- Vị ngữ với phần của cụm danh từ; - Trạng ngữ đứng sau chủ ngữ hoặc sau vị ngữ với thành phần phụ của danh từ hoặc động từ định ngữ, bổ ngữ; - Trạng ngữ với chủ ngữ của một vế của câu
Trang 1A/Thống kê các kiến thức mà học sinh dễ nhầm lẫn.
Trong quá trình giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi nhận thấy tuy các
em đã nắm được kiến thức cơ bản của chương trình nhưng một số kiến thức mà học sinh thường nhầm lẫn với nhau Đó là các kiến thức sau :
1.Cấu tạo từ :
- Một số từ ghép với 2 từ đơn (cụm từ)
- Từ ghép có bộ phận âm thanh giống nhau với từ láy
2 Từ loại :
- Một số động từ chỉ trạng thái cảm xúc với tính từ
3 Nghĩa của từ :
- Từ nhiều nghĩa với từ đồng âm
4 Các kiểu câu :
- Kiểu câu kể Ai làm gì? với câu kể Ai thế nào?có vị ngữ là ngữ động từ
5 Các thành phần trong câu :.
- Vị ngữ với phần của cụm danh từ;
- Trạng ngữ đứng sau chủ ngữ hoặc sau vị ngữ với thành phần phụ của danh từ hoặc động từ (định ngữ, bổ ngữ);
- Trạng ngữ với chủ ngữ của một vế của câu ghép;
- Trạng ngữ chỉ mục đích bắt đầu bằng từ vì với trạng ngữ chỉ nguyên nhân
6 Kiểu câu chia theo mục đích nói
- Câu kể, câu cảm với câu hỏi
- Câu khiến với câu kể
Việc khảo sát và thống kê lỗi của học sinh trong quá trình nắm bắt các kiến thức luyện từ và câu, cũng như xem xét những khó khăn mà học sinh gặp phải trong quá trình này giúp giáo viên tìm những phương pháp dạy học sao cho học sinh dễ dàng nắm bắt các kiến thức về từ loại, cấu tạo từ cũng như các kiểu câu có nhiều lợi ích cho học sinh khi sử dụng Tiếng Việt
B/ Biện pháp khắc phục:
Để giúp học sinh khắc phục những nhầm lẫn các kiến thức trên, tôi hướng dẫn các em cách làm như sau :
1 Cấu tạo từ :
1.1/ Phân biệt một từ ghép với hai từ đơn (cụm từ):
Nhiều trường hợp từ ghép dễ bị nhầm với cụm từ, chúng ta cần dựa vào 3 tiêu chí sau để phân biệt
+ Dựa vào ngữ cảnh: Là tùy theo ngữ cảnh, tùy theo đơn vị được sử dụng trong câu văn để xác định từ ghép hay cụm từ
VD: - Áo dài quá (Áo dài là cụm từ)
- Phụ nữ Việt Nam thường mặc áo dài trong các ngày lễ (áo dài là từ ghép chỉ một kiểu áo)
Trang 2+ Dựa vào quan hệ kết hợp rất chặt chẽ giữa các tiếng.
Các tiếng tạo nên từ ghép có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách hoặc chen thêm yếu tố khác vào giữa các tiếng đó Nếu chen vào giữa hai tiếng đó một từ, mà nghĩa không thay đổi thì đó là hai từ đơn
Ví dụ: Chim hót líu lo, nắng bốc hương tràm ngây ngất lan xa, phảng phất khắp rừng
Học sinh thường xác định “lan xa”, “khắp rừng” là các từ ghép Để xác định hai trường hợp trên là từ ghép hay cụm từ, ta xác định như sau :
VD: lan rất xa , khắp cả khu rừng Vậy “lan xa”và “lan rất xa”, “ khắp rừng”
và “ khắp cả khu rừng” nghĩa giống nhau Vậy “lan xa”, “ khắp rừng” là các cụm từ
Ta có kết quả tách các từ trên trong câu trên là :
Chim / hót / líu lo / nắng / bốc / hương tràm / ngây ngất / lan / xa /phảng phất / khắp / rừng
+ Dựa vào ngữ nghĩa:
Nghĩa của từ ghép là nghĩa "tổng thể" tức là các tiếng trong từ kết hợp với nhau mới biểu thị một sự vật, một hành động hay một tính chất
Ví dụ:
- Ăn nói: Là từ ghép chỉ hoạt động nói năng chung
- Đầu ruồi: là từ ghép chỉ một bộ phận của khẩu súng
Nghĩa của cụm từ là nghĩa "tổng cộng", tức là nghĩa của cụm từ bằng nghĩa tất cả các từ cộng lại
Ví dụ:
- Ăn cơm: Ăn chỉ một hoạt động, cơm chỉ đối tượng
- Hát hay: Hát chỉ hoạt động, hay chỉ tính chất
Từ việc xác định từ ghép hay cụm từ, chúng ta có thể xác định được trường hợp cặp từ trái nghĩa hay chỉ là một từ ghép
Bởi vậy, khi dạy bài Từ trái nghĩa lớp 5 (tuần 4 trang 38, sách Tiếng Việt 5) Trong phần Nhận xét của bài có câu tục ngữ "Chết vinh còn hơn sống nhục"
Trường hợp này một số giáo viên xác định có 2 cặp từ trái nghĩa
là chết và sống, vinh và nhục Thực chất trong câu tục ngữ này có chết
vinh và sống nhục hai từ ghép trái nghĩa (chết vinh, sống nhục là 2 khái niện nói
về cách chết và cách sống) Như vậy, trong câu tục ngữ này chỉ có 1 cặp từ trái
nghĩa đó là chết vinh và sống nhục.
