TỔNG HỢP MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ PHỤ GIA TRỢ NGHIỀN TRONG SẢN XUẤT XI MĂNG 1 Bản chất tác dụng của phụ gia trợ nghiền Phụ gia trợ nghiền là tên gọi của một loại phụ gia công nghệ, là các
Trang 1TỔNG HỢP MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ PHỤ GIA TRỢ NGHIỀN
TRONG SẢN XUẤT XI MĂNG
1 Bản chất tác dụng của phụ gia trợ nghiền
Phụ gia trợ nghiền là tên gọi của một loại phụ gia công nghệ, là các chất được thêm vào trong quá trình nghiền nguyên liệu hoặc xi măng nhằm mục đích tăng khả năng hay tốc
độ nghiền của vật liệu, từ đó tăng năng suất máy nghiền
Quá trình nghiền các vật liệu rắn nói chung có thể được tăng cường đáng kể nhờ sử dụng hiệu ứng hấp phụ bề mặt làm giảm độ bền liên kết trong cấu trúc vật liệu theo lý thuyết cấu trúc vi tinh của vật liệu rắn do viện sỹ N.A Rebinder đề xuất đầu tiên - còn goị là hiệu ứng hình nêm Rebinder [1]
Tất cả các vật thể rắn đều có cấu trúc khuyết tật, cả trên bề mặt lẫn trong thể tích vật thể Khi chịu tác dụng của tải trọng phá huỷ (đập, nghiền) chúng bị biến dạng đàn hồi và biến dạng dẻo làm cho mạng các khuyết tật phát triển và lan rộng đáng kể, tạo ra các khuyết tật mới ngày càng nhiều trong thể tích vật thể Các khuyết tật cấu trúc này như đã thấy trong lý thuyết vi cấu trúc làm giảm đáng kể độ bền liên kết của vật liệu so với trạng thái lý thuyết Nếu như khi nghiền vật liệu rắn, người ta tạo ra được sự phát triển lớn số lượng các khuyết tật trong nó thì sự phá huỷ chúng trở nên dễ dàng hơn, tiêu hao ít năng lượng đập nghiền hơn
mà vẫn nâng cao được năng suất và hiệu quả đập nghiền Hiệu ứng hấp phụ bề mặt làm lan truyền và phát triển khuyết tật ở dạng vết nứt vi tinh, làm giảm độ bền liên kết ngay cả khi vật liệu chịu tải trọng ứng suất nhỏ
Cũng theo Rebinder, quá trình gia công chất rắn có quan hệ chặt chẽ với năng lượng của hệ theo phương trình
E = ϭ S
Trong đó: E: tổng năng lượng bề mặt
ϭ: năng lượng bề mặt riêng
S: diện tích bề mặt của hệ
Diện tích bề mặt hay năng lượng tự do bề mặt của vật liệu rắn sẽ tăng trong quá trình nghiền (hạt càng mịn, bề mặt riêng của hệ tăng), dẫn đến hệ mất cân bằng nhiệt động và không bền Các hạt được tạo ra có xu hướng kết tụ lại và bám dính vào bi đạn, tấm lót trong máy nghiền nhằm mục đích giảm năng lượng tự do bề mặt Do vậy dẫn tới cản trở việc nghiền nhỏ các hạt tiếp theo và giảm năng suất máy nghiền Biên pháp được ưu tiên để loại bỏ hoặc suy
Trang 2giảm khả năng kết tụ và bám dính của vật liệu là sử dụng chất hoạt động bề mặt làm phụ gia trợ nghiền [4]
Như vậy có thể hiều một cách đơn giản: Bản chất của chất trợ nghiền là các chất hoạt động bề mặt, phân tử của chúng có tính hai mặt: vừa có tính ưa nước, vừa có tính kỵ nước
