Bài luận về chính sách tài khoá và tiền tệ của các nước G7 trong giai đoạn suy thoái kinh tế. Bài luận dựa trên các nghiên cứu của Taylor (1993), Clarida te (1999), Gali và Perotti (2003), Lane (2003), Auerbach (2003), Romer và Romer (1994) để đưa ra quan điểm riêng của mình.
Trang 1CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TIỀN TỆ TRONG GIAI ĐOẠN
SUY THOÁI: MINH CHỨNG TỪ CÁC NƯỚC G7
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này không đại diện cho quan điểm của IMF Quan điểm thể hiệntrong bài nghiên cứu này là của các tác giả và không nhất thiết đại diện cho IMF haychính sách của IMF Bài nghiên cứu của tác giả được công bố để gợi ra những ý kiến
và tranh luận thêm
Bài nghiên cứu này phân tích chính sách tài khóa và tiền tệ thường phản ứng nhưthế nào trong quá trình suy thoái ở các nước G7 Nó đánh giá phản ứng của chính sáchtài khóa tùy ý trong suy thoái có đúng lúc và kịp thời không, và so sánh phản ứng củachính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Kết quả cho thấy rằng trong khi chính sách tài khóa truyền thống đáp ứng yếuhơn và chậm hơn so với chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa tùy ý là kịp thời hơn sovới sự hiểu biết thông thường, đặc biệt trong các quốc gia "Anglo-Saxon", nhưng phảnứng khác biệt đáng kể giữa các công cụ tài chính Sự hiểu biết thông thường ở đây làtrong khi chính sách tiền tệ là một công cụ phản chu kỳ kịp thời và mạnh mẽ, thì chínhsách tài khóa cung cấp vừa ít sự kích thích vừa quá chậm
Sự suy thoái kinh tế hiện tại và sự nới lỏng mạnh mẽ các chính sách tài khóa vàtiền tệ ở nước Mỹ đã phục hồi lãi suất với vai trò của chính sách tài khóa trong việc ổnđịnh chu kỳ Tuy nhiên, quan điểm được mọi người chấp nhận là trong khi chính sáchtiền tệ là một công cụ phản chu kỳ kịp thời và mạnh mẽ, thì chính sách tài khóa cungcấp vừa ít sự kích thích vừa quá chậm Tương tự, có quan điểm cho rằng trong khi cácngân hàng trung ương điều chỉnh chính sách cân đối theo chu kỳ, thì chính sách tàikhóa phản ứng ngược lại, nới lỏng trong thời kỳ suy thoái và không thắt chặt một cáchhiệu quả trong thời kỳ hưng thịnh Thế nhưng bài phân tích này đã khám phá rarằng,với chính sách tài khóa tùy ý thì nó mang nhiều sắc thái và có ý nghĩa hơn so vớinhận thức thông thường đó
Có sự thiếu hụt đáng ngạc nhiên của các nghiên cứu định lượng về động tháicủa các chính sách tài khóa và tiền tệ trong suốt thời kỳ suy thoái trong nhóm 7 quốcgia (G7) Trong khi tác động phản chu kỳ của chính sách tiền tệ đã được nghiên cứu kỹ
Trang 2(Taylor 1993, Clarida te vào 1999), nhìn chung các lý thuyết này cho rằng chính sáchtài khóa phản chu kỳ hay có tính chu kỳ trong các nước G7 đều yếu ( Gali và Perotti
2003, Lane 2003, Auerbach 2003) Romer và Romer (1994) tiến hành một nghiên cứu
về chính sách tài khóa và tiền tệ xung quanh thời kỳ suy thoái và hồi phục của Mỹ, vànhận thấy trong khi chính sách tiền tệ và cân đối cơ bản có tính chu kỳ (tự động)thường nới lỏng một cách nhất quán trong suốt thời kỳ suy thoái thì nới lỏng tài khóatùy ý được đại diện bởi cân đối cơ bản được điều chỉnh có tính chu kỳ, thường đến saukhi kết thúc thời kỳ suy thoái, và mang đến mức kích thích kinh tế yếu
