 23/ 12/ 2014 tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Y - Xã hội học tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp dinh dưỡng phòng chống loãng xương ở cộng đồng” trong khuôn khổ Chương trình “Thực phẩm tốt vì Sức khỏe” của Trung tâm Dinh dưỡng và sức khỏe - Chương trình này được khởi động từ tháng 1 năm 2013 nhằm mục tiêu nâng cao kiến thức, hành vi của người dân trong lựa chọn thực phẩm có lợi cho sức khỏe
Báo cáo về “Loãng xương: thực trạng, hậu quả, cơ chế bệnh sinh” do
TS BS Nguyễn Thị Thanh Hương, báo cáo về Dinh dưỡng canxi trong khẩu phần người Việt Nam của PGS.TS Lê Bạch Mai và báo cáo về “ Các giải pháp can thiệp dinh dưỡng phòng chống loãng xương trên thế giới và ở Việt Nam” do TS.BS Trương Hồng Sơn trình bày tại hội thảo đã cho thấy loãng xương và giảm mật độ xương là tình trạng rất phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam, đặc biệt ở nhóm phụ nữ trên 50 tuổi, loãng xương gây nhiều hậu quả