BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH **************** NGÔ NGUYỄN TRƯỜNG AN KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC CÁC VƯỜN CÂY CẢNH ĐẶC TRƯNG PHỤC VỤ PHÁT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
****************
NGÔ NGUYỄN TRƯỜNG AN
KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC CÁC VƯỜN CÂY CẢNH ĐẶC TRƯNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CẢNH QUAN VÀ KỸ THUẬT HOA VIÊN
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 6/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
****************
NGÔ NGUYỄN TRƯỜNG AN
KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG
KHAI THÁC CÁC VƯỜN CÂY CẢNH ĐẶC TRƯNG
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI
THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: Cảnh Quan Và Kỹ Thuật Hoa Viên
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS NGÔ AN
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 6/2012
Trang 3CẢM TẠ
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các cá
nhân và tổ chức, tôi xin chân thành cảm ơn:
TS Ngô An đã hướng dẫn tận tình chu đáo
Quý thầy cô bộ môn Cảnh quan và kỹ thuật hoa viên đã truyền đạt nhiều thông
tin bổ ích trong suốt quá trình học tập
Chú Nguyễn Thành Xuân, Lê Hữu Thành, Hội Sinh Vật Cảnh Tỉnh Tiền Giang
đã tận tình giúp đỡ trong quá trình thu thập thông tin các vườn
Ủy ban Nhân dân, Hội Nông dân các xã, phường thuộc thành phố Mỹ Tho đã
tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình khảo sát hiện trạng
Và tất cả những người đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tp Hồ Chí Minh, ngày 31/5/2012
Ngô Nguyễn Trường An
Trang 4TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát đánh giá hiện trạng và khả năng khai thác các vườn
cây cảnh đặc trưng phục vụ phát triển du lịch sinh thái tại thành phố Mỹ Tho tỉnh
Tiền Giang” được tiến hành tại thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang, thời gian từ
tháng 1/2012 – 5/2012
Kết quả thu được:
1 Đã khái quát được điều kiện kinh tế - xã hội cũng như hiện trạng các vườn cây cảnh đặc trưng tại các xã, phường thuộc thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang
2 Đã phân tích đánh giá được tiềm năng để phục vụ phát triển du lịch sinh thái
3 Đã phân loại được vườn có khả năng phát triển thành điểm du lịch sinh thái
4 Trình bày giải pháp phát triển các vườn cây cảnh đặc trưng thành các điểm phục vụ cho du lịch sinh thái
Trang 5SUMMARY
The study “Surveying, evaluating the existing status and exploitation capacities
of specialized gardens for ecotourism development in My Tho city Tien Giang
province” have been carried out from January to May, 2012 in My Tho city, Tien
Giang province
The outcomes:
1 Generalizing the socio - economy situation as well as the systems of
specialized gardens in the communes, wardsof My Tho city
2 Analyzing the potentiality of specialized gardens for ecotourism
Trang 6MỤC LỤC
TRANG Trang tựa i
2.1.6 Thảm thực vật 6
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 7
2.2.1 Dân số và sự phân bố 7
2.2.2 Đặc điểm kinh tế 7
2.3 Khái niệm và các nguồn tài nguyên du lịch sinh thái 8
2.3.2.2 Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái 10
Trang 72.3.2.4 Một số tài nguyên du lịch sinh thái đặc thù 13
2.4 Sơ lược vườn cây cảnh trên địa bàn thành phố Mỹ Tho 13
3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 17
3.2 Nội dung nghiên cứu 17
3.3 Phương pháp nghiên cứu 17
4.1 Hiện trạng hệ thống vườn cây cảnh trên địa bàn thành phố Mỹ Tho 20
4.2 Đặc điểm mảng xanh của một số vườn cây cảnh đặc trưng ở các xã,
4.3 Hiện trạng sử dụng vườn cây cảnh đặc trưng phục vụ hoạt động du lịch
4.4 Khả năng sử dụng và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh phát triển các
vườn cây cảnh đặc trưng phục vụ du lịch sinh thái ở thành phố Mỹ Tho 32
4.4.1 Khả năng sử dụng các vườn cây cảnh đặc trưng vào việc phục vụ
4.4.1.3 Vườn kiểng 37
4.4.2 Một số định hướng và giải pháp phát triển các vườn cây cảnh đặc
trưng nhằm phục vụ du lịch sinh thái tại thành phố Mỹ Tho 37
4.4.2.1 Tăng chất lượng mảng xanh và cải tạo, phát triển hạ tầng cơ sở
các khu vườn 37
Trang 84.4.2.2 Liên kết giữa các vườn tạo “Cụm Vườn Du Lịch Sinh Thái” 40
4.4.2.3 Liên kết với một số điểm du lịch tạo tour du lịch tham quan
4.4.2.4 Thông tin, tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện thông
4.4.2.5 Một số chính sách hỗ trợ việc phát triển “Vườn du lịch sinh thái” 41
5.1 Kết luận 42 5.2 Đề nghị 42
Phụ lục 1: Sơ đồ vị trí các điểm du lịch ở thành phố Mỹ Tho
Sơ đồ vị trí vườn và các điểm du lịch ở thành phố Mỹ Tho
Phụ lục 2: Phiếu điều tra vườn cây cảnh
Trang 9DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
