Do đó, đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp nếu chất lượng thấp thì năng lực lãnh đạo và hiệu quả hoạt động thấp, sẽ khó có thể hoàn thành chức trách nhiệm vụ của mình trong thời kỳ mới.. Tro
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cán bộ là một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định đối với
sự nghiệp cách mạng nói chung và công tác xây dựng Đảng vói riêng Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém” [3, tr 280] Từ việc nhận thức một cách sâu sắc vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có ý thức về việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng những yêu cầu bức thiết trong từng giai đoạn cách mạng Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh, vai trò của đội ngũ cán bộ một lực lượng nồng cốt đã cùng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên những chiến thắng vẻ vang của dân tộc đó là: Thắng lợi của cách mạng tháng tám; thắng lợi trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng đất nước, đem lại độc lập, tự do cho dân tộc, ấm no hạnh phúc cho nhân dân
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán
bộ, hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã chăm lo đào tạo được một đội ngũ cán bộ cách mạng kiên trung, đủ đức đủ tài để đảm đương nhiệm vụ cách mạng mà nhân dân giao phó Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực do nền kinh tế thị trường đem lại, vẫn còn những điều khiến cho chúng ta phải băn khoăn, lo lắng khi mà “Tham nhũng đã trở thành quốc nạn,”, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây mất lòng tin của nhân dân Tại Hội nghị lần thứ Tư, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đã nhận định:
“Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc” [1 tr.2]
Yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới, cán bộ và công tác cán bộ của Đảng ta đặt
ra trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được mở rộng; trình độ dân trí ngày càng cao; hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện; cách mạng khoa học
và công nghệ diễn ra với những bước tiến như vũ báo trên thế giới; bên cạnh những thời cơ lớn, chúng phải đang đứng trước nhiều thách thức Nhiệm vụ chính trị trọng đại lúc này là phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công
Trang 2cuộc đổi mới, tạo nền tảng đén năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nhiệp theo hướng hiện đại
Muốn vậy, Đảng phải tích cực chủ động nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên Phát triển cao về chất lượng đội ngũ cán bộ tạo nên tinh thần tích cực, ý thức tự giác và khả năng sáng tạo của người cán bộ trong hoạt động thực tiễn Do
đó, đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp nếu chất lượng thấp thì năng lực lãnh đạo và hiệu quả hoạt động thấp, sẽ khó có thể hoàn thành chức trách nhiệm vụ của mình trong thời kỳ mới yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là việc làm cần thiết, trong đó có đội ngũ cán bộ chủ chốt (CBCC) cấp cơ sở
Thành phố Sơn la là một địa bàn thuộc các tỉnh vùng cao Tây Bắc, có địa hình phức tạp, kinh tế xã hội phát triển chậm Trên địa bàn có nhiều dân tộc anh
em cùng sinh sống như: Thái, Dao, Kinh, Mông., Mường, Mỗi dân tộc có một phong tục tập quán và nét văn hóa riêng Đội ngũ CBCC các xã, phường phần lớn
là người dân tộc với lối sống, giản dị, tư duy trong sáng, gắn bó với bà con, thôn bản luôn tin tưởng vào Đảng, Bác Hồ
Trong những năm qua, đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La đã có nhiều
cố gắng trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị nỗ lực phấn đấu cùng với nhân dân đạt được những thành quả cao trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, làm thay đổi bộ mặt trên địa bàn thành phố
Tuy nhiên, vấn đề nổi cộm và hạn chế lớm nhất của đội ngũ cán bộ này là chưa phát huy được về tư duy lý luận, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực thực tiễn của mính Sơn La là một tỉnh còn khó khăn, cơ sở hạ tầng còn thấp trình
độ của nhân dân và cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới Do đó, cần phải nghiên cứu sâu, đánh giá đúng mặt mạnh, yếu để từ
đó vạch ra phương huớng và biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ CBCC các xã, phường ở thành phố Sơn La là một vấn đề cần thiết, là nhiệm
vụ chiến lược trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ thành phố Sơn La hiện nay
Nhận thức rõ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ các xã, phường ở thành phố Sơn La góp phần cùng Đảng bộ địa phương nâng cao chất lượng đội ngũ
CBCC các xã, phường đáp ứng yêu cầu mới, tôi chọn vấn đề: “Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở thành phố Sơn La hiện nay” làm đề tài khóa luận của
mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Xung quanh vấn đề cán bộ nói chung và chất lượng đội ngũ CBCC các xã nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học được công bố trên các sách, báo, tạp chí và trong các hội thảo khoa học, đáng chú ý là:
Đinh Phương Duy – Nguyễn Thị Bích Ngọc (2005), “Năng lực hoạt động thực tiễn của người lãnh đạo cơ sở” Tác giả đã phân tích năng lực hoạt động thực
Trang 3tiễn của cán bộ lSãnh đạo cơ sở, đồng thời chỉ ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ cấp cơ sở
Đề tài khoa học cấp Bộ (1992), “Mẫu hình và con đường hình thành người cán bộ lãnh đạo chính trị chủ chốt cấp cơ sở” của Học viện Nguyễn Ái Quốc Đề tài xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở
Nhánh đề tài KX.05-11-06 (1993), “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở, xã, phường, thị trấn”, do Phan Văn Tích chủ biên Trần Xuân Sầm (chủ biên) (1998), “Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Đề tài khoa học cấp Bộ (2001), “Về những yêu cầu của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, do TS Nguyễn Văn Sáu chủ nhiệm
Nguyễn Phú Trọng (2003), Đề tài cấp nhà nước: “Luận cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” Để tài nghiên cứu, lý giải hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; từ đó đưa ra một hệ thống các quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trương Thị Bạch Yến (2014), Luận án tiến sĩ “Tạo nguồn cán bộ, công chức
xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây nguyên giai đoạn hiện nay” Luận án làm
rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc tạo nguồn cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số ở Tây nguyên giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh việc tạo nguần đội ngũ này đến năm 2020
Luận án tiến sĩ, Phạm Xuân Dương (1995), “Đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng và sử dụng cán bộ chủ chốt ở thị xã Sơn La tỉnh Sơn La”
Nguyễn Mậu Dựng (1996), “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng
bộ các cấp ở Tây nguyên hiện nay”
Phạm Công Khâm (2000), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay”
Nguyễn Huy Châu (2003), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp xã ở tỉnh Gia Lai trong giai đoạn hiện nay”
Vũ Thị Nghĩa (2004), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị các xã ở tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay”
Trần Thị Hà Vân (2008), “Chất lượng Bí thư Đảng ủy xã vùng có đồng bào chăm ở tỉnh Ninh Thuận giai đoạn hiện nay”
Đào Văn Hội (2005), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai giai đoạn hiện nay”
Trang 4Ngô Kim Ngâm (2002), “Công tác qui hoặch đội ngũ cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Phú Thọ”, Tạp chí xây dựng Đảng (số 4), tr.9-11
Mai Đức Ngọc (2004), “Vai trò của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền (số 1), tr.35-37
Nguyễn Văn Huyên (2005), Đề tài khoa học “Phẩm chất năng lực người lãnh đạo theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Trên cơ sở yêu cầu đòi hỏi của thời kỳ mới, tác giả đã chỉ
ra những phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng và năng lực trình độ cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay
Đinh Ngọc Giang (2011), “Chuẩn hóa chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân dân
xã (Qua khảo sát ở các tỉnh Đồng bằng Sông hồng)”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Lê Công Toán (2008), “Tỉnh ủy Quảng Bình lãnh đạo công tác cán bộ chủ chốt cấp xã trong giai đoạn hiện nay”
Nguyễn Thị Kim Hoa (2011), “Nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ chủ chốt hệ thống chính trị cấp xã ở tỉnh Hải Dương giai đoạn hiện nay”
Nhìn chung, các công trình đã đóng góp kiến giải có giá trị về đội ngũ cán
bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt các xã nói riêng Mỗi công trình đã khai thác trên những bình diện, cấp độ khác nhau, góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn, kiến nghị những giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung và CBCC cấp xã trong cả nước và nhiều địa phương khác nhau nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có đề tài, công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã, phường ở thành phố Sơn La đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới
Trên cơ sở tiếp thu một cách có chọn lọc những kết quả của các công trình khoa
học trên, đề tài đi sâu nghiên cứu vấn đề “Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở thành phố Sơn La hiện nay”
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã
ở thành phố Sơn La, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đội ngũ CBCC cấp xã của thành phố đến năm 2020, góp phần hoàn thiện nhiệm vụ chính trị của địa phương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số khái niệm cơ bản, tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La hiện nay;
- Khẳng định vị trí, vai trò đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La trong sự nghiệp cách mạng giả phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội;
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng, tìm nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La hiện nay;
Trang 5- Xác định mục tiêu, phương hướng, đè xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La đáp ứng yêu nhiệm vụ trong thời kỳ mới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của khóa luận
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở thành phố Sơn La hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Các xã, phường trên địa bàn thành phố Sơn La
Thời gian: từ năm 2017 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận
Cơ sở lý luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thông các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về cán bộ và công tác cán bộ để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ nói chung và đối với cán bộ cấp cơ sở nói riêng
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa lênin, tác giả sử dụng các phương pháp lôgic, lịch sử, tổng kết thực tiễn, khảo sát thực tế, thống kê, phân tích, tổng hợp
Mác-6 Đóng góp của khóa luận
Làm rõ quan niệm, nội dung, tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ CBCC cấp
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
Trên phạm vi nghiên cứu nhất định, khóa luận góp phần làm rõ và bổ sung thêm những dữ liệu khoa học về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn
La trong giai đoạn hiện nay
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy địa phương, cơ sở ở thành phố Sơn La trong việc xây dựng thực hiện kế hoặch nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã;
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ
1.1 Một số khái niệm chủ yếu
1.1.1 Khái niệm về cán bộ
Cán bộ được hiểu theo nhiều nghĩa và rất phong phú nó xuất hiện trong xã hội của chúng ta rất lâu Từ cán bộ du nhập vào nước ta bắt đầu từ tiếng Trung Quốc, được phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống pháp Ban đầu, từ cán bộ dùng trong quân đội để phân biệt giữa người chỉ huy và người chiến sỹ, người chỉ
Trang 6huy ở đây được hiểu là cán bộ từ cấp tiểu đội phó trở lên Dần dần từ cán bộ được hiểu rộng ra hơn dùng để chỉ tất cả những người hoạt động kháng chiến để phân biệt với nhân dân
Trong Từ điểm Việt – Nhật, danh từ cán bộ được dùng với nghĩa là người ở hạng cao trong một đoàn thể, là (yếu nhân) nhân vật quan trọng
Hay trong Từ Điểm Từ Hải, cán bộ được giải thích để chỉ chung những nhân viên công chức, nhằm phân biệt với những nhân viên tạp vụ, binh lính, công nhân
có nghĩa là chuyên chỉ những người có trách nhiệm lãnh đạo nào đó như Trưởng thôn, Đội trưởng thiếu niên tiền phong
Trong Từ Điểm Tiếng Việt: “Cán bộ được định nghĩa là người làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan, đơn vị, Đảng và Đoàn thể, hay là người làm công tác tổ chức Đảng, Nhà nước nhưng có chức vụ” [8, tr.535]
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán
bộ tốt hay kém, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [4, tr 269]
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", chính là quan điểm về con người với tính chất vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Đó là biểu hiện cụ thể của quan điểm lấy dân làm gốc, để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, mà cả cuộc đời mình, Người phấn đấu hy sinh
Nói theo nghĩa chung nhất, cán bộ là những người lãnh đạo, quản lý hoặc nhà chuyên môn, khoa học hay công chức, viên chức làm việc hưởng lương hay phụ cấp từ ngân sách Nhà nước hoặc từ các nguồn khác được hình thành từ bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt hoặc phân công công tác
Theo quy định của Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 do Quốc hội (khóa XII) ban hành: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), tronh biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước” [9]
Từ đó, có thể định nghĩa một cách chung nhất: “Cán bộ là những người có vai trò, giữ chức vụ và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động của tổ chức và quan hệ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, điều hành, định hướng sự phát triển của tổ chức”
Trang 7* Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về cán bộ vai trò của cán bộ
Trong bất kỳ thời kỳ nào, giai đoạn nào của sự nghiệp cách mạng, cán bộ và công tác cán bộ đều giữ vị trí quan trọng, cán bộ là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, quyết định việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Chính vì vậy, các nhà kinh điểm đã đưa ra các quan điểm, tư tưởng của mình về cán bộ và công tác cán bộ của Đảng cộng sản Với tư cách là những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội (CNXH) khoa học, Mác và ăngghen đã đặt nền móng đầu tiên cho vấn đề cán bộ của giai cấp vô sản
khẳng định , rằng : "Muốn thực hiện tốt những tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn" [12, tr.181] Lịch sử đã chứng minh mỗi chính
Đảng của một giai cấp muốn giành và giữ chính quyền đều phải chăm lo và xây dựng đội ngũ cán bộ, đây là đại biểu trung thành của giai cấp mình, đủ sức thực hiện những yêu cầu, mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và giai cấp đó đề
đề cán bộ được đặt ra một cách cấp bách, thì tư tưởng của Lênin về cán bộ ngày càng được hoàn thiện hơn, nhất là việc đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn và sử dụng cán bộ
Chủ nghĩa Mác-Lênin rất coi trọng vai trò, vị trí của cán bộ và công tác cán bộ: Người Cộng sản lãnh đạo chỉ có một cách duy nhất để chứng minh quyền lãnh đạo của mình, đó là làm cho mình được nhiều, càng ngày càng nhiều, những người phụ tá trong số những nhà sư phạm thực hành, biết iúp đỡ họ làm việc, biết đề bạt
họ, biết giới thiệu và chú ý đến kinh nghiệm của họ [11, tr.407]
Lênin cho rằng, đối với đảng cầm quyền, một trong những vấn đề mấu chốt đặc biệt quan trọng là vấn đề cán bộ Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đòi hỏi người cán
bộ phải đạt được những yêu cầu, tiêu chuẩn nhất định: Về mặt thực tiễn, những người Cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong tất cả các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn
bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản [13, tr.614]
Chủ nghĩa Mác-Lênin đòi hỏi người cán bộ phải luôn tự rèn luyện mình cả năng lực thực tiễn và tư duy lý luận, phải trung thành với sự nghiệp cách mạng, gắn bó và phục vụ nhân dân, chịu sự kiểm soát của nhân dân, dám thừa nhận và sửa chữa sai lầm khuyết điểm: "Luôn luôn hành động dưới sự kiểm soát của nhân dân…, không nấp sau một chế độ quan liêu giấy tờ, không ngại thừa nhận những sai lầm của mình bằng cách sửa chữa những sai lầm ấy" [14, tr.35] Chủ nghĩa
Trang 8Mác-Lênin cũng rất coi trọng vấn đề lựa chọn và sử dụng cán bộ, coi đó như một khoa học, phải đặt người cán bộ vào đúng vị trí thì mới phát huy được khả năng, sở trường của cán bộ
1.1.2 Quan niệm cán bộ cấp xã
Cán bộ cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội Cán
bộ cấp xã gồm các chức danh sau: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch ủy ban MTTQ Việt Nam; Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam; Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam; Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách Nhà nước
1.1.3 Quan niệm cán bộ chủ chốt
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ cán bộ chủ chốt Song trong quá trình nghiên cứu, tác giả đưa ra cán bộ chủ chốt được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, cán bộ chủ chốt bao gồm những người giữ chức vụ và trách nhiệm cao trong một tổ chức, có ảnh hưởng lớn tới hoạt động tổ chức bộ máy Chẳng hạn như: Ban thường vụ, trưởng, phó các ban ngành, đoàn thể, từ CBCC tiếng anh gọi nhóm này là leades (người cần đầu) Đó là những người quan trọng nhất có trách nhiệm điều hành một tập thể, đơn vị, tổ chức thuộc thẩm quyền của mình theo quy định để thực hiện nhiệm vụ của tập thể hoặc tổ chức đó Đây là một
