1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

NGHIÊN CỨU CHỌN LỌC CÂY KEO LÁ LIỀM LÀM VẬT LIỆU ĐỂ NHÂN GIỐNG CHO TỈNH QUẢNG TRỊ

80 147 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 4,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, đã có rất nhiều loài cây được đưa vào gây trồng, song theo một số nghiên cứu của Viên Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam cho thấy trong các loại cây gỗ mọc nhanh có thể gâ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

KHOA LÂM NGHIỆP

Lớp : Lâm Nghiệp 43, Huế Khoá học : 2009- 2013

Bộ môn: Lâm sinh

HUẾ - 2013

Trang 2

2

LỜI CẢM ƠN

Đề tài “Nghiên cứu chọn lọc cây Keo lá liềm làm vật liệu để nhân giống cho tỉnh Quảng Trị” được hoàn thành theo chương trình đào tạo kỹ sư lâm nghiệp khoá 43 trường Đại học Nông lâm Huế giai đoạn 2009 - 2013

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Huế, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp cùng các thầy cô giáo trong nhà trường

đã dạy bảo, giúp đỡ và tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập tại trường

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đặng Thái Dương, NCS Ths Nguyễn Thị Liệu người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu, chỉ bảo cho em trong quá trình thực tập và hoàn thành chuyên đề này

Xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Thông tin Thư viện - Trường Đại học Nông lâm Huế; bộ phận Thông tin tư liệu - Phòng Kế hoạch Khoa học Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ đã cung cấp cho em nhiều tài liệu cần thiết phục vụ cho đề tài này Xin gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ UBND xã Triệu Trạch - Triệu Phong, Gio Thành - Gio Linh, Cam Hiếu - Cam Lộ; đặc biệt

là những người đã trực tiếp giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu ngoài hiện trường

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực và cố gắng, song do hạn chế về mặt thời gian

và điều kiện nghiên cứu nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, cùng toàn thể các bạn để đề tài trở thành một tài liệu hữu ích trong nghiên cứu khoa học cũng như sử dụng cho thực tiễn

Huế, ngày 19 tháng 05 năm 2013

Sinh viên thực hiện

Trần Anh Trung

Trang 3

3

DANH MỤC CÁC CHỬ VIẾT TẮT DÙNG TRONG BÁO CÁO

1 D 1.3 Đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m

Trang 4

4

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ DÙNG TRONG BÁO CÁO

Hình 4.1 Vị trí địa lý tỉnh Quảng Trị 26

Hình 4.2 Địa hình tỉnh Quảng Trị 26

Hình 4.3 Thực bì vùng đất đồi 37

Hình 4.4: Cách bố trí cây trồng trong trồng rừng thuần loài 54

Hình 4.5 Hình ảnh thảm thực bì vùng cát 63

Hình 4.6 Hình ảnh thảm thực bì vùng đồi núi 63

Hình 4.7 Khu vực nghiên cứu 64

Hình 4.8 Hình ảnh 6 cây vƣợ trội đƣợc chọn 65

Hình 4.9 Đo đếm lấy số liệu 66

Hình 4.10 Hoa keo lá liềm 66

Trang 5

5

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG BÁO CÁO

Bảng 1 Tiêu chí, thang điểm lựa chọn cây trội 20

Bảng 4.1 Đặc điểm hình thái phẫu diện đất 35

Bảng 4.2 Tính chất lý học cơ bản của phẫu diện 36

Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu hoá học cơ bản của phẫu diện 36

Bảng 4.4 Cation trao đổi trong các tầng đất của phẫu diện 36

Bảng 4.5 Số liệu phân tích lý, hoá học phẫu diện 38

Bảng 4.7 Đặc điểm sinh trưởng đường kính keo lá liềm 40

Bảng 4.6 Vị trí, diện tích, năm trồng rừng keo lá liềm tỉnh quảng trị 39

Bảng 4.8 Đặc điểm sinh trưởng chiều cao keo lá liềm 40

Bảng 4.9 Đặc điểm sinh trưởng đường kính tán keo lá liềm 41

Bảng 4.10 Sinh trưởng đường kính D1 3(cm) của các rừng keo trồng ở các vùng khác nhau 42

