Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn "Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Ngô Văn Bộ xã Thịnh Đức, Thành phố Thái Nguyên" tôi đã nhận đượ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế phát triển nông thôn Khóa học : 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn Lớp : K45 - PTNT - N02
Khoa : Kinh tế và Phát triển nông thôn
Khóa học : 2013 - 2017
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Quốc Huy
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Phòng Đào tạo trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo, những người
đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn "Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Ngô Văn Bộ xã Thịnh Đức, Thành phố Thái Nguyên" tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
cơ quan, các tổ chức và các cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo, Thạc sĩ Nguyễn Quốc Huy đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn UBND Xã Thịnh Đức, các cá nhân là chủ các Trang trại, các tổ chức đoàn thể trên địa bàn xóm đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, số liệu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình ông Ngô Văn Bộ, xóm Cây Thị, Xã Thịnh Đức thành phố Thái Nguyên đã tạo điều kiện và tận tình giúp
đỡ tôi suốt quá trình thực tập tại gia đình
Xin chân thành cảm ơn gia đình, tất cả ban bè đã động viên, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian nghiên cứu có hạn, và đề tài mang tính mới, luận văn của tôi chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Điêu Thị Khuyên
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Chi phí xây dựng ban đầu trang trại Ngô Văn Bộ 34
Bảng 3.2 Chi phí đầu tư trang thiết bị của trang trại Ngô Văn Bộ 35
Bảng 3.3 Thức ăn hàng năm của trang trại nhập từ công ty 38
Bảng 3.4 Lượng thuốc hàng năm mà trang trại nhập từ các đại lý và từ công ty thuốc thú y 39
Bảng 3.5 chi phí sản xuất trang trại của ông Ngô văn Bộ tính trên 1 lứa 41
Bảng 3.6 Doanh thu của trang trại Ngô Văn Bộ tính trên 1 lứa 42
Bảng 3.7 Lợi nhuận của trang trại Ngô Văn Bộ năm 2017 42
Bảng 3.8 Bảng đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của mô hình trang trại về phát triển kinh tế trang trại 43
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Mô hình trang trại của ông Ngô Văn Bộ 24
Hình 3.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức trang trại Ngô Văn Bộ 33
Hình 3.3 Sơ đồ quản lý chất thải chăn nuôi 38
Hình 3.4 Kênh tiêu thụ của trang trại ông Ngô Văn Bộ 40
Trang 6WTO : World Trade Organization TPP : Trans-Pacific Partnership Agreement UBND : Uỷ ban nhân dân
HTX : Hợp tác xã BNN : Bộ nông nghiệp PTNT : Phát triển nông thôn
NQ : Nghị quyết
CP : Chính phủ TTLT : Thông tư liên tịch TCTK : Tiêu cục thống kê
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập 1
1.2 Mục tiêu cụ thể: 2
1.2.1 Về chuyên môn 3
1.2.2 Về thái độ 3
1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc 3
1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện 4
1.3.1 Nội dung thực tập 4
1.3.2 Phương pháp thực hiện 4
1.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 4
1.3.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 5
1.4 Thời gian và địa điểm thực tập 7
Phần 2: TỔNG QUAN 8
2.1 Về cơ sở lý luận 8
2.1.1 Các khái niệm về kinh tế trang trại: 8
2.1.1.1 Khái niệm trang trại: 8
2.1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại 10
2.1.1.3 Tiêu chí nhận biết trang trại 11
2.1.2 Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 13
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới 13
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 15
Trang 82.2.3 Kinh nghiệm ở một số địa phương 18
Phần 3: KẾT QUẢ THỰC TẬP 23
3.1 Khái quát về cơ sở thực tập 23
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển trang trại Ngô văn Bộ 23
3.1.2 Những thành tựu đã đạt được của trang trại ông Ngô Văn Bộ 24
3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển mô hình trang trại 25
3.1.3.1 Thuận lợi 25
3.1.3.2 Khó khăn 26
3.2 Kết quả thực tập 27
3.2.1 Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Ngô Văn Bộ 27
3.2.1.1 Tìm hiểu về công ty Japfa comfeed Việt Nam 27
3.2.1.2 Tìm hiểu về cơ cấu tổ chức Ngô Văn Bộ 27
3.2.1.3 Chi phi xây dựng trang trại cơ bản của trang trại 28
3.2.1.4 Tìm hiểu về quy trình chăm sóc gà trong trang trại 28
3.2.1.5 Công tác phòng bệnh của trang trại Ngô Văn Bộ 28
3.2.1.6 Tìm hiểu hệ thống xử lý rác thải của trang trại 28
3.2.1.7 Các yếu tố đầu vào đầu ra của trang trại Ngô Văn Bộ 29
3.2.1.8 Chi phí sản xuất của trang trại 29