Cũng trong phần Luyện tập của bài này (Bài 1/ c) Câu:
“Anh em như thể tay chân
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần”
thì “rách lành’, “dở hay” là hai từ ghép chứ không phải là các cặp từ trái
nghĩa (rách lành, dở hay là những từ ghép có nghĩa trong mọi hoàn cảnh, giàu hay nghèo, tốt hay xấu , thuận lợi hay khó khăn)
Trang 31.2/ Phân biệt từ ghép có bộ phận âm thanh giống nhau với từ láy:
Học sinh thường nhầm lẫn từ ghép có bộ phận âm thanh giống nhau bao gồm
từ ghép thuần Việt và từ ghép Hán Việt với từ láy Ví dụ như các trường hợp sau: học hành, cần mẫn, bình tĩnh Để phân biệt các trường hợp này, chúng ta cần:
- Căn cứ vào nghĩa các tiếng tạo nên từ: Từ ghép thì cả hai tiếng đều có nghĩa còn từ láy thì nhiều nhất có một tiếng có nghĩa
VD : đậm đặc (đậm và đặc đều có nghĩa nên đó là từ ghép); đậm đà ( chỉ có tiếng đậm có nghĩa, đà không có nghĩa nên đó là từ láy)
- Từ Hán Việt có bộ phận âm thanh giống nhau là từ ghép (từ Hán Việt không có từ láy)
VD: bình minh, không khí , binh lính
2 Từ loại :
Phân biệt động từ chỉ trạng thái cảm xúc với tính từ.
Động từ chỉ trạng thái cảm xúc với tính từ có điểm giống nhau là có khả năng kết hợp với phụ từ chỉ mức độ( rất, hơi, quá, lắm) Nhưng động từ chỉ trạng thái cảm xúc còn có khả năng kết hợp với phụ từ chỉ thời gian hoặc mệnh lệnh ( đã, đang, còn, hãy, đừng, phải )
VD : rất nhớ, đang nhớ, hãy nhớ ( nhớ là động từ trạng thái )
rất đỏ, không thể nói hãy đỏ hay phải đỏ (đỏ là tính từ).
Khi dạy bài Tính từ (Tiếp theo) sách Tiếng Việt 4, tập , trang 123, bài tập 2
yêu cầu " Hãy tìm những từ ngữ miêu tả mức độ khác nhau của cac đặc điểm
sau: đỏ, ccao, vui", giáo viên cần linh hoạt thay từ vui băng một tính từ khác
vì vui là động từ chỉ trạng thái cảm xúc, hoặc để nguyên từ vui và giải thích cho học sinh rõ vui là động từ chỉ trạng thái cảm xúc nên vừa kết hợp được với các từ
chỉ mức độ vừa kết hợp với các phụ từ chỉ thời gian hoặc mệnh lệnh
3 Nghĩa của từ :
Phân biệt từ nhiều nghĩa với từ đồng âm
- Từ nhiều nghĩa là những từ có nét nghĩa chung
Ví dụ : Các từ đường trong các trường hợp sau: đường đi, đường cách mạng,
đường học vấn Từ đường trong các trường hợp trên đều có nghĩa là phải trải qua
một quá trình để đến đích Đó là từ nhiều nghĩa
Các từ đường trong đường đi, đường ăn không có nét nghĩa chung Đó là
những từ cùng âm
Nếu là từ nhiều nghĩa, ta có thể thay vào đó một từ cùng nghĩa mà nghĩa của câu không đổi Còn từ cùng âm thì không thể thay bằng từ khác
Ví dụ : Chị Hoa có cửa hàng bán đường gần đường quốc lộ, chị nói ngọt
như đường.