Bảng 4.11 So sánh sinh trưởng H1 3(m) 42

Bảng 4.12 So sánh sinh trưởng D T(m) 43

Bảng 4.13 Số liệu đo đếm sinh trưởng và chọn lọc cây trội trong ô tiêu chuẩn vùng đất đồi núi Huyện Cam Lộ 44

Bảng 4.14 Số liệu đo đếm sinh trưởng và chọn lọc cây trội trong ô tiêu chuẩn vùng đất cát Huyện Gio Linh 46

Bảng 4.15 Số liệu đo đếm sinh trưởng và chọn lọc cây trội trong ô tiêu chuẩn vùng đất cát Huyện Triệu Phong 48

Bảng 4.16 Mức độ tổn thương lá do nhiệt độ của 10 dòng keo lưỡi liềm 50

Bảng 4.17 Cường độ thoát hơi nước của 10 cây trội keo lưỡi liềm 51

Bảng 4.18 Khả năng giữ nước và phục hồi sức trương của lá: (% so với lượng nước trong lá) 51

Bảng 4.19 Kết quả cây trội đã lựa chọn tại khu vực nghiên cứu 52

Trang 6

6

Phần I ĐẶT VẤN ĐỀ

Vào những năm 40 của thế kỷ XX, diện tích rừng nước ta có khoảng 14,3 triệu ha, độ che phủ của rừng đạt khoảng 43% do áp lực của dân số ngày càng tăng cùng với việc khai thác sử dụng rừng không bền vững, nên diện tích rừng nước ta ngày càng bị thu hẹp Đặc biệt, giai đoạn từ 1990 – 1995, tổng diện tích rừng chỉ còn hơn 9 triệu ha, độ che phủ của rừng còn khoảng gần 28% đất trống đồi núi trọc cao nhất là 11,768 triệu ha chiếm khoảng 35,7% tổng diện tích tự nhiên Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của chính phủ nên diện tích rừng cũng như độ che phủ của rừng ở nước ta đã tăng lên đáng kể Theo số liệu thống kê của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đến hết năm 2011 thì diện tích đất có rừng đã đạt 13.118.773ha, độ che phủ đạt 38,7% Hơn nữa, ước tính mỗi năm có khoảng 20ha đất canh tác nông nghiệp bị lấn bởi các đụn cát di động và nhiều diện tích cát này đã và đang bị sa mạc hóa Để ngăn chặn, chống

sa mạc hóa tiến đến cải tạo và sử dụng có hiệu quả đất cát ven biển miền trung, thì trồng rừng phủ xanh được xem là biện pháp tốt nhất

Rừng trồng có tác dụng hạn chế và ngăn chặn sự di động của cát, dần dần tạo ra quá trình chuyển hóa sinh học, cải thiện điều kiện vi khí hậu… là chìa khóa cơ bản quyết định sự thành công một cách bền vững của tất cả các biện pháp cải tạo tiếp theo Trong những năm qua, đã có rất nhiều loài cây được đưa vào gây trồng, song theo một số nghiên cứu của Viên Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam cho thấy trong các loại cây gỗ mọc nhanh có thể gây trồng trên vùng đất cát nước ta gồm: Keo lá tràm, keo tai tượng, keo lá liềm, phi lao, các loại keo chịu hạn… bước đầu qua đánh giá thì cây keo lá liềm là loài có khả năng

sinh trưởng tốt trên vùng đất cát ven biển miền Trung Theo tác giả Nguyễn Thị Liệu – Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ: “Qua điều tra tập đoàn

cây trồng rừng chủ yếu trên đất cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ đã xác định Keo lá liềm là loài cây có triển vọng nhất Đây là loài cây có khả năng thích nghi trong điều kiện khắc nghiệt của đất cát nội đồng, có khả năng sinh trưởng

Trang 7

7

tốt trên cát nội đồng úng ngập khi được lên líp, vừa thích hợp trong điều kiện cát bay cục bộ nhờ bộ rễ đặc biệt phát triển”