KDL Khu du lịch ESCAP The United Nations Economic and Social Commission
for Asia and the Pacific (Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á và Thái Bình Dương) IUCN International Union for Conservation of Nature
WWF World Wide Fund for nature
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH TRANG Hình 2.1: Sơ đồ vị trí các điểm du lịch ở thành phố Mỹ Tho 16
Hình 4.1: Quang cảnh vườn lan 23
Hình 4.2: Hiện trạng lối đi 23
Hình 4.3: Quang cảnh vườn lan 24
Hình 4.4: Hiện trạng lối đi 24
Hình 4.5: Hiện trạng lối đi 25
Hình 4.6: Khu vực cây thành phẩm 25
Hình 4.7: Cảnh quan hồ 25
Hình 4.8: Khu vực nguyệt quế 25
Hình 4.10: Quang cảnh lối đi 26
Hình 4.11: Khu vực cây dưỡng 26
Hình 4.12: Hiện trạng mặt nước 26
Hình 4.13: Quang cảnh vườn 27
Hình 4.14: Hiện trạng lối đi 27
Hình 4.15: Hiện trạng lối đi 28
Hình 4.16: Mai thành phẩm 28
Hình 4.17: Khu vực cây dưỡng 28
Hình 4.18: Hiện trạng lối đi 29
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG TRANG
Bảng 2.1: Danh sách các điểm du lịch ở thành phố Mỹ Tho 15
Bảng 4.1: Danh sách các vườn được khảo sát 21
Bảng 4.2: Danh sách các vườn cây cảnh đặc trưng được xếp hạng theo khả
năng tiếp cận của khách du lịch 35
Bảng 4.3: Một số giải pháp tăng chất lượng mảng xanh và xây dựng cơ sở
hạ tầng đối với mỗi vườn 38
Trang 12Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, du lịch sinh thái là sự lựa chọn hàng đầu của hầu hết những người muốn thư giãn sau những ngày làm việc tất bật, những người muốn khám phá những cảnh quan mới mà nơi họ sống ít có dịp thấy được mà đó thường là những khung cảnh thiên nhiên gây cho họ sự ngạc nhiên, thích thú
Với những gì mà thiên nhiên ban tặng thì Tiền Giang đã và đang từng bước đưa ngành du lịch trở thành ngành chủ lực giúp kinh tế phát triển hơn lên Du khách đến Tiền Giang, điểm dừng chân đầu tiên chính là Mỹ Tho Những loại hình du lịch như chèo đò trên sông, thưởng thức đờn ca tài tử và những món ăn đặc sản Nam bộ, tham quan nơi sản xuất những món ăn đặc sản như cốm, kẹo dừa, …, tham quan các ngôi nhà cổ, vườn cây ăn trái, tham quan các di tích lịch sử - văn hóa quốc gia như chùa Vĩnh Tràng, Bảo tàng Tiền Giang, … đã góp phần giới thiệu những bản sắc văn hóa miền tây Nam Bộ đến với mọi người
Để phục vụ nhu cầu của mọi người ngày càng cao hơn nữa, nhiều loại hình du lịch mới đã được đánh giá và thảo luận, trong đó việc phát hiện những tiềm năng du lịch ở thành phố Mỹ Tho – trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh Tiền Giang - được chú ý ngay đến, loại hình du lịch tham quan các vườn cây cảnh ở thành phố
Mỹ Tho là loại hình mới, do đó tôi thực hiện đề tài “Khảo sát đánh giá hiện trạng và khả năng khai thác các vườn cây cảnh đặc trưng phục vụ du lịch sinh thái tại thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang”, mong rằng đề tài này sẽ là bước khởi đầu cho việc đưa loại hình du lịch mới này đến với mọi người
Trang 132.1.2 Địa hình
Địa hình tương đối bình phẳng có thể chia làm hai khu phân biệt:
1 Khu ngoại thành: cao độ bình quân mặt ruộng từ + 1,00 m đến +1,3 m, cao
độ bình quân các khu vườn thổ cư + 1,7 m đến 2,3 m
2 Khu nội thành: cao độ bình quân mặt đường +3,1 m đến + 3,2 m cao nhất là đường Hùng Vương (+ 3,4 m); các đường thấp như Trần Hưng Đạo, Đinh Bộ Lĩnh cao độ từ 2,2 m đến 2,4 m
Nhìn chung, địa hình thành phố Mỹ Tho không phức tạp, có điều kiện để phát triển về nhiều mặt
2.1.3 Địa chất
Qua kết quả điều tra cơ bản của chương trình 60.02 và tài liệu báo cáo kết quả tìm kiếm vùng Mỹ Tho, các phân địa tầng cùng với các thành tạo của chúng theo thứ tự từ cổ đến trẻ như sau:
Trang 141 Giới Mezozoi (mz) - Hệ jura – kreta (j-k): thành tạo này có khuynh hướng chìm sâu dần từ bắc-đông bắc xuống tây nam Chúng gồm bột kết, cát kết, đá biến chất, đá phún trào được các nhà địa chất xếp vào hệ thống Long Bình jura muộn-kreta (J3-k1), được coi là đá móng của các trầm tích bở rời kainozoi
2 Giới Kanozoi (kz) - Hệ độ tan (N) - Thống nioxen (N1):
Thành phần thạch học của thành tạo này chủ yếu là cát hạt mịn đến thô lẫn sạn, sỏi thạch anh màu xám xanh, xám đen có chứa cuội với thành phần phiến sót, bột kết, quắczit, nối kết và các thấu kính bột sét, bột có màu xám xanh, xám trắng, trên cùng là lớp bột sét màu xám vàng, xám trắng hoặc xanh loang lổ Thành tạo này được xếp vào tuổi Mioxon trên (M13), chúng có chiều dài 7,40 m có thể nằm nghiêng theo hướng tây bắc xuống đông nam và chìm sâu tại Mỹ Tho
Hệ thống plioxen (N2)