"Đường" trong "nói ngọt như đường" là từ nhiều nghĩa Ta có thể thay từ ngữ " rất
dễ nghe" , " Đường " trong "đường quốc lộ " thì không thể thay thế bằng từ khác
4 Các kiểu câu :
Trang 4Phân biệt kiểu câu Ai làm gì?, Ai thế nào ?
Với kiểu câu kể Ai là gì?, học sinh ít nhầm lẫn vì vị ngữ bắt đầu bằng từ là Học sinh thường nhầm lẩn kiểu câu kể Ai thế nào với kiểu câu Ai làm
gì? trong các trường hợp sau :
4.1 Kiểu câu Ai làm gì mà bộ phận vị ngữ là một ngữ động từ ( động từ có
tính từ làm bổ ngữ)
VD : Chúng em nhanh nhẹn xếp hàng vào lớp
Học sinh thường xác định sai từ làm vị ngữ chính ( nhanh nhẹn ) Từ đó các
xác định nhầm đó là câu Ai thế nào Trong câu này, xếp hàng là vị ngữ chính nên
đó là kiểu câu Ai làm gì?
Để khắc phục sự nhầm lẫn này, tôi hướng dẫn các em cách xác định từ làm
vị ngữ chính trong câu bằng cách lược bỏ các từ, chỉ giữ lại 2 từ làm nòng cốt câu
mà nghĩa của câu không thay đổi thì đó là từ làm vị ngữ chính
Ví dụ trong câu trên: Chúng em nhanh nhẹn (không đúng nghĩa ban đầu của câu) Chúng em xếp hàng.( đúng nghĩa câu ban đầu)
Vậy xếp hàng là động từ chỉ hoạt động và làm vị ngữ chính nên đó là câu Ai làm gì?
4.2 Kiểu câu Ai thế nào mà vị ngữ là động từ hoặc ngữ động từ chỉ trạng
thái cảm xúc
VD : Hà rất thích đọc truyện cổ tích Thích là động từ nên học sinh nhầm là câu Ai làm gì?
Để học sinh nắm chắc được kiểu câu Ai thế nào thì các em phải biết được câu
có vị ngữ là tính từ, ngữ tính từ, hoặc động từ, ngữ động từ chỉ trạng thái cảm xúc
là kiểu câu Ai thế nào?
Hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào? có đặc điểm giống và khác nhau như sau:
Kiếu câu
Đặc điểm
Đặc điểm của chủ
ngữ
- Chỉ người, động vật, đồ vật khi được nhân hóa
- Trả lời câu hỏi: Ai? Con gì?
- Chỉ người, động vật đồ vật
- Trả lời câu hỏi: Ai? Con gì? Cái gì?
Đặc điểm của vị
ngữ
- Kể hoạt động;
- Là động từ (cụm động từ chỉ hoạt động)
- Miêu tả đặc điểm, tính chất hoặc trạng thái;
- Là độn từ (cụm động từ) chỉ trạng thái hoặc tính từ (cụm tính từ)
Trang 55 Các thành phần trong câu :
5.1 Phân biệt vị ngữ với định ngữ trong câu chủ ngữ có định ngữ.
Hai trường hợp mà học sinh thường phân tích các thành phần của câu bị sai là: + Trường hợp câu có chủ ngữ là cụm danh từ trong đó có tính từ hoặc động từ làm định ngữ
Ví dụ : - Những cây bạch đàn chanh cao vút hiện ra trong nắng sớm
- Những chú gà vàng như những hòn tơ lăn tròn trên bãi cát
Học sinh thường xác định cao vút hiện ra trong nắng sớm, vàng như những hòn tơ lăn tròn trên bãi cát là vị ngữ.
