1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tìn dụng và những vấn đề pháp lí phát sinh

21 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 175 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hình thức đầu tư tài chính:Các hình thức đầu tư tài chính thường thấy gồm có: a Đầu tư góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp Căn cứ theo pháp luật hiện hành thì đây là “việc các

Trang 1

Mục lục

Trang

Đặt vấn đề……….2

Giải quyết vấn đề……….2

I/ Những vấn đề cơ bản……… 2

1 Một số khái niệm……… 2

2 Một số đặc điểm của hoạt động tài chính……… 3

3 Các hoạt động đầu tư tài chính……… 4

II/ Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng 6

1 Hoạt động góp vốn, mua cổ phần……… 6

2 Hoạt động đầu tư chứng khoán……… 12

3 Các hoạt động đầu tư khác………15

III/ Các giải pháp hoàn thiện……… 19

Kết thúc vấn đề……….20

Danh mục tài liệu tham khảo……… 21

Trang 2

Đặt vấn đề

Trong lĩnh vực về hoạt động đầu tư của các tổ chức tín dụng (TCTD), đầu tư tài chính làmột kênh đầu tư ra bên ngoài nhằm tìm kiếm lợi nhuận quan trọng cho chính mình bên cạnhhoạt động ngân hàng, hoạt động tín dụng, và hoạt động đầu tư bên trong (tức đầu tư vào tàisản cố định, chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số tài sản của TCTD như trụ sở làm việc, hệ thốngtrang thiết bị văn phòng, phương tiện đi lại…) Tuy nhiên, hình thức đầu tư này xét ở thịtrường Việt Nam nhìn chung vẫn chưa được chào đón Lí do là bởi nguồn vốn còn hạn chế,

có khả năng gặp nhiều rủi ro trước tình hình nền kinh tế nhiều biến động như hiện nay.Nhưng dù sao để đảm bảo quyền tự do trong kinh doanh cho các chủ thể dù ở cả lĩnh vựctiền tệ thì pháp luật nước ta vẫn xây dựng khung pháp lí để điều chỉnh để thêm phần hoànthiện cho hệ thống pháp luật nói chung Chính vì vậy, để có được cái nhìn sâu sắc hơn về thịtrường tài chính trong lĩnh vực tín dụng hiện nay của Việt Nam, bài luận dưới đây của emxin được trình bày về vấn đề “Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đàu tư tài chính củacác tổ chức tín dụng và những vấn đề pháp lí phát sinh”

*Đầu tư tài chính: thường được hiểu là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay

hoặc mua các giấy tờ có giá để hưởng lãi suất định trước, hay lãi suất tùy thuộc vào kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của cơ quan phát hành Theo đó, đầu tư tài chính sẽ không tạo

ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà nóchỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của các tổ chức Trong sự hoạt động của đầu tư tài chính,vốn được lưu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút nhanh chóng

Còn theo từ điển Wekipedia thì đầu tư tài chính là một hình thức đầu tư chủ yếu thôngqua hình thức mua chứng khoán, trái phiếu hoặc các công cụ tài chính khác Nhà đầu tư tài

Trang 3

chính thường chỉ nhắm vào mục đích mua bán để sinh lợi chứ ít làm tăng giá trị thực củacông ty mà họ đầu tư vào

2 Một số đặc điểm của hoạt động đầu tư tài chính

- Nguồn vốn đầu tư: Vậy nên dù là vốn nhiều hay ít nhưng đều bắt buộc phải có khi tổ

chức có nhu cầu đầu tư kinh doanh Đây cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tớikhả năng hoạt động và sự phát triển của TCTD, nhất là hoạt động chi trả tiển gửi của kháchhàng Vốn của TCTD gồm vốn tự có và vốn vay nợ Thường thì vốn tự có của TCTD chỉchiếm phần nhỏ, là cơ sở để TCTD cho vay, đầu tư, và được dự trữ bắt buộc theo quy địnhpháp luật; là bước đệm để TCTD đi vào hoạt động Còn vốn vay nợ ( huy động từ nguồntiền gửi, vay…), các TCTD chỉ đi vay khi có nhu cầu cần thiết, chủ động được lượng tiềnvay một cách phù hợp Vốn vay nợ của TCTD thường là các khoản vay ngắn hạn, là nguồnvốn chủ yếu để thanh toán khi nhu cầu của khách hàng tăng cao cao, là nguồn vốn cơ bản đểtài trợ cho hoạt động đầu tư tài chính của TCTD, quyết định đến cả sự tồn tại của TCTD