bộ phận rất quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của tooe chức và của cả
hệ thống chính trị Việc xác định cán bộ chủ chốt hay không chủ chốt nên căn cứ vào chức vụ hay trách nhiệm cụ thể của mỗi loại cán bộ và đặt nó trong mối quan
hệ của toàn hệ thống tổ chức bộ máy Tuy nhiên, cũng có cán bộ ở cương vị này trong tổ chức này thì chủ chốt nhưng trong mối quan hệ khác, ở vị trí khác thì lại không phải chủ chốt Ví dụ: một Bí thư Đảng ủy là cán bộ chủ chốt của xã nhưng không phải là cán bộ chủ chốt của huyện mặc dù anh có thể thể tham gia vào ban chấp hành Đảng bộ huyện, là huện ủy viên
Theo nghĩa hẹp, CBCC là những người cầm đầu tổ chức quốc gia Họ là nhóm lãnh đạo ở tầm vĩ mô, ở nước ta những cán bộ này gọi là cán bộ lãnh đạo cao cấp, có vai trò quyết định đến vận mệnh của quốc gia dân tộc
Từ đây, có thể hiểu: Cán bộ lãnh đạo chủ chốt là những người đứng đầu, giữ
vị trí trọng yếu trong hệ thông chính trị, có ảnh hưởng mang tính quyết định đến việc chấp hành chủ trương, chính sách, Nghị quyết của Đảng, Pháp luật của Nhà
Trang 9nước thông qua việc trực tiếp lãnh đạo va tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên địa bàn
1.1.4 Quan niệm đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Theo Từ điểm Tiếng việt: “Đội ngũ là khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng có quy củ” [12, tr 535] Đội ngũ CBCC bao gồm những người đứng đầu các tổ chức trong HTCT của một xã, họ đều được cơ cấu là Đảng
ủy viên của Ban chấp hành Đảng bộ xã, cùng thực hiện một nhiệm vụ chính trị, an ninh – quốc phòng, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị xã hội của xã theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp Luật của Nhà nước, hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, chương trình, kế hoặch công tác của Đảng bộ xã , và nhiệm vụ được cấp trên giao
Từ những khái niệm trên, đồng thời quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX, có thể quan niệm: Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là những người giữ vai trò quan trọng nhất có ảnh hưởng quyết định trong hệ thống bộ máy của Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể, có tác dụng là bộ khung, là nòng cốt chi phối việc chấp hành chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp Luật của Nhà nước thông qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn
Như vậy, đội ngũ CBCC của HTCT cấp xã bao gồm các chức danh sau: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch MTTQ; Chủ tịch Hội cựu chiến binh; Chủ tịch Hội phụ nữ; Chủ tịch Hội nông dân; Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Mỗi CBCC được giao thẩm quyền, trách nhiệm nhất định trong tổ chức gắn với chức vụ mà người lãnh đạo đảm nhiệm Phạm vi và trách nhiệm công việc của mỗi CBCC là khác nhau, nhưng đều có cùng chung mục đích là bảo đảm cho hoạt động của HTCT cơ sở đạt hiệu quả, phát huy dân chủ, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân để ổn định phát triển bền vững Thực tế cho thấy vai trò đội ngũ CBCC cấp cơ sở là rất quan trọng họ là những người chèo lái công việc tại địa bàn Ở địa phương nào có đội ngũ CBCC lãnh đạo tốt thì nhịp độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh – quốc phòng tại địa phương đó đạt hiệu quả cao
và ngược lại
1.1.5 Quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểu thị ra bên ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật Quan niệm chung nhất về
“chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc
Khi phân tích, đánh giá chất lượng của bất kỳ sự vật, hiện tượng, quá trình nào đang diễn ra trong tự nhiên, xã hội hay trong tư duy phải phân tích, đánh giá chất lượng của từng yếu tố, từng bộ phận cấu thành sự vật hiện tượng và quá trình
Trang 10ấy trong thống nhất, biện chứng, trong sự ràng buộc và tác động lẫn nhau giữa chúng; không được tuyệt đối hoá một yếu tố, bộ phận nào hoặc tách rời giữa các yếu tố, các bộ phận Quá trình đó đòi hỏi phải có phương pháp xem xét, đánh giá
cụ thể, không thể áp dụng phương pháp duy nhất, đặc biệt là đối với con người và hoạt động của con người trong xã hội
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định: “Chất lượng của cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ” [2, tr.132]
Cụ thể hơn, có thể quan niệm: Chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay là tổng hợp thống nhất biện chứng những giá trị, những thuộc tính đặc trưng, bản chất của đội ngũ cán bộ về mặt con người và các mặt hoạt động, quy định và phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của đội ngũ cán bộ trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế
Theo đó, chất lượng đội ngũ cán bộ có tính ổn định tương đối, có thể cao hoặc thấp do tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan, không bất biến, thường xuyên vận động, biến đổi, phát triển theo yêu cầu, nhiệm vụ; chịu sự tác động mạnh mẽ của thực tiễn và phụ thuộc vào quá trình bồi dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi người cán bộ Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trong thế giới, cái gì cũng biến hoá Tư tưởng con người cũng biến hoá Vì vậy, cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hoá… Một người cán
bộ khi trước sai lầm, không phải vì thế mà sai lầm mãi Cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm nhưng chắc gì sau này không phạm sai lầm? Quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn giống nhau”[4, tr 278]
Trước tiên, chất lượng cán bộ là sự tổng hợp các yếu tố tạo nên phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của cán bộ: Tức là uy tín, lòng trung thành, sự giác ngộ và niềm tin vào mục đích, lý tưởng của Đảng, được thể hiện bằng hành động của cán bộ trong việc gương mẫu đi đầu trong các phong trào cách mạng của quần chúng; vận động lôi cuốn hướng dẫn, tổ chức quần chúng tham gia các hoạt động cách mạng, thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương; khả năng chấp hành và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp Luật của Nhà nước và khả năng vận động gia đình người thân và quần chúng nhân dân
Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã còn là sự tổng hợp các yếu tố năng lực trí tuệ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo và tổ chức thực tiễn Những kiến thức, năng lực và trình độ đó có được một mặt do thông qua quá trình đào tạo của các nhà trường; mặt khác, nhờ quá trình trải
Trang 11nghiệm, tu dưỡng và rèn luyện trong thực tiễn hoạt động của mình Nhờ được đào tạo trong các nhà truờng và rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn của mình, đội ngũ CBCC cấp xã tiếp cận, lĩnh hội tri thức và kinh nghiệm để làm việc với tinh thần năng động, tự giác, sáng tạo; thêm vào đó là sự thể hiện thái độ tích cực nêu gương về mọi mặt trước cán bộ, đảng viên, hội viên và quần chúng nhân dân, xác lập và tạo ra các phương pháp, cách thức hợp lý có thể vận động, hướng dẫn lôi cuốn và tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo được cán bộ, đảng viên, hội viên và quần chúng nhân dân hăng hái tham gia thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương
Như vậy, chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã có thể được hiểu đó là sự tổng hợp toàn bộ các giá trị phẩm chất và năng lực của cán bộ Đó là tổng thể những khả năng thực lực của cán bộ biểu hiện thông qua kết quả của quá trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hện các nhiệm vụ do cấp ủy Đảng, Chính quyền phân công và Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), đoàn thể tín nhiệm giao
1.2 Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
1.2.1 Vị trí, cán bộ chủ chốt cấp xã
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã là gần dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” Cán bộ chủ chốt cấp xã là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức bộ máy, làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống
bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy, có vai trò tham gia định hướng lớn, điều khiển hoạt động của bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao
1.2.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quân tâm đặc biệt đến công tác cán bộ, lựa chọn và đào tạo đội ngũ cán bộ Xuất phát từ quan điểm coi “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh lý giải một cách dễ hiểu qua nhiều bài nói bài viết cũng như việc làm của Người Người chỉ rõ vai trò “Cái gốc” của cán bộ được thể hiện trong các mối quan