+ Câu miêu tả âm thanh, các em thường nhầm lẫn động từ tạo ra âm thanh là vị ngữ của câu
Ví dụ: - Tiếng chim hót líu lo
- Tiếng suối chảy róc rách
Học sinh thường xác định “hót líu lo”, “chảy róc rách” là vị ngữ
Để giúp các em phân biệt được vị ngữ của câu và phần phụ của cụm danh
từ, tôi hướng dẫn các em cách xác định như sau:
Cách 1: Rút gọn câu.
Ta có thể rút gọn câu bằng cách lược bỏ từ ngữ mà ta cho là vị ngữ Nếu lược bỏ
những từ ngữ đó mà nghĩa của câu không đổi thì đó là phần phụ của cụm danh từ, còn nghĩa của câu thay đổi thì đó là vị ngữ
Trong trường hợp thứ nhất, câu Những cây bạch đàn chanh cao vút hiện ra trong nắng sớm là cao vút hay hiện ra trong nắng sớm đâu là vị ngữ? Nếu cho cao vút là
vị ngữ, ta rút gọn câu như sau:
Những cây bạch đàn chanh cao vút (Bỏ bớt cụm từ hiện ra trong nắng sớm) Nghĩa của câu thay đổi Như vậy cao vút không phải là vị ngữ Nếu xác định “hiện
ra trong nắng sớm” là vị ngữ, ta rút gọn câu như sau: Những cây bạch đàn chanh hiện ra trong nắng sớm (bỏ từ cao vút) Nghĩa của câu không thay đổi Tương tự với câu Những chú gà vàng như những hòn tơ lăn tròn trên bãi cát, ta rút gọn thành các trường hợp sau: Những chú gà vàng như những hòn tơ.(Không đúng nghĩa của câu) và Những chú gà lăn tròn trên bãi cát (Nghĩa câu không thay đổi) Vậy hiện ra trong nắng sớm, lăn tròn trên bãi cát là bộ phận vị ngữ của hai câu
trên
+ Các câu miêu tả âm thanh, ta vận dụng cách rút gọn câu như trên cũng dễ dàng xác định vị ngữ của câu Sau khi rút gọn ta có các trường hợp:
-Tiếng chim hót, Tiếng suối chảy (bỏ tính từ líu lo, róc rách- chưa có nghĩa)
- Tiếng chim líu lo, Tiếng suối róc rách (bỏ động từ hót, chảy- nghĩa câu
không đổi)
Vậy líu lo, róc rách là vị ngữ.
Cách 2: Đặt câu hỏi:
Trang 6- Danh từ + nào (hoặc gì)? Bộ phận trả lời cho câu hỏi "nào" (hoặc "gì") là thành phần phụ của cụm danh từ
Vi dụ: Tiếng gì? (chim hót) Như vậy, cụm từ chim hót không phải là vị ngữ của
câu
- Danh từ + như thế nào? Bộ phận trả lời cho câu hỏi “như thế nào” là vị ngữ
Ví dụ: Tiếng chim hót như thế nào? (líu lo) Vậy líu lo là vị ngữ
Cách 3: Chú ý với các cụm danh từ có phần phụ trước:
Phần lớn các cụm danh từ có “tất cả”, “những”, “một”… mở đầu là không xác định, chúng thường có phần phụ (định ngữ) ở sau Do đó những tính từ, động
từ sau danh từ trong các ngữ danh từ chỉ làm định ngữ không thể làm vị ngữ
Ví dụ: - Tất cả học sinh giỏi được đi tham quan
- Các chiến sĩ ngồi trong khoang lái sẵn sàng đợi lệnh
(giỏi, ngồi trong khoang lái là phần phụ của cụm danh từ, không phải vị ngữ)
5.2 Phân biệt trạng ngữ đứng sau chủ ngữ hoặc sau vị ngữ với thành phần phụ (định ngữ, bổ ngữ).
Ví dụ trong các trường hợp sau
“ Chim trên cành hót líu lo.” và “ Chim, trên cành , hót líu lo.”
“ Chim hót líu lo trên cành.” và “ Chim hót líu lo, trên cành ”
Với trường hợp này cần cho các em căn cứ vào dấu hiệu ngữ pháp để xác định đâu là trạng ngữ Trạng ngữ với thành phần chính của câu luôn được ngăn cách bởi dấu phẩy Nếu từ ngữ chỉ thời gian, nơi chốn đứng sau danh từ, động từ
mà không có dấu phẩy ngăn cách thì đó không phải là trạng ngữ
“ Chim trên cành /hót líu lo.” và “ Chim,/ trên cành ,/hót líu lo.”
