Vậy việc giáo dục môi trường có mang lại hiệu quả cao, nhằm làm rõ vấn đề này, đề tại tập trung đánh giá hiệu quả quả các hoạt động giáo dục môi trường đến nhận thức và hành vi của học s
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC HIỆN, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VĂN TRIẾT,
QUẬN THỦ ĐỨC
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ THIÊN THANH Ngành: Quản lý môi trường và Du lịch sinh thái Niên khóa: 2008-2012
Tháng 6 năm 2012
Trang 2Trong suốt quá trình thực hiện đề tài cũng như trong 4 năm học đại học, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, động viên từ gia đình, bạn bè, thầy cô và các cơ quan ban ngành Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất của tôi đến:
Thầy Hà Thúc Viên đã hướng dẫn, cho tôi những lời khuyên hữu ích giúp tôi thực hiện đề tài Cảm ơn Ban Giám Hiệu, toàn thể giáo viên, học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện các hoạt động tại trường
Các thầy cô khoa Môi trường và Tài nguyên đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kinh nghiệm, kiến thức quý báu cho tôi trong suốt những năm tôi học tại trường
Tất cả các thành viên lớp DH08DL đã luôn gắn bó, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt
4 năm học đại học
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến ba, mẹ, những người đã sinh ra, nuôi nấng, dạy dỗ, yêu thương tôi đến ngày hôm nay Đặc biệt, tôi xin cảm ơn người chị đã luôn ở bên cạnh, ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình tôi làm khóa luận tốt nghiệp Cảm ơn chị vì đã tin tưởng tôi, giúp tôi tự tin vào bản thân khi thực hiện mọi việc
Xin chân thành cảm ơn
Trang 3TÓM TẮT KHÓA LUẬN
NGUYỄN THỊ THIÊN THANH, tháng 5 năm 2012, “Thực hiện, đánh giá hiệu quả của các hoạt động Giáo dục môi trường cho học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết, quận Thủ Đức”
Nước ta đứng trước tình trạng ô nhiễm môi trường, để giải quyết vấn đề này, một trong những hoạt động mà nhà nước thực hiện đó là đem giáo dục môi trường vào giảng dạy tại các cấp học, trong đó việc áp dụng giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học được thực hiện từ ngày 31/01/2005 Vậy việc giáo dục môi trường có mang lại hiệu quả cao, nhằm làm rõ vấn đề này, đề tại tập trung đánh giá hiệu quả quả các hoạt động giáo dục môi trường đến nhận thức và hành vi của học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết trước và sau khi thực hiện giáo dục môi trường cho các em
Đề tài sử dụng phương pháp triển khai thực nghiệm để áp dụng và đưa các hoạt động giáo dục môi trường vào thực hiện trong nhà trường, phương pháp tỷ lệ phần trăm nhằm phân tích mối quan hệ giữa hành vi và nhận thức bảo vệ môi trường của học sinh,
để đánh giá hiệu quả của các hoạt động giáo dục môi trường đã được triển khai thực hiện thông qua các chỉ tiêu tính hiệu quả của giáo dục và tính khả thi khi áp dụng cho học sinh bằng cách phỏng vấn giáo viên và học sinh đang công tác và theo học tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
Kết quả thu được cho thấy học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết vẫn chưa có được ý thức đúng đắn về bảo vệ môi trường để có được những hành động đúng để bảo vệ môi trường Đồng thời, nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của học sinh còn chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan bên ngoài nhà trường gây khó khăn cho việc tiếp nhận những thông tin và việc tiến hành bảo vệ môi trường trong cuộc sống hàng ngày của các
em
Trang 4MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
DANH MỤC PHỤ LỤC ix
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lời mở đầu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan về giáo dục môi trường 3
2.1.1 Định nghĩa 3
2.1.2 Mục tiêu giáo dục môi trường 3
2.1.3 Một số hình thức phổ biến của hoạt động giáo dục môi trường 4
2.1.4 Sự phát triển của hoạt động giáo dục môi trường ở Việt Nam 4
2.2 Công tác giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học 5
2.2.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học 5
2.2.2 Mục tiêu giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học 6
2.2.3 Phương thức thực hiện các hoạt động GDMT cho học sinh tiểu học 6
2.3 Tổng quan về trường tiểu học Nguyễn Văn Triết 6
2.3.1 Tổng quan chung 6
2.3.2 Hiện trạng quản lý môi trường tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết 8
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Nội dung nghiên cứu 11
Trang 53.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 11
3.2.2 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 12
3.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa 12
3.2.4 Phương pháp phỏng vấn, điều tra bằng bảng câu hỏi 12
3.2.5 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 13
3.2.6 Phương pháp triển khai thực nghiệm 13
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 14
4.1 Thực trạng công tác giáo dục môi trường tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết 14 4.2 Đánh giá hiệu quả công tác GDMT 15
4.2.1 Đánh giá thông qua hành vi và nhận thức của học sinh 15
4.2.2 Sự yêu thích của học sinh đối với các hoạt động GDMT 21
4.2.3 Nhận xét của giáo viên về việc hiệu quả của các hoạt động GDMT 22
4.3 Triển khai các hoạt động GDMT cho học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết 24 4.3.1 Kế hoạch tổ chức hoạt động 24
4.3.2 Triển khai thực hiện các hoạt động 25
4.4 Đánh giá hiệu quả của các hoạt động GDMT được tổ chức cho học sinh 28
4.4.1 Kết quả thu được sau khi thực hiện các hoạt động GDMT 28
4.4.2 Đánh giá hiệu quả của công tác GDMT 29
4.4.3 Thông qua đánh giá của giáo viên 38
4.4.4 So sánh công tác GDMT tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết và mô hình GDMT do tác giả thực hiện 38
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Đề nghị 43
5.2.1 Đối với công tác giáo dục môi trường trong nhà trường 43
5.2.2 Đối với công tác giáo dục môi trường nói chung 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC
Trang 7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Số Lượng Học Sinh Tại Trường Năm Học 2011-2012 7