- Sử dụng vốn: việc sử dụng vốn như thế nào để đầu tư thì trước hết ta phải biết là nguồn

vốn đó ở đâu ra Như đã biết, tiền gửi là một nguồn huy động vốn hiệu quả nhưng cũng rất

dễ gặp nhiều rủi ro Bởi lẽ, có nhiều loại tiền gửi: tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn,trong khi đó, hoạt động đầu tư tài chính lại chỉ có trung hạn và dài hạn Vậy thì đối vớinhững khoản tiền gửi ngắn hạn hay không kì hạn, các TCTD cần phải cân nhắc tính toánthận trọng bởi dòng tiền gửi ở hai hình thức này rất biến động, luân chuyển liên tục, khó dựđoán được mức độ tiền được gửi Và khi TCTD sử dụng nguồn vốn là tiền gửi ngắn hạn thì

sẽ ảnh hưởng tới khả năng chi trả cho khách hàng khi đến hạn hoặc trường hợp khách hàngbất ngờ rút tiền đối với tiền gửi không kì hạn với số lượng lớn Từ đó, các dự án đầu tư cũng

bị hạn chế, không được đảm an toàn trước những biến động khó lường như vậy

Đối với khoản vốn được huy động từ nguồn tiền gửi có kì hạn hay với kì hạn trung, dàihạn thì dường như các dự án đầu tư được bảo đảm hơn Các TCTD có thể thoải mới hơn vớiquỹ thời hạn đã thỏa thuận với khách hàng để Dù tất cả các khoản tiền được huy động cóthời hạn, nhưng dẫu sao, với tiền gửi trung, dài hạn, thời gian dài hơn so với ngắn hạn,TCTD có cơ hội đầu tư vào các dự án lâu hơn; chủ động được việc chi trả tiền cho kháchhàng khi đến hạn vì khách hàng chỉ được rút tiền khi đến hạn chứ không được rút trước hạn.Thông thường, tiền gửi có kì hạn có mức thời hạn là 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1năm…

Trang 4

3 Các hình thức đầu tư tài chính:

Các hình thức đầu tư tài chính thường thấy gồm có:

a) Đầu tư góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp

Căn cứ theo pháp luật hiện hành thì đây là “việc các tổ chức tín dụng góp vốn cấu thành điều lệ, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác, bao gồm cả việc góp vốn vào công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng; góp vốn vào quỹ đầu tư và ủy thác vốn cho các tổ chức khác góp vốn, mua cổ phần theo các hình thức trên.”(Điều 4 Luật các tổ

chức tín dụng năm 2010)

Theo đó, hoạt động đầu tư này được cụ thể hóa trong các hình thức sau:

 Các TCTD có thể thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết: Ngân hàngSacombank thành lập công ty cho thuê tài chính Sacombank- SBL với vốn điều lệ là 300 tỷđồng, thành lập công ty vàng bạc đá quý Sacombank – SBJ có vốn điều lệ 250 tỷ đồng,…;Ngân hàng SHB có công ty còn là công ty đầu tư chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội,…

 Các TCTD liên kết, liên doanh với doanh nghiệp khác hoạt động trong lĩnh vực vềquả lí tài sản bảo đảm, kinh doanh ngoại hối, kiều hối, bao thanh toán, phát hành thẻ tíndụng, thẻ tiêu dùng, … Hoạt động ở hình thức này có ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín(Sacombank) và Cybersource - một trong những công ty dịch vụ quản lý thanh toán thương

mại điện tử lớn nhất thế giới (trực thuộc tổ chức thẻ Visa), hợp tác cung cấp “Cổng thanh toán trực tuyến Sacombank-ePAY” dành cho các doanh nghiệp tại Việt Nam có nhu cầu triển

khai phương thức thanh toán hóa đơn dịch vụ bằng thẻ ngân hàng qua internet đến các kháchhàng sử dụng dịch vụ…

 Các TCTD được góp vốn, mua cổ phần doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnhvực khác nhau: bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng,… điển hình làNgân hàng Vietcombank tiến hành góp vốn, mua cổ phẩn dưới hình thức đầu tư dài hạn vớicông ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex có tỷ lệ phần trăm góp vốn là 10%, góp vốn mua cổphần với Công ty cổ phần Khoan và dịch vụ Khoan dầu khí chiếm tỷ lệ 4,41% …

 TCTD được mua, nắm giữ cổ phiếu của TCTD khác với điều kiện và trong giớihạn quy định của Ngân hàng Nhà nước Mới đây nhất là Eximbank mua 9,7% cổ phần củaSacombank sau khi thoái toàn bộ hơn 8% cổ phần tại VietA Bank hồi cuối năm 2011