Keo lá liềm (Keo lưỡi liềm, Keo lá liềm, Keo lưỡi mác) có tên khoa học là

Acacia crassicarpa A Cunn Ex Benth, thuộc họ trinh nữ (Mimosaceae), Bộ Đậu (Legumimosa) Cây thân gỗ có thể biến dạng từ thân bụi đến thân gỗ lớn

tùy môi trường sống Nơi nguyên sản tại các đụn cát ven biển (Australia) là cây thân bụi cao 2 – 3m, nhưng bình thường cao 5 – 20m, nơi thích hợp có thể cao tới 30m, đường kính thân ít khi to quá 50cm, thân cây thẳng, nhiều cành nhánh,

vỏ màu sẫm hay nâu xám, nhiều vết nứt sâu Rễ phát triển mạnh, có nhiều vi khuẩn cố định đạm cộng sinh nên vừa có tắc dụng bảo vệ và cải tạo đất tốt, đặc biệt là các vùng cát trắng ven biển Lá dày và cứng có thể chịu được gió, va đập của cát bay…

Keo lá liềm được đưa vào gây trồng ở nước ta vào khoảng năm 1993, hiện nay là loài cây được nhiều địa phương ưu tiên chọn là cây trồng lâm nghiệp chính cho vùng cát Tuy nhiên, việc nghiên cứu chọn tạo, cải thiện giống, tạo ra giống có tính chống chịu, thích ứng ngày càng cao với điều kiện vùng cát ven biểm miềm Trung, có khả năng sinh trưởng nhanh, tạo sinh khối lớn, hiệu quả kinh tế cao phục vụ cho việc phủ xanh vùng cát ven biển còn quá ít Một số nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc khảo nghiệm xuất xứ với kết quả chọn được

ba xuất xứ Mala, Periden, Dimisisi cho phép đưa vào gây trồng (theo quyết định

số 13/2005/QĐ-BNN ngày 15 tháng 3 năm 2005 của Bộ Nông Nghiệp Và PTNT) Hơn nữa, cây giống đưa vào trồng rừng hiện nay là cây gieo ươm từ hạt

với nguồn hạt một phần được thu hái ở rừng giống chuyển hóa, một phần không

có nguồn gốc nên chất lượng rừng trồng chưa cao

Hiện nay một số nước có nền lâm nghiệp tiên tiến đã tạo được năng suất rừng trồng 40-50m3/ha/năm trên diên rộng, có nơi đạt năng suất 60-70m3/ha/năm Gần đây, với việc đưa một số giống keo lai và bạch đàn cao sản vào sản xuất, một số nơi đã đạt năng suất rừng trồng 30-40m3/ha/năm, mở ra triển vọng mới cho công tác giống và trồng rừng sản xuất ở nước ta Cùng với đưa giống vào sản xuât là việc áp dụng công nghệ nhân giống hom có quy mô

Trang 8

8

hàng trăm ngàn cây/năm ở nhiều lâm trường và hợp tác xã Nhiều cơ sở nhân giống bằng nuôi cấy mô cũng ra đời, góp phần vào việc đưa nhanh các giống mới có năng suất cao vào sản xuất

Giống là một trong những khâu quan trọng nhất trong công tác trồng rừng, đặc biệt là rừng trồng sản xuất không có giống được cải thiện theo mục đích kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng trồng lên cao Theo Davison (1996) thì giống được cải thiện có thể chiếm đến 50-60% năng suất rừng trồng Vì thế, cải thiện giống cây rừng nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác là một yêu cầu cấp bách đối với sản xuất lâm nghiệp ở nước ta

Kết hợp sử dụng giống có chất lượn di truyền được cải thiện với việc trồng đúng lập địa và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thịch hợp là những biện pháp tổng hợp để tăng năng suất rừng ở nước ta Mặt khác bảo tồn nguồn gen cây rừng là một khâu không thể thiếu để tạo cơ sở vững chắc cho công tác cải thiện giống lâu dài ở nước ta

Thành tựu về cải thiện giống trong những năm gần đây vừa là sự áp dụng những thành tựu mới của các nước khác vừa là sự kế thừa những nghiên cứu đã xây dựng trước đây mà đến nay mới có thể thấy rõ kết quả