Phụ thống plioxen phần dưới (N2) Thành phần thạch học của thành tạo này chủ yếu là cát hạt mịn vốn thô lẫn sạn sỏi thạch anh màu xám xanh, phần lớn đỏ vàng theo độ hạt, đôi chỗ chứa thân cây hoá than nâu có xen kẹp các lớp hoặc thấu kính sét, bột sét màu nâu vàng, xám xanh loang lổ Trên cùng là lớp bột sét, sét chứa cacbonat màu nâu, vàng, xanh loang lổ Thành tạo này được đoàn địa chất 803 thuộc Liên đoàn Địa chất 8 xếp vào phụ thống plioxen (N3) Chúng nằm trên thành tạo plioxen nghiêng thoải theo hướng tây bắc xuống đông nam và chìm sâu ở Mỹ Tho có chiều dài chung lớn hơn 80 m
Phụ thống plioxen phần trên Thành phần thạch học của thành tạo này chủ yếu là các lớp cát hạt mịn lẫn sạn, sỏi thạch anh màu xám, vàng, xám xanh có chứa thân cây hoá than nâu và các lớp hoặc thấu kính sét bột chứa cacbonat màu nâu, vàng, xanh loang lổ Trên cùng là lớp sét bột phủ biển có chiều dày biến đổi khá lớn, trong lớp này thường chứa kết hạch Siderit và cacbonat màu nâu, đỏ, vàng loang lổ, gắn kết rắn chắc Chúng có thể nằm hơi nghiêng theo hướng bắc nam và phủ trên thành tạo của phụ thống plioxen dưới (N2)
Trang 15Thống pleistoxon (QI-Qm) Thành phần thạch học chủ yếu là cát hạt mịn màu xám xanh, xám đen, xám vàng lẫn sạn, sỏi thạch anh phân nhịp theo độ hạt, trong cát chứa những thân cây đang hoá than và các thấu kính bột, bột sét màu xám xanh, xám vàng, trắng xám Chúng có thể nằm gần như bằng phẳng, chiều dài tăng dần theo hướng từ bắc xuống nam và nằm phủ bất chỉnh hợp trên thành tạo phụ thống plioxen trên (N2)
Thống Holoxen (QIV) Toàn bộ diện tích của tỉnh là diện lộ của thành tạo thống Holoxen Thành phần thạch học chú thành tạo này chủ yếu là bột cát, bùn sét, cát mịn Chúng có thể nằm tương đối bằng phẳng và phủ bất chỉnh hợp trên thành tạo của thống plistoxen
Thành tạo Holoxen được hình thành trong các thời kỳ biển tiến, biển lùi của thể Holoxen Nó được chia ra làm 3 dạng theo nguồn gốc trầm tích:
- Trầm tích sông - biển hỗn hợp: diện lộ chiếm khoảng 90% diện tích toàn tỉnh Tiền Giang, chủ yếu là sét bột, bột cát, cát hạt mịn màu xám nâu, xám vàng, xám đen loang lổ
- Trầm tích đầm lầy sông: diện lộ chiếm khoảng 60% diện tích của tỉnh, tập trung ở khu vực trũng Đồng Tháp Mười nằm về phía bắc tây bắc của tỉnh Chủ yếu
là bùn sét, bột sét màu xám đen, xám trắng chứa thực vật đang hoá than
- Trầm tích ALUVI: có diện tích lộ rất nhỏ ven theo các sông rạch và hiện nay vẫn còn đang tiếp tục phát triển Chủ yếu là cát sét, bùn sét, màu xám nâu, đen lẫn mùn thực vật
2.1.4 Khí hậu
Cũng giống như khí hậu của tỉnh Tiền Giang hay của toàn đồng bằng sông Cửu Long, khí hậu thành phố Mỹ Tho thuộc vùng nhiệt đới ẩm Bắc bán cầu, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam cận xích đạo và có 2 mùa mưa và nắng rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 4, nhiệt độ bình quân hàng năm khoảng 27oC Lượng mưa bình quân hàng năm 1.379 mm Theo Tuyển tập nghiên cứu Khí Tượng Thủy Văn 1976 - 1982, Đài Khí tượng thủy văn thành phố Hồ Chí Minh 1983, đặc trưng khí hậu Mỹ Tho cụ thể như sau:
Trang 16Nắng: Số giờ nắng của Mỹ Tho (2.709 giờ) nhiều hơn các nơi khác: Tân An, Bến Tre, Cần Thơ, Sài Gòn và Cà Mau Nhờ nắng nhiều, Mỹ Tho có thể cải thiện hiệu năng sản xuất nông nghiệp, nhất là có thể đạt đến năng suất bình quân cao trong ngành trồng trọt
Bức xạ: Bức xạ cao nhất vào tháng 2, 3 và 4 và thấp nhất tháng 8 và 9 Mỹ Tho
có bức xạ (444 Calo/cm2/ngày) lớn hơn các nơi khác: Long An, Bến Tre, Cần Thơ, Tân Sơn Nhất và Cà Mau Bức xạ cao cũng giúp cho hiện tượng diệp lục hóa hữu hiệu cao trong quá trình sản xuất của các loại thảo mộc
Nhiệt độ: Nhiệt độ của Mỹ Tho cao nhất vào tháng 4 và 5, thấp nhất vào tháng
1 Nhiệt độ bình quân trong năm cao nhất là 33,2oC và thấp nhất là 26,6oC Nhiệt độ này rất thích hợp cho ngành nông nghiệp Tiền Giang nói chung và Tp Mỹ Tho nói riêng
Bốc hơi: Bốc hơi nhiều nhất vào tháng 2, 3 và 4 và thấp nhất vào tháng 9, 10 và
11 Bốc hơi cực đại/năm là 5,5 mm/ngày và cực tiểu 3,3 mm/ngày Mức bốc hơi này tương đối trung bình liên quan đến công tác tưới tiêu hữu hiệu trong nông nghiệp Mưa: Mỹ Tho có lượng mưa trung bình nhiều năm 1.379 mm, gồm cả mùa mưa
và mùa khô Lượng mưa trung bình hàng tháng cao nhất vào tháng 6, 7 và 8 và thấp nhất vào tháng 1, 2 và 3
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí mỗi năm khoảng 80% đến 86% Độ ẩm cao nhất vào tháng 9 và 10, thấp nhất vào tháng 2 và 3 Cực đại: 93,2% và cực tiểu: 62,2%
Gió: Tại Mỹ Tho, tần suất gió chướng cao nhất vào tháng 1, 2 và 3, và tần suất gió mùa Tây-Nam cao nhất vào tháng 5, 7 và 8
2.1.5 Nguồn nước và thủy văn
Ngoài nước mưa, nước sông có tầm quan trọng đặc biệt đối với Tp Mỹ Tho về nhiều mặt như trồng trọt (tưới, cải tạo đất), gia dụng, thủy sản (cả đánh bắt và nuôi trồng), giao thông thủy Con sông lớn ảnh hưởng đến Tp Mỹ tho là Sông Tiền ở phía Nam Nước từ thượng nguồn đổ về sông này rồi qua một mạng lưới kinh, rạch
