Có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau. Song, hiểu một cách khái quát nhất thì: Chất lượng chính là sự đáp ứng nhu cầu hay là sự thõa mãn nhu cầu người sử dụng với các mục đích khác nhau. Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo có nghĩa là học sinh, sinh viên ra trường có kiến thức, kĩ năng, phương pháp làm việc tốt, đảm đương được công việc, năng động sáng tạo trong lĩnh vực chuyên môn mà mình được đào tạo, đồng thời có khả năng thích nghi nhanh chóng với môi trường công việc.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ii
I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề 1
2.1.1 Chất lượng đào tạo là gì? 1
2.1.2 Đào tạo theo nhu cầu xã hội 1
2.1.3 Phân loại đào tạo theo nhu cầu xã hội 3
2.2 Thực trạng của vấn đề 3
2.3 Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề 4
2.3.1 Giải pháp thứ nhất: Nâng cao chất lượng đào tạo và quản lý đào tạo trong Nhà trường 4
2.3.2 Giải pháp thứ hai: Đào tạo theo địa chỉ và gắn với nhu cầu xã hội 6
2.3.3 Giải pháp thứ ba: Khai thác và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất và trang thiết bị sẵn có trong điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế 6
2.3.4 Giải pháp thứ tư: Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp và các đơn vị đào tạo có chất lượng 6
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 7
III KẾT LUẬN 9
TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 2NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
3 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNH – HĐH
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ
Xu thế hội nhập và đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH đòi hỏi phải có lực lượng lao động kỹ thuật cao đủ về số lượng và đạt về chất lượng Tuy nhiên, một căn bệnh cốt lõi trong nền GD-ĐT của ta hiện nay là sự cách biệt quá lớn giữa đào tạo và sử dụng, giữa cung và cầu về nhân lực, hay nói cách khác là kết quả GD-ĐT chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường Biểu hiện rõ nhất của tình trạng nêu trên chính là sự mất cân đối trầm trọng trong cơ cấu nguồn nhân lực được đào tạo, tình trạng một bộ phận không nhỏ sinh viên ra trường không tìm được việc làm trong khi các doanh nghiệp, các khu công nghiệp lại thiếu trầm trọng lao động đã qua đào tạo theo đúng nhu cầu của họ, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc nhóm công nghệ, chế biến, kỹ thuật…
Do đó, nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, trở thành một yếu tố bức thiết được xã hội đón nhận
và các đơn vị đào tạo triển khai thực hiện nghiêm túc Trong đó, Thực hiện cuộc vận động “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn và không đáp ứng nhu cầu xã hội” của Bộ GD-ĐT đã trở thành một phong trào lan rộng
Trong xu thế đó, giáo dục nghề nghiệp nói chung, trường Trung cấp Kinh
tế - Kỹ thuật nói riêng, “Nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã
hội” là mục tiêu chiến lược cho sự phát triển bền vững.
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề
2.1.1 Chất lượng đào tạo là gì?
Có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau Song, hiểu một cách khái quát nhất thì: Chất lượng chính là sự đáp ứng nhu cầu hay là sự thõa mãn nhu cầu người sử dụng với các mục đích khác nhau Trong lĩnh vực đào tạo, chất lượng đào tạo có nghĩa là học sinh, sinh viên ra trường có kiến thức, kĩ năng, phương pháp làm việc tốt, đảm đương được công việc, năng động sáng tạo trong lĩnh vực chuyên môn mà mình được đào tạo, đồng thời có khả năng thích nghi nhanh chóng với môi trường công việc
2.1.2. Đào tạo theo nhu cầu xã hội
Trang 4Đào tạo theo nhu cầu xã hội là phương thức đào tạo mà ở đó: Đào tạo cái gì? Đào tạo như thế nào? Đào tạo bao nhiêu? được định hướng bởi nhu cầu đào tạo xã hội
Đào tạo cái gì? khi tiến hành giáo dục và đào tạo chúng ta phải xác định được cụ thể rõ xã hội cần những con người trong những lĩnh vực hoạt động gì, ở trình độ, kỹ năng ra sao Để tránh gây lãng phí thời gian và tiền bạc thì việc điều tra, nghiên cứu, nắm bắt được nhu cầu xã hội trong tương lai gần và xa là rất quan trọng
Đào tạo như thế nào? Câu hỏi này giúp chúng ta tìm ra được để đào tạo có hiệu quả cao thì phải có một cách thức, phương thức đào tạo như thế nào cho đúng Hiện nay, tại Việt Nam cũng như trên thế giới tồn tại rất nhiều phương thức đào tạo trong nhà trường rất khác nhau như đào tạo theo kiểu máy móc, cổ truyền thầy giảng gì trò biết nấy; hoặc học sinh tự nghiên cứu là chính đến lớp thầy chỉ giải đáp những thắc mắc của học sinh mà thôi; rồi có cả hình thức đào tạo trực tuyến….Tuy nhiên tùy theo điều kiện mỗi nơi mà trong trường hợp này cách thức đào tạo đó là hiệu quả, nhưng khi áp dụng cho nơi khác lại nhận được những kết quả trái ngược Do đó để tìm ra được một phương thức đào tạo cho hiệu quả cũng cần phải xét đến yếu tố con người và xã hội của bản thân khu vực đó