Trong những năm gần đây công tác trồng rừng keo trên đất cát đã và đang được nhiều cơ quan chức năng quan tâm đầu tư Trên thực tế diện tích rừng trồng trên cát những năm gần đây đã tăng đáng kể Tuy nhiên, hiệu quả của rừng trồng chưa được cao Để giâm hom cây keo lá liềm ở rừng trồng trên vùng cát là việc làm cấp thiết, tạo cơ sở cho việc khảo nghiệm, xây dựng các rừng giống, vườn giống phục vụ công tác trồng rừng, đặc biệt là phủ xanh vùng cát ven biển tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế

Xuất phát từ thực tế trên, đề tài: “Nghiên cứu chọn lọc cây Keo lá liềm làm vật liệu để nhân giống cho tỉnh Quảng Trị” đặt ra là rất cần thiết, có ý nghĩa

về cả lý luận và thực tiễn

Trang 9

9

Phần II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU2.1 Trên thế giới

Keo lá liềm (Acacia crassicarpa)thuộc họ Đậu (Fabaceae), bộ Đậu (Legumimosa) Tên thường gọi Keo lưỡi liềm, Keo lưỡi mác

Tên tiếng Anh: Northern Wallle, Papua New Guinea: Red Wattle, tên khác Akasia Cook Islands

Mô tả và đặc tính phân loại: Tập tính của Keo lá liềm thay đổi theo điều

kiện tự nhiên Ở Papua New Guinea và Irian Jaya, nó phân bố điển hình trong rừng thưa và các trảng cây gỗ, bên lề của những vùng cạn nước Chúng thường

là những cây gỗ nhỏ đến trung bình (cao khoảng 10-15m), với thân thẳng và tán

lá nhiều cành nhánh nặng Trong những điều kiện thuận lợi hơn, chúng thường tìm thấy trong những rừng mưa tái sinh, chúng phát triển đến chiều cao 25-30m, thân cây thẳng, đường kích cực đại có thể đến 55-60cm Ở phía bắc Queensland, Keo lưỡi liềm đặc trưng bởi thân cây ngắn và nhỏ, cành nhánh nặng, chiều cao

từ 6-15m, đường kính thân cực đại khoảng 40-45cm Trong những khu vực rừng trồng, chúng có thể được xác định theo nhiều dạng cấu trúc Cây trồng ở Papua New Guinea có thể có từ dạng thân đơn, mảnh khảnh đến thân ngoằn ngèo, khủng khuỷu với nhiều cành nhánh thứ cấp Cây trồng ở bắc Queensland thường không có ưu thế nổi trội, biểu hiện ở nhiều dạng thân khác nhau, hoặc đôi khi cành nhánh mọc ngang sát mặt đất [14]

Keo lá liềm có lá màu xanh bạc, lá công hình lưỡi liềm, dài 11-20cm Hoa thường năm cánh, cánh mỏng Quả lớn hình chữ nhật, phẳng, cứng, dày, chiều dài 5,0-7,5cm, chiều rộng 2-2,5cm (Bentham & Mueller, 1864) [13]

Phân bố tự nhiên và vùng sinh thái: Keo lá liềm phân bố dọc theo bờ

biển, hướng đông bắc của Australia, từ gần Townsville tới phần chóp của bán đảo Cape York phía bắc của Queensland Ở các tỉnh miền tây Papua New Guinea loài này phân bố rộng rãi chủ yếu ở khu vực phía nam của sông Fly, gần Wasua-Duaba Ngoài ra chúng còn phân bố đến những khu vực lân cận phía

Trang 10

10

đông bắc của Irian Jaya (Indonesia), và tập trung nhiều giữa Merauke và Erambu Chúng phân bố từ vĩ độ 80N đến 200N và ở độ cao dưới 450m so với mực nước biển [14]