Bảng 4.1 Sự yêu thích tham gia hoạt động GDMT của học sinh 21
Bảng 4.2 Tính hiệu quả của các hoạt động GDMT đã được thực hiện 22
Bảng 4.3 Kế Hoạch Tổ Chức Các Hoạt Động GDMT 25
Bảng 4.4 Các hoạt động GDMT đã được thực hiện 39
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Phân bố thùng rác trong khuôn viên trường 8
Hình 2.2 Hiện trạng bồn nước 9
Hình 2.3 Không gian trường học 10
Biểu đồ 4.1 Mối tương quan giữa nhận thức và hành vi BVMT của HS khối 1 15
Biểu đồ 4.2 Mối tương quan giữa nhận thức và hành vi BVMT của HS khối 2 và 3 17
Biểu đồ 4.3 Mối tương quan giữa nhận thức và hành vi BVMT của HS khối 4 và 5 19
Biểu đồ 4.4 Sự thay đổi hành vi BVMT của học sinh khối 1 29
Biểu đồ 4.5 Sự thay đổi nhận thức BVMT của học sinh khối 1 31
Biểu đồ 4.6 Sự thay đổi hành vi BVMT của học sinh khối 2 và 3 32
Biểu đồ 4.7 Sự thay đổi nhận thức BVMT của học sinh khối 2 và 3 33
Biểu đồ 4.8 Sự thay đổi hành vi BVMT của học sinh khối 4 và 5 34
Biểu đồ 4.9 Sự thay đổi nhận thức BVMT của học sinh khối 4và 5 35
Biểu đồ 4.10 Sự yêu thích tham gia các hoạt động GDMT của học sinh 37
Trang 9DANH MỤC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1 BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT HÀNH VI VÀ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VĂN TRIẾT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG PHỤ LỤC 2 BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VĂN TRIẾT VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG GDMT ĐÃ ĐƯỢC THỰC HIỆN TẠI TRƯỜNG
PHỤ LỤC 3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT HÀNH VI VÀ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC NVT
PHỤ LỤC 4 KẾT QUẢ KHẢO SÁT GIÁO VIÊN VỀ CÁC HOẠT ĐỘNG GDMT ĐÃ THỰC HIỆN TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN VĂN TRIẾT
PHỤ LỤC 5 MỘT SỐ CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
Trang 10Nhằm đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường và trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản cho các em về bảo vệ môi trường, ngày 31/01/2005, bộ trưởng bộ Giáo dục
và Đào tạo đã ra chỉ thị số 02/2005/CT-BGD-ĐT về tăng cường công tác giáo dục môi trường cho học sinh, chính thức đưa GDMT vào giảng dạy tại các trường học
Giáo dục môi trường cho học sinh là rất cần thiết, nhưng để việc GDMT đạt hiệu quả cao thì cần phải đào tạo ngay từ bậc tiểu học, vì giai đoạn này là thời điểm các em bước đầu có những nhận thức cơ bản về thế giới xung quanh nên dễ dàng tiếp nhận thông
Trang 11được phương thức GDMT phù hợp cho các em tiểu học, giúp các em hiểu biết về bào vệ
môi trường, đề tài “Thực hiện, đánh giá hiệu quả của các hoạt động Giáo dục môi trường cho học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết, quận Thủ Đức” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành vi của học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết về bảo vệ môi trường, cụ thể là:
- Về nhận thức: giúp các em có những kiến thức cơ bản về môi trường, bảo vệ môi trường và những vấn đề có liên quan
- Về hành vi: tạo sự thay đổi trong thái độ, thúc đẩy các em tham gia tích cực vào các hoạt động cải thiện và bảo vệ môi trường trong trường lớp và ngoài xã hội
Đánh giá được hiệu quả của các hoạt động giáo dục môi trường đã được thực hiện tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết cũng như các hoạt động mà tác giả triển khai cho học sinh, từ đó đưa ra mô hình giáo dục phù hợp nhất cho học sinh
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức và hành vi về bảo vệ môi trường của học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết trước và sau khi thực hiện đề tài
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: đề tài được thực hiện tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết,
57 Hoàng Diệu 2, khu phố 2, phường Linh Trung, quận Thủ Đức
Phạm vi thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 2/2012 đến tháng 5/2012
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: đưa GDMT vào trường học, tạo điều kiện hoàn thiện công tác GDMT cho học sinh tiểu học
Ý nghĩa thực tiễn: đánh giá được tính hiệu quả của các hoạt động GDMT mà tác giả tổ chức thực hiện cho học sinh cũng như các hoạt động đã được thực hiện tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết Từ đó đưa ra được hoạt động phù hợp cho học sinh của trường
Trang 12CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về giáo dục môi trường
2.1.1 Định nghĩa
Giáo dục môi trường (Environmental Education) là một quá trình tạo dựng cho con người có những nhận thức và các mối quan tâm đến môi trường và các vấn đề môi trường, sao cho mỗi người đều có đầy đủ kiến thức, thái độ , ý thức và kỹ năng cần thiết để có thể hoạt động độc lập, hoặc phối hợp, nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề môi trường hiện tại và ngăn chặn các vấn đề môi trường có thể nảy sinh trong tương lai (Hội nghị Liên chính phủ lần 1 về GDMT tại Tbisili, Gruzia, năm 1978)
2.1.2 Mục tiêu giáo dục môi trường
Công tác giáo dục môi trường cho học sinh, sinh viên trong các trường học nhằm hướng đến các mục tiêu:
-Giúp cho học sinh, sinh viên có những hiểu biết đúng đắn về các vấn đề môi trường nảy sinh, nguyên nhân và hậu quả của các vấn đề môi trường này
-Tạo cho học sinh, sinh viên ý thức được những giá trị, có những xúc cảm và có mối quan tâm mạnh mẽ đối với môi trường và có động cơ muốn tham gia tích cực vào việc bảo vệ và cải thiện môi trường, từ đó thay đổi nhận thức và hành vi tiến tới một lối sống thân thiện với môi trường
-Giúp cho học sinh, sinh viên có được những kỹ năng để giải quyết các vấn đề môi trường đồng thời phát triển ý thức trách nhiệm đối với môi trường để đóng góp các hoạt
Trang 132.1.3 Một số hình thức phổ biến của hoạt động giáo dục môi trường
Đưa nội dung giáo dục môi trường vào chương trình dạy học trên lớp và sách giáo khoa phổ thông qua việc lồng ghép chương trình môn học có liên quan đến các nội dung GDMT
Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa như tìm hiểu thực tế địa phương, tham quan, tổ chức các câu lạc bộ môi trường, các hội thi tái chế, tái sử dụng…