 TCTD được phép liên doanh với các tổ chức nước ngoài để thành lập các ngânhàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam: Ngân hàng Công thương Việt Nam (ICBV) liêndoanh với Ngân hàng Cathay United của Đài Loan thành lập Ngân hàng liên doanh đầu tiên

Trang 5

tại Việt Nam là Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn Indovina (IVB) Hội Sở chính tại Thành phố

Hồ Chí Minh và chi nhánh Tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Dương vàĐồng Nai đã và đang trở thành một trong những đầu mối tài chính đứng đầu của các công tynước ngoài đầu tư tại Việt Nam IVB tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế củaViệt Nam bằng việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng đa dạng với chất lượng tốt cho tất cảcác thành phần kinh tế trong cả nước

b) Đầu tư chứng khoán

Đầu tư chứng khoán là một loại hình đầu tư tài chính Trong hoạt động này, người đầu tư

bỏ tiền để mua chứng khoán (bao gồm cổ phiếu, trái phiếu…) Giá trị của chứng khoán phụthuộc vào giá trị kinh tế cơ bản của các quyền được bao hàm trong mỗi loại chứng khoán,hay phụ thuộc vào năng lực tài chính của nhà phát hành Đồng thời, giá chứng khoán phụthuộc vào quan hệ cung cầu chứng khoán trên thị trường Đầu tư chứng khoán giúp ngườiđầu tư có thể thu được lợi nhuận từ phần lợi tức được chia và phần tăng giá chứng khoán trênthị trường Mặt khác, người đầu tư có thể được hưởng quyền quản lý, quyền kiểm soát doanhnghiệp từ việc nắm giữ cổ phiếu Ở đây, khi các TCTD đầu tư chứng khoán có thể bỏ vốnthường xuyên, lâu dài hay cũng có thể là ngắn hạn để hưởng lãi suất từ phía nhà phát hành.Theo pháp luật của các tổ chức tín dụng, các công cụ của đầu tư chứng khoán được phânthành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu và các giấy tờ có giá khác.Nhìn chung, hoạt động đầu tư chứng khoán của các TCTD là một hoạt động có tính quy mô

và tổ chức cao, chuyên nghiệp hơn với đội ngũ nhân lực có trình độ nhất định; đồng thờicũng tạo cho các TCTD tác phong và lối làm việc năng động qua việc trao đổi, mua bán cácloại chứng khoán trên thị trường chứng khoán đầy biến động

c) Các hoạt động đầu tư khác

Ngoài những hoạt động đầu tư trên, nếu đảm bảo thỏa mãn đầy đủ các điều kiện mà phápluật quy định còn có thể tham gia hoạt động đầu tư vào thị trường tiền tệ Đây vốn là thịtrường tài chính huy động các nguồn vốn ngắn hạn, giao dịch, mua bán các giấy tờ có giángắn hạn, thường có kì hạn là dưới 1 năm Thị trường này được đánh giá là khá rộng lớn nhưthị trường ngoại hối, thị trường nội tệ, … Cùng với đó là sự đa dạng các công cụ như tráiphiếu Chính phủ, trái phiếu kho bạc, các giấy tờ ngắn hạn, chấp phiếu ngân hàng, chứng chỉtiền gửi, hợp đồng mua lại và hợp đồng mua ngược, thương phiếu Nhìn chung, ở thị trườngnày, tính thanh khoản cao, giá trị giao dịch lớn (1.000.000 $) Tham gia vào thị trường nàygiúp điều hòa vốn ngắn hạn và thanh khoản cho nền kinh tế, góp phần thực hiện chính sáchtiền tệ quốc gia, đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn với chi phí thấp cho Chính phủ, công ty và

Trang 6

các tổ chức trung gian; tạo cơ hội đầu tư vốn nhàn rỗi, tăng thu nhập, và thanh khoản cho cácnhà đầu tư

Với tình hình nền kinh tế hiện nay, đầu tư vào thị trường ngoại tệ dường như đang là xuhướng tăng mạnh và nhạy cảm Ngoại tệ được hiểu theo nghĩa hẹp, không giống như ngoạihối bao gồm tất cả các đồng tiền khác nhau hay các ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, cá phươngtiện thanh toán quốc tế như hối, phiếu, kì phiếu và các giấy tờ có giá… mà chỉ là các tiền tệcủa các nước khác nhau Vậy nên, thị trường ngoại tệ cũng phần nào được hiểu là thị trườngngoại hối rộng lớn