Nó có khả năng hấp phụ lên bề mặt hạt, tạo màng ngăn cản các hạt bám dính nhau, làm giảm năng lượng tự do bề mặt của hệ, làm cho các hạt tơi, rời, trơn trượt lên nhau, từ đó nâng cao hiệu quả quá trình nghiền Ngoài ra nhờ sự xâm nhập của chất lỏng và các chất phụ gia hoạt tính bề mặt mà mạng các vết nứt phát triển lớn và rộng khắp, làm "mềm" đi lớp bề mặt của vật thể rắn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phá huỷ chúng khi đập và nghiền
Theo các nghiên cứu của hãng Sika tại Đại học Akron của Mỹ hợp tác với Viện Liên bang Thụy Sĩ tại Zurich 8, 10] đã công bố từ năm 2013 đưa ra “Mô hình động học phân tử”
mô tả cơ chế trợ nghiền Các giá trị về số lượng thành phần hạt clanhke, khối lượng và nhiệt
độ không thay đổi trong suốt quá trình mô phỏng Các quá trình vật lý và hóa học xảy ra trong quá trình nghiền tuân theo nguyên tắc nhiệt động học, vật liệu luôn có xu hướng tồn tại ổn
định ở trạng thái có năng lượng thấp hơn
Mô
hình
Tương tác bề
mặt phân tử
Bề mặt hạt clanhke
Máy nghiền thí nghiệm
Máy nghiền
xi măng Nghiên cứu từ “Mô hình động học phân tử” đã chỉ ra:
Tương tự như thuyết Rebinder, các phụ gia trợ nghiền sẽ hấp phụ lên bề mặt clanhke
và gây áp lực xé lan truyền các vết nứt Quá trình hấp phụ là quá trình thuận nghịch, do lực liên kết nhỏ nên các phân tử đã hấp phụ có thể giải hấp phụ trên bề mặt clanhke, nếu các chất lỏng có thành phần hóa tương tự nhau, cường độ hấp phụ lên bề mặt clanhke có liên quan đến nhiệt độ sôi Vận tốc lan truyền các vết nứt trong clanhke rất cao, theo mô hình mô phỏng đạt
11500 km/h dọc bề mặt vết nứt khoáng C3S, gấp 10 lần tốc độ của âm thanh trong không khí như Hình 0.1;
Trang 3Hình 0.1 Sự phát triển mạng các vết nứt trong quá trình nghiền [8]
Phụ gia trợ nghiền bao gồm các gốc hydrocacbon –R là đầu không phân cực (R bao gồm -CH-, -CH2- và -CH3) và đầu phân cực là các nhóm chức (-OH, -COOH, -NH2…) Mô hình đã chứng minh các phân tử luôn quay nhóm chức phân cực về phía bề mặt phân cực của clanhke, các đầu không phân cực gốc hydrocabon –R sẽ che chắn các đầu phân cực Vì vậy
độ phân cực trên bề mặt clanhke hay năng lượng bề mặt sẽ giảm, lực hút giữa các hạt xi măng giảm và hiệu quả nghiền tăng
Ví dụ mô phỏng tương tác giữa nước, Glycerine (GL), Diethylene glycol (DEG) và Diisopropanolamine (DIPA) trên bề mặt khoáng C3S và C3A có khả năng trợ nghiền theo thứ
tự tăng dần: nước < GL < DEG < DIPA ở Hình 0.3 đến Hình 0.6 Hình 0.3 mô tả vị trí của nước sau khi đã hydroxyl hóa trên bề mặt clanhke Nước có từ nguyên liệu ẩm hoặc được phun vào làm mát trong quá trình nghiền xi măng công nghiệp Nước phân ly thành ion H+
và OH-, một phần hoặc hoàn toàn bề mặt clanhke sẽ được hydroxyl hóa do phản ứng hóa học giữa ion O2- với ion H+ tạo thành ion hydroxyl OH- và vị trí của chúng làm giảm độ phân cực của clanhke trong Hình 0.2 Điều này chứng tỏ nước là chất trợ nghiền yếu
Hình 0.2 Phản ứng hóa học giữa ion O 2- với nước