Khả năng thích nghi: Keo lá liềm có thể thích nghi với môi trường axid

mạnh (pH 3,5-6) và đất cát podzol cằn cỗi, như dạng đất bị úng nước trong suốt mùa mưa và khô hạn trong suốt mùa khô Mặc dù vậy, mật độ nên trồng thưa để giảm sự cạnh tranh và áp lực về giới hạn độ ẩm ở những khu rừng trồng có điều kiện khó khăn, đặc biệt ở những vùng có lượng mưa hàng năm thấp [14]

Một số nghiên cứu cho thấy cây từ Mata (PNG) đã thích nghi với đất kiềm nhẹ ở Đông Timor, Indonesia Trong khi đó, cây từ Coen (Qld) lại khó tồn tại (McKinnell & Harisetijono, 1991) Cây có nguồn gốc PNG rất dễ bị uốn

cong và gẫy bởi gió lốc (Minquan et al 1989, Casey 1993, Thomson 1993), và

không thích hợp với việc trồng dọc bờ biển ở những khu vực thường xuyên có gió thổi mạnh Cây có nguồn gốc bắc Queensland chịu đựng gió lốc tốt hơn nhưng sinh trưởng chậm Keo lá liềm có thể chịu được mùa khô kéo dài 6 tháng, nhiệt độ tối thiểu từ 15-220C và nhiệt độ tối đa từ 31-340C [15]

Nhân giống: Đây là loài được nhân giống từ hạt (35.000-50.000 hạt/kg)

Việc xử lý hạt được đề xuất bao gồm ngâm hạt vào nước sôi (100oC) từ 1-2 phút), hoặc giội qua nước sôi (khối lượng nước gấp 10 lần khối lượng hạt) Cây non sinh trưởng nhanh, giai đoạn cây non khoảng 3 tháng tuổi đem trồng là thích hợp Ngoài ra có thể nhân giống thành công bằng chiết cành non (khi cây trên 3 tuổi) Việc chiết cành cho việc nhân giống bị ảnh hưởng bởi tuổi của mẫu Phương pháp sau đây được phát triển cho việc chiết cành ở Riam Kiwa, Nam Kalimantan, Indonesia Việc chiết cành được thực hiện khi bắt đầu mùa mưa trên những cành khoẻ (xấp xỉ 2.5cm đường kính), khoảng 30 cm tính từ thân cây, gần 1/3 phía trên của tán cây Bóc đi toàn bộ phần vỏ dài khoảng 2.5cm Bọc phần vừa cắt với chất dinh dưỡng được gói trong than bùn ẩm hoặc xơ dừa, buộc chặt bên ngoài, kín 2 đầu bằng vải nhựa sạch (khoảng 12.5 x 3 cm) Rễ sẽ mọc trong khoảng 40-50 ngày, tỉ lệ thành công khoảng 95% Cành chiết được cắt ở phía dưới của điểm ra rễ, tỉa bớt cành non và đặt vào rêu than bùn ẩm

Trang 11

11

Trước tiên, cành chiết được nuôi cho cứng cáp trong nhà có mái che (khoảng 1-2 tháng), rồi sau đem ra trồng Gần đây công nghệ nhân giống CFF (Clonal Family Foresttry) đã được phát triển và áp dụng thành công cho Keo lá liềm tại Indonesia giải quyết các vấn đề già hoá sớm vật liệu nhân giống ở các loài keo Nhân giống mô từ cuống lá Keo lá liềm bước đầu đã được nghiên cứu bằng việc

sử dụng môi trường MS cải tiến cụ thể như sau: bổ xung

1-phenyl-3-(thiadiazol-5-yl) urea (thidiazuron) (TDZ) and α-naphthaleneacetic acid (NAA) để tạo mô

sẹo; bổ xung 0.5 mg l−1 TDZ and 0.5 mg l−1 NAA đã tạo chồi bất định; bổ xung 0.1 mg l−1 TDZ để kéo dài chồi; và môi trường ½ MS bổ xung 0.5 mg l−1 3-indolebutyric acid (IBA) để ra rễ [12]