3.2.1.9 Đánh giá hiệu quả kinh tế của trang trại 29
3.2.1.10 Phân tích SWOT 29
3.2.2 Các công việc thực tập tại trang trại Ngô Văn Bộ 30
3.2.3 Tóm tắt kết quả thực tập 30
3.2.3.1 Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Ngô Văn Bộ 30
3.2.3.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 33
3.2.3.3 Chi phí xây dựng trang trại 34
3.2.3.4 Tìm hiểu về quy trình chăm sóc gà của trang trại 35
3.2.3.5 Công tác phòng bệnh của trang trại 37
Trang 93.2.3.6 Tìm hiểu hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi của trang trại 37
3.2.3.7 Các yếu tố đầu vào, đầu ra của trang trại Ngô Văn Bộ 38
3.2.3.8 Chi phí của trang trại 41
3.2.3.9 Đánh giá hiệu quả kinh tế của trang trại 42
3.2.3.10 Phân tích SWOT 43
3.2.4 Các công việc cụ thể thực tập tại trang trại Ngô Văn Bộ 44
3.2.5 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế 48
3.2.6 Đề xuất giải pháp 49
3.2.6.1 Nâng cao trình độ ứng dụng khoa học và công nghệ (KH&CN) ở trang trại 49
3.2.6.2 Hỗ trợ trang trại tiếp cận thị trường, tiêu thụ nông lâm sản hàng hoá 50 3.2.6.3 Nâng cao năng lực quản lý của chủ trang trại và nâng cao tay nghề của người lao động 50
3.2.6.4 Thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với phát triển kinh tế trang trại 50
Phần 4: KẾT LUẬN 52
4.1 Kết luận 52
4.2 Kiến nghị 53
4.2.1 Đối với Nhà nước 53
4.2.2 Đối với Công ty 54
4.2.3 Đối với chủ trang trại 54
4.2.4 Đối với chính quyền địa phương 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
I Tài liệu tiếng Việt 56
II Tài liệu từ Internet 56
Trang 10
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập
Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta, sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, với quy mô ngày càng lớn và mang tính thâm canh, chuyên canh, phân vùng đang là một yêu cầu tất yếu khách quan Sự phát triển kinh tế trang trại đã, đang và sẽ đóng góp to lớn khối lượng nông sản được sản xuất, đáp ứng nhu cầu nông sản trong nước, mặt khác nó còn đóng vai trò cơ bản trong tiến trình hội nhập với kinh tế quốc
tế, với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều tăng trưởng tích cực
và ổn định, thì sự đóng góp của các trang trại là rất lớn, không những đem lại lợi nhuận cho trang trại, mà còn cải thiện đáng kể thu nhập của những người lao động trong các trang trại Việt Nam tham gia tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh, đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế nước ta nói chung, ngành nông nghiệp nói riêng
Thách thức lớn nhất mà nông nghiệp của Việt Nam sẽ phải đối mặt, đó
là mở cửa để cho hàng hoá nông sản của các nước, trong tổ chức WTO được lưu thông mà chúng ta không thể áp đặt mãi thuế nhập khẩu với thuế suất cao
để bảo hộ hàng trong nước Do đó, hàng hoá nông sản của ta sẽ bị cạnh tranh khốc liệt, những sản phẩm sản xuất theo kiểu truyền thống theo mô hình tự cung, tự cấp chắc chắn không thể cạnh tranh nổi với nông sản ngoại nhập, cho nên giải pháp nào cho sản xuất hàng hoá nông sản Việt Nam? Sự phát triển của trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở các vùng trung
du, miền núi và ven biển, tạo thêm việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hoá, góp phần chuyển
Trang 11dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, tạo ra sự cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường, nhằm phát triển một nền nông nghiệp bền vững Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng.Không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy mô đất đai lớn như ở vùng đồng bằng Sông Hồng hay vùng đồng bằng phía nam, nhưng tỉnh Thái Nguyên là tỉnh miền núi phía Bắc là nơi có nhiều điều kiện ưu đãi về điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu đặc biệt là vùng có truyền thống nông nghiệp lâu đời, trình độ thâm canh của người dân tương đối cao Xã Thịnh Đức là một xã thuộc thành phố Thái Nguyên trong những năm qua hoạt động sản xuất của xã đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng Nhưng để ngành nông nghiệp của huyện đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kì mới thì phải hợp lý hóa, hiệu quả sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác một cách triệt để tài năng về đất đai cũng như khả năng lao động của con người vùng miền này và mô hình kinh tế là phù hợp hơn cả Những năm qua kinh tế trang trại của hộ đã có nhiều thành tích đáng khích lệ, nhưng thật sự vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của nó Câu hỏi đặt ra là: Khả năng phát triển kinh tế trang trại của vùng đến đâu? Làm sao để mô hình được áp dụng đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất?