Trang 17Sông Tiền chịu ảnh hưởng mạnh mẽ chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông: trong 1 ngày có 2 đỉnh (1 thấp, 1 cao) và 2 chân triều (cũng 1 thấp, 1 cao), hàng tháng có 2 lần nước rong (triều cường) và 2 lần nước kém (triều kém) Mực nước trung bình trên Sông Tiền xuống thấp nhất vào tháng 6 và lên cao nhất vào tháng 10, 11 Tại Mỹ Tho vào tháng 6 cao độ mực nước trung bình là + 0,63 m (cao
độ chuẩn Mũi Nai) và chân triều trung bình là - 0,95 m; vào tháng 10 mực nước đỉnh triều trung bình là + 1,12 m và chân triều trung bình là - 0,40 m Mực nước cực cao tần suất 1% tại Mỹ Tho là + 2,11 m
Lưu lượng qua các nhánh tại hạ lưu Sông Mekong phụ thuộc phần lớn vào lượng nước từ thượng nguồn đổ về Trên Sông Tiền, lưu lượng thấp nhất vào tháng 4, bắt đầu tăng từ tháng 5, cao nhất vào tháng 10 và giảm dần từ tháng 11 Tại vị trí Mỹ Tho lưu lượng xấp xỉ 8% (1961)
2.1.6 Thảm thực vật
Các yếu tố khí hậu cùng với đặc điểm địa chất, địa hình, là điều kiện để thảm thực vật phát triển phong phú, đan xen, cho nên sự phân bố thảm, vùng không có tính khu biệt Tuy nhiên, có thể tạm chia thành các quần thể thực vật sau:
Quần thể thực vật ven biển, ven sông rạch
Chủng loài thực vật ở đây tương đối đơn điệu, nếu càng đi về phía biển, và phong phú hơn khi đi sâu vào đất liền bao gồm Họ liễu (Salicaceae), Họ trám (Burseraceae), Họ trôm (Sterculiaceae), Họ cúc (Asteraceae), Họ bìm bìm (Convolvulaceae), Họ cói (Cyperaceae), Họ trúc đào (Apocynaceae), Họ xoan (Meliaceae), Họ ráy (Araceae), Họ rau răm (Polygonaceae), Họ rau dừa nước (Onagraceae), Họ ô rô (Acanthaceae), Họ layơn (Iridaceae), Họ nê thảo (Butomaceae), Họ lục bình (Pontederiaceae), Phân họ trinh nữ (Mimosoideae), Họ đinh (Bignoniaceae)
Quần thể thực vật vùng phù sa cổ, đất giồng
Đặc điểm địa chất của vùng đất này là đất cát và đất pha cát, độ màu mỡ ít, ở cao và thường khô hanh vào mùa nắng, thích hợp các loại cây: Họ sao, dầu ( Dipterocarpaceae), Họ bàng (Combretaceae), Phân họ tre (Bambusoideae), Họ đậu
Trang 18(Fabaceae), Họ cánh bướm (Papillionaceae), Họ thầu dầu (Euphorbiaceae), Họ trúc đào (Apocynaceae), Họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae), Họ xoan (Meliaceae), Họ nhài (Oleaceae), Họ hòa thảo (Poaceae), Họ vừng (Pedaliaceae), Họ cườm rụng (Ehretiaceae), Họ dâu tằm (Moraceae), Họ thị (Ebenaceae)
Quần thể thực vật vùng phù sa trẻ ven sông
Quần thể thực vật ở đây rất phong phú, thích hợp nhiều loại thảo mộc gồm: Họ cau dừa (Arecaceae), Họ trôm (Sterculiaceae), Họ cà phê (Rubiaceae), Họ sim (Myrtaceae), Họ cỏ roi ngựa (Verbenaceae), Họ long não (Lauraceae), Họ tử vi (Lythraceae), Họ măng cụt (Clusiaceae), Phân họ vang (Caesalpinioideae), Họ lão mai (Ochnaceae), Họ bồ hòn (Sapindaceae), Phân họ trinh nữ (Mimosoideae), Họ đào lộn hột (Anacardiaceae), Họ chuối (Musaceae), Họ thài lài (Commelinaceae),
Họ ngũ gia bì (Araliaceae), Họ hoa hồng (Rosaceae), Họ ô rô (Acanthaceae), Họ trúc đào (Apocynaceae), Họ cam (Rutaceae), Họ dâu tằm (Moraceae), Họ chua me đất (Oxalidaceae), Họ đinh (Bignoniaceae), Họ na (Annonaceae), Họ hồng xiêm (Sapotaceae), Họ lạc tiên (Passifloraceae), Họ mía dò (Costaceae), Họ thầu dầu (Euphorbiaceae), Họ hồ tiêu (Piperaceae), Họ rau dền (Amaranthaceae), Họ rau sam (Portulacaceae), Họ bồng bồng (Dracaenaceae), Họ mồng tơi (Basellaceae), Họ bóng nước (Balsaminaceae), Họ bông (Malvaceae), Họ cúc (Asteraceae), Họ hoa giấy (Nyctaginaceae), Họ hoa tán (Apiaceae), Họ lô hội (Asphodelaceae), Họ gừng (Zingiberaceae), Họ hành tỏi (Liliaceae), Họ cà (Solanaceae), Họ cói (Cyperaceae),
Họ bầu bí (Cucurbitaceae), Họ vòi voi (Boraginaceae), Họ lá vấp (Saururaceae), Họ hoa môi (Lamiaceae)
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trang 19Kinh tế thành phố đã có những chuyển biến đáng kể, nhất là sau 5 năm trở thành
đô thị loại II Hiện tại, nhiều dự án đầu tư đã và đang gặt hái thành công, tạo tiền đề cho những bước đi tiếp theo của thành phố Kinh tế chủ lực của thành phố Mỹ Tho là: thương mại - dịch vụ, sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thủy sản và nông nghiệp ven đô Thành phố Mỹ Tho là trung tâm giao lưu kinh tế thương mại lớn nhất của tỉnh Tiền Giang Doanh số năm 2003 đạt 3.873 tỷ đồng, giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là 237 tỷ đồng, tăng 9% so năm 2002
Về lâu dài, nông nghiệp Mỹ Tho sẽ chuyển sang nông nghiệp sinh thái phục vụ
du lịch, phát triển vành đai thực phẩm với rau, trái an toàn, chất lượng cao, phát triển sinh vật cảnh, hoa tươi … Phát triển đa dạng nuôi trồng thủy sản để sử dụng hiệu quả mặt nước, đồng thời gắn các hình thức khai thác mặt nước để phục vụ du lịch (sản lượng thủy sản đạt 36.000 tấn/năm) Năm 2008 có khoảng 800.000 lượt du khách đến Tiền Giang, sang năm 2009 con số nầy được nâng lên 859.540 lượt người