2.1.4 Sự phát triển của hoạt động giáo dục môi trường ở Việt Nam
Ở nước ta việc GDMT mới được bắt đầu từ những năm cuối của thập niên 70, còn việc GDMT trong nhà trường phổ thông mới được thực hiện vào thập niên 80 cùng với kế hoạch cải cách giáo dục
Dựa trên phong trào “tết trồng cây” do Bác Hồ khai sinh vào năm 1969; năm 1991,
Bộ Giáo dục - Đào tạo đã có chương trình trồng cây hỗ trợ phát triển giáo dục và bảo vệ môi trường (1991 – 1995)
Tại chỉ thị số 36-CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bộ Chính trị đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó giải pháp được chú trọng hàng đầu đó là: “Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường
Tiếp sau đó, theo Quyết định số 1363/QĐ-TT ngày 17/10/2001, chính phủ đã phê duyệt đề án: “ Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”, chính thức đưa giáo dục môi trường đến quần chúng
Để thực hiện chỉ thị 1363/QĐ-TT của chính phủ, từ đầu năm 2002, bộ Giáo dục – Đào tạo dã cho thí điểm việc tích hợp kiến thức môi trường vào tất cả các môn học thông qua công tác thay sách giáo khoa, đưa các nội dung GDMT vào sách, bước đầu chuẩn bị cho việc đưa giáo dục môi trường vào trường học
Vào ngày30/12/2002, Bộ Giáo dục – Đào tạo cũng đã ra Quyết định số BGDĐT-KHCN, phê duyệt “Chính sách và chương trình hành động giáo dục môi trường trong trường phổ thông giai đoạn 2001-2005” Bộ đã trực tiếp chỉ đạo các công tác soạn thảo và ban hành văn bản pháp quy; xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục môi trường; bồi dưỡng giáo viên; xây dựng cơ sở vật chất cho công tác giáo dục môi
Trang 146621/QĐ-trường.Với quyết định này, GDMT chính thức được đưa vào giảng dạy tại các trường học
và đã được ứng dụng tại nhiều địa phương trên đất nước
Từ năm 2002 đến nay, công tác giáo dục mội trường đã được thực hiện tại các trường học trên khắp cả nước và thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng với nhiều dự án giáo dục Bên cạnh đó, các hoạt động nghiên cứu về biện pháp giáo dục môi trường cũng
đã được tổ chức cho học sinh, sinh viên đặc biệt là bậc tiểu học nhằm nâng bổ trợ kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trường cho học sinh
2.2 Công tác giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học
2.2.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
2.2.1.1 Đặc điểm các quá trình nhận thức
Chú ý: tính chủ định của chú ý là một trong những phẩm chất mới, cấu tạo tâm lý mới ở học sinh tiểu học, trẻ có khả năng mở rộng sự tập trung đối với các hoạt động khác nhau
Tri giác: ở lứa tuổi này, tri giác của các em còn mang tính tổng thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định; tri giác dễ dàng tiếp nhận những hình ảnh, thông tin sống động từ bên ngoài
Trí nhớ: học sinh tiểu học có khả năng ghi nhớ và gìn giữ những sự vật, hiện tượng
cụ thể một cách chủ động thông qua ngôn ngữ, hành động
Tư duy: đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học vẫn còn mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động, các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trực quan trừu tượng khái quát, tuy nhiên vẫn còn yếu ở bậc tiểu học
Tưởng tượng: trí tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển hơn so với trẻ mầm non nhưng vẫn còn đơn giản, chưa bền vững và chịu sự tác động mạnh mẽ bởi những xúc cảm trong bản thân các em
2.2.1.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học
Tình cảm: tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật, hiện tượng sinh động, rực rỡ Tuy nhiên, khả năng kiềm chế cảm xúc
Trang 15Tích cách: hồn nhiên, vô tư; năng lực và tố chất chưa được bộc lộ rõ rệt, và đang dần hình thành
Nhu cầu nhận thức: nhu cầu nhận thức của trẻ em tiểu học phát triển và thể hiện rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết mọi thứ
2.2.2 Mục tiêu giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học
Làm cho học sinh bước đầu biết và hiểu
-Các thành phần môi trường và các mối quan hệ giữa chúng, cũng như các mối quan hệ giữa con người và môi trường
-Ô nhiễm môi trường
-Biện pháp bảo vệ môi trường trong và ngoài trường lớp
Làm cho học sinh bước đầu có khả năng
-Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi
-Sống hòa hợp, quan tâm tới thiên nhiên
2.2.3 Phương thức thực hiện các hoạt động GDMT cho học sinh tiểu học
GDMT thông qua lồng ghép nội dung vào các môn học
GDMT thông qua lồng ghép vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp
GDMT qua chỉ đạo công tác phổ cập giáo dục ngoài giờ lên lớp
GDMT qua chỉ đạo xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia
GDMT thông qua xây dựng môi trường học tập bạn hữu, trẻ em
GDMT thông qua giáo dục quyền và bổn phận trẻ em
2.3 Tổng quan về trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
2.3.1 Tổng quan chung
2.3.1.1 Vị trí
Trường tiểu học Nguyễn Văn Triết nằm ở địa chỉ 57 đường Hoàng Diệu 2, khu phố
2, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP HCM
2.3.1.2 Cơ sở hạ tầng
Trường được xây dựng với 4 dãy phòng trong đó có 3 dãy phòng phục vụ cho việc học tập của học sinh (38 lớp và 3 phòng chức năng); 1 dãy phòng gồm 4 phòng làm việc dành cho giáo viên, và 1 nhà ăn cho học sinh học 2 buổi (bán trú)
Trang 16Các phòng học được trang bị đầy đủ thiết bị , dụng cụ dạy và học đúng quy định bao gồm 24 bàn đôi dành cho học sinh , 1 bàn giáo viên, và các dụng cụ dạy học như bảng, dụng cụ thực hành,…
2.3.1.3 Cán bộ - Giáo viên – Công nhân viên
Tổng số cán bộ - giáo viên – công nhân viên trường năm học 2011-2012 là 78 cán
bộ bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên và công nhân viên của trường, trong đó, số giảng viên là 43 chiếm tỉ lệ 33.54%
2.3.1.4 Quy mô học sinh
Tổng số học sinh của trường năm học 2011-2012 là 1669 học sinh, gồm 38 lớp Khối 1: 8 lớp; Khối 2: 8 lớp; Khối 3: 9 lớp; Khối 4: 7 lớp; Khối 5: 6 lớp.Trong đó có
1254 học sinh học hai buổi chiếm tỉ lệ 75,2%
Bảng 2.1 Số Lượng Học Sinh Tại Trường Năm Học 2011-2012
2.3.1.5 Một số hoạt động trong năm học 2011-2012
Trong năm học 2011-2012, trường đã tổ chức thực hiện một số hoạt động sau:
- Thi làm thiệp, làm báo tường mừng ngày nhà giáo Việt Nam
- Thi văn nghệ cấp trường