Để trả lời cho câu hỏi này tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu mô hình
tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trang trại Ngô Văn Bộ - xã Thịnh Đức - thành phố Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu cụ thể:
Mục tiêu cần đạt được:
Tìm hiểu mô hình tổ chức của trang trại, phân tích cách thức sản xuất, thị trường, hiệu quả kinh tế của trang trại qua đó nắm rõ cách thức tổ chức, sản xuất của trang trại Để từ đó định hướng đưa ra các giải pháp đẩy mạnh phát
triển hiệu quả sản xuất, tăng giá trị kinh tế cả các sản phẩm của trang trại
Trang 121.2.1 Về chuyên môn
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi của Ngô Văn Bộ, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế trang trại
- Bổ sung và hệ thống hóa lý luận cơ bản về tổ chức sản xuất trang trại chăn nuôi, tổng kết những loại hình sản xuất, kinh nghiệm phát triển hình thức tổ chức sản xuất kinh tế trang trại ở Việt Nam nói chung và xã Thịnh Đức nói riêng
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong việc phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi
- Xác định được cách thức tổ chức quản lý của chủ trang trại để đưa ra giải pháp phù hợp
- Phân tích được các hoạt động sản xuất của trang trại và vai trò của chủ trang trại trong hoạt động kinh doanh
1.2.2 Về thái độ
- Tạo mối quan hệ thân thiện, hòa nhã với mọi người trong trang trại
- Thực hiện nghiêm túc các nội quy, quy định của trang trại trong thời gian thực tập về thời gian, trang phục, giao tiếp
- Tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ và các hoạt động xã hội
do trang trại cũng như UBND xã Thịnh Đức
- Hoàn thành tốt các công việc được giao tại trang trại
1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc
- Tạo được thói quen sống và làm việc tại trang trại
- Có ý thức trong công việc, thực hiện đầy đủ các công việc được giao tại trang trại
Trang 13- Thực hiện tốt những công việc được giao trong trang trại, sử dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc
- Vận dụng các kiến thức đã học trên giảng đường để thu thập thông tin
- Tìm hiểu quá trình hình thành tổ chức trang trại
- Tham gia vào hoạt động sản xuất tại trang trại
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của trang trại
- Phân tích thuận lợi khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất của trang trại
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển trang trại
* Thu thập số liệu sơ cấp
- Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ trang trại của ông Ngô Văn
Bộ bằng các phương pháp :
+ Phương pháp điều tra trực tiếp chủ trang trại
Trang 14Điều tra thông tin về trang trại, những thông tin về tình hình cơ bản của trang trại như: họ tên, tuổi, dân tộc, giới tính, số điện thoại, trình độ văn hóa, loại hình trang trại, số khẩu, số lao động, diện tích đất đai, vốn sản xuất Những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại như: tình hình các khoản chi phí, các khoản thu cả hiện vật và giá trị Những thông tin
về ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu, thuận lợi, khó khăn của trang trại Các yếu
tố sản xuất như: vốn, kỹ thuật, lao động, giá cả thị trường
+ Phương pháp tiếp cận có sự tham gia
Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của trang trại như: chăm sóc
gà, cho gà ăn, dọn dẹp, kiểm thuốc, từ đó đánh giá được những thuận lợi, khó khăn mà trang trại gặp phải trong quá trình chăm sóc cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại
+ Phương pháp quan sát:
Tiến hành quan sát trực tiếp khi tham gia các hoạt động của trang trại, phỏng vấn, điều tra trang trại, nhằm có cái nhìn tổng quát về trang trại, đồng thời cũng là những tư liệu để đánh giá độ chính xác các thông tin mà chủ trang trại cung cấp
+ Phương pháp thảo luận:
Cùng với chủ trang trại thảo luận về những vấn đề khó khăn, tồn tại trang trại đang gặp phải như: vốn, lao động, thị trường, chính sách của nhà nước từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tổ chức sản xuất của trang trại trong những năm tới
1.3.2.2 Phương pháp xử lý thông tin
* Phương pháp xử lý thông tin
Những thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp, đồng thời được xử lý thông qua chương trình Excel Việc xử lý thông tin là cơ sở cho việc phân tích
Trang 15*Phương pháp phân tích thông tin
Khi đủ số liệu, tiến hành kiểm tra, rà soát và chuẩn hóa lại thông tin, loại bỏ thông tin không chính xác, sai lệch trong điều tra Toàn bộ số liệu thu thập được tổng hợp, tính toán từ đó phân tích hiệu quả (vốn, đất đai, lao động, trình độ quản lý) Hạch toán các khoản chi mà trang trại đã chi ra, các khoản thu của trang trại làm cơ sở cho định hướng đưa ra các giải pháp cho sự phát triển của kinh tế trang trại
* Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất
Hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại như: giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, cụ thể là:
+ Giá trị sản xuất (Gross Output): là giá trị bằng tiền của sản phẩm sản xuất ra ở trang trại bao gồm phần giá trại để lại để tiêu dùng và giá trị bán ra thị trường sau một chu kỳ sản xuất thường là một năm Được tính bằng sản lượng của từng sản phẩm nhân với đơn giá sản phẩm Chỉ tiêu này được tính như sau:
IC = ∑ Cij
Trong đó: IC : là chi phí trung gian
Cij : là chi phí thứ i cho sản phẩm thứ j
Trang 16+ Giá trị gia tăng (Value Added): là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các ngành sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này được xác định theo công thức sau:
VA = GO -IC Trong đó: VA : giá trị gia tăng
GO : giá trị sản xuất
IC : chi phí trung gian
* Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất
+ GO/IC
+ VA/IC
1.4 Thời gian và địa điểm thực tập
- Thời gian: Từ ngày 20 tháng 02 năm 2017 đến ngày 10 tháng 05
năm 2017
- Địa điểm: Tại trạng trại Ngô Văn Bộ, Xóm Cây Thị, xã Thịnh Đức, thành phố Thái Nguyên
Trang 17Phần 2 TỔNG QUAN
2.1 Về cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm về kinh tế trang trại:
2.1.1.1 Khái niệm trang trại:
Trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp, ở đây nói về trang trại trong nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá, với các khái niệm cụ
- Trang trại có cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo sản xuất nông nghiệp,
có tổ chức lao động sản xuất kinh doanh, có quản lý kiểu doanh nghiệp (hạch toán kinh tế)
- Trang trại là tổ chức sản xuất nông nghiệp có vị trí trung tâm thu hút các hoạt động kinh tế của các tổ chức sản xuất tư liệu sản xuất, các hoạt động dịch vụ và các tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản
- Trang trại là loại hình sản xuất đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp
Trang trại có các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phương thức quản lý khác nhau
- Trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông nghiệp ở tất cả các nước, thường do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại,sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể
sử dụng lao động thuê ngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất
Trang 18(ruộng đất, công cụ sản xuất, vốn …) cũng có thể đi thuê ngoài một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất trên
- Trang trại tư bản tư nhân là loại hình trang trại nông nghiệp ít phổ biến ở các nước, đến nay số lượng không nhiều thường là các trang trại tư bản
tư nhân, công ty cổ phần, sản xuất kinh doanh trên cơ sở sử dụng lao động làm thuê kể cả lao động sản xuất và lao động quản lý
Trang trại thường có các quy mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn) song song tồn tại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và qui mô trung bình…Trang trại thường có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong và ngoài nông nghiệp, với phương thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm) với trình độ năng lực sản xuất khác nhau
Tóm lại: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập Sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao: hoạt động
tự chủ và luôn gắn với thị trường
*Đặc trưng của trang trại:
+ Trang trại là một đơn vị kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp
+ Mục đích chủ yếu của trang trại là kinh doanh nông sản phẩm hàng hoá theo nhu cầu thị trường
+ Trong trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá
+ Lao động trong các trang trại chủ yếu là dựa trên các thành viên trong hộ, ngoài ra có thuê mướn lao động
Trang 192.1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại
- Theo Lê Trọng “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở là doanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hiệp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường được Nhà nước bảo
hộ theo luật định” [6]
-Theo ông Trần Tác, Phó Vụ trưởng -Vụ Kinh tế Trung ương Đảng:
“Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn Có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra tỷ suất sinh lời cao hơn bình thường trên đồng vốn bỏ ra,
có trình độ đưa các thành tựu khoa học, công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá, tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường, mang lại hiệu quả kinh tế
xã hội cao”
- Theo tác giả Trần Đức: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nước có mục đích chủ yếu là sản xuất sản phẩm hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô tập chung đủ lớn, với cách thức tổ chức, quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường”
Nhận được vai trò của KTTT trong nền kinh tế đất nước.Nghị quyết của Chính phủ số 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 về KTTT đã chỉ rõ
“Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”
Trang 20* Đặc trưng của kinh tế trang trại
- Trang trại là một cơ sở sản xuất - kinh doanh hàng hóa trong nông, lâm, ngư nghiệp
- Có nguồn gốc hình thành và phát triển từ kinh tế nông hộ nhưng ở vào giai đoạn có trình độ tổ chức quản lý sản xuất hàng hóa cao hơn
- Khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế ở địa phương (đất đai, vốn, lao động, ứng dụng khoa học công nghệ)
- Hoạt động sản xuất - kinh doanh luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường Tỷ suất hàng hoá thường đạt 70 -80% trở lên Tỷ suất hàng hoá càng cao càng thể hiện bản chất và trình độ phát triển của kinh tế trang trại