Sinh trưởng: Keo lá liềm có nguồn gốc PNG sinh trưởng nhanh trên

những khu vực thuận lợi trong 4 năm đầu Ở Sai Thong (Thái Lan), cây có nguồn gốc PNG đạt chiều cao 12.8-14.8m và đường kính 13.2- 14.9 cm trong 3 năm (Harwood, 1991) [16] Trong khi đó, cây có nguồn gốc bắc Queensland (Shoteel) đạt được chiều cao 10.5m và đường kính 9.9cm, ít hơn 50% khối lượng gỗ so với cây có nguồn gốc từ PNG Cây trồng sinh trưởng kém hơn ở Sakaret (Thái Lan), ví dụ cây từ Woroi-Wipim (PNG) đạt được 9.7m chiều cao

và 8.7cm đường kính Tuy nhiên, trong thử nghiệm này khối lượng sản phẩm thân cây khô của xuất xứ này cũng đã được đo đếm và đạt khoảng 84tấn/ha trong vòng 5 năm (Kiratiprayoon & Williams, 1991), tương đương với mức sinh trưởng 34m3/ha/năm Ở đảo Hải Nam (Trung Quốc), cây của 4 xuất xứ PNG đều sinh trưởng chiều cao từ 12,7-14,3 m và đường kính từ 12,5-15,3cm sau 4 năm (Luangviriyasaeng, 1991) Trong 4 mẫu thử ở Sabah (Malaysia), cây từ 4 xuất

xứ PNG sinh trưởng đạt 15,4-20,2m chiều cao, và 13,4-18,9 cm đường kính sau

4 năm [18]

Một số nghiên cứu khác cho thấy ở Sarah - Malaysia Keo lá liềm được trồng trên đất đá có tầng mặt mỏng và đất cát kết quả H = 15-23m và D1.3 = 10-16cm sau 4 năm tuổi, tốt hơn cả Keo lá tràm và Keo tai tượng (Nor Aini Ab.Shukor, Abel Nelson Nang and Kamis Awang, 1998) [21]

Trang 12

12

Trọng lượng khô trong không khí của Keo lá liềm là 710kg/m3, sấy khô là 620kg/m3 Ở Papua New Guinea người ta thường sử dụng gỗ của chúng để đóng

đồ gia dụng, thuyền, ván sàn, gỗ củi và bột giấy [21]

Ở Sumatra – Indonesia Keo lá liềm được trồng 40.000ha trên đất ẩm, có

độ pH thấp và thỉnh thoảng bị ngập nước Keo lá liềm trồng trên đất ẩm cho sinh trưởng hàng năm thấp hơn Keo tai tượng trồng trên đất khô nhưng do tỷ trọng của Keo lá liềm lớn hơn so với Keo tai tượng nên sản lượng bột giấy có thể ngang bằng, do đó sản lượng bột giấy trên một ha vẫn được chấp nhận [

Các nghiên cứu về đánh giá biến dị di truyền cho các vườn giống Keo lá liềm cũng được tiến hành ở nhiều nước như Indonesia (Arif.N., 1997), Philipine (Armold & Cuevas, 2003) và Australia (Harwood và cộng sự, 1993) Các tác giả ghi nhận rằng có sự sai khác rõ rệt giữa các xuất xứ và giữa các gia đình trong xuất xứ Tuy nhiên, biến dị di truyền và hệ số di truyền theo nghĩa hẹp về các chỉ tiêu sinh trưởng ở mức trung bình (0.25) Theo A.rif, 1997 hệ số di truyền theo nghĩa rộng về các tính trạng sinh trưởng của Keo lá liềm ở Indonesia cũng chỉ ở mức trung bình và có biến động lớn theo các lập địa H2

= 0,44 - 0,62 cho chiều cao và H2

= 0.27 - 0.58 cho đường kính [12]

Cùng với A mangium và A mearnsii, A crassicarpa là một trong ba loài

cố định đạm tốt nhất của Bộ đậu và có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo

vệ và khôi phục đất thái hoá do canh tác quá mức hoặc khai thác rừng cạn kiệt ở vung nhiệt đới Những loài cây này cung cấp gỗ nguyên liệu giấy, gỗ củi, tanin,

và gỗ lớn Chúng cũng được trồng rộng rãi để chóng xói mòn và phục hồi đất

Keo lá liềm được xác định là cây có khả năng hấp thụ CO2 tốt, chính phủ Australia đã đầu tư một dự án lớn để trồng các loài cây có khả năng hấp thụ khí