Việc sử dụng dữ liệu hàng quý, bài báo này tập trung vào các tác động có tính chu kỳcủa các chính sách tài khóa và tiền tệ trong nhóm G7 từ năm 1980 Nội dung chủ yếucủa bài báo này bao gồm các phần chủ yếu sau:
+ Phần II: phân tích phản ứng của chính sách tài khóa đối với thời kỳ suy thoáithường xuyên và nhanh chóng như thế nào Phân tích cho thấy tốc độ phản ứng khácnhau thông qua các công cụ tài chính và so sánh với phản ứng công cụ của chính sáchtiền tệ
+ Phần III: sử dụng một vecto tự động hồi quy để phân tích độ mạnh phản ứng củachính sách tài khóa và tiền tệ đối với cú sốc tăng trưởng Ngoài ra, phần này dẫnchứng có bao nhiêu các kích thích tài khóa bị triệt tiêu trong quá trình phục hồi sau đó,
và mức độ cân đối chính sách tài khóa so sánh với sự cân đối của chính sách tiền tệ + Phần IV: Cuối cùng, phần này phân tích tầm quan trọng của tính bất định của nềnkinh tế Phần này tập trung vào kinh nghiệm của Mỹ, dữ liệu hàng quý chi tiết về sựthay đổi luật thuế có từ những năm 1960 Đặc biệt là tính đúng lúc và kịp thời của luậtthuế phản chu kỳ được đánh giá dựa trên cơ sở dữ liệu mới của Romer và Romer(2007)
Cân đối cơ bản là những khoản chính phủ vay hoặc cho vay ròng không bao gồm các
khoản thanh toán lãi suất trên khoản nợ chính phủ hợp nhất
Output gap (chênh lệch sản lượng đầu ra) là độ chênh lệch, thường được tính bằng
% giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng của nền kinh tế quốc gia Output gaplớn hơn 0 thường được coi là dấu hiệu của dư cầu, gây áp lực tăng giá, do đó sẽ phảităng lãi suất nhằm tránh cho nền kinh tế phát triển quá nóng cũng như kiềm chế lạmphát Output gap nhỏ hơn 0 được coi là dấu hiệu lạm phát sẽ giảm
Trang 3Basic point – điểm cơ bản – là một đơn vị bằng 1/100 của 1% và được sử dụng để biểuthị sự thay đổi của các công cụ tài chính, ví dụ như: lãi suất …
Chu kỳ kinh tế là sự biến động của GDP thực tế của nền kinh tế quốc gia theo trình tự
ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ) Cũng có quan điểm coipha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là suy thoái vàhưng thịnh (hay mở rộng)
Hình: các pha trong chu kỳ kinh tế
Trước đây, một chu kỳ kinh tế thường được cho là có bốn pha lần lượt là suy thoái,khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủnghoảng làm cho kinh tế tiêu điều, thất nghiệp tràn lan, các nhà máy đóng cửa hàng loạt,v.v… không xảy ra nữa Vì thế, toàn bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn nềnkinh tế thu hẹp lại, được gọi chung là suy thoái
Suy thoái được định nghĩa là thời kỳ mà trong đó tốc độ tăng trưởng là âm hoặc sựchênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng là âm “ bất thường” (địnhnghĩa là độ lệch chuẩn bé hơn 0) Định nghĩa này tổng quát hơn so với định nghĩa đơngiản theo quan điểm tăng trưởng âm (như trong Romer và Romer (1994)), bởi vì điều
đó sẽ làm bỏ qua thời kỳ sản lượng đầu ra tăng nhưng vẫn ít hơn đáng kể so với sảnlượng tiềm năng Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ
Trang 4số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanhnghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lạităng nhanh giá cả (lạm phát) Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủnghoảng kinh tế.
Phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái.Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế Sau khi vượt qua giai đoạn khókhăn, cùng với sự tiến bộ nâng cao năng lực sản xuất hơn những chu kỳ trước, nềnkinh tế phát triển ở tầm cao hơn trong chu kỳ tiếp theo
Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nềnkinh tế bước vào pha hưng thịnh (còn gọi là pha mở rộng hoặc bùng nổ) Kết thúc phahưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suythoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế là những biến động không mang tính quy luật Không có hai chu kỳkinh tế nào hoàn toàn giống nhau và cũng chưa có công thức hay phương pháp nào dựbáo chính xác thời gian, thời điểm của các chu kỳ kinh tế
Theo học thuyết Keynes, chu kì kinh tế hình thành do thị trường không hoàn hảo,
làm tổng cầu biến động Chính sách tài khóa là việc sử dụng ngân sách Nhà nước để
tác động vào nền kinh tế Chính sách tài khóa được sử dụng để chống lại chu kỳ kinh
tế hay còn gọi là chính sách tài khóa tùy ý có thể được tách ra thành 2 phần: chínhsách tài khóa mở rộng (được sử dụng để kích thích kinh tế thông qua chính sách kíchcầu xã hội hiệu quả) và chính sách tài khóa kiềm chế (được sử dụng để kiềm chế sức
ép lạm phát) Chính sách tài khóa tùy ý hướng vào ổn định nền kinh tế
Một hình thức khác của chính sách tài khóa phản chu kỳ là ổn định tự động
(automatic stabilizers) Nghĩa là có những chính sách được thiết kế tự nó điều chỉnhlàm cho chính sách tài khóa mở rộng trong thời kỳ suy thoái và thu hẹp trong thời kỳtăng trưởng cao như là chính sách bảo hiểm, an sinh xã hội, thuế thu nhập…
Chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức được Ngân hàng Nhà nước sử dụng
nhằm tác động đến khối tiền trong lưu thông, phục vụ cho các mục tiêu kinh tế xã hộicủa quốc gia trong thời kì nhất định Các mục tiêu phổ biến cần ổn định của chính sáchtiền tệ là: giá cả, lãi suất, tỉ giá hối đoái, tỉ lệ tăng trưởng, tỉ lệ thất nghiệp … Tùy vàotừng thời điểm của nền kinh tế mà mục tiêu nào sẽ được chọn làm trung tâm Chínhsách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung
Trang 5tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy đầu tư sản xuất, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng –chính sách tiền tệ chống thất nghiệp) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền,tăng lãi suất làm giảm đầu tư sản xuất từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng– chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền).
Theo quan điểm của Keynes thì tiền ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua lãi suất (doảnh hưởng đến tiết kiệm, đầu tư …) và lãi suất được quyết định bởi cung – cầu trên thịtrường tiền tệ Cầu tiền không ổn định do sự thay đổi vòng quay của đồng tiền, sốvòng quay ít trong thời kì suy thoái và nhiều trong thời kì bùng nổ
Bài viết này sử dụng sự thay đổi lãi suất danh nghĩa ngắn hạn là chỉ số của chính sáchtiền tệ và đo lường kích thích của chính sách tài khóa bằng cân đối cơ bản
III PHÂN TÍCH NGHIÊN CỨU SỰ KIỆN