Lợi nhuận từ hoạt động này mang lại khá lớn, nhưng đi kèm là những rủi ro cũng khánhiều Đầu tư ngoại tệ thực chất là việc mua bán các loại ngoại tệ khác nhau nhằm đảm bảocân đối các nhu cầu về ngoại tệ ngân hàng và tìm cách thu lợi nhuận trực tiếp thông quachênh lệnh tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau Thế nên rủi ro của hoạt động nàyđối mặt là rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá Vậy nên, để giảm thiểu những rủi ro như thế phápluật quy định không được sử dụng toàn bộ tiền gửi khồn kí hạn vào đầu tư trung và dài hạn.Đối với thị trường nội tệ, các TCTD cũng đầu tư khá tích cực nhằm đảm bảo giá trị chođồng bản tệ trên thị trường tiền tệ trong nước qua các hoạt động giao dịch Đặc trưng của thịtrường này là việc mua bán các giấy tờ có giá ghi bằng nội tệ hoặc vay nợ nội tệ Giao dịchđược thực hiện rộng rãi giữa các chủ thể

II/ Pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng

Lần đầu tiên khái niệm về hoạt động góp vốn, mua cổ phần được Luật các tổ chức tín

dụng ra đời năm 1997 nêu tại Điều 69: “Tổ chức tín dụng được dùng vốn điều lệ và quỹ dự

trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật.” Nhìn chung, khái niệm này chưa đem lại một cách hiểu thật đầy đủ,

chính xác cho hoạt động đầu tư này Sau khi Luật Tổ chức tín dụng năm 1997 ra đời thì cũng

có nhiều sự sửa đổi, bổ sung trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Nhưng vẫn còn quáchung chung, nhiều khe hở vẫn tồn tại, phạm vi của hoạt động chưa được hướng dẫn cụ thể.Chỉ đến khi luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được ban hành mới giải quyết được vấn đề

này, khoanh vùng phạm vi cho hoạt động góp vốn, mua cổ phần: “ Góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng là việc các tổ chức tín dụng góp vốn cấu thành điều lệ, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác, bao gồm cả việc góp vốn vào công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng; góp vốn vào quỹ đầu tư và ủy thác vốn cho các tổ chức

Trang 7

khác góp vốn, mua cổ phần theo các hình thức trên.”(Điều 4 - Luật các tổ chức tín dụng năm

2010)

Theo luật định, các TCTD bao gồm các ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổchức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân Trong đó:

- Ngân hàng gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, và ngân hợp tác

xã Tuy nhiên, không phải tất cả những TCTD đều được thực hiện hoạt động đầu tư này.Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, trong nhóm ngân hàng thì chỉ có ngân hàngthương mại (NHTM) được luật định rất rõ tại Điều 103 cho cho phép tiến hành góp vốn, mua

c) Bảo hiểm.

3 Ngân hàng thương mại được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động trong lĩnh vực quản lý tài sản bảo đảm, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng

4 Ngân hàng thương mại được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sau đây:

a) Bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng; b) Lĩnh vực khác không quy định tại điểm a khoản này.

5 Việc thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này và việc góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều này phải được sự chấp thuận trước bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận.

Trang 8

Điều kiện, thủ tục và trình tự thành lập công ty con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.

6 Ngân hàng thương mại, công ty con của ngân hàng thương mại được mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng khác với điều kiện và trong giới hạn quy định của Ngân hàng Nhà nước.”

Còn ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã thì lợi nhuận không phải mục tiêuchính của họ Các ngân hàng này được thành lập chủ yếu là do nhu cầu từ phía Nhà nước vớinhiệm vụ thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước (ngân hàng chính sách) hoặcxuất phát từ nhu cầu của các TCTD khác (các quỹ tín dụng nhân dân) nhằm hỗ trợ lẫn nhau,liên kết hệ thống tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân (ngânhàng hợp tác xã) Thế nên, nếu các ngân hàng này được luật pháp cho phép thực hiện hoạtđộng đầu tư ra bên ngoài như góp vốn, mua cổ phần này sẽ làm sai lệch đi bản chất, phươnghướng hoạt động của họ

- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm: công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính Ởnhóm TCTD này, pháp luật cũng chỉ cho phép công ty tài chính được phép tiến hành đầu tư

góp vốn, mua cổ phần tại Điều 110: “1 Công ty tài chính chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ

dự trữ để góp vốn, mua cổ phần theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2 Công ty tài chính được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, quỹ đầu tư.