CO2 trên 9 quốc gia khác nhau trong đó có Việt Nam

Keo lưỡi liềm phân bố tự nhiên ở Bắc Bang Queensland Australia, Nam Papua New Guinea và Irian Jaya của Indonesia từ vĩ độ 80 N đến 200 N Độ cao

từ 0 - 200m, có khi đến 700 m Thích ứng được với các loại đất có độ pH từ 4 -

8 Có thể chịu được mùa khô kéo dài 6 tháng Lượng mưa phù hợp từ 1000 -

3500 mm Nhiệt độ tối đa đạt tới 32 - 340C, tối thiểu đạt 15 - 220C [14]

Trang 13

13

Keo lưỡi liềm là loài cây sinh trưởng nhanh, có khả năng cố định đạm tự nhiên, sinh trưởng được trên nhiều loại đất khác nhau, là cây chịu lửa, chịu gió, cát, cạnh tranh được với cỏ dại, sinh trưởng được trên đất nghèo dinh dưỡng Ở Australia Keo lưỡi liềm được tìm thấy ở các đồi cát, các sườn dốc của các đụn cát cố định, trên các đụn cát ven biển và các chân đồi Chúng xuất hiện trên các loại đất khác nhau kể cả cát biển (chứa nhiều Canxi và Kali), đất cát vàng phát triển trên đá Granit, đất đỏ phát triển trên núi lửa, đất đỏ vàng phát triển trên phiến thạch, đất bị xói mòn và đất phù sa ở Papua New Guinea và ở Indonesia Keo lưỡi liềm xuất hiện trên địa hình không không ổn định của phù sa cổ trên cao nguyên Oriomo Hầu hết Keo lưỡi liềm được tìm thấy trên địa hình thoát nước tốt, đất có tính Axit mạnh Tuy nhiên, nó cũng xuất hiện trên những vùng không thoát nước, thậm chí cả những vùng bị úng ngập trong mùa mưa và nhanh chóng khô hạn trong mùa khô, đất đỏ vàng glây hoá và đỏ vàng sét [22]

Nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy với rừng trồng Acacia crassicarpa xuất

xứ Papua New Guinea sau 3 năm đạt 207 tấn sinh khối khô/ha (Visaranata 1989) Ở vùng khô hơn là Ratchaburi - Thái Lan nó có năng suất ngang bằng Keo lá tràm 40 tấn sinh khối khô/ha (3 tuổi) [18]

Ở Sarah - Malaysia nó được trồng trên đất đá có tầng mặt mỏng và đất cát cho kết quả H = 15 - 23m, D1,3 = 10 - 16cm sau 4 năm tuổi, tốt hơn cả

A.auriculiformis và A.mangium (Sim và Gan 1991)

Nhiều nghiên cứu của các nước trong khu vực cho thấy A crassicarpa sinh trưởng ngang bằng hoặc hơn cả A auriculiformis và A mangium (các

nghiên cứu ở Thái Lan, Myanma, Trung Quốc, Lào, ) [38, 48, 59] Các nghiên

cứu của Mianma cho thấy A crassicarpa sinh trưởng nhanh, cây 2 tuổi tỷ lệ

sống đạt 95 - 100%, cao 7 - 9,4m, D0 = 7 - 9,6cm [19]

Ở Papua New Guinea người ta sử dụng A crassicarpa làm gỗ đóng đồ gia

dụng, thuyền, ván sàn, gỗ củi, bột giấy, Trọng lượng khô trong không khí của

A crassicarpa là 710 kg/m3, sấy khô là 620 kg/m3 (Clak và cộng sự, 1991 - 1994) [46]