Các phụ gia GL, DEG, DIPA sẽ hấp phụ lên bề mặt các khoáng đã hydroxy hóa và làm giảm độ phân cực trên bề mặt clanhke nhiều hơn so với mẫu gốc Cả 3 phụ gia đều có 3 đầu phân cực, tuy nhiên kích thước các đầu không phân cực -R để che chắn các đầu không phân cực là khác nhau, gốc hydrocacbon của GL nhỏ (Hình 0.4), của DEG trung bình (Hình 0.5), của DIPA lớn (Hình 0.6), như vậy các gốc hydrocacbon càng lớn thì độ phân cực trên bề mặt clanhke càng giảm và hiệu quả nghiền càng tốt, đây là gọi là hiệu ứng không gian
Trang 4Hình 0.3 Tương tác giữa nước với bề
mặt khoáng [10]
Hình 0.4 Tương tác giữa GL với bề mặt
khoáng [10]
Hình 0.5 Tương tác giữa DEG với bề
mặt khoáng [10]
Hình 0.6 Tương tác giữa DIPA với bề
mặt khoáng [10]
2 Các nghiên cứu trong nước về phụ gia trợ nghiền xi măng
Ở Việt Nam hiện nay, các đề tài nghiên cứu và sách viết về phụ gia trợ nghiền clanhke
xi măng còn rất ít
* Viện Vật liệu xây dựng – Bộ Xây dựng [2] từ những năm 1998 đã nghiên cứu phụ
gia trợ nghiền clanhke xi măng trên cơ sở biến tính hỗn hợp giữa Triethanolamine (TEA) và muối lignosulfonat của kim loại Viện đã phối hợp với Công ty xi măng Hoàng Thạch áp dụng thử công nghiệp
Bảng 0.1 Kết quả chạy thử nghiệm phụ gia trợ nghiền tại máy nghiền Công ty
xi măng Hoàng Thạch [2]
Nội dung
thử nghiệm
Số giờ chạy
ổn định (h)
Sản lượng (tấn)
Năng suất trung bình (tấn)
Độ mịn (R008) Không pha
Trang 5Nội dung
thử nghiệm
Số giờ chạy
ổn định (h)
Sản lượng (tấn)
Năng suất trung bình (tấn)
Độ mịn (R008)
Có pha 0,1%
258,0 (tăng 12,3%) 12,9
* “Khảo sát ảnh hưởng của đá vôi mịn, muội carbon, DEG và TEA tới một số tính
chất của xi măng Quang Sơn” do KS Vũ Đức Trung và KS Đào Văn Anh thực hiện năm
2012 [3] Chế tạo mẫu nghiên cứu bằng cách nghiền clanhke, thạch cao và các phụ gia Diethylen glycol – DEG và Triethanolamine – TEA với tỷ lệ 0,01%, 0,03% và 0,05% trong máy nghiền bi thí nghiệm cùng thời gian nghiền Kết quả nghiên cứu cho thấy DEG và TEA đều có khả năng trợ nghiền; có ảnh hưởng đến cường độ trên mẫu cùng thời gian nghiền, tỷ diện tăng, cường độ 1 ngày, 7 ngày đều giảm, cường độ 3 ngày tăng Đề tài chưa nghiên cứu
rõ ảnh hưởng của phụ gia tới cường độ xi măng do thành phần hạt hoặc do ảnh hưởng đến quá trình hydrat hóa xi măng
Bảng 0.2 Kết quả xác định độ mịn của các mẫu XM có phụ gia TEA và DEG [3]
Tỷ lệ (%) 0 0,01 0,03 0,05 0,01 0,03 0,05
Độ mịn trên
Độ mịn Blain
(cm2/g) 3711 3683 3389 3296 3430 3701 3558
Quá trình hydrat hóa của xi măng có ảnh hưởng rất lớn đến cường độ của xi măng Hiện nay trên thế giới đã có một số nghiên cứu với từng loại phụ gia khác nhau tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nghiên cứu cụ thể nào
3 Các nghiên cứu ngoài nước về phụ gia trợ nghiền xi măng
3.1 Ảnh hưởng của phụ gia tới hiệu quả nghiền xi măng
Trên thế giới, một số hãng nước ngoài như Grace (Mỹ), Sika (Thụy Sĩ)… đã ứng dụng một số loại phụ gia trợ nghiền, các sản phẩm này là các chất hoạt động bề mặt bao gồm hỗn hợp các thành phần khác nhau dựa trên cơ sở các chất hữu cơ có chứa gốc amin, glycol, các axit béo… Với tỷ lệ phụ gia nhỏ 0,02 – 0,05% so với trọng lượng của xi măng, hiệu quả trợ nghiền đạt cao nhất [1]