3 Công ty tài chính chỉ được thành lập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, quản lý tài sản bảo đảm sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.

4 Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận việc thành lập công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính quy định tại khoản 3 Điều này Điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.”

Trong khi đó, công ty cho thuê tài chính lại quy định rất rõ là: “Công ty cho thuê tài chính không được góp vốn, mua cổ phần, thành lập công ty con, công ty liên kết dưới mọi hình thức” Đối với tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân cũng không có quy

định nào đề cập để họ được hoạt động góp vốn, mua cổ phần Xét bản chất hoạt động thì quỹtín dụng nhân dân cũng như ngân hàng hợp tác xã là do các pháp nhân, cá nhân, hộ gia đình

tự nguyện góp vốn thành lập và chủ yếu tương trợ lẫn nhau cùng sản xuất, kinh doanh… Cònvới tổ chức tài chính vi mô hoạt động chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, hộ gia đình có

Trang 9

thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ Thế nên, đầu tư góp vốn, mua cổ phiếu là hoạt độngquá mạo hiểm cho các TCTD này khi mà nguồn vốn đầu tư của họ cũng không ổn định, dồidào.

Ngoài ra, một điều đáng lưu ý trong hoạt động đầu tư tài chính này là về giới hạn phạm vigóp vốn, mua cố phần

Các giới hạn về góp vốn, mua cổ phần được quy định trong Luật các tổ chức tín dụngnăm 2010 chặt chẽ hơn, được hình thành dựa trên các văn bản pháp luật khác như: Quyếtđịnh 457/2005/QĐ – NHNN và Quyết định 34/2008/QĐ-NHNN sửa đổi Quy định về các tỷ

lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng kèm theo Quyết định NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Theo đó, tỷ lệ giới hạn góp vốn, mua

457/2005/QĐ-cổ phần của các TCTD được tính trên cơ sở hợp nhất (bao gồm cả phần góp vốn, mua 457/2005/QĐ-cổphần của công ty con, công ty liên kết theo tỷ lệ sở hữu tương ứng):

“ - Điều 129 Giới hạn góp vốn, mua cổ phần

1 Mức góp vốn, mua cổ phần của một ngân hàng thương mại và các công ty con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại đó vào một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực quy định tại khoản 4 Điều 103 của Luật này không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn góp.

2 Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của một ngân hàng thương mại vào các doanh nghiệp, kể cả các công ty con, công ty liên kết của ngân hàng thương mại đó không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của ngân hàng thương mại.

3 Mức góp vốn, mua cổ phần của một công ty tài chính và các công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính vào một doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 110 của Luật này không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp nhận vốn góp.

4 Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của một công ty tài chính theo quy định tại khoản 1 Điều 110 của Luật này vào các doanh nghiệp, kể cả các công ty con, công ty liên kết của công ty tài chính đó không được vượt quá 60% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của công ty tài chính.”

Theo mức độ rủi ro đối với hệ thống, Luật 2010 đã quy định tỷ lệ giới hạn góp vốn, mua

cổ phần của công ty tài chính cao hơn so với NHTM Đồng thời, Luật cũng có quy định hạn

chế một số trường hợp TCTD không được góp vốn, mua cổ phần nhằm minh bạch hoá các

quan hệ giữa công ty kiểm soát với các NHTM, giữa NHTM với các công ty con của mình:

Trang 10

- “Điều 129 Giới hạn góp vốn, mua cổ phần

5 Tổ chức tín dụng không được góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác là cổ đông, thành viên góp vốn của chính tổ chức tín dụng đó.

- Điều 135 Góp vốn, mua cổ phần giữa các công ty con, công ty liên kết, công ty kiểm soát

1 Công ty con, công ty liên kết của cùng một công ty kiểm soát không được góp vốn, mua

Còn trong Thông tư số 13/2010/TT – NHNN Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong

hoạt động của tổ chức tín dụng quy định rất chi tiết tại Mục 4 của thông tư này:

“- Điều 15 Nguồn vốn để góp vốn, mua cổ phần

Tổ chức tín dụng chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần theo quy định tại Thông tư này.

- Điều 16 Giới hạn góp vốn, mua cổ phần

1 Mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp, quỹ đầu tư,

dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó, trừ trường hợp góp vốn, mua cổ phần thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật.

Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng và các công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết của tổ chức tín dụng trong cùng một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó.

2 Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng:

a) Trong tất cả công ty trực thuộc tối đa không quá 25% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của tổ chức tín dụng.

Ngày đăng: 30/05/2018, 21:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w