Đào tạo bao nhiêu? Bao nhiêu ở đây muốn nói đến số lượng con người mà chúng ta sẽ đào tạo trong một thời kỳ sao cho đủ để đáp ứng nhu cầu của xã hội
Để xác định được một cách chính xác con số này không phải là điều đơn giản Con số này không chỉ dừng lại ở con số chung chung cho toàn xã hội mà điều quan trọng là chúng ta phải xác định rõ xem ứng với mỗi ngành nghề cụ thể con
số này sẽ là bao nhiều Đây là điều khiến cho các nhà hoạch định cảm thấy rất khó khăn bởi lẽ xã hội luôn biến đổi không ngừng, ngành nghề hôm nay thịnh hành thì ngày mai lại có thể trở nên quá nhàm chán và một ngành nghề mới lại xuất hiện và lên ngôi Vì vậy việc xác định cụ thể số lượng đào tạo trong mỗi ngành nghề có ý nghĩa rất quan trọng, tránh được tình trạng thất nghiệp do thừa nhân lực ở khu vực này và thiếu nhân lực ở khu vực khác do không dự báo được hết nhu cầu xã hội
Trang 5Như vậy, với cả ba câu hỏi trên muốn tìm được câu trả lời chuẩn xác phải căn cứ vào nhu cầu xã hội Hay nói chính xác nhu cầu của xã hội sẽ là cái mốc
để GD - ĐT dõi theo và điều chỉnh phương thức hoạt động của mình cho phù hợp
2.1.3 Phân loại đào tạo theo nhu cầu xã hội
- Đào tạo theo nhu cầu hiện tại của thị trường: tức là căn cứ vào nhu cầu
hiện tại của thị trường đang thiếu lao động trong những ngành nghề gì thì đào tạo những ngành nghề đó và việc đào tạo này thường được tổ chức thành các lớp đào tạo ngắn hạn (từ 3 đến 6 tháng) Ưu điểm của loại hình đạo tạo này là đáp ứng ngay được nhu cầu lao động của thị trường, tuy nhiên nó có nhược điểm lớn
là những lao động được đào tạo ra thường có tay nghề không cao nên sau một thời gian làm việc nếu không có sự bổ sung kiến thức thì dễ bị đào thải do không còn đáp ứng được yêu cầu cao hơn của công việc
- Đào tạo đáp ứng nhu cầu tương lai của thị trường: theo hình thức này
thì căn cứ vào tình hình phát triển hiện tại của nền kinh tế để đưa ra nhưng dự đoán về những ngành nghề sẽ phát triển trong tương lai Việc đào tạo này thường được tổ chức thành các lớp đào tạo dài hạn, những lao động được tạo ra
từ đây thường có trình độ cao; khả năng học hỏi, tiếp cận những thành tựu của khoa học công nghệ, thích ứng với sự thay đổi là nhanh Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là do thời gian đào tạo là dài nên đòi hỏi việc dự báo phải có tính chính xác cao để tránh sự lãng phí nguồn lực và gia tăng tỷ lệ thất nghiệp
2.2 Thực trạng của vấn đề
Nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội là mục tiêu của đổi mới giáo dục nghề nghiệp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ đắc lực cho quá trình CNH – HĐH đất nước Nó không chỉ là trách nhiệm của nhà trường; của Bộ, ngành trung ương, địa phương mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội Trong mối quan hệ đa chiều này nhà nước đóng vai trò điều phối dẫn đường thúc đẩy các mối quan hệ giữa nhà trường và nhà tuyển dụng, các
Trang 6ngành kinh tế mà đại diện là các doanh nghiệp làm cho cung cầu xích lại gần nhau vì lợi ích chung
Nhận thức được tầm quan trọng của nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, toàn ngành giáo dục đã có rất nhiều biện pháp để nhằm chuyển hướng nền giáo dục như phát động các phong trào thi đua giảng dạy, Thứ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã phát động phong trào: “hai không - Nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu của xã hội" Tuy nhiên sự đòi hỏi về trình độ chuyên môn kỹ thuật trong thực tiễn sản xuất ngày càng cao, trong khi chương trình đào tạo, và thiết bị kỹ thuật phục vụ cho đào tạo TCCN của trường lại lạc hậu, không theo kịp với thực tiễn sản xuất Hệ thống nhà xưởng, phòng thực hành, thực nghiệm còn thiếu và yếu Đội ngũ giáo viên trực tiếp tham gia đào tạo kỹ thuật, nghiệp vụ ở trường còn thiếu kinh nghiệm thực tế, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng kịp theo yêu cầu đổi mới về đào tạo nhân lực trong thời kỳ CNH – HĐH Nên một
bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên của trường sau khi tốt nghiệp vẫn phải đứng trước thực trạng thất nghiệp hoặc có xin được việc cũng là trái ngành trái nghề
2.3 Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề
Qua qua trình công tác, căn cứ và tình hình thực tế của cơ quan bản thân
xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu
xã hội của nhà trường như sau:
2.3.1 Giải pháp thứ nhất: Nâng cao chất lượng đào tạo và quản lý đào tạo trong Nhà trường.
Nâng cao chất lượng đào tạo và quản lý đào tạo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, trở thành một yêu cầu bức thiết, được xã hội đón nhận và các cơ sở đào tạo cần triển khai nghiêm túc Thực hiện giải pháp với các nội dung sau:
- Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý: nhân tố con người đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo đảm chất lượng đào tạo Do đó, việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, giáo viên là hết sức quan trọng thông qua khuyến khích, tạo điều kiện luận lợi nhất để cán bộ, giáo viên học tập,
Trang 7bồi dưỡng nâng cao tay nghề như: học sau đại học, đi đào tạo nghiệp vụ, chứng chỉ và các khóa tập huấn ngắn hạn trong công tác quản lý và giảng dạy Hàng năm, thường xuyên tổ chức Hội thi giáo viên dạy giỏi, chuyên đề khoa học qua
đó nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên, lãnh đạo có cơ sở
để đánh giá năng lực giảng dạy thực tế của từng cá nhân từ đó có cơ sở xây dựng một kế hoạch tổng thể để bồi dưỡng nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên, giảng viên
- Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo: căn cứ vào các thông tin phản hồi về chất lượng và nhu cầu đào tạo, hàng năm đều tiến hành điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo trên cơ sở các chuẩn đầu ra theo từng chuyên ngành đào tạo với sự tham gia ý kiến của các doanh nghiệp có sử dụng lao động đào tạo tại trường nên đảm bảo nội dung, chương trình đào tạo ngày càng sát với nhu cầu thực tế
- Đổi mới phương pháp dạy và học: theo hướng giảm thời gian lý thuyết trên lớp tăng thời gian tự học tự nghiên cứu theo sự tư vấn, hướng dẫn của giáo viên; áp dụng sơ đồ hóa nội dung trong dạy và học nên đã giảm thiểu được tình trạng “thầy đọc - trò ghi”, “thầy chiếu - trò chép” phát huy được tính tích cực của học sinh, góp phần phát triển tốt các kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng giao tiếp để thích ứng với nghề nghiệp, cuộc sống
- Tăng cường công tác quản lý hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên trong nhà trường: kiểm tra hồ sơ sổ sách, việc biên soạn giáo trình, bài giảng, giáo án, chương trình, kế hoạch giảng dạy…, tiến tới đánh giá giáo viên thông qua phiếu thăm dò ý kiến của học sinh
- Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh: Trước khi bắt đầu năm học mới, tiến hành tổ chức họp chuyên đề rút kinh nghiệm đánh giá công tác đào tạo, thảo luận tìm ra những giải pháp mới trong hoạt động dạy và học, đặc biệt chú trọng đến hình thức đánh giá kết quả học tập của học sinh, chọn những hình thức thi, kiểm tra phù hợp với từng môn, từng ngành khác nhau, thành lập ngân hàng đề thi, tổ chức thi học phần, thi tốt nghiệp nghiêm túc, siết chặt đầu ra nhằm tạo uy tín và thương hiệu riêng của nhà trường đối với các doanh nghiệp, nhà sử dụng lao động và xã hội
Trang 82.3.2 Giải pháp thứ hai: Đào tạo theo địa chỉ và gắn với nhu cầu xã hội.
Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội là xu hướng trong nền kinh tế thị trường Chính vì vậy từ năm học 2007-2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai cuộc vận động: “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội” thực hiện giải pháp bằng các bước sau:
- Khảo sát nhu cầu nhân lực của các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài Nhà nước, nhằm đình hướng phát triển của nhà trường sao cho phù hợp với nhu cầu của xã hội
- Chuẩn bị điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, xây dựng chương trình đào tạo, xin chủ trương mở ngành
- Liên hệ với các doanh nghiệp để ký kết hợp đồng đào với nội dung phù hợp và tình hình thực tiễn của hai bên
2.3.3 Giải pháp thứ ba: Khai thác và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất
và trang thiết bị sẵn có trong điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế.