- Nguồn gốc sở hữu của trang trại là thành phần kinh tế tư nhân là chủ yếu, song do sự tác động của kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế nên
nó ngày càng mở rộng ra nhiều hình thức sở hữu, từ một thành phần kinh tế đến nhiều thành phần kinh tế
- Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh, về thị trường
2.1.1.3 Tiêu chí nhận biết trang trại
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn các điều kiện kinh tế sau: Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: + Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3.1ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long
- 2.1ha đối với các tỉnh còn lại
+ Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
- Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên
Trang 21- Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên
+ Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên + Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông
hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế:
a Đối với trang trại trồng trọt
- Trang trại trồng cây hàng năm:
+ Từ 2ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung + Từ 3ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên
- Trang trại trồng cây lâu năm:
+ Từ 3ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung + Từ 5ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên
+ Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5ha trở lên
- Trang trại lâm nghiệp:
+ Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
b Đối với trang trại chăn nuôi
- Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò
+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên
+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
- Chăn nuôi tiểu gia súc: lợn, dê
+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên
+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa) dê thịt từ 200 con trở lên
Trang 22- Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, có thường xuyên 2000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
c Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
- Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
d Đối với các loại sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có
tính chất đặc thù thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1)
2.1.2 Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập
- Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP Ngày 02 tháng 02 năm 2000 của Chính Phủ về kinh tế trang trại
- Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK Ngày 23 tháng 6 năm
2000 của Liên bộ NN & PTNT -Tổng cục thống kê hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại
-Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX sự xâm nhập của tư bản phương Tây vào các nước Châu Á, cùng với việc xâm nhập của phương thức sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa, đã làm nẩy sinh hình thức kinh tế trang trại trong nông nghiệp Trong quá trình phát triển kinh tế trang trại ở các nước trên thế giới đã có những biến động lớn về quy mô, số lượng và cơ cấu trang trại
“Đặc biệt các nước vùng Đông Á như: Đài Loan 0,047ha/người, Malaixia 0,25ha/người, Hàn Quốc 0,053ha/người, Nhật Bản 0,035ha/người,… Với các nước có nền kinh tế phát triển như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan
sự phát triển kinh tế trang trại cũng theo quy luật, số lượng trang trại giảm và quy mô diện tích tăng Ví dụ: ở Nhật Bản năm 1950 số lượng trang trại là
Trang 236.176.000 trang trại đến năm 1993 chỉ còn 3.691.000 trang trại và diện tích bình quân năm 1950 là 0,8ha, năm 1993 tăng lên là 1,38ha” [7]
Do bình quân ruộng đất thấp nên ở một số nước và lãnh thổ Châu Á, Nhà nước đã quy định mức hạn điền với nông dân như ở Nhật Bản, Han Quốc (không quá 3 ha) Ấn Độ (không quá 7,2 ha) Ở Nhật Bản năm 1990 số trang trại dưới 0,5ha chiếm 41,9%, từ 0,5% ha đến 1ha chiếm 30,7% trên 1ha chiếm 25,6% Ở Hàn Quốc năm 1985 diện tích trang trại dưới 0,5 ha, chiếm 29,7%;
từ 0,5 đến 1ha chiếm 34,7% trên 1ha, chiếm 35,6% [5]
Như vậy ở Châu Á nói chung hiện tượng tích tụ ruộng đất diễn ra chậm trong vấn đề phát triển kinh tế trang trại Trong sự phát triển kinh tế trang trại gia đình, vấn đề tích tụ ruộng đất để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh không chỉ chịu sự tác động từ cạnh tranh, phân hóa mà còn chịu tác động từ chính sách luật pháp của Nhà nước
Ở Châu Âu, năm 1950 có 453.000 trang trại, đến năm 1987 giảm xuống 254.000 trang trại Tốc độ giảm bình quân hàng năm là 2,1% Nước Pháp năm
1955 có 2.285.000 trang trại, năm 1993 còn 801.400 trang trại, tốc độ trang trại giảm bình quân hàng năm là 2,7% Diện tích bình quân của trang trại qua các năm có xu hướng tăng lên (nước Anh năm 1950 là 36 ha, năm 1987 là 71 ha, ở Pháp 1955 là 14 ha, năm 1985 là 35,1 ha, ở Cộng Hòa Liên Bang Đức năm
1949 là 11 ha, năm 1985 là 15 ha, Hà Lan 1950 là 7 ha, năm 1987 là 16 ha) [3] Như vậy, ở các nước tư bản Tây Âu số lượng trang trại đều có xu hướng giảm, quy mô trang trại lại tăng lên