Trong bài viết này, suy thoái được định nghĩa là thời kỳ mà trong đó tốc độ tăngtrưởng là âm hoặc sự thiếu hụt sản lượng đầu ra là âm “ bất thường” Sự thay đổi trongmức lãi suất danh nghĩa ngắn hạn được sử dụng để đo lường chính sách tiền tệ, sự thayđổi trong cân đối cơ bản được sử dụng để đo lường kích thích tài khóa Sự thay đổitrong cân đối tài khóa cơ bản tức là sự chênh lệch giữa tổng doanh thu của chính phủnói chung và tổng nợ của chính phủ Sự thay đổi trong cân đối cơ bản có thể tăng mộtcách thụ động, khi mà doanh thu và chi tiêu tăng hoặc giảm cùng với các hoạt độngkinh tế, đó là sự thay đổi có tính chu kỳ, hoặc chủ động khi các chính phủ có nhữnglựa chọn chính sách về thuế, chi chuyển nhượng và sử dụng chi tiêu hay sự thay đổiđiều chỉnh theo chu kỳ Do vậy bài viết này nghiên cứu hai thước đo là cân đối cơ bảntheo chu kỳ và cân đối cơ bản điều chỉnh theo chu kỳ Trong đó cân đối cơ bản điềuchỉnh theo chu kỳ phản ánh những thay đổi trong chính sách hay phản ứng của chínhsách tài khóa tùy ý, và thước đo cân đối cơ bản theo chu kỳ phản ánh sự phản ứng củachính sách tài khóa đối với những thay đổi trong hoạt động kinh tế, hay chính sách tàikhóa bình ổn tự động
Phân tích nghiên cứu sự kiện xác định những thay đổi tùy ý như là sự thay đổi
“lớn” trong các công cụ chính sách Những thay đổi lớn trong các biến tài khóa tùy ý,được xác định là những gì vượt quá 0,25% GDP mỗi quý Tương tự như vậy, sự thayđổi tùy ý trong lãi suất danh nghĩa ngắn hạn được xác định là những gì vượt quá0,25% trong một quý
Trang 6Dữ liệu hàng quý từ 1980Q1-2007Q4 được lấy từ báo cáo kinh tế OECD Outlook
và cơ sở dữ liệu IFS của IMF OECD công bố điều chỉnh theo chu kỳ của các khoảnmục ngân sách, trong đó sử dụng một ước tính sự thiếu hụt sản lượng đầu ra cùng với
độ co giãn được xây dựng để rút ra các thành phần theo chu kỳ từ các khoản mục ngânsách Dữ liệu hàng quý về sự thiếu hụt sản lượng đầu ra và tăng trưởng GDP thực đượclấy từ OCED Economic Outlook, và được điều chỉnh theo mùa Những thay đổi trongchính sách tiền tệ được đại diện bởi sự thay đổi hàng quý của mức lãi suất danh nghĩangắn hạn được lấy từ cơ sở dữ liệu của Quỹ IFS Tất cả những thay đổi là từ quý nàysang quý khác và không thường niên
Bảng 1 và 2 tóm tắt số liệu thống kê liên quan đến tác động có chu kỳ của chínhsách tiền tệ và tài khóa trong các thời kỳ suy thoái và tăng ứng tương ứng Bảng 1 chothấy suy thoái xảy ra trong khoảng 26 % mẫu Toàn bộ nhóm G7, nhân tố kích thích tàichính tùy ý chiếm đến 21% trong các quý suy thoái, ít hơn một nửa so với mức độthường xuyên của việc nới lỏng lãi suất Tuy nhiên, sự kích thích tài khóa tùy ý xuấthiện trung bình 2.4 quý sau khi bắt đầu suy thoái, 1.6 quý sau khi nới lỏng lãi suất.Khoản chi tiêu cơ bản có tần suất phản ứng thấp nhất với việc nới lỏng trong chỉ 13 %trong suốt các quý suy thoái, và đến đáy hầu hết 4 quý Ngược lại, như mong đợi chíchsách tài khóa nới lỏng tự động, đại diện bởi sự suy giảm trong cân đối cơ bản theo chu
kỳ xảy ra trong hầu hết các cuộc suy thoái trong các quý của cuộc suy thoái