Cơ sơ vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo của nhà trường là tạm mượn, thiếu nhà xưởng, phòng thực hành, thực nghiệm Tuy nhiên, Trường cũng cố gắng vượt khó với sự nổ lực chung của tập thể cán bộ, giáo viên nhà trường
- Sửa chữa, bổ sung trang thiết bị, dụng cụ thí nghiệm, thực hành thiết yếu đảm bảo phục vụ những môn thực hành cơ bản
- Xây dựng quy chế quản lý và sử dụng trang thiết bị, phòng thực hành, thực nghiệm hiệu quả, thường xuyên kiểm tra và kiểm kê theo định kỳ
- Liên kết các đơn vị đào tạo và doanh nghiệp gửi học sinh thực hành môn học mang tính công nghệ cao, giúp học sinh tiếp xúc với những dụng cụ, thiết bị tiên tiến tạo hứng thú học tập Thực tập tốt nghiệp trong môi trường sản xuất thực tế tạo điều kiện học sinh tiếp cận công việc thực tế, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu trong quá trình học tập
2.3.4 Giải pháp thứ tư: Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp và các đơn vị đào tạo có chất lượng.
Trang 9Hợp tác giữa Nhà trường và doanh nghiệp nhằm khai thác những lợi thế lẫn nhau về con người, cơ sở vật chất để cùng nhau phát triển
- Mời doanh nghiệp và các đơn vị đào tạo về dự các hoạt động đào tạo của nhà trường, góp ý kiến trong chương trình đào tạo, trao đổi kinh nghiệm, phương pháp tổ chức quản lý đào tạo
- Trao đổi với doanh nghiệp và các đơn vị đào tạo đưa cán bộ quản lý và giáo viên chuyên ngành đi tham quan dây chuyền sản xuất và học tập kinh nghiệm, trao đổi phương pháp giảng dạy, kiến thức chuyên môn…vừa liên kết đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu đa dạng hóa loại hình đào tạo, tạo cơ hội cho học sinh học lên các bậc cao hơn và thực hiện mục tiêu học tập suốt đời
- Đưa học sinh đến doanh nghiệp thực hành, thực tập, tiếp cận công việc thực tế, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu trong quá trình học tập
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
- Từ các giải pháp nêu trên đã có tác động tích cực đến hoạt động dạy và học, và ý thức trách nhiệm, thái độ trong học tập và thi của học sinh toàn trường Qua đó, kết quả học tập của học sinh được cải thiện đáng kể
Biểu đồ so sánh kết quả học tập năm học 2010 - 2011 và năm học 2011 – 2012
(Số liệu của trường)
Qua biểu đồ so sánh kết quả học tập của năm học 2010 – 2011 và năm học
2011 – 2012 cho thấy sự chuyển biến tích cực: xếp loại khá giỏi của năm học sau tăng và xếp loại TB, yếu, kém giảm so với năm học trước
Trang 10- Kết quả tốt nghiệp: Năm học 2010 – 2011: đạt 96%(52/54), Năm học 2011- 2012: đạt 98%(97/99) Hầu hết các em đã tìm được việc làm đúng ngành nghề đào tạo, theo khảo sát thực tế tại công ty TNHH Chế biến thủy sản Minh Phú Hậu Giang tỉ lệ học sinh có việc làm sau tốt nghiệp đạt 98%, trong đó đã có những học sinh đã được đề bạt lên các vị trí KCS, Tổ trưởng, Tổ phó trong các khâu sản xuất quan trọng của công ty và được công ty đánh giá cao về kỹ năng
và tác phong làm việc
- Trường đã cung cấp cho doanh nghiệp và các đơn vị hành chính sự nghiệp trong tỉnh gần 200 lao động Hiện tại trường đã tiếp tục mở rộng liến kết đào tạo theo địa chỉ với công ty TNHH chế biến thuỷ sản Nam Sông Hậu vơi hợp đồng cung ứng hàng năm từ 40 đến 50 lao động
- Trong những năm qua, trường luôn đạt thành tích cao trong các hội thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh và cấp quốc gia Tiêu biểu là trường có giáo viên đạt giải nhì trong Hội thi giáo viên dạy giỏi TCCN cấp quốc gia lần đầu tiên của tỉnh và 2 năm liền trường được UBND tỉnh tặng danh hiệu tập thể lao động xuất sắc