- Hội thi vở sạch chữ đẹp cấp trường
- Vận động học sinh viết thư chúc tết chiến sĩ hải đảo
Trang 17- Hội thi cháu ngoan Bác Hồ
- Tham gia giải Lê Quý Đôn trên báo Nhi Đồng
- Thi nghi thức đội các trường của quận Thủ Đức
2.3.2 Hiện trạng quản lý môi trường tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
2.3.2.1 Hiện trạng rác thải
Nhà trường đã trang bị đầy đủ số lượng thùng rác tại mỗi lớp học và trong sân trường bao gồm 1 thùng rác nhỏ tại mỗi lớp học, 6 thùng rác bố trí đều trong sân trường
và 2 thùng rác lớn dùng để vận chuyển rác đến điểm tập kết rác của trường
Thời gian tập trung rác chủ yếu là sau giờ ra chơi các buồi, các loại rác chủ yếu là
lá cây, bao nilong, giấy,…
Công tác vệ sinh trường được thực hiện mỗi ngày vào các giờ cố định 9h và 15h (sau giờ ra chơi tại căn tin và sân trường); 16h30 (sau giờ tan trường tại các phòng học và trong sân trường) Ngoài ra còn có nhân viên thường xuyên quét dọn trường trong giờ học
Rác thải sau khi thu gom được tập trung về khu vực tập kết rác của trường và được
xe lấy rác đến lấy vào các ngày cố định trong tuần
Hình 2.1 Phân bố thùng rác trong khuôn viên trường
Nhận xét: chất lượng thùng rác tương đối tốt, có nắp đậy sạch sẽ, thùng rác được
bố trí ở nơi thoáng mát không làm mất cảnh quan nhà trường Tuy nhiên, trường vẫn chưa
sử dụng hết công suất của thùng rác, công tác vệ sinh còn nhiều thiếu sót (làm rơi rác dọc đường vận chuyển, chưa quét sạch hết rác,…)
Trang 182.3.2.2 Hiện trạng sử dụng nước
Nhà trường sử dụng nước sinh hoạt do công ty cung cấp nước đô thị thành phố cung cấp
Nhà vệ sinh dành cho Giáo viên và học sinh được đặt ở cuồi mỗi dãy phòng và có
bố trí bồn nước bên ngoài nên thuận tiện cho nhu cầu sử dụng nước của học sinh và cán
bộ trường
Lượng nước sau khi sử dụng được dẫn ngầm trong khuôn viên trường ra cống thoát nước chung của phường
Hình 2.2 Hiện trạng bồn nước
Nhận xét: So với số lượng học sinh hiện có tại trường thì lượng nước tiêu thụ mỗi
ngày vẫn còn khá cao Trường chưa có chế độ bảo trì, bảo dưỡng định kì nên chất lượng
vệ sinh vẫn chưa được tốt
2.3.2.3 Không gian trường học
Trường nằm cách xa khu công nghiệp nên không bị ảnh hưởng nhiều bởi tiếng ồn, không khí tương đối tốt
Trong sân trường có trồng nhiều cây Bên cạnh đó, trường còn trồng cây kiểng trên hành lang mỗi phòng học nên không khí trong trường rất thoáng mát, tạo cho các em có điều kiện học tập thoải mái
Trang 19Hình 2.3 Không gian trường học
Nhận xét: tuy trường có trồng cây xanh nhưng vào buổi trưa, độ che phủ cây xanh
không cao nên sân trường còn nhiều nắng, gây cản trở cho các em khi tham gia sinh hoạt dưới sân trường vào buồi trưa
Trang 20CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
Nhằm thực hiện các mục tiêu của đề tài, tác giả tiến hành:
- Khảo sát hiện trạng quản lý môi trường của trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
- Khảo sát, đánh giá hiệu quả của công tác giáo dục môi trường hiện có tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
- Đánh giá nhận thức và hành vi BVMT ban đầu của học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết về bảo vệ môi trường
- Đề xuất và triển khai thực hiện một số hoạt động GDMT cho học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
- Đánh giá sự thay đổi về hành vi và nhận thức của học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết sau khi thực hiện các hoạt động GDMT
- Đánh giá sự phù hợp và khả năng ứng dụng vào thực tế của các hoạt động GDMT
đã được tổ chức cho học sinh
- So sánh các hoạt động GDMT, từ đó đưa ra mô hình GDMT phù hợp nhất cho học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu, tổng hợp tài liệu từ sách báo, tạp chí, báo cáo khoa học, website trong
và ngoài nước về GDMT cho học sinh
Trang 21Nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu, hình ảnh liên quan đến tình hình hoạt động trong những năm gần đây của trường tiểu học Nguyễn Văn Triết, tài liệu về cơ sở hạ tầng, quy
mô học sinh của trường
3.2.2 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo ý kiến của
-GVHD, thầy Hà Thúc Viên về đề tài, các hoạt động giáo dục và những vấn đề có liên quan
-Các chuyên gia thuộc lĩnh vực giáo dục – truyền thông môi trường cho học sinh bậc tiểu học
-Giáo viên trường tiểu học Nguyễn Văn Triết về tài liệu, hình thức tổ chức các hoạt động GDMT cho học sinh tiểu học
3.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa
Tác giả tiến hành khảo sát, tìm hiểu ghi nhận những hiện trạng môi trường và công tác GDMT tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
3.2.4 Phương pháp phỏng vấn, điều tra bằng bảng câu hỏi
Mục đích: phương pháp được thực hiện nhằm đánh giá nhận thức và hành vi BVMT của học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết trước và sau khi thực hiện đề tài Đồng thời khảo sát ý kiến của giáo viên về tính hiệu quả của các hoạt động GDMT đã được thực hiện tại trường
Đối tượng khảo sát: 43 giáo viên, và 1674 học sinh các khối 1, 2, 3, 4, 5 của trường tiểu học Nguyễn Văn Triết trong đó số học sinh khối 1 là 367 học sinh, khối 2: 348 học sinh, khối 3: 405 học sinh, khối 4: 300 học sinh, khối 5 là 254 học sinh
Nội dung phiếu khảo sát: trên cơ sở xem xét đặc điểm tâm lý, khả năng tiếp nhận thông tin của học sinh tiểu học, đồng thời tìm hiểu công tác giáo dục trong nhà trường và các tài liệu có liên quan, tác giả đã thực hiện 2 đợt khảo sát nhằm mục đích đánh giá nhận thức của học sinh tiểu học về bảo vệ môi trường, tính hiệu quả của các hoạt động GDMT
đã được tổ chức cho học sinh
Phiếu khảo sát dành cho học sinh tập trung vào các vần đề sau
3-4 câu hỏi khảo sát về hành vi của học sinh về bảo vệ môi trường
Trang 223-4 câu hỏi khảo sát về nhận thức của học sinh về các vấn đề môi trường
1-2 câu hỏi về sự yêu thích của học sinh đối với các hoạt động GDBVMT
Phiếu khảo sát dành cho giáo viên tập trung vào các vần đề sau
Tình hiệu quả của các hoạt động GDMT cho học sinh
Tính khả thi của các hoạt động khi áp dụng cho học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
Sự phù hợp và khả năng tác động đến nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của học sinh