hệ chủ yếu: Cán bộ với đường lối, chính sách, với tổ chức bộ máy với quần chúng Bên cạnh đó Hồ Chí Minh khẳng định rằng: Muôn việc thành công hoặc thất bại là do cán bộ tốt hay kém Người nhấn mạnh: “Cán bộ là dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt” [7, tr 54] Chính vì vậy trong suốt cuộc đời hoạt động của mình,
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ Người căn dặn: Con người sinh ra không phải làm lãnh đạo ngay mà phải có quá trình học tập, rèn luyện Người đòi hỏi đào tạo cán bộ là công việc của Đảng, là nhiệm vụ thiết thực của cách mạng Người nêu rõ trách nhiệm của Đảng trong công tác cán bộ: Đảng
Trang 12phải nuôi dưỡng cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trong mỗi con người có ích cho công việc chung của mỗi chúng ta
Như vậy, ta có thể hiểu vai trò của đội ngũ CBCC cấp xã có vai trò rất quan trọng
Thứ nhất, đội ngũ CBCC cấp xã là nhừng người giữ cương vị lãnh đạo quan trọng nhất trong HTCT ở xã
Đội ngũ CBCC cấp xã là những người lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở
xã, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, chăm lo xây dựng Chính quyền, Mặt trận và Đoàn thể, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giưa các tổ chức trong HTCT hướng vào phục vụ nhân dân, đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến quần chúng nhân dân, phản ánh và giải đáp những tâm tư nguyện vọng của nhân dân và tổ chức thực hiện tốt cơ sở ở xã, khơi dậy trí tuệ và nguồn lực của nhân dân, không ngừng nâng cao trình độ dân sinh, dân trí, dân chủ ở xã
CBCC cấp xã là những người có vai trò thực hiện thẩm quyền quyết định một
số vấn đề như: Quản lý ngân sách, sắp xếp và quản lý cán bộ, quản lý đất đai, tài nguyên và môi trường, bảo vệ đê điều và thủy nông, quản lý hộ tịch, nhà ở, Với cương vị là người đứng đầu bộ máy quyền lực ở cơ sở, họ vừa phải giải quyết các công việc hàng ngày, vừa phải nắm chăc tình hình ở cơ sở để hoặch định kế hoặch phát triển đúng đắn
Do vậy, họ là người chủ trì, điều khiển và người chịu trách nhiệm của tất cả các mặt công tác, các lĩnh vực hoạt động của cả HTCT ở các xã Họ trực tiếp nắm
và chỉ đạo thực hiện các vấn đề trọng yếu, các khâu trung tâm trong phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, Họ là đầu mối liên hệ giữa Đảng với dân Vì vậy, họ giữ vai trò quyết định đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của HTCT ở
cơ sở xã
Quá trình đấu tranh cách mạng cũng như thực tiễn hiện nay cho thấy, nơi nào CBCC có đủ phẩm chất, năng lực, công tâm thạo việc, hết lòng vì dân thì nơi đó kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, chất lượng hiệu quả hoạt động của bộ máy quyền lực được nâng lên, niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố và ngược lại
Thứ hai, đội ngũ CBCC giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức thực thi quyền lực chính trị của nhân dân ở xã
Nhân dân lao động là chủ thể quyền lực Nhà nước và các quyền lực khác Nhân dân là người tổ chức và trực tiếp bầu ra cơ quan quản lý Nhà nước, một tổ chức đặc biệt để điều hành, điều phối mọi công việc trong xã hội và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân
Nhân dân lao động là chủ thể quyền lực, có nghĩa nhân dân là người làm chủ
và thực hiện quyền lực tuy nhiên, trên thực tế quyền lực của nhân dân rất rộng,
Trang 13nên chính bản thân họ không thể thường xuyên và trực tiếp thực hiện quyền lực của mình và không phải bất cứ công việc gì của đời sống xã hội cũng có thể đưa ra trước cộng đồng bàn bạc quyết định Do vậy, quyền lực chính trị của nhân dân lao động phải có hình thức thực hiện thích hợp, phải có những cơ quan nhất định hoạt động thường xuyên là công cụ, phương tiện để nhân dân thực hiện quyền lực của
họ
Vì thế, quyền lực của nhân dân lao động phụ thuộc và gắn liền vào chủ thể cầm quyền mà người đại diện là đội ngũ CBCC xã Nếu đội ngũ cán bộ này có đủ phẩm chất năng lực sẽ thúc đẩy kinh tế xã hội ở địa phương phát triển, đảm bảo sự
ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân, phát huy quyền làm chủ của dân, khơi dậy sức mạnh và sự sáng tạo của quần chúng, đảm bảo quyền lực chính trị của nhân dân và ngược lại
Thứ ba, đội ngũ CBCC cấp xã là lực lượng nòng cốt trong việc phát huy sức mạnh của toàn dân, huy động mọi nguồn lực ở cơ sở thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triền kinh tế - xã hội, đảm bảo và nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân địa phương
Lịch sử cách mạng và thực tiễn hiện nay cho thấy, ở xã mạnh hay yếu của HTCT, sự ổn định của xã hội, sự phát triển phong trào cách mạng của quần chúng gắn liền với trình độ trí tuệ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ CBCC, họ là những chủ cột, là trung tâm đoàn kết, quy tụ và phát huy sức mạnh cộng đồng là linh hồn của các tổ chức trong hệ thống đó Họ có khả năng tổ chức, sắp xếp, tập hợp lực lượng và huy động mọi nguồn lực của cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội Do vậy,
họ có vai trò quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, Chính quyền, các Đoàn thể, lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân ở cơ sở
Bộ máy quyền lực đó hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hay không trước hết tùy thuộc vào trình độ trí tuệ, năng lực người CBCC xã Có nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực của họ mới có thể phát huy sức mạnh của HTCT, giữ vững, ổn định xã hội, huy động được các nguồn lực để thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu kinh tế -
xã hội ở địa phương
Hơn nữa, mọi chủ trương, đường lối, chính sách, Pháp luật của Đảng và Nhà nước có thực hiện được ở các xã hay không nhất thiết phải thông qua phong trào cách mạng của quần chúng Người lãnh đạo chủ chốt cấp xã phải xứng đáng là người chỉ huy có khả năng tổ chức và huy động phong trào, có khả năng theo dõi, kiểm tra và nhân rộng phong trào của quần chúng, khai thác tối đa nguồn lực ở sơ
sở để phục vụ phát triển kinh tế xã hội
Thứ tư, đội ngũ CBCC cấp xã luôn giữ vị trí quan trọng nhất trong công tác xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh
Đội ngũ cán bộ có vị trí đặc biệt quan trọng, là gốc của mọi công việc Vì suy cho cùng, đường lối, tổ chức Đảng chặt chẽ cũng là do đội ngũ cán bộ của Đảng thực hiện và tạo dựng Trong đội ngũ cán bộ nói chung, CBCC là gốc của cái gốc
Trang 14đó, là lực lượng nòng cốt, là nhân tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước Vấn đề cốt tử tạo nên năng lực lãnh đạo của Đảng chính là đội ngũ CBCC Đây là những đầu tàu kéo cả đoàn tàu hướng về phía trước, là hạt nhân quy tụ đảng viên và quần chúng nhân dân đông tâm hiệp lực thực hiện đường lối của Đảng
Đội ngũ CBCC cấp xã luôn giữ vị trí trung tâm định hướng trong lãnh đạo, quản lý, điều khiển hoạt động của Đảng bộ, Chính quyền xã, tác động và quyết định đến sự phát triển trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng – an ninh, Chủ trì toàn bộ các công việc của cấp ủy, Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân xã, trực tiếp nắm các khâu trọng yếu, trọng tâm, những vấn đề nảy sinh, cơ mật trong đời sống xã hội Có vai trò trung tâm đoàn kết trong Đảng
bộ xã, mà trực tiếp là Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã Đây cũng
là nguồn bổ sung cán bộ cho cấp trên, nhất là cấp huyện
1.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Để đánh giá đúng chất lượng đội ngũ cán bộ cần xem xét đầy đủ các tiêu chí đánh giá trong tính hệ thống Cách đánh giá phải thật sự khách quan, toàn diện và lịch sử cụ thể, vừa định lượng, vừa định tính, lấy định lượng để định tính; xem xét toàn diện, tổng hợp tất cả các yếu tố có thể đo, định lượng được để định tính rõ ràng, đầy đủ chất lượng đội ngũ cán bộ
Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ là tập hợp các dấu hiệu, điều kiện, đặc trưng, các chỉ số định tính, định lượng làm căn cứ để nhận biết, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ trên thực tế Căn cứ xác định tiêu chí đó là: Chức năng, nhiệm vụ của cán bộ; Các yếu tố cấu thành con người và các mặt hoặt động chủ yếu của cán bộ; Yêu cầu về chất lượng của cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về đánh giá cán bộ, căn cứ vào Quy chế đánh giá cán bộ, tiêu chuẩn cán
bộ, Luật Cán bộ, công chức… và từ quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ, có thể xác lập hệ tiêu chí có bản để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay, bao gồm:
Một là, hệ thống các yếu tố cần có của bản thân đội ngũ cán bộ để đảm nhận
và hoàn thành tốt nhiệm vụ, đó là: Phẩm chất chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; năng lực; trình độ; phong cách làm việc; sức khoẻ và độ tuổi Đây là những dấu hiệu đầu tiên, trực tiếp, quan trọng hàng đầu cho biết đội ngũ cán bộ có chất lượng hay không?
Phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ là tổng hợp các đặc tính cá nhân cán
Trang 15bộ về mặt chính trị, bao gồm các yếu tố cơ bản: nhận thức chính trị, thái độ chính trị và hành vi chính trị Cụ thể:
- Nhận thức chính trị của người cán bộ là sự hiểu biết về đường lối, quan điểm chính trị, về nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng, sự hiểu biết và tin tưởng vào mục đích, lý tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, hình thành tình cảm, ý chí cách mạng của người cán bộ
- Thái độ chính trị của cán bộ là những biểu hiện, cử chỉ, lời nói, việc làm của người cán bộ xuất phát từ nhận thức, suy nghĩ, tình cảm trước những vấn đề chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng Thái độ chính trị phản ánh cách nhìn nhận, suy nghĩ và chi phối hành động của người cán bộ, bao gồm lòng trung thành, tính vững vàng, kiên định về lập trường, tư tưởng chính trị Cán bộ phải là người tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, trung thành với Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Thái độ chính trị của cán bộ đúng hay không đúng; kiên quyết, dứt khoát hay nửa vời, chập chừng, do dự; nghiêm túc hay không nghiêm túc… có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của người cán bộ
- Hành vi chính trị của người cán bộ là hành động mang tính chính trị, như tiên phong, gương mẫu trong công tác, lao động, học tập, sinh hoạt; đi đầu trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực về chính trị…
Phẩm chất đạo đức của người cán bộ bao gồm các yếu tố: Ý thức đạo đức, thái độ đạo đức và hành vi đạo đức
- Ý thức đạo đức của người cán bộ là quan niệm, sự hiểu biết về đạo đức, các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những giá trị, chuẩn mực đạo đức mới (đạo đức cách mạng)
- Thái độ đạo đức của người cán bộ do ý thức đạo đức quy định, biểu hiện ra bên ngoài là sự yêu hay ghét, ủng hộ hay phê phán đối với cái: thiện, ác, đẹp, xấu, tiến bộ, lạc hậu…; là đúng mực, nghiêm túc hay không nghiêm túc với công việc, nghề nghiệp, với đồng chí, đồng nghiệp, gia đình, bạn bè và quần chúng nhân dân…
- Hành vi đạo đức của người cán bộ là những hành động, lời nói, việc làm liên quan đến phạm trù đạo đức, có tính nêu gương, giáo dục đạo đức đối với bản thân, gia đình, đồng chí, đồng nghiệp và nhân dân
Trang 16Lối sống của người cán bộ là những hình thức, cung cách sinh hoạt, làm việc, những hoạt động, cách xử sự đã trở thành ổn định, thành đặc điểm riêng của cá nhân Lối sống do nhiều yếu tố quy định như giáo dục, nghề nghiệp, điều kiện kinh
tế, sinh hoạt, hoàn cảnh xã hội, phẩm chất tâm lý - sinh lý và sự rèn luyện của cá nhân… Lối sống gắn liền và là một biểu hiện đậm nét của đạo đức cá nhân, vì vậy, khi nhận diện và đánh giá phẩm chất đạo đức của cán bộ nhất thiết phải xem xét lối sống của họ
Phẩm chất đạo đức, lối sống của người cán bộ quan hệ mật thiết với phẩm chất chính trị Phẩm chất chính trị chi phối, quy định phẩm chất đạo đức; phẩm chất đạo đức tác động tới sự phát triển phẩm chất chính trị Người cán bộ có giác ngộ chính trị, có niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa sẽ giúp họ có tình yêu thương đồng chí, kính trọng nhân dân, quan tâm giúp đỡ mọi người, biết
hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích cách mạng Những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như trung, hiếu, dũng, liêm,… sẽ giúp người cán bộ củng cố, phát triển các phẩm chất chính trị như sự kiên định lập trường, tư tưởng, tính tiên phong gương mẫu của người cán bộ Quan hệ biện chứng giữa phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức của người cán bộ tạo nên phẩm chất đạo đức cách mạng của người cán bộ thường được gọi là “phẩm chất” hay mặt “đức” mặt “hồng” của cán bộ Người cán
bộ phải có phẩm chất đạo đức trong sáng, tiêu biểu cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và được cán bộ, đảng viên và nhân dân tin cậy
Năng lực của cán bộ là tổng hợp những yếu tố tạo nên khả năng cá nhân cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ người cán bộ Năng lực của người cán bộ bao gồm hai mặt chủ yếu: Năng lực trí tuệ và năng lực chuyên môn Năng lực trí tuệ là khả năng nhận thức, tiếp cận tri thức, khả năng nắm bắt, phân tích, đề xuất giải pháp trong hoạt động thực tiễn Năng lực chuyên môn là tri thức, kỹ năng để hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của người cán bộ Năng lực của người cán bộ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Trình độ kiến thức, kỹ năng; kinh nghiệm thực tiễn; ý thức trách nhiệm đảng viên; hoàn cảnh, điều kiện… Trong đó, trình độ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn có vai trò quan trọng hơn cả Năng lực của người cán bộ chủ yếu được hình thành và phát triển qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động thực tiễn Mỗi thời kỳ cách mạng, khi nhiệm vụ chính trị của Đảng và nhiệm vụ cụ thể của người cán bộ có sự thay đổi thì năng lực của người cán bộ cũng phải có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ
Trình độ của người cán bộ bao gồm 3 mặt chủ yếu: Trình độ học vấn; trình độ chính trị; trình độ chuyên môn Trình độ học vấn là mức độ kiến thức của người cán bộ, thường được xác định bằng các bậc học cụ thể trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây là nền tảng để rèn luyện, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn và
Trang 17cả phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của người cán bộ Trình độ chính trị là mức độ hiểu biết về chính trị của người cán bộ Trên thực tế, trình độ chính trị được đánh giá chủ yếu bằng mức độ hiểu biết về lý luận chính trị Hiện nay, trình
độ chính trị của người cán bộ được đánh giá theo 3 mức độ: Sơ cấp, trung cấp, cao cấp Trình độ chính trị là cơ sở để tạo nên phẩm chất chính trị của người cán bộ Không có trình độ chính trị nhất định thì người cán bộ không thể có giác ngộ lý tưởng cộng sản, có bản lĩnh chính trị vững vàng Trình độ chuyên môn của người cán bộ là mức độ kiến thức và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của chức danh công việc theo quy định Trình độ chuyên môn của người cán bộ không chỉ được đánh giá bởi bằng cấp chuyên môn được đào tạo mà chủ yếu là ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, ở uy tín trong công tác chuyên môn
Trình độ của người cán bộ là một yếu tố có vai trò đặc biệt, chi phối, ảnh hưởng tới tất cả các yếu tố tạo nên chất lượng người cán bộ, là cơ sở để hình thành
và phát triển phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của người cán bộ; là yếu tố đặc biệt quan trọng tạo thành năng lực và là điều kiện để có năng lực Tuy nhiên, không phải người cán bộ cứ có kiến thức là có năng lực Có kiến thức nhưng phải trải qua quá trình rèn luyện trong thực tiễn thì mới có năng lực Trên thực tế đã có không ít người cán bộ có kiến thức song năng lực hạn chế Cũng có nhiều người tuy không có bằng cấp, chứng chỉ nhưng họ tự học tập, lăn lộn trong thực tiễn nên vẫn có năng lực tốt Trình độ và năng lực của người cán bộ quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên cái “tài” hay mặt “chuyên” của người cán bộ
Về sức khoẻ, độ tuổi người cán bộ: Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người Sức khoẻ là nhu cầu trước hết của bản thân con người, là nhu cầu tồn tại Không có sức khoẻ thì không phát triển được trí tuệ, không thể lao động có hiệu quả cho xã hội Có một cơ thể khoẻ mạnh, cường tráng là điều kiện cần thiết cho một tinh thần sảng khoái, minh mẫn, là tiền đề và cơ sở chắc chắn, thường xuyên cho việc thực hiện có chất lượng nhiệm vụ được giao
Quy định tuổi người cán bộ là để tạo mặt bằng chung, bảo đảm khả năng làm việc tốt, bảo đảm sự kế thừa và đổi mới cán bộ Tuổi đời không phải là một yếu tố quyết định phẩm chất, năng lực, trình độ, hiệu quả công việc Tuổi đời là một tiêu chí xã hội quan trọng, xác định vị trí, vai trò và uy tín xã hội của mỗi người cán bộ Người cán bộ cần có tuổi đời thích hợp với chức trách, vai trò, nhiệm vụ hiện tại đang đảm nhận, có độ “dư thừa” cần thiết để bảo đảm khả năng phát huy lâu dài, ít nhất là một nhiệm kỳ công tác
Phong cách làm việc của người cán bộ là cách thức làm việc ổn định, mang sắc thái của mỗi người Phong cách làm việc của người cán bộ phụ thuộc vào nhiều
Trang 18yếu tố: Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực, khí chất cá nhân, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, điều kiện làm việc, sinh hoạt, sự giáo dục, rèn luyện… của người cán bộ Phong cách làm việc của người cán bộ có ảnh hưởng lớn tới việc đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác Phong cách làm việc của người cán bộ gồm nhiều nội dung rất phong phú, có thể liệt kê những nội dung chủ yếu nhất: Tác phong dân chủ - tập thể; tác phong khoa học; tác phong quần chúng