Theo nghiên cứu của Teoreanu và Guslicov năm 1999 [9] với 3 loại phụ gia nhóm rượu là Ethylene glycol - EG [HO-H2C-CH2-OH], Propylene glycol – PG [OH-CH2-CH2
Trang 6-CH2-OH (glycols), and Polypropylene glycol - PPG [OH-(CH2)3-(O-CH2-CH2-CH2)n -O-(CH2)3-OH] Tỷ lệ phụ gia sử dụng từ 0.03, 0.05 và 0.1% Độ mịn theo bề mặt riêng Blain (cm2/g)
Bảng 0.3 Thành phần hóa và khoáng của hai loại xi măng trong nghiên cứu
Thành phần hóa Hàm lượng, % Thành phần khoáng Hàm lượng, %
K2O+Na2O 0.18
Kết quả nghiên cứu đã đạt được:
Khi hàm lượng phụ gia trợ nghiền đưa vào quá nhiều, do các hạt xi măng quá dễ dàng trơn trượt lên nhau nên khả năng nghiền nhỏ các hạt xi măng giảm Độ mịn sẽ tăng dần theo thời gian và kết thúc khi bắt đầu hiện hượng kết tụ ở Hình 0.7 Vì vậy cần xác định hàm lượng phụ gia trợ nghiền tối ưu, thời gian tối ưu để đạt được độ mịn và năng suất theo yêu cầu Tỷ
lệ trợ nghiền của cả 3 loại phụ gia trong nghiên cứu là 0,05%
Hình 0.7 Khảo sát khả năng nghiền theo thời gian ở tỷ lệ phụ gia 0,05% [9]
Khi nghiên cứu ở cùng tỷ lệ phụ gia theo thời gian: ở giai đoạn đầu của quá trình nghiền
từ 15 – 30 phút, độ mịn từ 3000 – 3500 cm2/g, khả năng trợ nghiền theo thứ tự giảm dần từ PPG>PG>EG; thời gian nghiền tăng dần 30 - 300 phút, độ mịn từ 3500 - 6400 cm2/g thì khả năng trợ nghiền lại có thứ tự giảm dần theo thứ tự PG>EG>PPG Theo quy tắc Traube-Duclaux [9], tính HĐBM của chất HĐBM trong nước, trong một dãy đồng đẳng tăng lên theo
Trang 7chiều dài mạch hydrocacbon (nguyên nhân do độ hòa tan của chất HĐBM bị giảm, nên chúng
có xu hướng chuyển từ thể tích dung dịch lên lớp bề mặt nhiều hơn), tính HĐBM hay khả năng hấp phụ và bám dính tạo màng theo hiệu ứng Rebinder [1] lên các hạt xi măng tăng, như vậy hiệu quả nghiền tăng Thực nghiệm đã chứng minh hiệu quả nghiền của phụ gia trong một dãy đồng đẳng tuân theo quy tắc Traube-Duclaux khi độ mịn theo bề mặt riêng từ 3000 – 3500 cm2/g và quá trình hấp phụ đồng nhất; độ mịn tăng > 3500 cm2/g, hiệu quả nghiền sẽ không tuân theo quy tắc Traube-Duclaux
Nghiên cứu ảnh hưởng của 3 loại phụ gia tới thành phần dải hạt xi măng, tiến hành nghiền các mẫu có phụ gia về cùng tỷ diện so với mẫu gốc bằng cách giảm thời gian nghiền, phân tích dải thành phần hạt cho thấy tỷ lệ dải hạt < 30 μm tăng và dải hạt > 45 μm giảm
Bảng 0.4 Thành phần dải hạt xi măng sử dụng phụ gia EG, PG, PPG ở 0,1% [9]
Theo nghiên cứu [6] năm 2013,Wang Jianfeng và các cộng sự đã nghiên cứu khả năng trợ nghiền của các loại phụ gia được phân loại theo thành phần nhóm chức như sau:
- Nhóm rượu (-OH):
+ Rượu đơn chức: Methanol – ME (CH3OH), Ethanol – EA (CH3CH2OH), 1-Propanol – PA (CH3CH2CH2OH), 1-Butanol – BA (CH3CH2CH2CH2OH);
+ Rượu 2 chức (glycol): Ethylene glycol – EG (OHCH2CH2OH), 1,2-Propylene glycol – PG (OHCH2CHOHCH3), Diethylene glycol – DEG (HOCH2CH2OCH2CH2OH)
+ Rượu 3 nhóm chức: Glycerin – GL (HOCH2CHOHCH2OH)