3.2.5 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
Từ các dữ liệu thu được, tác giả sử dụng phần mềm excel để phân tích số liệu ban đầu, hình thành kết quả dưới dạng bảng biểu, qua đó đánh giá, phân tích hành vi, nhận thức của học sinh trước và sau khi thực hiện đề tài Sử dụng phương pháp thống kê mô tả
để trình bày thông tin chung về thực trạng công tác GDMT tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
3.2.6 Phương pháp triển khai thực nghiệm
Đề tài tiến hành triển khai thực nghiệm các hoạt động đã được đề xuất trong hai tháng 3,4/2012 và đánh giá hiệu quả của các hoạt động GDMT đến nhận thức và hành vi của học sinh
Trang 23CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng công tác giáo dục môi trường tại trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
Trong 2 năm gần đây, nhà trường đã và đang có sự quan tâm nhiều đến công tác giáo dục môi trường cho học sinh các khối thông qua các hoạt động như:
- Tổ chức nhắc nhở học sinh bảo vệ, giữ gìn vệ sinh trường lớp vào các giờ chào cờ đầu tuần
- Tổ chức cho học sinh tham gia vào việc giữ gìn vệ sinh trường học thông qua việc
kế hoạch vận động học sinh mỗi khối luân phiên nhặt rác trong sân trường vào giờ ra chơi mỗi ngày
- Nhà trường đã mời giảng viên về môi trường về giảng dạy cho học sinh luật bảo vệ môi trường, đồng thời thực hiện lồng ghép các nội dung GDMT vào dạy trong chương trình học
- Tổ chức cho các em tham gia ngày hội môi trường vào cuối tháng 2 hàng năm, tạo điều kiện giao lưu, học tập và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
- Ngoài ra, trường còn tổ chức các hoạt động ngoại khóa như tổ chức cuộc thi nét vẽ xanh, tổ chức cho các em tham gia hành trình học từ thiên nhiên, khuyến khích các em chăm sóc cây xanh trong phòng học và trong sân trường
Trang 244.2 Đánh giá hiệu quả công tác GDMT
4.2.1 Đánh giá thông qua hành vi và nhận thức của học sinh
Khối 1
Sau khi tiến hành phỏng vấn nhận thức và hành vi BVMT của học sinh khối 1 trường tiểu học Nguyễn Văn Triết, kết quả thu được được thể hiện trong biểu đồ 4.1
Biểu đồ 4.1 Mối tương quan giữa nhận thức và hành vi BVMT của HS khối 1
Nguồn: Kết quả điều tra
Biểu đồ 4.1 cho thấy hoạt động được của học sinh khối 1 thực hiện nghiêm túc nhất đó là hành vi “bỏ rác vào thùng , chiếm tỷ lệ 69,48%, tuy vẫn còn một số học sinh chưa có thói quen bỏ rác vào thùng (112 học sinh, chiếm tỷ lệ 31,52%), nhưng phần lớn học sinh khối 1 đã biết được hành động bỏ rác vào thùng là một hành động cần thiết để giữ gìn vệ sinh môi trường Biểu đồ 4.1 cũng cho thấy hoạt động được mà học sinh khối 1
ít thực hiện nhất là hoạt động chăm sóc cây xanh xung quanh nhà, chiếm tỷ lệ học sinh thực hiện là 31.06% Hai hoạt động còn lại là sử dụng điện tiết kiệm và hoạt động sử dụng
31.06
42.78
50.95
69.4847.14
62.67
52.86
62.94
020
Hành vi BVMT Nhận thức BVMT
HoạtđộngTỷ
lệ (%)
Trang 25nước tiết kiệm thông qua thói quen khóa chặt vòi nước sau khi được học sinh khối 1 thực hiện không thường xuyên và chiếm tỷ lệ không cao lần lượt là 42.78% và 50.95%
Về nhận thức, đa số học sinh khối 1 suy nghĩ rằng tất cả mọi người đều phải bỏ rác vào thùng, chiếm tỷ lệ 69.48%, nghĩa là có 30.52% học sinh nghĩ rằng chỉ có một vài người nên bỏ rác vào thùng và vì em là học sinh nên em phải thực hiện hành vi này, nếu
em lớn lên em sẽ không phải thực hiện điều đó rất thích tham gia chăm sóc cây xanh, suy nghĩ tất cả mọi người đều phải bỏ rác vào thùng đạt tỷ lệ cao nhất khi xét đến nhận thức BVMT của học sinh khối 1 Tỷ lệ này giảm dần xuống còn 62,67% đối với suy nghĩ nên tiết kiệm điện, 47.14% đối với suy nghĩ tiết kiệm nước là cần thiết Số lượng học sinh hình thành suy nghĩ nên chăm sóc cây xanh là thấp nhất chiếm tỷ lệ 47.14%
Tóm lại, đa số học sinh khối 1 đều có những suy nghĩ và hành động tích cực để BVMT, tuy nhiên, học sinh khối 1 vẫn chưa có được sự nhất quán trong suy nghĩ và hành động BVMT Cụ thể là trong khi có rất nhiều học sinh nghĩ rằng chăm sóc cây xanh là việc nên làm với số lượng là 173 học sinh, nhưng số học sinh thực hiện hoạt động này thực tế chỉ có 114 học sinh, như vậy còn lại 59 học sinh chỉ hình thành ý thức chứ chưa thực hiện hoạt động này vào trong thực tế Điều này cho thấy mặc dù tỷ lệ hình thành nhận thức về việc thực hiện hành vi này của học sinh khối 1 cao nhưng do nhiều yếu tố khách quan, do các em còn nhỏ, còn ham chơi, và việc thực hiện hoạt động này ở nhà là không bắt buộc, nên số lượng học sinh thực hiện hoạt động này không bằng với số học sinh có nhận thức về nên thực hiện hoạt động này Tương tự như hoạt động chăm sóc cây xanh, sự khác biệt về nhận thức và hành vi của học sinh khối 1 trong hoạt động tiết kiệm điện cũng có sự chênh lệch khá cao, biều đồ 4.1 cho thấy khoảng chênh lệch về nhận thức
và hành vi của học sinh đối với hoạt động tiết kiệm điện, nhận thức của các em về việc hoạt động này vẫn còn cao hơn việc thực hiện Khác với các hoạt động trên, việc thực hiện hoạt động bỏ rác vào thùng được các em thực hiện tốt, tuy nhiên nhận thức của các
em về điều này không cao, cho thấy rằng việc thực hiện hoạt động này là do bắc buộc còn bản thân các em không muốn thực hiện hoạt động này
Như vậy, học sinh khối 1 vẫn chưa hiểu rõ vì sao phải BVMT mà chỉ thực hiện các hành vi BVMT theo những gì được chỉ dạy, điều này là không tốt Các em phải hiểu vì
Trang 26sao mình cần BVMT để có sự hình thành nhận thức về BVMT từ đó tiến đến việc thực hiện các hoạt động này thường xuyên trong thực tế, có như vậy sau này khi các em lớn lên, dù không có ai hướng dẫn, nhận thức đúng đắn của các em sẽ giúp các em có những hành vi đúng đắn về BVMT Do đó, khi còn ngồi trong ghế nhà trường, các em cần được giáo dục về BVMT đúng phương pháp, thực hiện thường xuyên, các thầy cô giáo nên cho các em thấy những ý nghĩa to lớn của việc BVMT
Khối 2 và 3
Sau khi phân tích kết quả khảo sát hành vi và nhận thức của học sinh khối 2 và khối 3 về BVMT, thấy được tuy còn học sinh còn nhiều biều hiện không đúng về BVMT nhưng đa số học sinh khối 1 và khối 2 đã có những suy nghĩ và hành động đúng nhằm góp phần gìn giữ vệ sinh môi trường, kết quả này được thể hiện trong biểu đồ 4.2:
Biểu đồ 4.2 Mối tương quan giữa nhận thức và hành vi BVMT của HS khối 2 và 3
Nguồn: Kết quả điều tra
Mặc dù tỷ lệ học sinh khối 2 và khối 3 cho rằng cần thiết phải tiết kiệm nước là khá cao và lần lượt là 62.93% và 66.42%, nhưng tỷ lệ học sinh thực hiện hành động tiết kiệm nước thông qua thói quen khóa vòi nước sau khi sử dụng ở khối 2 chỉ đạt 62.36% và
38.79
48.85
62.36
70.6947.41 52.87
Tiết kiệm nước
Bỏ rác vào thùng
35.06
49.38
65.19
79.0147.9
58.27 66.42
74.07
020406080100
Chăm sóc xây xanh
Bảo vệ ĐVHD
Tiết kiệm nước
Bỏ rác vào thùng
KHỐI 3
Tỷ
lệ (%)
Hoạtđộng
Trang 27hành vi chứng tỏ rằng suy nghĩ phải tiết kiệm nước của các em vẫn chưa đủ mạnh để giúp các em hình thành thói quen tốt trong việc sử dụng nước tiết kiệm, biết rằng nên tiết kiệm nước nhưng vì nước là một nguồn tài nguyên vô tận của con người, thay vì thực hiện tiết kiệm nước, các em vẫn còn sử dụng hoang phí nước, vẫn chưa tự giác tiết kiệm nước nếu hành vi đó không mang tính bắc buộc
Tương tự như học sinh khối 1, phần lớn học sinh khối 2 và khối 3 đều có được thói quen tốt là bỏ rác vào thùng, đúng nơi quy định trong đó tỷ lệ HS khối 2 thực hiện đúng là 75,00% và tỷ lệ học sinh khối 3 thực hiện đúng là 79,01%, nhưng tỷ lệ HS khối 2 và khối
3 cho rằng bỏ rác vào thùng là cần thiết chỉ đạt 69.25% đối với khối 2 và 74.07% đối với khối 3 Qua sự khác chênh lệch về nhận thức và hành vi cho thấy, phần lớn các em chưa hiểu vì sao phải tiết kiệm nước mà chỉ thực hiện hành vi này theo sự hướng dẫn của người lớn và thầy cô, trong tư tưởng của các em việc thực hiện hành vi này không mang chủ ý riêng, chỉ là một thói quen được dạy
Biểu đồ 4.2 cũng chỉ ra được phần lớn các em học sinh khối 2 và khối 3 đều có sự quan tâm đến thiên nhiên thông qua tỷ lệ học sinh cho rằng chăm sóc cây xanh là cần thiết lần lượt ở khối 2 và khối 3 là 47.41% và 47.90%, và tỷ lệ học sinh cho rằng cần phải bảo
vệ động vật doang dã là 52.87% ở khối 2 và 58.27% ở khối 3 Tuy nhiên, trên thực tế, tỷ
lệ học sinh khối 2 và khối 3 thực hiện các hoạt động nhằm BVMT tự nhiên còn thấp, cụ thể là chỉ có 38,79% học sinh khối 2 và 35.06% học sinh khối 3 thực hiện chăm sóc cây xanh xung quanh nhà, và vẫn còn có nhiều học sinh có hành động khiêu khích, chọc phá động vật (51.15% ở khối 2 và 50.62 ở khối 3)
Tuy học sinh khối 3 có những suy nghĩ và hành động đúng trong việc BVMT cao hơn học sinh khối 2 về mọi mặt, nhưng nếu xét về khía cạnh hiểu và vận dụng những kiến thức đã hiểu được vào trong thực tế thì học sinh khối 2 lại thực hiện tốt hơn học sinh khối
3 Cụ thể là mức chênh lệch giữa nhận thức và hành vi của học sinh khối 2 thấp hơn mức chênh lệch này ở học sinh khối 3, nghĩa là tuy nhận thức về BVMT của học sinh khối 3 cao hơn học sinh khối 2, nhưng học sinh khối 2 đã vận dụng tốt những gì được học nhằm BVMT để đem áp dụng một cách tường xuyên vào trong thực tế , trong khi ở học sinh khối 3, tuy các em lớn tuổi hơn và hiểu rõ cũng như nhận thức được những hành động
Trang 28đúng đắn trong việc BVMT, nhưng tỷ lệ HS vận dụng vào trong thực tế thấp hơn so với khối 2
Tóm lại, tuy học sinh khối 2 và khối 3 đã có được những biểu hiện tích cực trong suy nghĩ và hành động BVMT nhưng những biểu hiện này còn ở mức trung bình và suy nghĩ của các em chưa tạo được động lực để giúp các em hình thành được những hành vi đúng đắn góp phần bảo vệ mội trường, bảo vệ thiên nhiên
Khối 4 và khối 5
Khối 4 và khối 5 là khối lớp cao nhất của bậc tiểu học nên các em học sinh khối 4
và khối 5 đều đã được làm quen với các khái niệm về BVMT, do đó các em đã có những hiểu biết nhất định trong hành vi và nhận thức về việc BVMT, kết quả này được thể hiện trong biểu đồ 4.3:
Biểu đồ 4.3 Mối tương quan giữa nhận thức và hành vi BVMT của HS khối 4 và 5
Nguồn: Kết quả điều tra
Theo kết quả được nêu ở biểu đồ 4.3, phần lớn các em học sinh khối 4 và khối 5 đều hiểu được nên bảo vệ động vật hoang dã, trong đó số học sinh khối 4 biết bảo vệ động
45.00 45.33
72.67
81.3350.67 59.67
51.97
39.76
81.89
88.1957.48 61.02
83.07
82.68
020406080100
Phân loại rácĐVHDBảo vệ kiệm Tiết
nước
Bỏ rác vào thùng
KHỐI 5
Tỷ
lệ (%)
Hoạtđộng
Trang 29hoang dã, tỷ lệ thực hiện ở khối 4 là 45.33% và ở khối 5 là 39.76% Điều này cho thấy rằng tuy học sinh khối 4 và khối 5 đã tiếp cận được các kiến thức về động vật hoang dã từ trong sách vở, nhưng các em vẫn chưa có được thái độ đúng đắn để bảo vệ động vật hoang dã thể hiện qua việc vẫn còn 54.67% học sinh khối 4 và 69.24% học sinh khối 5 đã từng có hành vi khiêu khích, chọc phá động vật Bên cạnh đó, mức độ chênh lệch giữa suy nghĩ phải bảo vệ động vật hoang dã và việc thực hiện các hoạt động nhằm bảo vệ động vật hoang dã của học sinh khối 4 và khối 5 vẫn giữ một khoảng cách khá lớn (11.34% đối với khối 4 và 21.26% đối với khối 5), và những suy nghĩ tích cực này vẫn chưa hình thành trong các em một hành động đúng và thường xuyên về bảo vệ động vật hoang dã
Khác với hoạt động bảo vệ động vật hoang dã, tuy nhận thức của học sinh khối 4
và khối 5 về hoạt động tiết kiệm nước có tỷ lệ lần lượt là 75.67% và 83.07% thông qua việc đánh giá nhận định của các em về nguy cơ cạn kiệt nguồn nước, nhưng mức chêch lệch giữa hành vi và nhận thức của các em trong vấn đề tiết kiệm nước của học sinh khối
4 và khối 5 vẫn còn tồn tại cụ thể là ở khối 4 là 3.00% và 1.18% với chênh lệch thấp Mặc
dù tiết kiệm nước không phải là một đối tượng được đưa vào giảng dạy trong trường lớp, nhưng kết quả điều tra đã chứng tỏ rằng học sinh đã biết vận dụng những hiểu biết của các em để góp phần tiết kiệm nước
Mặc dù chỉ ở độ tuổi từ 9 – 10 tuồi nhưng tỷ lệ học sinh hiểu đươc định nghĩa về phân loại rác ở khối 4 là 50,67% và ở khối 5 là 57.48%, tỷ lệ này khá cao, tuy nhiên các
em vẫn chưa thực hiện hoạt động phân loại rác khi ở nhà, chỉ có 45.00% HS khối 4 và 51.97% học sinh khối 5 thực hiện phân loại rác tại nhà Như vậy, tuy các em biết phân loại rác nhưng do nhiều yếu tố khách quan như là gia đình chưa có đủ điều kiện hoặc gia đình các em không ai thực hiện phân loại rác tại nhà…, làm cho phần lớn các em vẫn chưa hình thành thói quen phân loại rác tại nhà