Hai là, mối quan hệ của đội ngũ cán bộ với môi trường, điều kiện công tác cụ thể (với đường lối, nhiệm vụ chính trị, tổ chức và cơ chế, chính sách) Đây là những dấu hiệu đặc biệt quan trọng để nhận biết chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay Con người luôn sống và hoạt động trong hàng loạt mối quan hệ; mỗi người vừa là nhân, vừa là quả, vừa là chủ thể, vừa là đối tượng tác động của các mối quan
hệ với tự nhiên, xã hội Do vậy, khi xem xét, đánh giá người cán bộ phải đặt người cán bộ trong các mối quan hệ chủ yếu, xác định như trên, nhất là mối quan hệ của người cán bộ với cấp ủy, tổ chức đảng, đồng nghiệp và nhân dân Có như vậy, mới đánh giá được thực chất người cán bộ
Ba là, mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ (kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao của đội ngũ cán bộ) Đây là tiêu chí trung tâm, chủ yếu nhất, là dấu hiệu cụ thể nhất, rõ nhất để đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay Kết quả công tác thực tế người cán bộ bao gồm những yếu tố cụ thể sau:
- Thái độ công tác biểu hiện sự quan tâm, tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm
vụ, ảnh hưởng trực tiếp đối với cán bộ, đảng viên, nhân dân… tạo ra bầu không khí làm việc, có những biểu hiện cụ thể sau: Sự miệt mài, say sưa làm việc hàng ngày, chịu khó đi sâu nghiên cứu, học tập để thường xuyên nâng cao trình độ, khả năng, kinh nghiệm công tác, có tinh thần trách nhiệm và sự hiểu biết trong công tác, có tinh thần chủ động làm việc, có ý thức về thời gian làm việc và kỷ luật lao động,
- Khối lượng công việc biểu hiện qua: Số lượng đầu công việc đảm nhận và hoàn thành Mức độ phức tạp, quy mô, cường độ, tốc độ, thời gian làm việc,
- Hiệu suất công tác (năng suất lao động cá nhân): Thời gian và tốc độ hoàn thành công việc; mức độ vượt qua những trở ngại của bản thân và vượt lên những khó khăn của hoàn cảnh để hoàn thành công việc được giao; sự tiết kiệm những chi phí về tài chính cũng như sức người, sức của trong quá trình tiến hành công việc Bốn là, sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân (thông qua các tổ chức của hệ thống chính trị và nơi ở của cán bộ) và sự tín nhiệm của các cấp ủy, các cơ
Trang 19quan tham mưu đối với đội ngũ cán bộ Đây là dấu hiệu cơ bản, không thể thiếu khi đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay, là dấu hiệu tin cậy, chắc chắn bảo đảm đội ngũ cán bộ thật sự có chất lượng tốt Điều này góp phần giải thích tại sao trong cùng một hoàn cảnh khách quan mà nhiều nơi chất lượng người cán bộ không như nhau, thậm chí kém xa nhau
Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ như trên có quan hệ biện chứng, mật thiết với nhau, tạo thành một hệ tiêu chí thống nhất Để đánh giá đúng chất lượng đội ngũ cán bộ cần xem xét đầy đủ các tiêu chí đó, cách đánh giá phải thật sự khách quan, toàn diện và lịch sử cụ thể, vừa định lượng, vừa định tính, lấy định lượng để định tính; xem xét toàn diện, tổng hợp tất cả các yếu tố có thể đo đạc, định lượng được để định tính rõ ràng, đầy đủ chất lượng đội ngũ cán bộ
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, khóa luận đã trình bày hệ thống các khái niệm làm công cụ, như “Cán bộ”, “Cán bộ chủ chốt”, “Cán bộ chủ chốt cấp xã” và khái niệm chốt của khóa luận “Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã”; trên cơ sở đó, khóa luận phân tích những quan điểm của chủ nghĩa Mác – lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ, đặc biệt là CBCC cấp xã Từ đó, khóa luận nhấn mạnh vị trí, vai trò của cấp cơ sở cũng như vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, nhất là cán bộ chủ chốt ở cơ sở; phân tích các yếu tố cấu thành chất lượng đội ngũ CBCC cấp cơ sở và các nhân tố tác động đến chất lượng đội ngũ CBCC cấp cơ sở, hướng tới xây dựng đội ngũ CBCC cấp cơ sở “Vừa hồng”, “Vừa chuyên”, đủ đức, đủ tài để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao
Hiểu một cách tổng quát xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã toàn bộ hoạt động của chủ thể có đủ thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý, nhằm tạo ra một đội ngũ cán
bộ xã đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có lập trường chính trị vững vàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở Đồng thời còn bao hàm cả việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ xã hiện có, để đội ngũ này thích ứng với
cơ chế mới, yêu cầu mới của nhiệm vụ chính trị đang đặt ra
Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ xã nhằm tìm ra những con người thật sự
có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực đủ sức gánh vác những trọng trách của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới
Trang 20
Chương 2
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ Ở THÀNH PHỐ SƠN LA – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 Vài nét về tình hình kinh tế xã hội thành phố Sơn La
Thành phố Sơn La là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế của tỉnh Sơn La Nằm ở tọa độ 21015' - 21031' Bắc và 103045' - 104000' Đông, cách Hà Nội 302 km về phía Tây Bắc Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn Quốc
lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố Sơn La với thành phố Điện Biên Phủ và thành phố Hòa Bình
Với tổng diện tích tự nhiên 32.493 km², dân số 98.751 người, là nơi hội tụ của
12 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 53,4%; dân tộc Kinh chiếm 43%; dân tộc Mường chiếm 0,8%; dân tộc Mông chiếm 0,4%; còn lại
là các dân tộc khác như : Dao, Kháng, Khơ Mú, Hoa, Lào; Sinh Mun, La Ha chiếm 2,4%, mật độ dân số phân bố tương đối đều
Thành phố có 12 đơn vị hành chính gồm 7 phường: Quyết Tâm, Quyết Thắng,
Tô Hiệu, Chiềng Lề, Chiềng Sinh, Chiềng An, Chiềng Cơi và 5 xã gồm Chiềng Cọ, Chiềng Đen, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La Với tổng số 169 tổ, bản, tiểu khu (trong đó có: 7 bản tái định cư Thuỷ điện Sơn La mới được thành lập)
Thành phố Sơn La có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi tạo điều kiện cho thành phố trong việc lưu thông hàng hoá, trao đổi thông tin kỹ thuật, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các
tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh
Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Sơn La, sau quá trình xây dựng và phát triển, Thành phố (TP) Sơn La đã vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh, vươn lên trở thành mũi nhọn kinh tế, đóng góp tích cực cho sự phát triển toàn tỉnh Trong hoàn cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng
Được sự quan tâm ủng hộ của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh chính vì vậy thành phố Sơn La có lợi thế và điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội
Từ một thị xã nghèo phố núi khi thành lập (năm 1961), trong 54 năm qua, đặc biệt
là từ sau khi thị xã Sơn La được công nhận đô thị loại III (26/10/2008), TP Sơn La
- trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh đã bứt phá vươn lên, đạt nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực Kinh tế phát triển tương đối toàn diện, đạt tốc độ tăng trưởng khá; hiệu quả và sức cạnh tranh được nâng lên một bước
Cụ thể, giai đoạn 2010 - 2015, kinh tế của thành phố luôn duy trì tốc độ tăng
Trang 21trưởng khá Cơ cấu chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và nông nghiệp Tổng thu ngân sách trên địa bàn 5 năm đạt 2.581 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 47,2 triệu đồng/năm Huy động có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển; vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm ước đạt 11.888 tỷ đồng, tăng bình quân 13,65%/năm, gấp
2 lần so với giai đoạn 2005- 2010 Các vấn đề bức xúc xã hội được tập trung giải quyết Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và các lĩnh vực xã hội
có nhiền tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 1,11%
Nông nghiệp phát triển theo hướng phục vụ cho đô thị và công nghiệp Nhờ đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, từng bước thực hiện chủ trương liên kết giữa bốn nhà (Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp - nhà nông),
TP Sơn La đã xây dựng được nhiều mô hình hiệu quả như mô hình tưới nhỏ giọt cây cà phê theo công nghệ Israel; mô hình trồng hoa chất lượng cao, chăn nuôi dê,
gà đẻ trứng; sử dụng điện an toàn; ánh sáng bản làng, quỹ hỗ trợ nông dân Bộ mặt nông thôn đổi thay rõ nét Hiện 100% hộ gia đình có điện sinh hoạt, hơn 97,5% hộ gia đình được dùng nước sạch, hợp vệ sinh, xóa được các bản đặc biệt khó khăn…
GDP theo giá thực tế tính theo đầu người năm 2015 ước đạt 15,6 triệu đồng
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng công nghiệp xây dựng, giảm tỷ trọng công nghiệp nông – lâm, thủy sản Trong 5 năm (2010 – 2015), tỷ trọng nông, lâm, thủy sản giảm từ 50,81% xuống còn 37,4%; công nghiệp xây dựng tăng từ 15,78% lên 27,3%; dịch vụ tăng từ 33,41% lên 41,7%
Văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, công tác xóa đói giảm nghèo đạt nhiều kết quả các vấn đề xã hội bức xúc được quan tâm và tập trung giải quyết
Giáo dục và đào tạo được củng cố, các ngành học, bậc học phát triển nhanh về quy mô trường lớp, học sinh Hệ thống trường lớp từng bước được kiện toàn Toàn thành phố được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ cở năm 2007 và tiếp tục duy trì củng cố kết quả phổ cập Đến 2010, toàn thành phố có 100% số xã có trạm y tế, số giường bệnh trên 1 vạn dân, tỷ lệ y, bác sỹ không ngừng nâng cao về trình độ chuyên môn tay nghề
Về quốc phòng – an nhinh: Triển khai thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng về an ninh – quốc phòng; chú trọng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, thế trận an ninh nhân dân, kết hợp phát triển kinh tế xã hội củng cố thế trận phòng thủ đáp ứng yêu cầu bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới
An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; thường xuyên nắm chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, kịp thời xử lý các tình huống đột
Trang 22xuất về an ninh trật tự, an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo, giải quyết các điểm mâu thuẫn bức xúc trong dân
Mục tiêu tổng quát trong 5 năm (2015 – 2020), của thành phố Sơn La là đẩy mạnh phát triển kinh tế đi đôi với phát triền văn hóa – xã hội, bảo đảm môi trường sinh thái Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, hợp lý gắn với nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH – HĐH); ứng dụng tiên bộ khoa học công nghệ; tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng cơ sở Nâng cao chất lượng giáo dục, y tế tăng cường cải thiện đời sống vật chất của nhân dân, thực hiện xóa đói giảm nghèo; giữ vững ổn định xã, bảo đảm quốc phòng an ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội Tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế, đặc biệt là quan hệ hữu nghị với các tỉnh Bắc Lào
2.1.1 Đặc điểm đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở thành phố Sơn La
Thứ nhất, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở thành phố sơn la chủ yếu là người địa phương, chịu sự chi phối của các yếu tố văn hóa, xã hội ở địa phương
Đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố sơn la đa số là người địa phương, được hình thành thông qua phổ thông đầu phiếu (có trường hợp ngoại lệ bổ nhiệm) Do
đó, mọi hoạt động của đội ngũ này luôn chịu sự chi phối của các yếu tố văn hóa, xã hội địa phương
Đội ngũ CBCC cấp xã được hình thành trực tiếp từ việc lựa chọn của quần chúng Địa phương nào có trình độ kinh tế phát triển trên nền văn hóa công dân cao thì có khả năng cố một chính quyền vận hành tốt, người những người lãnh đạo
và quản lý trung thực, có nhiệt huyết, có năng lực và đặc biệt là họ được sự tin tưởng của cộng đồng làng xã Ngược lại, trong một môi trường văn hóa xã hội công dân yếu, bộ máy chính quyền hoạt động sẽ thiếu tính dân chủ và hiệu quả thấp, đội ngũ cán bộ này sẽ chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa, tâm lý, cư dân làng
xã, phong tục tập quán Ở nhiều địa phương, yếu tố này phổ biến tình trạng “Chi
bộ họ ta”, tình trạng thành viên cấp ủy được bỏ phiếu theo dòng họ, theo phe cánh, theo làng vẫn còn Quan hệ anh chị em, chú bác trong Đảng ủy, giữa các chi bộ xã
la không hiếm
Có khi vì quan hệ họ hàng mà nể nang, né tránh đấu tranh; ngược lại, có khi
vì quan hệ dòng họ mà đấu tranh phe cánh kịch liệt, vượt quá mức cần thiết, dẫn đến làm tê liệt tổ chức Đảng Vì vây, nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của các tổ chức Đảng ở cơ sở là vấn đề có tính cấp thiết Hoạt động trong môi trường
đó đòi hỏi người lãnh đạo phải uyển chuyển, ý thức được vai trò trách nhiệm của mình khi ứng xử với các mối quan hệ phức tạp
Thứ hai, đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố sơn la còn số ít chưa được đào tạo bài bản về tính chuyên môn, chuyên nghiệp, trình độ học vấn còn thấp
Đội ngũ CBCC cấp xã làm việc theo nhiệm kỳ, do đó tính ổn định về nghề nghiệp chưa cao, chức trách thường thay đổi qua mỗi kỳ bầu cử, tue tưởng không
Trang 23yên tâm Cũng vì tính không chuyên nghiệp nên họ ít được đào tạo khó tổ chức lớp đào tạo cho đối tượng này một cách lâu dài và cơ bản Trong thực tế, việc đào tạo
và bồi dưỡng đội ngũ này bị quy định khắt khe về nhiều yếu tố: Nguồn ngân sách, quan niệm, tâm lý, điều kiện, hoàn cảnh gia đình
Thứ ba, phạm vi, đối tượng tác động, và phương thức hoạt động của đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La là rộng, đa dạng và phưc tạp
Phạm vi tác động của đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La có địa bàn hoạt động khá rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, biểu hiện trên các mặt của đời sống Đối tượng tác động của họ trên địa bàn cơ sở là khối quần chúng đông đảo, phức tạp và không thuần nhất (nhiều giai cấp, tầng lớp, dân tộc, ) Đối tượng lãnh đạo, quản lý của đội ngũ CBCC cấp xã rất đa dạng, phong phú có những nét đặc thù truyền thống cách mạng, kiên cường, bất khuất, năng động, sáng tạo, một lòng, một dạ đi theo Đảng
Thứ tư, đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La có thể phải đương đầu trực tiếp với các tình huống rất đa dạng và phức tạp ở cơ sở xã
Cơ sở là nơi chính quyền sống trong lòng dân, vì vậy, đội ngũ CBCC cấp xã luôn luôn phải tiếp xúc, giải quyết những mâu thuẫn, tình huống xảy ra từng ngày
ở cơ sở Tình huống được nảy sinh do nhiều nguyên nhân, khách quan, chủ quan
có, tựu chung lại đó là những đòi hỏi của người dân về cong bằng dân chủ, về thực hiện pháp luật và cách đối xử của chính quyền giữa cán bộ với dân, những biểu hiện sai trái vi phạm quyền làm chủ của dân Những tình huống đó đã làm tổ hại đến lợi ích của dân làm họ bất bình và phản ứng Đôi khi những phản ứng dẫn tới
sự bất ổn định ở địa phương, làm suy yếu cơ sở, suy yếu lòng tin của dân với chính quyền, với Đảng, suy yếu khối đại đoàn kết
Đặc điểm này cho thấy, nếu người CBCC cấp xã không đủ trình độ, trí tuệ, năng lực, không công tâm sẽ mất vai trò lãnh đạo và quản lý, sẽ xuất hiện những điểm nóng và làm suy yếu nguồn lực quan trọng của xa hội đó là nguồn lực con người
Thứ năm, đạo đức tác phong, sự gương mẫu của người CBCC cấp xã có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng
Trước hết của người CBCC cấp xã là tấn gương về đạo đức và ngược lại Sự thất bại đầu tiên ở các xã là sự thoái hóa về đạo đức, lối sống Người dân ở cơ sở một lòng tin với Đảng, với chế độ bắt đầu từ cách nhìn đối với người cán bộ cơ sở
- chính diện – phản diện Với tư cách là người đứng đầu, giữ các vị trí trọng trách trong các tổ chức của HTCT trong các xã, người CBCVC xã không chỉ tiêu biểu về trí tuệ mà còn là người thể hện về chuẩn mực đạo đức cách mạng trong sáng, đây
là môt phương diện cơ bản của người CBCC cấp xã lãnh đạo bằng sự gương mẫu Người CBCC cấp xã luôn chịu sự gián sát của quần chúng nhân dân, người dân tin
ở sự lãnh đạo của Đảng, ở chính quyền thông qua sự nhìn nhận về đạo đức, nhân cách, tác phong, sự gương mẫu của họ Đặc điểm này cho thấy muốn phát huy
Trang 24được vai trò của mình, người CBCC xã nhất thiết phải là tấn gương sáng trong tổ chức, trong các đoàn thể Muốn hướng về dân và lãnh đạo thì người cán bộ “Đầu nghĩ, miệng nói, tay làm, tay lắm nghe” Đạo đức cách mạng, sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của người CBCC các xã không chỉ là tấn gương trong sáng cho người dân tin cậy và noi theo mà quan trọng hơn, họ nói dân nghe, dân tin và làm theo họ, lúc đó sẽ tạo thành một lực lượng thống nhất có khả năng tháo gỡ được mọi khó khăn tạo nên sự ổn định bền vững của chính quyền cơ sở Đặc điểm này luôn đặt người CBCC cấp xã vào cuộc đấu tranh giằng co giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái thiện và cái ác, giữa cái đúng và cái sai, giữa phần tốt và phần xấu trong con người của họ trước những tấc động ngoại cảnh Trong cuộc đấu tranh đó, người CBCC các xã có thể ngày càng lớn lên cùng với sự phát triển ở địa phương cùng với phong trào của quần chúng, nhưng cũng có thể bị đào thải nếu không vượt qua mọi sự cám dỗ hoặc bị quyền lực làm tha hóa mà dẫn đến thất bại
2.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở thành phố Sơn La hiện nay
2.2.1 Về số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ chủ chốt
Thành phố Sơn La có tổng 12 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 07 Phường và
05 xã Tổng số cán bộ chủ chốt cấp xã (tương ứng với các chức danh theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ) trên địa bàn có 117 người
Về cơ cấu, giới tính: Cơ cấu CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La càng được đổi