2.3 Khái niệm và các nguồn tài nguyên du lịch sinh thái
2.3.1 Khái niệm về du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau Đối với một số nguời du lịch sinh thái là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ “du lịch” và “sinh thái”
Tại các diễn đàn quốc tế chính thức về du lịch sinh thái đều cho rằng du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh thái
Càng ngày thuật ngữ “Responsible travel“ (Du lịch trách nhiệm) được nhấn
mạnh khi nói đến khái niệm du lịch sinh thái hay du lịch sinh thái là hình thức du lịch có trách nhiệm, không làm ảnh hưởng đến môi trường và góp phần duy trì, phát triển cuộc sống của cộng đồng người dân địa phương
Theo Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái còn được hiểu dưới những tên gọi khác nhau như:
-Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism)
Trang 20-Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature - Base tourism )
-Du lịch môi trường (Environmental Tourism)
-Du lịch đặc thù (Particular Tourism)
-Du lịch xanh (Green Tourism)
-Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism)
-Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism)
-Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism)
-Du lịch nhạy cảm (Sensitized Tourism)
-Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism)
-Du lịch bền vững (Sustainable Tourism)
Định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh nhất là định nghĩa của Honey (1999):
“Du lịch sinh thái là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra tác hại và quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế
và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền tự do con người”
Tổng cục Du lịch Việt Nam, ESCAP, WWF, IUCN đã đưa ra định nghĩa về du lịch ở Việt Nam:
“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
2.3.2 Tài nguyên du lịch sinh thái
2.3.2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch sinh thái
Tài nguyên theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng
và thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng
để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể có được sử dụng
Trang 21nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch (Luật du lịch, 2005)
Chỉ được xem là tài nguyên du lịch sinh thái khi có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch
Tài nguyên du lịch sinh thái chủ yếu thường được nghiên cứu khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch sinh thái bao gồm:
- Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các sân chim,…)
- Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa cảnh,…)
- Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại của
hệ sinh thái tự nhiên như các phương pháp canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với các truyền thuyết, … của cộng đồng
2.3.2.2 Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái
- Tài nguyên du lịch sinh thái phong phú đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc có sức hấp dẫn lớn
Ví dụ: Hệ sinh thái đất ngập nước đồng bằng sông Cửu Long, nơi cư trú khoảng
198 loài chim, chiếm ¾ số loài chim ở Việt Nam, trong đó có khoảng 16 loài đang
bị đe dọa ở quy mô toàn cầu với 5 loài chim quý hiếm (Sếu đầu đỏ, Te vàng, Ngan cánh trắng….); Hệ sinh thái núi cao thuộc vườn quốc gia Bi Đúp - núi Bà nơi đang bảo tồn được các loài thông 2 lá dẹp và thông đỏ Đây là thực vật được xem là chỉ tồn tại dưới dạng hoá thạch, là một trong những tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc
ở Việt Nam
- Tài nguyên du lịch sinh thái rất nhạy cảm với tác động
Do gắn liền với một hệ sinh thái cụ thể, nên có sự thay đổi tính chất của một số hợp phần tự nhiên hoặc sự suy giảm hoặc mất đi của một số loài sinh vật cấu thành dưới tác động của con người, nguồn tài nguyên này sẽ bị ảnh hưởng ở những mức
độ khác nhau
Trang 22Ví dụ: Các hệ sinh thái rạn san hô ven biển Việt Nam bị suy giảm nghiêm trọng
do các hoạt động khai thác, đánh bắt bằng thuốc nổ, làm hàng lưu niệm,…
- Tài nguyên du lịch sinh thái có thời gian khai thác khác nhau
Có loại khai thác quanh năm, có loại có tính thời vụ Sự giới hạn chủ yếu do thời tiết, diễn biến của khí hậu, của mùa di cư, sinh sản của các loài vật, đặc biệt các loài đặc hữu quý hiếm
Du khách chỉ có có thể có thể đến thăm những vườn cây đặc sản như Nhãn lồng, Vải thiều, Xoài cát vào mùa hạ, Cam giấy, Cam đường,… vào mùa đông
Du lịch lặn biển để tham quan nghiên cứu các rạn san hô có thể được tổ chức quanh năm ở khu vực phía Nam (Đà Nẵng trở vào), khu vực phía bắc, hoạt động này chỉ thuận lợi vào mùa hạ, khi khí hậu ấm áp Các hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới rất phong phú và làm vừa lòng du khách khi đến tham quan nghiên cứu vào mùa mưa hơn là vào mùa khô, mặc dù mưa sẽ gây khó tiếp cận và những phức tạp khác Như vậy, để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch sinh thái, các nhà quản lý,