Tuy nhiên, phát hiện ra rằng sự khác biệt quan trọng giữa các quốc gia G7 bị ẩn
đi Đặc biệt, chính sách tài khóa nới lỏng tùy ý được dùng thường xuyên hơn trong ởcác quốc gia "Anglo-Saxon" (Canada, Vương quốc Anh, và Hoa Kỳ) hơn là các thànhviên G7 khác Đặc biệt, sự nới lỏng chính sách tài khóa tùy ý xảy ra trong 34, 39, và26% của các quý suy thoái ở những nước này tương ứng, so với trung bình là 12% củacác quốc gia khác Sự khác biệt này là thuộc tính do nới lỏng thường xuyên hơn trong
cả thu và chi hiện hành
Bảng 1: Các nhân tố kích thích tài chính đưa ra nhanh chóng và thường xuyên như thế nào trong quá trình suy thoái
G7: Khoảng thời gian đo lường chính sách, 1980-2007
Quý của chính sách nới lỏng đầu tiên tương ứng với sự bắt đầu cuộc suy thoái
G7 Canada Đức Pháp Ý Nhật Anh Mỹ
Chiều dài của chu kỳ suy thoái 2.3 3.8 1.5 1.5 2.1 1.6 3.3 2.0
Trang 7Quý của chính sách nới lỏng đầu tiên sau khi bắt đầu cuộc suy
thoái
Cân đối cơ bản điều chỉnh theo chu kỳ 2.4 2.4 2.6 4.2 2.5 1.8 1.2 2.1 Cân đối cơ bản theo chu kỳ 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.0 0.2 Doanh thu điều chỉnh theo chu kỳ 2.3 1.1 1.7 5.5 3.0 3.3 0.6 0.9 Chi tiêu thường xuyên điều chỉnh theo chu kỳ 1.8 1.8 1.5 2.2 1.5 1.7 1.0 3.0
Chính sách lãi suất danh nghĩa 0.8 1.7 0.5 1.0 0.8 0.5 0.6 1.6
Tỷ lệ của chính sách nới lỏng trong suy thoái
Cân đối cơ bản điều chỉnh theo chu kỳ 21 34 3 10 19 17 39 26 Cân đối cơ bản theo chu kỳ 96 100 100 90 97 97 96 91 Doanh thu điều chỉnh theo chu kỳ 17 34 6 0 14 6 30 26 Chi tiêu thường xuyên điều chỉnh theo chu kỳ 28 48 11 24 25 8 52 30
Chính sách lãi suất danh nghĩa 51 72 44 48 53 22 70 48 Các điểm ghi nhớ
Tổng số lần các quý trong mẫu 784 112 112 112 112 112 112 112 Phần trăm thời gian dành cho suy thoái 26 26 32 19 32 32 21 21
Bảng 2: Các nhân tố kích thích tài chính đưa ra nhanh chóng và thường xuyên như thế nào trong quá trình tăng trưởng
G7: Khoảng thời gian đo lường chính sách, 1980-2007
Quý của chính sách thắt chặt đầu tiên tương ứng với sự bắt đầu cuộc tăng trưởng
Chính sách lãi suất danh nghĩa 2.2 3.3 0.6 4.6 1.0 1.2 0.4 4.7
Tỷ lệ của chính sách thắt chặt trong tăng trưởng
Cân đối cơ bản điều chỉnh theo chu kỳ 24 37 36 13 24 11 35 33 Cân đối cơ bản theo chu kỳ 68 73 67 58 67 75 67 65 Doanh thu điều chỉnh theo chu kỳ 23 30 14 13 30 14 36 24 Chi tiêu thường xuyên điều chỉnh theo chu kỳ 14 33 13 3 14 3 27 6
Bảng 2 cung cấp tóm tắt số liệu thống kê tương tự cho thời kỳ tăng trưởng Bảngnày chỉ ra rằng các thời kỳ tăng trưởng xảy ra khoảng 74 % của mẫu Trong khi các
Trang 8chính sách tài khóa thể hiện tác động có chu kỳ tương tự như trong thời kỳ suy thoái,chính sách tiền tệ phản ứng đáng chú ý ít hơn (chỉ khoảng 27% thời kỳ tăng trưởng) vàvới một sự chậm trễ kéo dài (trong 2.2 quý) hơn trong thời kỳ suy thoái Trong khichính sách tiền tệ cung cấp sự nới lỏng nhanh hơn và thường xuyên hơn trong thời kỳsuy thoái so với chính sách tài khóa, do đó hiệu quả của nó tương tự như chính sách tàikhóa trong thời kỳ tăng trưởng.