mới theo hướng tăng cường nữ, tuy nhiên tỷ lệ nam giới chiếm 68,4%, nữ giới chiếm tỷ lệ 31,6%; trong đó cán bộ cấp xã tập trung ở chức danh Chủ tịch Hội phụ
nữ chiếm tỷ lệ 100%
Số lượng phụ nữ giữ chức danh Bí thư là 2 đồng chí (chiếm 16,7%), Phó Bí thư 6 đồng chí (chiến 50%), Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân 4 đồng chí (chiếm 33,3%), Chủ tịch ủy ban nhân dân 1 đồng chí (chiếm 8,3%), Phó chủ tịch ủy ban nhân dân 1 đồng chí (chiếm 8,3%), Chủ tịch MTTQVN 4 đồng chí (chiếm 33,3%),
Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 5 đồng chí (chiếm 41,7%), Chủ tịch Hội nông dân 2 đồng chí (chiếm 16,7%), các chức danh khác không có nữ giới
Như vậy, tỷ lệ cơ cấu cán bộ nữ của đội ngũ CBCC cấp xã là thấp so với cán
bộ nữ trong cơ cấu dân cư Thực tế này phản ánh năng lực, trình độ cán bộ nữ còn thấp, chưa đảm bảo tiêu chuẩn để cấp trên giao nhiệm vụ, đồng thời phản ánh công tác chăm lo đào tạo, tạo nguồn cán bộ yếu và thiếu Hơn nữa do điều kiện kinh tế của một số dân tộc ở thành phố, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, công việc gia đình, việc lo cơm ăn, áo mặc hàng ngày đè nặng lên ngôi vai người phụ nữ, do đó, họ ít có cơ hội được học tập, đào tạo, nâng cao trình độ nhận thức; họ còn e ngại tham gia các hoạt động xã hội và phải dành nhiều thời gian chăm lo tới cuộc sống gia đình Mặt khác,, quan niệm trọng nam khinh nữ không
Trang 25chỉ còn ảnh hưởng trong tâm lý của các dân tộc Do vậy, phụ nữ ít có điều kiện tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội
Bảng 2.1 Số lượng và cơ cấu CBCC năm 2017
Cán bộ chủ chốt cấp xã (người)
Ghi chú Năm 2017
Số người 117
(Nguồn Phòng Nội vụ thành phố Sơn La 2017)
Cơ cấu cán bộ theo độ tuổi:
Trong tổng 117 cán bộ chủ chốt của các xã, phường ở thành phố Sơn La:
+ Độ tuổi dưới 30: có 5 người, chiếm tỷ lệ 4,3%;
+ Độ tuổi từ 30 dưới 45: có 42 người chiếm tỷ lệ 35,9%;
+ Độ tuổi từ 45 dưới 55 có 43 người chiếm tỷ lệ 36,8%;
+ Độ tuổi từ 55 đến 60 có 23 người chiếm tỷ lệ 19,7%;
+ Độ tuổi trên 60 có 4 người chiếm tỷ lệ 3,4%
Như vậy, nhóm cán bộ cấp xã có độ tuổi từ 45 dưới 55 chiếm tỷ lệ cao nhất, song là nhóm có độ tuổi từ 30 dưới 45; nhóm cán bộ cấp xã có độ tuổi trên 60 ở mức thấp, những người trong độ tuổi này chỉ tập trung ở các đối tượng như Chủ tịch Hội cựu chiến binh chiếm 36,4%
Qua bảng số liệu trên cũng cho thấy số lượng cán bộ trên 45 tuổi vẫn còn quá nhiều chiếm 36,8% Điều này chứng minh, việc trẻ hóa cán bộ cấp xã, nhất là CBCC chưa được chú trọng, vì vậy cần có giải pháp đào tạo, bồi dưỡng khuyến khích động viên cán bộ trẻ để có nguồn kế cận sau này
Bảng 2.2 Tỷ lệ cán bộ chủ chốt cấp xã phân theo độ tuổi
Tỷ
lệ
Số lượn
g
Tỷ
lệ
Số lượ
ng
Tỷ
lệ
Số lượng
Tỷ
lệ
Số lượng
Trang 26(Nguồn Phòng Nội Vụ thành phố Sơn La 2017)
Bảng 2.3 Tỷ lệ cán bộ chủ chốt phân theo giới tính
Trong đó
Nam (Người)
Tỷ lệ (%)
Nữ (Người)
Tỷ lệ (%)
Đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La hầu hết đều được rèn luyện, thử
thách trưởng thành từ các phong trào quần chúng ở địa phương, trong thực tiễn
công tác và thực tiễn xây dựng kinh tế, đặc biệt đã trải qua hơn 30 năm của công
cuộc đổi mới đất nước Đứng trước những biến động phức tạp của tình hình khu
vực và thế giới, những khó khăn về kinh tế của đất nước, đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã vấn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu XHCN, có
Trang 27tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo; tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Qua thực tế chứng minh đội ngũ CBCC cấp xã
ở thành phố Sơn La có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, luôn tìm tòi suy nghĩ và quyết tâm thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, thật sự là nòng cốt trong các tổ chức của hệ thống chính trị ở cấp xã Những thành tựu đạt được về kinh tế, chính trị, văn hóa –
xã hội ở địa bàn các xã, phường ở thành phố Sơn La trong những năm gần đây là
sự đóng góp không nhỏ công sức trí tuệ của đội ngũ CBCC cấp xã Điều đó chứng
tỏ bản lĩnh chính trị vững vàng của họ
Tuy nhiên, vẫn còn một số cán bộ, thiếu tu dưỡng, rèn luyện trau dồi về yw tưởng chính trị, nhất là việc tìm tòi học hỏi, nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên Mặt khác, do trình độ nhận thức hạn chế cho nên một số cán bộ không giữ đúng cương vị của người lãnh đạo mà còn theo đuổi quần chúng, bị quần chúng lợi dụng Ngoài ra, còn một bộ phận khác mất cảnh giác trước âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch trong và ngoài nước
Về phẩm chất đạo đức, lối sống:
Trong điều kiện cuộc sống còn có những khó khăn và đứng trước tác động của mặt trái cơ chế thị trường hầu hết đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La vẫn giữ được phẩm chất đạo đức cách mạng, có lối sống trong sáng giản dị, lành mạnh, gương mẫu trên mọi lĩnh vực, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, biết đoàn kết nội bộ và gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm Kết quả tổng kết công tác xây dựng Đảng từ 2015 đến nay cho thấy, tổ chức cơ sở Đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh bình quân tăng hàng năm Việc quản lý nâng cao chất lượng đảng viên được các cấp ủy Đảng luôn luôn coi trọng Việc duy trì sinh hoạt Đảng ở các đơn vị cơ bản thực hiện tốt Công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng đã được các cấp ủy Đảng chỉ đạo chặt chẽ, nhất là những đợt sinh hoạt chính trị kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một
số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” Qua kểm điểm tự phê bình và phê bình đã có sự chuyển biến tích cực ở nhiều mặt, nguyên tắc tổ chức của Đảng được
đề cao; ý thức trách nhiệm, lề lối làm việc được chấn chỉnh một bước đáng kể; mối quan hệ công tác giữa cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các Đoàn thể được duy trì thực hiện tốt theo quy chế
Nhiều đồng chí đặt lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên lợi ích của bản thân, của gia đình, thật sự “ Là người đầy tớ trung thành của nhân dân” Mặt khác,
họ luôn luôn là những người tích cực nhất trong việc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các mặt tiêu cực khác nảy sinh trong đơn vị, địa phương cũng như ngoài xã hội
Song, vẫn còn một số cán bộ có biểu hiện sa sút về phẩm chất, đạo đức,lối sống, tinh thần trách nhiệm chưa cao trong công việc, chưa thực sự tiên phong
Trang 28gương mẫu trong việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, gây mất đoàn kết nội bộ Một số ít đồng chí vì lợi ích cá nhân và gia đình vi phạm trong quản lý kinh tế, quản lý đất đai và nhiều vấn đề kinh tế, tài chính khác
2.2.3 Về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, tin học và ngoại ngữ
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Chưa Sơ cấp Trung Cao Đại học
Trang 29qua đào tạo
bộ và công tác nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã thành phố Sơn La
Qua số liệu trên cho thấy, trình độ chuyên môn của đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La đáp ứng được sự nghiệp CNH – HĐH và sự nghiệp đổi mới của đất nước và các nhiệm vụ chính trị trên địa bàn các xã thuộc thành phố
Trang 30độ trung cấp chính trị, 18,2% có trình độ sơ cấp chính trị, 18,2% chưa qua đào tạo
Như vậy, có thể khẳng định trình độ lý luận chính trị của đội CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La hiện nay khá khả quan, đây là một trong những khâu quan trọng nhất nhằm củng củng cố niềm tin, giữ vững lập trường, quan điểm cách mạng, nâng cao bản lĩnh, uy tín chính chị nhằm đảm bảo thực hiện đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quy tụ tập hợp, dẫn dắt quần chúng trong các phong trào thi đua hành động cách mạng, thực hiện có hiệu quả mọi nhiệm vụ được giao trong tình hình mới
Về trình độ quản lý Nhà nước:
Theo thống kê của Ban tổ chức thành phố Sơn La hiện nay có 85 người được bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính Nhà nước chiếm tỷ lệ 72,6%; số người chưa được bồi dưỡng là 32 chiếm tỷ lệ 27,4% Như vậy, số lượng đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố được bồi dưỡng kiến thứ quản lý Nhà nước nhiều hơn so với số lượng chưa được bồi dưỡng, tuy nhiên số lượng chưa được bồi dưỡng chỉ tập trung vào nhóm cán bộ Đoàn thể Đây là một thành tựu quan trọng mà trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã có sự quan tâm tích cực đối với đội ngũ CBCC nói chung đặc biệt đội ngũ CBCC cấp xã nói riêng mà trong đó có đội ngũ CBCC cấp xã ở thành phố Sơn La Hiện nay, đã có nhiều chương trình, dự án của
Trang 31Nhà nước đầu tư, và các xã được giao trực tiếp là chủ đầu tư, kiểm tra, giám sát công trình Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ CBCC các xã vẫn chưa đáp ứng đủ trình
độ, năng lực để quản lý các dự án mà Đảng, Nhà nước đầu tư vào
Bảng 2.7 Số cán bộ đã tham gia bồi dưỡng kiến tức quản lý Nhà nước
Số lượng (Người)