+ Rượu 4 nhóm chức: Pentaerythiritol – PER (C(CH2OH)4)
- Nhóm amine (-N-): Ethylamine – EY (CH3CH2NH2), Ethanedilamine – ED (H2NCH3CH2NH2)
- Nhóm rượu amine (akanolamine): Monoethanolamine – MEA (OHCH2CH2NH2), Diethanolamine – DEA (HOCH2CH2NHCH2CH2OH), Triethanolamine – TEA (N(CH2CH2OH)3), Triisopropanolamine – TIPA (N(CH2 CH(CH3)OH)3)
- Nhóm axit (-COOH): Acetic acid – AA (CH3COOH), Maleic acid – MA (HOOCCH=CHCOOH)
Trang 8Chế tạo mẫu nghiên cứu: 95% clanhke, 5% thạch cao, 0,01 – 0,05% phụ gia, thời gian nghiền 25 phút Kết quả nghiên cứu đã chứng minh tất cả các phụ gia sử dụng trong nghiên cứu đều có khả năng trợ nghiền, độ mịn tính theo phần còn lại trên sàng kích thước lỗ 0,045mm (%)
Bảng 0.5 Thành phần khoáng của clanhke xi măng trong nghiên cứu [6]
Với các phụ gia có một nhóm chức (rượu - OH, amin - N và axit - COOH có một nhóm chức), khi tăng tỷ lệ phụ gia từ 0,01 – 0,05% thì độ mịn của xi măng giữa các loại phụ gia khác nhau so với mẫu gốc không thay đổi nhiều
Với các phụ gia có nhiều hơn hai nhóm chức ngoại trừ phụ gia Maleic acid – MA (HOOCCH=CHCOOH) và Pentaerythiritol – PER (C(CH2OH)4), khi tăng tỷ lệ phụ gia từ 0,01 – 0,05% thì độ mịn của xi măng giảm nhiều so với mẫu gốc MA và PER có khả năng trợ nghiền kém Các phụ gia có ba nhóm chức có khả năng trợ nghiền tốt hơn các phụ gia có
2 nhóm chức, TIPA là phụ gia có khả năng trợ nghiền tốt nhất
Khi so sánh giữa các nhóm chức ở cùng tỷ lệ 0,05%: Với các phụ gia ED -
H2NCH3CH2NH2, MEA - OHCH2CH2NH2, EG - OHCH2CH2OH có khối lượng phân tử và cấu trúc tương tự nhau, nhiệt độ sôi của phụ gia có ảnh hưởng đến khả năng trợ nghiền giảm dần theo thứ tự EG (197.3℃) > MEA (170.5℃) > ED (116℃); Với phụ gia DEG - HOCH2CH2OCH2CH2OH và DEA - HOCH2CH2NHCH2CH2OH có cấu trúc tương tự nhau chỉ khác một nhóm phân cực, nhóm -NH- phân cực mạnh hơn -O-, vì vậy khả năng hấp phụ lên bề mặt clanhke của DEA tốt hơn DEG và hiệu quả nghiền cao hơn; Với các phụ gia có cùng các nhóm chức khi khối lượng phân tử tăng dần theo thứ tự EG/PG/DEG và GE/TEA/TIPA thì phần còn lại trên sàng 0,045mm (%) giảm, các nhóm không phân cực có ảnh hưởng đến khả năng nghiền theo hiệu ứng không gian [10]
Wang Jianfeng và các cộng sự [6] cũng đã nghiên cứu ảnh hưởng của các phụ gia đến thành phần dải hạt xi măng (Bảng 0.6) Khi sử dụng các phụ gia ở tỷ lệ 0,05%: dải hạt từ 0 –
3 μm giảm nhẹ, dải hạt từ 3 – 30 μm tăng, dải hạt > 45 μm đều giảm, phụ gia TEA và TIPA làm giảm dải hạt từ 0 – 3 μm và tăng dải hạt từ 3 – 30 μm rõ ràng nhất
Trang 9Bảng 0.6 Thành phần dải hạt xi măng khi thêm các phụ gia ở tỷ lệ 0,05% [6]
Dải hạt Khối lượng (%)
0–3 μm 7.86 7.36 7.38 7.41 7.39 7.4 7.27 6.34 6.62 3–30 μm 54.37 56.09 57.65 58.17 58.19 58.65 58.81 58.92 59.13 32–45μm 5.04 5.68 5.94 3.86 6.06 6.55 3.85 6.02 6.03
>45 μm 32.73 30.87 29.03 30.56 28.36 27.4 30.07 28.72 28.22
3.2 Ảnh hưởng của phụ gia tới cường độ xi măng