*Bài học kinh nghiệm từ quá trình phát triển kinh tế trang trại của thế giới
Kinh tế trang trại có nhiều loại hình khác nhau, nhưng phổ biến nhất là trang trại gia đình, có nguồn gốc từ hộ gia đình vì thế nó phát huy thế mạnh vốn có của hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp
Trang 24- Thực tế phát triển trang trại tại nhiều quốc gia trên thế giới lại cho phép đi đến kết luận: chính các trang trại gia đình quy mô nhỏ mới thực sự là chìa khóa để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, lâu dài
- Trong các giai đoạn ban đầu kinh tế trang trại phát triển theo hướng kinh doanh tổng hợp bằng cách đa dạng hoá sản phẩm, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường sẽ từng bước đi vào chuyên môn hoá
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai Ở các nước châu Á như Nhật bản, Hàn quốc, Đài loan diện tích các trang trại nhỏ nhưng hiệu quả sản xuất lại rất lớn
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Thời kỳ 1954-1975 Ở miền Bắc nền nông nghiệp mang nặng tính kế hoạch hoá tập trung, ở đó có các hình thức tổ chức sản xuất như: Nông - Lâm trường Quốc doanh, hợp tác xã Nông Nghiệp,… Mọi tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất được tập trung một cách triệt để, kinh tế tư nhân không được coi là một thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân Còn ở Miền Nam thời kỳ này các hình thức tổ chức sản xuất ở vùng tạm chiếm chủ yếu là các đồn điền, đinh điền, các hợp tác xã sản xuất hàng hoá
Thời kỳ 1975 cho tới nay Từ cuối những năm 1975 hiệu quả sản xuất trong nền kinh tế nói chung và trong ngành nông nghiệp nói riêng là thấp kém Trong các hợp tác xã ở Miền Bắc dẫn tới khủng hoảng của mô hình tập thể hoá nông nghiệp Trước tình hình đó Đảng đã có Đại Hội lần thứ VI (tháng 12/1986) đề ra được các chủ trương chính sách mới đặc biệt là cơ chế khoán gọn tới từng hộ gia đình, tiếp đến là Nghị Quyết 10 của bộ chính trị và cùng nhiều văn bản khác của Chính phủ, đã giải phóng sức lao động và các tư liệu sản xuất khác đặc biệt là đất đai Việc đổi mới cơ chế chính sách này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại
Trang 25Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nông dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa và năng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường
Theo kết quả tổng hợp sơ bộ cuộc tổng điều tra, tiêu chí trang trại năm
2013 cả nước có 23.774 trang trại Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long với 6.766 trang trại chiếm 28,5%; Đông Nam Bộ với 5.565 trang trại chiếm 23.4% Đây là 2 vùng có nhiều đất đai, diện tích nuôi trồng thủy sản thuận lợi cho việc phát triển kinh tế trang trại
Về lĩnh vực sản xuất của KKTT: Cả nước có 8.745 trang trại trồng trọt chiếm 36,8% tổng số trang trại; 9.206 trang trại chăn nuôi chiếm 38,7%; 4.690 trang trại nuôi trồng thủy sản chiếm 19,7% và 1.133 trang trại tổng hợp chiếm 4,7% Trang trại trồng trọt chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên với 7.775 trang trại chiếm 88,9% số trang trại trồng trọt toàn quốc; trang trại thủy sản chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng với 4.311 trang trại chiếm 91,9% số trang trại thủy sản; trang trại chăn nuôi chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng với 5.983 trang trại chiếm 64,9% số trang trại chăn nuôi
Kinh tế trang trại phát triển góp phần tạo việc làm cho lao động nông thôn Theo kết quả sơ bộ, tại thời điểm 01/7/2013, các trang trại cả nước đã tạo công ăn việc làm thường xuyên cho gần 100 nghìn lao động và rất nhiều lao động thời vụ, tạm thời ở các địa phương
Tính đến cuối năm 2016, cả nước có khoảng 33.488 trang trại, tăng 13.460 trang trại (67,2%) so với năm 2011 Số liệu điều tra do Tổng cục Thống
Trang 26kê thực hiện năm 2016 công bố kết quả sơ bộ cho thấy, từ năm 2011-2016, bình quân mỗi năm số trang trại của cả nước tăng trên 13% Trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng trang trại phát triển mạnh nhất (tăng 6.435 trang trại), chiếm gần một nửa số trang trại tăng thêm trong vòng 5 năm qua của cả nước
Số trang trại của cả nước tăng tập trung chủ yếu ở loại hình trang trại chăn nuôi, tăng 14.521 trang trại (gấp 3,3 lần) so với năm 2011 Trong vòng 5 năm vừa qua, bình quân mỗi năm số trang trại chăn nuôi phát triển tăng trên 45% Trong khi đó, số lượng trang trại thủy sản lại giảm mạnh, giảm 2.172 trang trại (48%) so với năm 2011, trung bình giảm gần 10% mỗi năm
Trong tổng số trang trại trên cả nước, hiện có khoảng 9.216 trang trại trồng trọt (chiếm 27,5%), 20.869 trang trại chăn nuôi (chiếm 62,4%),
112 trang trại lâm nghiệp (chiếm 0,3%), 2.350 trang trại nuôi trồng thủy sản (chiếm 7%), 941 trang trại tổng hợp (chiếm 2,8%)
Các trang trại đã sử dụng tổng cộng 187.000ha đất sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 35.900ha so với năm 2011 Trong đó, có 60.000ha đất trồng cây hàng năm; 79.500ha đất trồng cây lâu năm; 17.600ha đất lâm nghiệp và 29.800ha đất nuôi trồng thủy sản Mức bình quân đất đai sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của 1 trang trại trên cả nước sử dụng là 5,6 ha/trang trại