tổ chức điều hành cần có những nghiên cứu cụ thể về tính mùa của các loại tài nguyên để làm căn cứ đưa ra các giải pháp thích hợp
- Tài nguyên du lịch sinh thái thường nằm xa các khu dân cư và được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch
Do sự tác động, khai thác vì các lý do khác nhau, phần lớn các tài nguyên du lịch sinh thái hiện còn nằm xa các khu dân cư Điều này giải thích tại sao phần lớn tài nguyên du lịch sinh thái chỉ còn ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên,… nơi có sự quản lý tương đối chặt chẽ
Khác với nhiều tài nguyên khác, sau khi khai thác có thể vận chuyển đến nơi khác để chế biến nhằm tạo ra sản phẩm rồi lại đưa đến nơi tiêu thụ, tài nguyên du lịch sinh thái thường được khai thác tại chỗ để tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu cầu du khách
Trong một số trường hợp thực tế có thể tạo ra những vườn thực vật, các công viên với nhiều loài sinh vật đặc hữu trong môi trường nhân tạo để du khách tham
Trang 23thực, chúng được tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch đại chúng, đặc biệt các khu
đô thị lớn mà mọi người dân ít có điều kiện đến các khu tự nhiên
Do những đặc điểm trên, để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch sinh thái, cần thiết phải có sự đầu tư hạ tầng cơ sở để có thể tiếp cận tốt với các khu vực tiềm năng
- Tài nguyên du lịch sinh thái có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài
Phần lớn tài nguyên du lịch sinh thái được xếp vào loại tài nguyên có khả năng tái tạo, sử dụng lâu dài Điều này dựa trên khả năng tự phục hồi, tái tạo của tự nhiên Tuy nhiên thực tế cho thấy có nhiều loại tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc như các loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm hoàn toàn có thể mất do những tai biến tự nhiên hoặc tác động của con người
Do đó, việc nắm được quy luật tự nhiên, lường trước những tác động do con người đối với tự nhiên nói chung và tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng để có những định hướng, giải pháp có thể khai thác hợp lý, có hiệu quả, không ngừng bảo
vệ, tôn tạo và pháp triển các nguồn tài nguyên vô giá này Đây cũng là nhu cầu sống còn của du lịch để đảm bảo phát triển bền vững trong đó có du lịch sinh thái
2.3.2.3 Các loại tài nguyên du lịch sinh thái cơ bản
Bao gồm các hệ sinh thái điển hình và đa dạng sinh học
- Hệ sinh thái rừng nhiệt đới
Hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới
Hệ sinh thái rừng râm gió mùa ẩm thường xanh trên núi đá vôi
Hệ sinh thái rừng savan
Hệ sinh thái rừng khô hạn
Hệ sinh thái núi cao
- Hệ sinh thái đất ngập nước
Hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển
Hệ sinh thái đầm lầy nội địa
Hệ sinh thái sông, hồ
Hệ sinh thái đầm phá
Trang 24- Hệ sinh thái san hô, cỏ biển
- Hệ sinh thái vùng cát ven biển
- Hệ sinh thái biển – đảo
- Hệ sinh thái nông nghiệp
2.3.2.4 Một số tài nguyên du lịch sinh thái đặc thù:
- Miệt vườn: Dạng đặc biệt của hệ sinh thái nông nghiệp Miệt vườn là các khu chuyên canh trồng cây ăn quả, trồng hoa, cây cảnh…rất hấp dẫn với du khách Đặc điểm này đã hình thành nên những giá trị văn hoá bản địa riêng được gọi là “văn minh miệt vườn” và cùng với cảnh quan vườn tạo thành một dạng tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc
- Sân chim: là một hệ sinh thái đặc biệt ở những vùng đất rộng từ vài ha đến hàng trăm ha, hệ thực vật tương đối phát triển, khí hậu thích hợp với điều sống hoặc
di cư theo mùa của một số loài chim Thường đây cũng là nơi cư trú hoặc di cư của của nhiều loài chim đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ tuỵệt chủng, vì vậy các sân chim cũng thường được xem là một dạng tài nguyên du lịch sinh thái đặc thù có sức hấp dẫn đối với du khách
- Cảnh quan tự nhiên: Là sự kết hợp tổng thể thành phần tự nhiên, trong đó địa hình, lớp phủ thực vật và sông nước đóng vai trò quan trọng để tạo nên yếu tố thẫm
mỹ hấp dẫn du khách
2.4 Sơ lược vườn cây cảnh trên địa bàn thành phố Mỹ Tho
Hệ thống vườn cây cảnh thành phố Mỹ Tho bao gồm những vườn cây kiểng, vườn lan, vườn mai… phân bố chủ yếu ở các phường Tân Mỹ Chánh, Phường 10,
Mỹ Phong, Phước Thạnh, Phường 5, Phường 6, Đạo Thạnh, Thới Sơn, Phường 9, Trung An
Vườn cây cảnh có diện tích nhỏ (500 - 5.000m2) so với tổng diện tích xanh toàn thành phố Tuy nhiên, những khu vườn có diện tích tương đối lớn có thể tham gia hoạt động dịch vụ nghỉ ngơi, du lịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí của con người Mảng xanh trong mỗi khu vườn có đặc điểm riêng về loài cây, cách bố trí, có thể