Chất trợ nghiền, mục đích chính khi đưa chất trợ nghiền vào clanhke là nâng cao năng suất máy nghiền, ngoài ra không làm suy giảm một số tính chất của xi măng như cường độ
Sự thay đổi cường độ của xi măng khi có mặt phụ gia trợ nghiền có thể do tác động vật lý (tăng độ mịn và cải thiện thành phần hạt…) hoặc do cả tác động hóa học (tăng tốc hoặc kìm hãm quá trình hydrat hóa và đóng rắn của xi măng, phụ gia trợ nghiền tác dụng với các khoáng clanhke tạo sản phẩm hydrat hóa mới…)
a Tác động vật lý:
Khi thêm phụ gia trợ nghiền, dải hạt mịn và dải hạt thô giảm, dải hạt trung bình tăng như ở Bảng 0.4 và Bảng 0.6 Cường độ tuổi sớm (1 ngày, 3 ngày) tăng khi tăng dải hạt mịn
và cường độ tuổi muộn (28 ngày) tăng khi tăng dải hạt trung bình Hiện nay trên thế giới việc phân chia dải hạt ảnh hưởng đến cường độ rất khác nhau, dải hạt mịn thường dưới 10 μm và dải hạt trung bình thường nằm trong khoảng 30 – 50 μm [2]
b Tác động hóa học:
- Tăng tốc hoặc kìm hãm quá trình hydrat hóa của xi măng:
Theo nghiên cứu của C Jolicoeur và các đồng nghiệp [7], kết quả nghiên cứu quá trình hydrat hóa xi măng ở 1 ngày tuổi so với mẫu gốc (mẫu không có phụ gia) khi có mặt phụ gia trợ nghiền nhóm rượu: Propylene glycol – PG, Polypropylene glycol triol – LG650, Glycerol – GL, Glucose và phụ gia nhóm amine rượu: Triethanolamine – TEA Thành phần hóa của clanhke trong nghiên cứu ở Bảng 0.7
Bảng 0.7 Thành phần hóa clanke xi măng [7]
SiO2 Al2O3 Fe2O3 CaO MgO SO3 K2O+Na2O CaOtd
Các phụ gia trợ nghiền nhóm polyol có ảnh hưởng đến quá trình hydrat hóa xi măng ở
1 ngày tuổi: Glucose (tỷ lệ 0,075%) làm chậm quá trình hydrat hóa của cả khoáng C3S và
Trang 10C3A Trong khi Glycerol, LG650 cũng như PG là phụ gia tăng tốc quá trình hydrat hóa của
cả C3S và C3A, tốc độ hydrat hóa của GL và LG650 cao hơn PG nhưng mức độ ảnh hưởng của PG vẫn kéo dài sau 24 giờ
Phụ gia TEA cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ phản ứng của cả C3S và C3A Ở tỷ lệ thấp 0,015% TEA là phụ gia tăng tốc trong khi ở tỷ lệ khác cao hơn TEA lại là chất ức chế quá trình hydrat hóa C3S Với khoáng C3A, ở tỷ lệ 0,075 – 0,1% TEA là chất tăng tốc phản ứng lớn nhất Như vậy phụ gia TEA có ảnh hưởng khác nhau tới quá trình hydrat hóa xi măng theo tỷ lệ phụ gia
- Phụ gia trợ nghiền tác dụng với các khoáng tạo sản phẩm hydrat hóa:
Kết quả nghiên cứu của Kevin J Fraser năm 2003 [5] đã chỉ ra: TIPA có khả năng phản ứng với sắt từ khoáng C4AF tạo phức Fe(III)-TIPA, vì vậy càng làm tăng độ hòa tan độ hòa tan ion kim loại Fe3+ trong dung dịch
Hình 0.8 Cấu trúc của phức Fe(III)-TIPA [5]
Hình 0.9 Sơ đồ cơ chế tạo phức Fe(III)-TIPA từ khoáng C4AF [5]
Bề mặt hạt xi măng bao gồm các khoáng C3S, C2S, C3A và C4AF, trong đó thành phần chủ yếu là C3S, C2S; khoáng C3A, C4AF gọi là khoáng xen kẽ Trong quá trình hydrat hóa, sản phẩm hydrat C-S-H và Ca(OH)2 bao phủ bề mặt khoáng C3S, C2S và cản trở quá trình hydrat hóa tiếp tục xảy ra Trên bề mặt lớp khoáng xen kẽ cũng tương tự bị bao phủ bởi một