IV MÔ HÌNH VECTƠ TỰ HỒI QUY
Để định lượng được tốc độ và độ mạnh của phản ứng mang tính chu kỳ của cácchính sách tài khóa, và so sánh phản ứng này với chính sách tiền tệ, một VAR đượcước tính bằng cách sử dụng dữ liệu hàng quý của mỗi quốc gia G7 Trong VAR baogồm nhiều biến, và thứ tự của chúng như sau : tăng trưởng GDP thực tế trừ đi tăngtrưởng GDP tiềm năng, lạm phát (dựa trên chỉ số giảm phát GDP); thay đổi trong lãisuất danh nghĩa; thay đổi trong bảng cân đối tài chính điều chỉnh theo chu kỳ và thayđổi trong sự cân bằng tài chính tự động (theo chu kỳ) Để đơn giản, trong VAR củamỗi quốc gia bao gồm 2 độ trễ của từng biến
Để hiểu được các mô hình phía dưới, chúng ta cần nắm các định nghĩa sau:
- Chỉ số của chính sách tiền tệ: sự thay đổi trong lãi suất danh nghĩa
- Chỉ số đo lường ổn định tự động: thay đổi cân đối cơ bản theo chu kỳ có thể thụđộng hoặc chủ động
- Chỉ số đo lường chính sách tài khóa tùy ý: thay đổi trong cân đối cơ bản điềuchỉnh theo chu kỳ
Hình 1: Độ mạnh phản ứng của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Trang 9Nhìn hình 1, từ năm 1980-1991, thể hiện giai đoạn suy thoái Như chúng ta biếtlãi suất thể hiện cho chính sách tiền tệ, còn cân đối cơ bản thể hiện cho ổn định tựđộng, khi sử dụng chính sách tiền tệ phản chu kỳ thì hiệu quả tác động của nó rấtnhanh, lãi suất giảm nhanh chóng trong thời kỳ suy thoái Trong khi chính sách tàikhóa lại phản ứng rất chậm, sử dụng chính sách tài khóa thuận chu kỳ, tăng thu vàgiảm chi trong thời kỳ suy thoái vì thế chính sách này không phát huy tác dụng vàphản ứng chậm hơn rất nhiều so với chính sách tiền tệ Ngược lại, từ năm 1992-2007,thể hiện giai đoạn phục hồi thì chính sách tài khóa lại phát huy tác dụng nhanh hơn sovới chính sách tiền tệ.
Hình 2: Phán ứng khác nhau trong các công cụ tài khóa giữa các thành viên G7
Trang 10Từ năm 1980-1991, là giai đoạn suy thoái thì công cụ chính sách tiền tệ và ổnđịnh tự động thì nới lỏng một cách nhất quán, trong khi ở các nước quốc gia G7 thì có
sự khác biệt, ở các quốc gia Anglo3 thì sử dụng chính sách phản chu kỳ trong thời kỳsuy thoái, giảm thu và tăng chi Trong khi các quốc gia còn lại thì lại sử dụng chínhsách thuận chu kỳ Trong giai đoạn phục hồi thì hầu hết sử dụng chính sách phản chukỳ
Hình 4: Tính bất cân xứng của chính sách tài khóa và tiền tệ
Trang 11Nhìn hình 4.1 ta thấy sự nới lỏng của chính sách tiền tệ trong thời kỳ suy thoáithì mạnh hơn rất nhiều so với sự thắt chặt của chính sách tiền tệ trong thời kỳ phụchồi Điều này cho thấy sự không tương xứng trong chính sách giữa hai thời kỳ Tương
tự đối với chính sách tài khóa tùy ý thì lại tùy thuộc vào chính sách của từng nước.Trong khi các nước EU3 thì thuận chu kỳ một cách đối xứng thì các nước Anglo3 thìngược lại giảm thu nhiều trong thời kỳ suy thoái nhưng tăng thu lại rất ít trong thời kỳphục hồi, điều này tạo ra một sự đối xứng mạnh mẽ giữa hai thời kỳ Trái ngược vớinhững phản ứng bất đối xứng này, ổn định tự động phản ứng theo hướng đối xứng, với
sự nới lỏng được quan sát trong cuộc suy thoái thì hầu hết bù đắp một cách chính xácbằng cách thắt chặt trong thời kỳ phục hồi