Đồng thời, giải quyết việc làm thường xuyên cho 134.700 lao động, tăng 40.000 lao động (42,4%) so với năm 2011 Trong đó, lao động của hộ chủ trang trại là 75.800 người, chiếm 56,3% tổng số lao động, còn lại là lao động do chủ trang trại thuê mướn thường xuyên Bình quân 1 trang trại sử dụng khoảng 4 lao động thường xuyên Số lượng lao động bình quân của 1 trang trại sử dụng vào thời điểm năm 2016 giảm so với năm 2011 (năm 2011
là 4,7 lao động) do các trang trại đã áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa máy móc thiết bị kỹ thuật vào phục vụ các khâu trong sản xuất Bên cạnh đó, do các
Trang 27trang trại phát triển có sự chuyển đổi loại hình khá rõ nét gia tăng trang trại chăn nuôi, một loại hình sử dụng ít lao động hơn các loại hình trang trại khác như trồng trọt, nuôi trồng thủy sản… nên mức bình quân sử dụng lao động của một trang trại giảm
Loại hình kinh tế trang trại phát triển nhanh đã góp phần tạo ra nhiều giá trị sản phẩm hàng hóa nông, lâm nghiệp và thủy sản Tổng cục Thống kê cho biết, tổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của các trang trại trong năm 2016 ước đạt 93.098 tỷ đồng, tăng 54.007 tỷ đồng (138,2%) so với giá trị đạt được cách đây 5 năm (2011) Tính bình quân 1 trang trại có thu nhập đạt 2.780 triệu đồng, tăng 828 triệu đồng (tăng 42,4%) so với cách đây 5 năm
2.2.3 Kinh nghiệm ở một số địa phương
Mô hình sản xuất trang trại trên địa bàn cả nước ta nói chung cũng như trong xã Thịnh Đức nói riêng, việc tổ chức sản xuất trang trại tại xã Thịnh Đức ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong toàn xã có nhiều trang trại được hình thành đa phần là trang trại do một hộ gia đình xây dựng tổ chức nên từ những công cụ thô sơ nhất cho tới những công cụ máy móc tiên tiến hơn, mỗi trang trại chuyên sâu về mỗi hình thức khác nhau như trang trại gà, trang trại lợn,trang trại cây ăn quả như vải thiều, nhãn Mỗi trang trại có những cách thức tổ chức sản xuất khác nhau để đẩy mạnh quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao tại trang trại
* Kinh tế trang trại ở Vĩnh Phúc
Năm 2011, cả nước có 135.437 trang trại, trong đó tập trung ở hai vùng chính là Đồng bằng Sông Cửu long và Đồng bằng Sông Hồng Riêng tỉnh Vĩnh Phúc có 1.327 trang trại Về cơ cấu loại hình chủ yếu là trang trại tổng hợp, chiếm 53,4% tổng trang trại toàn tỉnh,sau đó đến trang trại chăn nuôi chiếm 30,1%
Trang 28Hiện nay, trang trại gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất 77,5%, người chủ trang trại hầu hết là nông dân đang sống ở nông thôn, họ là người trực tiếp điều hành và tham gia sản xuất trong trang trại của mình Trang trại liên doanh chiếm tỷ lệ tương đối lớn (10%), tiếp theo là các loại hình trang trại cá nhân (7,5%), các loại hình trang trại nhà nước và trang trại đi thuê để sản xuất chiếm khoảng 2,5% cho mỗi loại
Theo địa bàn quản lý, hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh, Yên Lạc và Tam Dương là địa phương có tỷ lệ trang trại nhiều nhất (14,17%), Lập Thạch, Vĩnh Yên (13,33%)
Số liệu khảo sát cho thấy rằng hiện nay các trang trại mới chỉ tập trung đến khâu sản xuất ra sản phẩm, chưa chú ý nhiều đến khâu phân phối sản phẩm hiệu quả Chỉ có 14,17% trang trại có đăng ký kinh doanh, 7,5% trang trại chưa có cửa hàng tiêu thụ sản phẩm, còn lại hầu hết các trang trại đều không chủ động được đầu ra cho sản phẩm
Có thể thấy rằng, kinh tế trang trại ở Vĩnh Phúc hiện phát triển khá nhanh, đa dạng về loại hình Tuy nhiên sự phát triển của các trang trại còn mang tính tự phát do quy hoạch phát triển kinh tế trang trại còn chậm và chất lượng chưa cao
*Kinh tế trang trại ở Hải Dương
Theo Chi cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn tỉnh Hải Dương, cho đến nay, toàn tỉnh Hải Dương có 659 trang trại Trong đó có 434 trang trại sản xuất, kinh doanh tổng hợp; 100 trang trại chăn nuôi lợn và gia cầm; 25 trang trại thuỷ sản; 12 trang trại trồng cây lâu năm; 60 trang trại trồng cây ăn quả; 1 trang trại trồng cây cảnh, Hệ thống các trang trại đang sử dụng gần 1.900 ha đất, bình quân, mỗi trang trại sử dụng 2,87 ha và đấu tư cho sản xuất, kinh doanh trên 221 triệu đồng Các trang trại đang sử dụng trên 3.280 lao động Bình quân mỗi trang trại sử dụng 5 lao động Doanh thu của trang trại năm
2006 ước đạt trên 158 tỷ đồng
Trang 29Tuy nhiên, trang trại ở Hải Dương phần lớn đang trong giai đoạn hoàn thành xây dựng cơ bản Bởi vì phần lớn trang trại chỉ được lập trên cơ sở tận dụng đất thùng vũng, vượt lập ruộng một vụ bấp bênh Hầu như không có trang trại được lập trên đất “nhất đẳng điền” Hệ thống trang trại ở Hải Dương lại chưa có loại sản phẩm chủ yếu, làm chủ trên thị trường bằng thương hiệu Quy mô trang trại bé, thu nhập từ 24 triệu đến 35 triệu đồng/năm vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong số các trang trại
*Kinh tế trang trại ở Thái Nguyên
Đặc trưng nói chung về kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên, là đều được hình thành do tính tất yếu khách quan, do xu thế của của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, cùng với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, chủ trương phát triển kinh tế đa thành phần và đặc biệt coi trọng kinh tế hộ nông dân, là thành phần kinh tế chủ yếu trong nông nghiệp