Tương tự như khối 1, 2, 3, học sinh khối 4 và khối 5 có thói quen bỏ rác vào thùng khá cao với tỷ lệ thực hiện lần lượt là 81.33% và 88.19%, nhưng vẫn còn một số học sinh suy nghĩ rằng chỉ có học sinh mới cần phải bỏ rác vào thùng còn người lớn thì không, tỷ
lệ này ở khối 4 là 18.67% và ở khối 5 là 11.81% Điều này cho thấy rằng hành động của
Trang 30học sinh chỉ chịu tác động một phần nhỏ bởi nhận thức của các em, còn lại là do những tác động khác như là người khác làm thì em làm theo, thầy cô bảo phải bỏ rác vào thùng…
Tóm lại, học sinh khối 4 và khối 5 tuy đã có được những suy nghĩ và hành động tích cực hơn so với các khối lớp khác về BVMT, nhưng các em vẫn chưa vận dụng được các kiến thức mà các em biết được để giúp các em tạo được những hành động độc lập dựa vào những suy nghĩ của riêng các em làm cho có sự khác biệt rõ rang trong nhận thức và hành vi BVMT Do đó, nhà trường cần có những biện pháp giáo dục phù hợp nhằm tạo cho các em học sinh hiểu được ý nghĩa của việc BVMT, có những nhận thức đúng đắn và thực hiện thường xuyên các hoạt động BVMT trong thực tế
4.2.2 Sự yêu thích của học sinh đối với các hoạt động GDMT
Tuy các hoạt động GDMT được nhà trường tổ chức cho tất cả các khối lớp, nhưng không phải hoạt động nào cũng thu hút được nhiều sự tham gia của học sinh toàn trường,
cụ thể là sự yêu thích tham gia các hoạt động của học sinh được thể hiện qua bảng 4.1
Bảng 4.1 Sự yêu thích tham gia hoạt động GDMT của học sinh
STT Hoạt động Khối 1 Khối 2 Khối 3 Khối 4 Khối 5 Tổng cộng Tỷ lệ (%)
Nguồn: Kết quả điều tra
Bảng 4.1 cho thấy hoạt động GDMT được học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết thích tham gia nhất đó là hoạt động nhặt rác sau giờ ra chơi với số học sinh thích tham gia hoạt động là 1209 học sinh, chiếm tỷ lệ 72.22%, trong đó, tỷ lệ học sinh khối 1,
2, 3 thích tham gia hoạt động này là 872 em, điều này chứng tỏ rằng hoạt động này thu hút học sinh khối 1, 2, 3 tham gia nhiều hơn các khối 4, 5 Bên cạnh hoạt động nhặt rác sau giờ ra chơi, hai hoạt động chăm sóc cây xanh và thi vẽ tranh về môi trường cũng được
Trang 3168.10% và 68.46%, tuy hoạt động thi vẽ tranh về môi trường không được học sinh khối 1,
2, 3 yêu thích như hoạt động nhặt rác sau giờ ra chơi, nhưng tỷ lệ các em tham gia khá cao, cho thấy học sinh thật sự yêu thích tham gia các hoạt động này Trong khi học sinh khối 1, 2, 3 thích tham gia nhặt rác sau giờ ra chơi, thì học sinh các khối 4 và 5 lại thích tham gia dọn vệ sinh lớp học hơn, mặc dù cùng là hoạt động góp phần giữ gìn vệ sinh trường học nhưng lại thu hút những đối tượng học sinh khác nhau Qua kết quả được trình bày ở bảng 4.1, hoạt động mà học sinh ít yêu thích nhất đó là học luật bào vệ môi trường, tuy đây là hoạt động nằm trong chương trình giảng dạy nhưng tỷ lệ học sinh tham gia chỉ chiếm 28.49% toàn trường, điều này cho thấy nhiều học sinh vẫn còn chưa quan tâm đến môi trường, dồng thời cũng thấy được hoạt động chưa đủ sự thu hút để có thể tạo cho học sinh hứng thú khi tham gia Như vậy, các hoạt động GDMT đã thu hút được nhiều học sinh tham gia và yêu thích, nhưng vẫn còn nhiều học sinh chưa thật sự hứng thú khi tham gia các hoạt động này Do đó, nhà trường cần có những phương pháp nhằm đổi mới công tác GDMT để đem lại hiệu quả cao về tính giáo dục cũng như thu hút được các em tham gia nhiệt tình, tạo điều kiện giáo dục cho học sinh bảo vệ môi trường tốt hơn
4.2.3 Nhận xét của giáo viên về việc hiệu quả của các hoạt động GDMT
Sau khi phỏng vấn giáo viên trường tiểu học Nguyễn Văn Triết về tính hiệu quả của các hoạt động GDMT đã được tổ chức cho học sinh tại trường, kết quả thu được được thể hiện trong bảng 4.2
Bảng 4.2 Tính hiệu quả của các hoạt động GDMT đã được thực hiện
STT Hoạt động
Chỉ tiêu đánh giá Tính hiệu quả Tính khả thi
Số phiếu Tỷ lệ (%) phiếu Số Tỷ lệ (%)
Nguồn: Kết quả điều tra
Trang 32Bảng 4.2 thể hiện về sự đánh giá của giáo viên về tính hiệu quả của các hoạt động GDMT thông qua 2 chỉ tiêu là tính khả thi khi thực hiện trong thực tế nghĩa là thu hút nhiều HS tham gia và hiệu quả của việc GDMT trong việc tác động đến nhận thức và hành vi của HS Kết quả cho thấy đa số giáo viên đánh giá hoạt động giáo dục mang lại hiệu quả cao nhất cả về tính giáo dục cũng như tính khả thi là hoạt động tổ chức cho các
em nhặt rác sau giờ ra chơi, có 33 giáo viên cho rằng hoạt động này có tác động giáo dục cao, chiếm tỷ lệ 76.74% Phần lớn giáo viên cho rằng hoạt động dạy luật bảo vệ môi trường cho học sinh vẫn chưa mang lại hiệu quả cao về hiệu quả giáo dục (tỷ lệ đạt hiệu quả là 13.95%) cũng như chưa thu hút được nhiều học sinh yêu thích tham gia hoạt động này, bên cạnh đó, nhiều giáo viên cũng cho rằng hoạt động này không thích hợp để thực hiện cho các học sinh khối lớp 1, 2 và 3 Các hoạt động còn lại là tổ chức cho HS dọn dẹp lớp học vào cuối tuần, tổ chức cho các em chăm sóc cây xanh, và tổ chức các cuộc thi vẽ tranh về môi trường đã được nhiều em tham gia và việc thực hiện các hoạt động này cũng tạo cho các em một nhận thức và hành vi tốt hơn về BVMT, tổ chức cho học sinh tiếp cận với môi trường thông qua cuộc thi vẽ tranh về môi trường với tỷ lệ GV đánh giá đạt hiệu quả cao là 65.12%, hoạt động tổ chức cho các em học sinh tham gia chăm sóc xây xanh
và tổ chức cho học sinh dọn vệ sinh lớp học chiếm tỷ lệ giáo viên đánh giá đạt là khá cao với các tỷ lệ lần lượt là 53.49% và 65.12% Cũng theo đánh giá của giáo viên thì các hoạt động này đã thu hút được nhiều học sinh tham gia, với tỷ lệ trung bình trên 80% Như vậy
đa số GV đều cho rằng việc thực hiện các hoạt động GDMT cho HS đã mang lại những hiệu quả tích cực trong việc hình thành cho các em những nhận thức và hành vi đúng đắn
về BVMT
Như vậy, tuy các hoạt động GDMT đã được tổ chức cho HS có mang lại hiệu quả cao nhưng vẫn chưa áp dụng cho đúng đối tượng Vì thế để nâng cao hiệu quả của các hoạt động GDMT cho HS thì nhà trường cần triển khai thực hiện các kế hoạch về GDMT sao cho hợp lý, đúng đối tượng, đầy đủ ý nghĩa, mang tính thực tiễn cao để tránh làm lãng phí nguồn nhân lực và vật lực khi thực hiện nhiều hoạt động GDMT nhưng lại không gây tác động lớn đến nhận thức và hành vi của HS tiểu học