CN TN
“ Chim/ hót líu lo trên cành ”và “ Chim hót/ líu lo,/ trên cành ”
VN TN
5.3.-Trạng ngữ với chủ ngữ của một vế của câu ghép:
Câu ghép có 2 vế câu trở lên, mỗi vế là một cụm chủ- vị Một số câu ghép, chủ ngữ của vế thứ nhất có thể rút gọn Trong trường hợp, học sinh thường nhầm
đó là trạng ngữ nên việc xác định đó là câu đơn
Để giúp học sinh xác định đúng trạng ngữ hay vế của câu ghép ta có thẻ hướng dẫn học sinh như sau:
-Thêm vào trước cụm từ đó một chủ ngữ mà nghĩa của câu không thay đổi thì đó là một vế của câu ghếp
Ví dụ: Vì chăm chỉ nên nó thi đạt điểm cao Thêm chủ ngữ vào vế 1, ta có: Vì nó chăm chỉ nên nó học thi đạt điểm cao Vậy, Vì nó chăm chỉ là một vế của câu ghép.
- Nếu là trạng ngữ của câu thì không thể thêm vào trước nó một từ khác được
Ví dụ: Vì hạnh phúc của mọi người, chúng ta phải có ý thức chấp hành tốt Luật giao thông
Trang 75.4 Phân biệt trạng ngữ chỉ mục đích bắt đầu bằng từ vì với trạng ngữ
chỉ nguyên nhân :
VD : - Vì hạnh phúc của mọi người, chúng ta phải nghiêm chỉnh chấp hành luật
lệ giao thông (Trạng ngữ chỉ mục đích )
- Vì trận mưa rào, trời mát mẻ (Trạng ngữ chỉ nguyên nhân )
Để phân biệt 2 loại trạng ngữ trên, học sinh phải hiểu được trạng ngữ chỉ
mục đích trả lời cho câu hỏi vì cái gì? còn trạng ngữ chỉ nguyên nhân trả lời cho câu hỏi vì sao?
Với trạng ngữ chỉ nguyên nhân, từ vì có thể thay thế bằng từ bởi vì, tại vì, nhờ Trạng ngữ chỉ mục đích không thể thay từ vì bằng một từ khác.
6.Các kiểu câu chia theo mục đích nói.
Học sinh thường nhầm lẫn các trường hợp sau:
- Câu kể kiểu như “Cô giáo em hỏi em đã làm bài tập chưa ” hay “ Tôi cũng không biết có đi hay không.” với câu hỏi Vì trong các câu đó có từ “chưa”,
”không” thường dùng trong câu hỏi
- Câu khiến có ý mời mọc, yêu cầu, đề nghị , mong ước như “Mời anh vào nhà chơi.” hay “ Em chúc cô mạnh khoẻ.” với câu kể
Để khắc phục tình trạng này, cần đặt các trường hợp học sinh dễ nhầm lẫn trong thế đối lập để xây dựng những bài tập nhằm phòng ngừa lỗi nhận diện các kiểu câu
VD : 1/Xác định các kiểu câu sau :
- Em đã làm bài tập chưa ?(Câu hỏi)
- Em không biết bạn Lan đã đến chưa.(Câu kể)
- Đẹp chưa kìa !(Câu cảm)
Cả ba câu đều có từ chưa nhưng mỗi câu có một cách dùng khác nhau.
2/ Xác định các thành phần trong câu:
a) Cờ bay đỏ những mái nhà, đỏ những rặng cây, đỏ những góc phố (CN là
Cờ bay )
b) Cờ bay trên những mái nhà, trên những rặng cây, trên những góc phố (CN là Cờ)
Để giảm những khó khăn và phòng ngừa những nhầm lẫn các kiến thức của học sinh, chúng ta cần lưu ý chuyển các trường hợp này thành ngữ liệu để xây dựng các bài tập để luyện tập Cần đặt các hiện tượng Tiếng Việt khác nhau nhưng học sinh dễ bị nhầm lẫn trong thế đối lập để học sinh dễ so sánh, đối chiếu, phát hiện nhằm dự phòng các lỗi khi nhận diện các đơn vị kiến thức
Lựa chọn các ngữ liệu để làm bài tập phải thống nhất giữa nội dung và dấu hiệu ngữ pháp; luôn gắn ý nghĩa của từ, câu với các dấu hiệu hình thức để dễ nhận diện