Kinh tế trang trại Thái Nguyên chia làm 3 vùng:
- Vùng cao:
Kinh tế trang trại vùng núi cao phát triển kém nhất trong ba vùng, chủ yếu là tự phát, các loại hình trang trại thiên về xu hướng lâm nghiệp, và trồng cây lâu năm, trang trại lâm nghiệp chiếm 33,7%, trồng cây lâu năm 10,4%, chăn nuôi chiếm 39%, có ba loại hình trang trại chiếm tỷ lệ ít nhất chưa đến 3% đó là trang trại nuôi trồng thủy sản và trang trại trồng cây ăn quả và cây hàng năm Chủ trang trại chủ yếu là nông dân, trình độ về mọi mặt đều thấp, không mạnh dạn đầu tư, cụ thể bình quân mỗi trang trại chỉ có chi phí là 78.172.000đ thấp hơn hẳn so với các vùng khác Chính những yếu tố trên đã ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại, thu nhập bình quân trên trang trại là 33.485.000.đ
- Vùng thấp:
Kinh tế trang trại vùng thấp phát triển mạnh mẽ nhất, tuy rằng diện tích đất các loại giảm, bình quân chỉ có 2,07ha trên một trang trại chỉ bằng 17,7%
Trang 30diện tích của vùng cao nhưng giá trị sản xuất kinh doanh bình quân của 1 trang trại là 285.557.000.đ tăng 255,7%, thu nhập bình quân trên một trang trại là 67.405.000.đ tăng 201 % so với vùng cao Loại hình trang trại chủ yếu vẫn là chăn nuôi chiếm 71,2% Tóm lại vùng này sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao hơn nhiều so với vùng núi cao, các yếu tố chủ yếu vẫn là do điều kiện
tự nhiên và nhận thức và trình độ của chủ trang trại Chính những điều đó có tác động lớn đến hiệu quả kinh tế của trang trại ví dụ GO/LĐ là 88.68 triệu đồng, điều này có nghĩa giá trị sản lượng sản xuất ra tính trên một lao động là rất cao bởi vậy cần nhân rộng mô hình kinh tế trang trại; VA/LĐ là 20.93 triệu đồng, đồng nghĩa với giá trị tăng thêm một lao động trên tháng là 1.744.166.đ; GO/IC là 1.23 lần điều này chứng tỏ tỷ xuất hàng hóa bán ra so với một đồng chi phí trong một năm là rất cao đồng nghĩa với số tăng 23%, điều này rất khả thi khi có thể mạnh dạn bằng mọi nguồn lực nhằm nâng cao vốn đầu tư cho kinh tế trang trại nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
- Vùng giữa:
Vùng này phát triển chủ yếu loại hình trang trại chăn nuôi chiếm tới 76,5% trên tổng số trang trại của vùng Thu nhập bình quân trong vùng đạt 41.176.000 đ có giá trị sản xuất kinh doanh bình quân 225.534.000 đ, mặc dù diện tích đất bình quân trên 1 trang trại chỉ chiếm 0,96 ha Giá trị hàng hóa bán ra trên lao động là rất cao chiếm 70,67 triệu đồng và cao nhất vẫn là trang trại chăn nuôi đạt 82,53 triệu đồng Hiện vùng này diện tích đất bình quân trên trang trại rất thấp nên chỉ nên đầu tư vào việc chuyên chăn nuôi gia súc
và gia cầm, tiện cho việc cung cấp sản phẩm cho vùng Thành phố, vùng này chiếm rất nhiều ưu thế như: cơ sở hạ tầng thuận lợi, tiếp cận với khoa học kỹ thuật, điều kiện tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, việc huy động lao động nhàn dỗi rất đơn giản chứ không như vùng núi cao
Như vậy, kinh tế trang trại đang ngày càng trở nên phổ biến rộng khắp mọi vùng kinh tế của đất nước từ đồng bằng, trung du, miền núi đến ven biển
Trang 31và ngày càng chứng tỏ là loại hình tổ chức kinh tế có hiệu quả trong nông nghiệp, nông thôn Kinh tế trang trại khá đa dạng về quy mô, loại hình sản hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái rõ rệt nhờ phát huy tốt nội lực, khai thác mọi nguồn tiềm năng và cơ hội để phát triển Kinh tế trang trại đã biến những vùng đất hoang, khô cằn hoặc ngập úng quanh năm thành những vùng kinh tế trù phú, đầu tư cao, tạo việc làm, tăng của cải vật chất cho mình, cộng đồng và cho xã hội
Trang 32
Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP
3.1 Khái quát về cơ sở thực tập
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển trang trại Ngô văn Bộ
Trang trại Ông Ngô văn Bộ được hình thành vào năm 2008 với tổng diện tích 12.700m2 trong đó diện tích đất ở vườn tạp 2.200m2, diện tích trang trại 10.500m2
Hiện nay số lao động trong trại là 3 lao động:
+ Có 1 lao động là con của chủ trại
+ 2 lao động thuê ngoài
+ Vào những lúc trang trại nhiều công việc thì chủ trang trại thường thuê một số lao động thời vụ
Trang trại được xây dựng với vốn ban đầu 1 tỉ 949 triệu đồng Một phần vốn có huy động từ gia đình, bạn bè còn lại là vay từ ngân hàng để cung ứng đầy đủ cho quá trình sản xuất
Với những kinh nghiệm của những người làm kinh tế trang trại đi trước thì ông Ngô văn Bộ đã học hỏi kinh nghiệm, lúc đầu ông đã mua 6.000 con giống nhờ biết cách chăn nuôi đúng kỹ thuật những con giống của ông phát triển tốt đạt năng suất cao
Năm 2011 ông đã tăng con giống lên 9.000, sau nhiều năm làm đạt kết quả kinh tế, đời sống gia đình của ông được nâng cao và tạo điều kiện thuận lợi cho một số lao động có thêm thu nhập
Không chỉ thành công ở mô hình nuôi gà Đến năm 2015 ông tiếp tục
mở rộng quy mô sản xuất, ông nhập thêm giống lợn khoảng 100 con
Năm 2016 ông mua thêm đất để mở rộng diện tích Kết hợp với nuôi
gà, nuôi lợn Ông mạnh dạn đầu tư thêm vào nuôi cá chép