Trang 334.3 Triển khai các hoạt động GDMT cho học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết
4.3.1 Kế hoạch tổ chức hoạt động
Sau khi tiếp xúc với cũng như thông qua kết quả khảo sát thu được từ học sinh trường tiểu học Nguyễn Văn Triết, công tác GDMT đã được thực hiện đã đạt được những kết quả khả quan, học sinh đã có được những thói quen, hành vi đúng đắn về giữ gìn vệ sinh trường lớp, gia đình Tuy nhiên, công tác tổ chức vẫn còn nhiều hạn chế, một số hoạt động chưa được linh hoạt làm cho nhiều học sinh vẫn chưa biết đến các hoạt động này Bên cạnh đó, các em tuy đã có những thói quen tốt nhưng vẫn chưa có đủ kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trường Vì vậy, cần phải có những hoạt động cũng như phương pháp GDMT phong phú, phù hợp cho học sinh nhằm tạo sự hứng thú và năng cao tính tò
mò của các em về môi trường, đồng thời giúp cho các em hiểu rõ và phân biệt được những hành vi đúng để từ đó có những hành động để bảo vệ môi trường
Xuất phát từ những điều trên, tác giả đề xuất một số hoạt động GDMT như sau
- Tổ chức các tiết học ngoại khóa về môi trường
- Làm bảng tin môi trường
- Thành lập đội tình nguyện viên môi trường
- Tổ chức các cuộc thi: nét vẽ xanh, viết cảm nhận về môi trường, thi tái chế rác thải, thi đua “lớp học em sạch đẹp”
Thời gian cụ thể của từng hoạt động được thể hiện trong bảng 4.3
Trang 34Bảng 4.3 Kế Hoạch Tổ Chức Các Hoạt Động GDMT
tham gia
1 Tổ chức tiết học ngoại khóa về MT 12/3-6/4
2 Làm bảng tin môi trường từ 28/3
3 Thành lập đội tình nguyện viên MT 26/3-30/3 Khối 3, 4, 5
Tổ chức các cuộc thi
4 Nét vẽ xanh 9/4-20/4 Khối 1, 2, 3
5 Viết cảm nhận về MT 9/4-20/4 Khối 4, 5
6 Tái chế rác 2/4-20/4 Khối 4, 5
7 Thi đua "Lớp học em sạch đẹp" 2/4-13/4 Khối 1, 2, 3
Buổi lễ tổng kết các hội thi được tổ chức vào giờ chào cờ ngày 23/4
4.3.2 Triển khai thực hiện các hoạt động
4.3.2.1 Tổ chức tiết học ngoại khóa về môi trường
Mục đích: trang bị những kiến thức cơ bản về môi trường cho học sinh, tạo điều kiện cho các em học tập và thực hành về BVMT, từ đó giúp các em ý thức được vai trò của môi trường, và có những hành động đúng để góp phần bảo vệ môi trường
Đối tượng tham gia: học sinh các khối 1, 2, 3, 4, 5
Thời gian 3 tuần, từ ngày 12/3/2012 đến hết ngày 6/4/2012
Địa điểm: tiết học được tổ chức tại phòng học vào giờ sinh hoạt lớp
Công cụ thực hiện: tranh ảnh, các đoạn video về BVMT
Nội dung hoạt động: hoạt động được tổ chức thành 2 đợt
- Đợt 1: từ ngày 12/3 đến ngày 16/3 Giáo viên chủ nhiệm trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn cho các em về BVMT
- Đợt 2: từ ngày 23/3 đến ngày 6/4 Học sinh tự tìm hiểu các vấn đề môi trường mà các em quan tâm, và thảo luận trên lớp các vấn đề này
4.3.2.2 Làm bản tin môi trường
Mục đích: đưa những thông tin bổ ích về môi trường hiện nay, trang bị những hành
Trang 35hoạt động môi trường sẽ được thực hiện , trình bày các sản phẩm của các em trong các cuộc thi về môi trường
Thời gian thực hiện: từ ngày 28/3/2012
Cách thức tiến hành: Sử dụng một nửa bản tin đoàn đội làm bản tin môi trường dưới sự cố vấn của giáo viên phụ trách đội Nội dung bản tin liên quan đến các hoạt động môi trường sẽ được tổ chức tại trường, một số kiến thức cơ bản về mô trường và BVMT như phân loại rác, tái chế rác,…
4.3.2.3 Thành lập đội tình nguyện viên môi trường
Mục đích: tạo cho các em có sự quan tâm về môi trường, có ý thức tuyên truyền, giúp đỡ các bạn cùng lớp và trong toàn trường tham gia BVMT thông qua các hoạt động như bỏ rác đúng nơi quy định, tiết kiệm nước…
Đối tượng: các em học sinh khối 3, 4, 5 có ý muốn góp phần vào việc giữ gìn vệ sinh trường lớp và có sự yêu thích BVMT
Nội dung hoạt động: Nhóm hoạt động định kì 1 lần/tuần xen vào chiều ngày thứ Sáu hàng tuần Nhóm có nhiệm vụ nhắc nhở các bạn bỏ rác đúng nơi quy định, vận động học sinh tham gia vào các hoạt động BVMT sẽ được thực hiện trong trường Đồng thời, ghi nhận, thảo luận, đóng góp ý kiến để công tác được hoàn thiện
4.3.2.4 Tổ chức cuộc thi Nét vẽ xanh
Mục đích: tạo sân chơi cho các em, tạo điều kiện cho các em thể hiện những suy nghĩ, nguyện vọng của các em về môi trường
Cách thức thực hiện
- Thông qua ban giám hiệu trường duyệt kế hoạch hội thi
- Đối tượng tham gia: học sinh khối 1, 2, 3 toàn trường theo hình thức cá nhân
- Thời gian phát động trong toàn trường: ngày 9/4/2012
- Thời gian hoàn thành bài dự thi: 20/4/2012
- Địa điểm nộp sản phẩm: phòng công tác đội
- Nội dung: Các em vẽ tranh trên giấy tập hoặc các loại giấy khác với các nội dung như hành vi đúng, không đúng đối với môi trường; suy nghĩ, nguyện vọng của các em về
Trang 36môi trường em muốn sống; hình ảnh các em gặp được trong cuộc sống (xả rác, giẫm cỏ…)
4.3.2.5 Cuộc thi Viết cảm nhận về môi trường
Mục đích: tạo sân chơi cho các em, tạo điều kiện cho các em thể hiện những suy nghĩ, nguyện vọng của các em về môi trường
Cách thức thực hiện
- Thông qua ban giám hiệu trường duyệt kế hoạch hội thi
- Đối tượng tham gia: học sinh khối 4, 5 toàn trường theo hình thức cá nhân
- Thời gian phát động trong toàn trường: ngày 9/4/2012
- Ngày nộp sản phẩm: 20/4/2012
- Địa điểm nộp sản phẩm: phòng công tác đội
- Các em viết cảm nhận, chia sẽ những suy nghĩ, tình cảm của các em về môi trường xung quanh
4.3.2.6 Hội thi tái chế rác thải
Mục đích: góp phần tạo mối quan tâm và nâng cao nhận thức của các em về hoạt động giảm thiểu, tái chế, đóng góp vào việc tiết kiệm tài nguyên, giữ vệ sinh môi trường tại gia đình, trường học, nơi công cộng, giúp các em biết được lợi ích của việc sử dụng sản phẩm tái chế, nâng cao tính sáng tạo của các em
Cách thức thực hiện
- Thông qua ban giám hiệu trường duyệt kế hoạch hội thi
- Đối tượng tham gia: học sinh khối 4, 5 toàn trường theo hình thức cá nhân hoặc tập thể
- Thời gian phát động trong toàn trường: ngày 2/4/2012
- Ngày nộp sản phẩm: 20/4/2012
- Địa điểm nộp sản phẩm: phòng công tác đội
- Nội dung hoạt động: Các em sử dụng những sản phẩm đã qua sử dụng như chai nhựa, vỏ hộp sữa, nắp chai,…để tạo thành sản phẩm có ích