Trang 252.5 Tình hình du lịch ở thành phố Mỹ Tho
Từ khi triển khai đề án Phát triển thương mại dịch vụ du lịch thành phố Mỹ Tho giai đoạn 2006 – 2010, các hoạt động về du lịch ở Mỹ Tho có sự chuyển động tích cực Đã có nhiều dự báo về khả năng, tiềm năng của du lịch thành phố thông qua các hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu về địa lý tự nhiên, các giá trị lịch sử - văn hóa, tính cách con người vùng sông nước Nam Bộ, … Một thuận lợi khác là Thành phố
Mỹ Tho có bến tàu thủy du lịch nằm trong dự án của Chương trình phát triển du lịch tiểu vùng sông Mekong do Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ thực hiện, nhằm đón các tàu du lịch quốc tế trong tuyến từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Campuchia và ngược lại Năm 2008 lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 795.000 (tăng 13% so với năm 2007), trong đó khách quốc tế là 464.000 lượt, năm 2009 là 866.000 lượt (tăng 9% so với năm 2008) Năm 2011 xấp xỉ 1 triệu lượt khách đến Tiền Giang, trong đó có gần 50% khách quốc tế Tổng doanh thu khách sạn, nhà hàng, du lịch trong 8 tháng năm 2011 là 1.650,2 tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó doanh thu du lịch lữ hành chiếm 1,9% Phần lớn du khách đến Tiền Giang đều tập kết tại Thành phố Mỹ Tho Các tour du lịch điển hình như : Cù lao Thới Sơn – Vườn sầu riêng Ngũ Hiệp – Chùa Vĩnh Tràng, Cù lao Thới Sơn – Chùa Vĩnh Tràng – Trại rắn Đồng Tâm, …Một vài điểm du lịch ở thành phố Mỹ Tho có thể tóm tắt như sau:
Trang 26Bảng 2.1: Danh sách các điểm du lịch ở thành phố Mỹ Tho
STT Tên điểm du lịch Vị trí phường
xã
Loại hình du lịch/
Sản phẩm du lịch
1 Khu du lịch Thới
Đi xuồng trên sông, tham quan các làng nghề truyền thống và thưởng thức đặc sản Nam Bộ
2 Bảo tàng Tiền
Tìm hiểu nét văn hóa, phong tục tập quán, lịch sử xã hội của người dân trong tỉnh cũng như đời sống sinh hoạt của người dân vùng sông nước Nam bộ; tham quan lồng nuôi chim thú và các loại cây cảnh trong khuôn viên bảo tàng
3 Chùa Vĩnh Tràng Xã Mỹ Phong Tham quan kiến trúc và tìm hiểu tín
ngưỡng Phật giáo
Trang 27Hình 2.1: Sơ đồ vị trí các điểm du lịch ở thành phố Mỹ Tho
Trang 28Chương 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng và tiềm năng phát triển các vườn cây cảnh đặc trưng (vườn cây kiểng, vườn mai, vườn lan,…) ở các xã, phường thành phố Mỹ Tho, trên cơ sở
đó đề xuất hướng khai thác, phục vụ phát triển du lịch sinh thái
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát, đánh giá hiện trạng các vườn cây cảnh trên địa bàn thành phố
- Khảo sát, đánh giá hiện trạng sử dụng các vườn cây cảnh đặc trưng phục vụ du lịch sinh thái
- Đánh giá khả năng sử dụng và đề xuất hướng phát triển các vườn cây cảnh đặc trưng nhằm phục vụ du lịch sinh thái tại Tp Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang và khu vực lân cận
3.3 Phương pháp nghiên cứu
- Tham khảo các tài liệu viết về vườn cây cảnh đặc trưng ở thành phố Mỹ Tho
- Khảo sát thực địa theo điểm đại diện dựa trên hiện trạng các vườn cây cảnh đặc trưng (lựa chọn mẫu theo loại vườn, tổng số vườn)
- Phỏng vấn, thu thập ý kiến những người liên quan (chủ vườn, …)
- So sánh, phân tích, tổng hợp đánh giá khả năng sử dụng và đề xuất hướng phát triển
- Tiêu chí áp dụng để lựa chọn vườn đặc trưng như sau:
Tiêu chí sinh thái
Gồm 3 tiêu chí: độ che phủ cây xanh, tiêu chuẩn sạch, tiêu chuẩn đẹp
+ Độ che phủ cây xanh (%): là diện tích xanh phân bố trên tổng diện tích mặt bằng
Trang 29- Cây trồng vật nuôi được thiết kế, sắp xếp hài hoà, cây trồng được bố trí đúng
kỹ thuật, phối hợp được nhiều tầng, tận dụng tốt không gian sống, đảm bảo vẻ mỹ quan
- Cây xanh, hoa, cây kiểng không bị sâu bệnh tươi tốt, đầy sức sống, được tạo hình và cắt tỉa đúng kỹ thuật, có nét thẩm mỹ
Tiêu chí thiết kế vườn
Gồm 2 tiêu chí:
- Hệ thống kênh mương được thiết kế hợp lý, hệ thống tưới tiêu hiện đại, đáp ứng tốt cho việc cấp thoát nước
- Vườn có lối đi phù hợp cho việc tham quan, việc đi lại không ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng, vật nuôi hiện có trong vườn
Tiêu chí sản xuất hàng hoá
- Vườn phải có sản phẩm (Cây hoa kiểng, chăn nuôi và thuỷ sản) và hoạt động dịch vụ (các trò chơi giải trí, ẩm thực …)
- Cây đã ở giai đoạn cho trái thương phẩm
Tiêu chí quảng bá
- Vườn là nơi giới thiệu, phổ biến kinh nghiệm, nơi giao lưu học hỏi, tham quan cho mọi người
Trang 30- Vườn phải có cơ sở hạ tầng phù hợp với mô hình du lịch sinh thái, là nơi thuận lợi cho các phương tiện giao thông
Trang 31Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiện trạng hệ thống vườn cây cảnh trên địa bàn thành phố Mỹ Tho
Thành phố Mỹ Tho có khoảng 71 vườn thuộc các xã, phường: Tân Mỹ Chánh, Phường 10, Mỹ Phong, Phước Thạnh, Phường 5, Phường 6, Đạo Thạnh, Thới Sơn, Phường 9, Trung An trong đó có các loại hình sau:
Vườn kiểng: 24 vườn, chiếm 33,8%
Vườn lan: 12 vườn, chiếm 16,9%
Vườn mai: 35 vườn, chiếm 49,3%
Tân Mỹ Chánh: có khoảng 32 vườn trong đó có 30 vườn mai diện tích từ 500 m2đến 2000 m2, 2 vườn lan diện tích mỗi vườn khoảng 500 m2
Phường 10: có khoảng 8 vườn, 6 vườn kiểng diện tích từ 500 - 1200 m2, 2 vườn lan diện tích mỗi vườn khoảng 500 m2
Mỹ Phong: có khoảng 3 vườn, 2 vườn lan diện tích từ 800 m2 - 1000 m2, 1 vườn mai diện tích 1200 m2
Phước Thạnh: khoảng 6 vườn, 2 vườn lan từ 200 – 500 m2, 1vườn mai 3500 m2,
3 vườn kiểng khoảng 300 – 500 m2
Phường 5: 3 vườn, 2 vườn mai từ 500 – 700 m2, 1 vườn lan khoảng 600 m2 Phường 6: 3 vườn, 1 vườn lan diện tích 500 m2, 2 vườn kiểng từ 300 – 500 m2 Đạo Thạnh: khoảng 3 vườn, 2 vườn kiểng diện tích từ 1000 – 5000 m2, 1 vườn lan 500 m2
Thới Sơn: 2 vườn, 1 vườn lan 1500 m2, 1 vườn kiểng 800 m2
Phường 9: 1 vườn mai 1000 m2
Trung An: khoảng 10 vườn bon sai nguyên liệu diện tích từ 2000 – 10000 m2
Trang 32Số vườn được khảo sát để chọn vườn đặc trưng trong luận văn là 17 vườn (bao gồm các vườn có loài cây kiểng tiêu biểu của địa phương, diện tích tương đối lớn (bằng hoặc lớn hơn 500 m2), dễ tiếp cận, có chất lượng tốt) Có thể tóm tắt như sau (Bảng 4.1):
Bảng 4.1: Danh sách các vườn được khảo sát
STT Họ và tên chủ vườn Địa chỉ Loại hình Diện tích
3 Trần Quang Chung Xã Mỹ Phong Vườn mai 1200 m2
4 Nguyễn Thanh Tùng Xã Tân Mỹ Chánh Vườn mai 2000 m2
5 Lương Văn Hồng Xã Tân Mỹ Chánh Vườn mai 1200 m2
6 Nguyễn Trung Hải Xã Tân Mỹ Chánh Vườn mai 3000 m2
7 Cao Xuân Mộng Xã Tân Mỹ Chánh Vườn lan 500 m2
8 Võ Thành Châu Xã Tân Mỹ Chánh Vườn mai 1500 m2
9 Huỳnh Văn Niệm Xã Tân Mỹ Chánh Vườn mai 1000 m2
10 Lý Quang Danh Xã Tân Mỹ Chánh Vườn mai 1000m2
11 Nguyễn Thanh Tùng Phường 10 Vườn kiểng 1000 m2
nguyên liệu 10000 m
2
17 Nguyễn Văn Danh Xã Phước Thạnh Vườn mai 3500 m2
Trang 33Căn cứ vào tiêu chí ở chương 3 chọn được 9 vườn đặc trưng như sau:
1 Vườn lan Lê Hàng Sơn – Xã Thới Sơn
2 Vườn lan Nguyễn Thị Hiệp – Phường 5
3 Vườn mai Nguyễn Văn Danh – Xã Phước Thạnh
4 Vườn mai Nguyễn Thanh Tùng – Xã Tân Mỹ Chánh
5 Vườn mai Lương Văn Hồng – Xã Tân Mỹ Chánh
6 Vườn mai Nguyễn Trung Hải – Xã Tân Mỹ Chánh
7 Vườn mai Trần Quang Chung – Xã Mỹ Phong
8 Vườn kiểng Nguyễn Văn Lâm – Xã Đạo Thạnh
9 Vườn kiểng Nguyễn Văn Út – Phường 10
4.2 Đặc điểm mảng xanh của một số vườn cây cảnh đặc trưng ở các xã, phường thuộc thành phố Mỹ Tho
Căn cứ vào những vườn đã được chọn nêu trên, dưới đây là hiện trạng một số vườn có tiềm năng về mảng xanh phát triển phục vụ du lịch sinh thái
Qua khảo sát thực tế cho thấy 60 - 90% diện tích các khu vườn được phủ xanh với nhiều chủng loài khác nhau Mỗi vườn có cách bố trí, sắp xếp đặc trưng riêng
4.2.1 Vườn lan
Hiện trạng vườn lan của ông Lê Hoàng Sơn ở ấp Thới Thạnh, xã Thới Sơn: Với diện tích 1500 m2, trong đó mảng xanh khoảng 1300 m2, chiếm 93% tổng diện tích với các loại lan như Mokara (hoa đỏ khoảng 600 cây, hoa vàng khoảng 1000 cây), Catleya khoảng 300 chậu, Dendrobium khoảng 500 chậu và Oncidium là 200 chậu Ngoài Mokara được trồng dưới đất theo luống được xây bằng gạch, cọc đỡ cây bằng nhựa, giá thể là vỏ trấu và vỏ dừa thì các loại lan còn lại được trồng trong chậu treo
và tất cả được trồng theo từng khu vực riêng Các loài lan đều sinh trưởng tốt, tuy nhiên vẫn phải chăm sóc thường xuyên nhất là vào mùa mưa Hằng ngày ông tưới nước cho lan 2 lần lúc sáng và chiều bằng nước giếng khoan, ống dẫn nước được lắp đặt ở đầu lối đi giữa hai luống, thuận tiện cho việc tưới nước Ngoài ra ông còn phun thuốc phòng bệnh định kỳ cho lan để phòng một số bệnh do nấm, tuyến trùng, côn trùng phá hoại…Tuy vườn chỉ mới được xây dựng khoảng 2 năm, vẫn còn
Trang 34trong giai đoạn đầu tư nên chưa có lợi nhuận nhiều, số hoa cắt cành bán được trong
2 năm (khoảng 20000 cành/năm) được sử dụng làm vốn xoay vòng để mua thêm nguyên liệu, nhưng nhìn những cây lan khỏe mạnh, tươi tốt thì có thể hình dung ông chăm sóc vườn kỹ đến mức nào và hứa hẹn sẽ gắn bó lâu dài với nghề trồng lan này nên ông dự định mở rộng vườn thêm 1500 m2 nữa
Hình 4.1: Quang cảnh vườn lan
Hình 4.2: Hiện trạng lối đi
Vườn lan của bà Nguyễn Thị Hiệp ở khu phố 8, phường 5, vườn có diện tích
1700 m2 với diện tích mảng xanh khoảng 1200 m2 trồng các loại lan như Dendrobium 25000 chậu, Catleya 400 chậu, Vanda 200 cây Mỗi loại lan được trồng ở khu vực riêng (trên giàn, mỗi băng giàn khoảng 430 chậu), có giàn che, có
hệ thống ống tưới tự động lắp ở khắp vườn và tưới bằng nước máy Do đa số là lan Dendrobium cần độ ẩm tương đối cao khoảng 60 - 80% nên vườn phải được phun nước thường xuyên vì vậy mặt đất luôn ẩm ướt, đi lại khó khăn Lan cũng được