Trang 14

14

A crassicarpa được trồng 40.000 ha ở Sumatra Indonesia trên đất ẩm, có

pH thấp và thỉnh thoảng bị ngập nước Trong khi A crassicarpa trên đất ẩm này cho sinh trưởng bình quân hàng năm thấp hơn A mangium trên đất khô nhưng

do tỷ trọng A crassicarpa lớn hơn so với A mangium nên sản lượng bột giấy

vẫn bằng nhau, do đó sản lượng bột giấy/ha vẫn chấp nhận được Từ 40.000 ha

A crassicarpa cung cấp nguyên liệu cho nhà máy bột giấy thu được trên 1 tỷ

USD tương đương > 25.000 USD/ha (Stephen Midgley 2000) [23]

A crassicarpa là một trong ba loài cây cố định đạm tốt nhất thuộc Bộ đậu Legumimosa (A crassicarpa, A magium và A mearnsii), chúng đóng vai trò

quan trọng trong vùng nhiệt đới nhằm bảo vệ và khôi phục đất thoái hoá do canh tác quá mức hoặc khai thác rừng quá mức Những cây này cung cấp gỗ nguyên liệu giấy, gỗ củi, thức ăn gia súc, Tanin và gỗ lớn Chúng cũng được sử dụng rộng rãi để chống xói mòn và phục hồi đất

A crassicarpa được xác định là cây có khả năng hấp thụ CO2 tốt, chính phủ Australia đã đầu tư một dự án lớn để trồng các loài cây có khả năng hấp thụ khí CO2 tốt trên 9 nước khác nhau, trong đó ở Việt Nam được sự hợp tác của chính phủ Australia thông qua Viện CSIRO và Trung tâm Giống cây rừng thuộc

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thiết lập 05 vườn giống gồm 02 loài A crassicarpa và Eucalyptus tereticornis Những vườn giống này nhằm cung cấp

giống có chất lượng cao và có khả năng hấp thụ khí CO2 tốt phục vụ trồng rừng tại Việt Nam (Stephen Midgley) [23]

2.2 Ở Việt Nam

Keo lá liềm là một loài cây được nhập nội vào nước ta đầu những năm

1980 và có khả năng sinh trưởng trên các lập địa đất đồi trên nhiều vùng ở nước

ta (Lê Đình Khả, 2003) [5], đồng thời Keo lá liềm cũng có thể gây trồng được trên vùng đất cát nội đồng có lên líp (Nguyễn Thị Liệu, 2006) [6] Trong giai đoạn đầu các kết quả nghiên cứu và khảo nghiệm đã đạt được một số kết quả nhất định như:

- Keo lá liềm là một trong những loài cây sinh trưởng nhanh nhất trong các loài keo được khảo nghiệm ở nước ta

Trang 15

15

- Các xuất xứ từ Papua New Guinea thường là xuất xứ sinh trưởng nhanh nhất Trong đó Mata province, Gubam, Dimisisi và Deri-Deri là các xuất xứ có triển vọng ở nhiều vùng trong nước

- Một số xuất xứ chỉ sinh trưởng tốt ở một số vùng nhất định như Mata province và Gubam cho các tỉnh miền Bắc, Morehead và Benbach cho các tỉnh Đông Nam Bộ (Lê Đình Khả và cs., 2001) [4]

- Từ kết quả khảo nghiệm của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có quyết định công nhận các xuất xứ Mata province, Dimisisi và Deri-Deri là xuất xứ có triển vọng cho trồng rừng ở một số vùng trong nước

Keo lá liềm được đưa vào trồng ở Việt Nam cách đây khoảng 25 năm, bước đầu chủ yếu được trồng để khảo nghiệm loài và xuất xứ nhập nội Lần đầu tiên Keo lưỡi liềm được trồng khảo nghiệm ở Đá Chông, Ba Vì, Hà Tây với xuất

xứ Daintree (Qld) bước đầu cho thấy khá triển vọng, sinh trưởng tốt hơn Keo lá

tràm và Keo lá sim (A aulacocarpa) (Nguyễn Hoàng Nghĩa (2003) [9]

Khảo nghiệm loài và xuất xứ tại Đá chông - Hà Tây năm 1990 cho thấy Keo lưỡi liềm được xếp vào một trong những loài có triển vọng nhất, trong đó

xuất xứ Dimisisi, Gubam, Bimadebun, Mata và Derideri đều có nguồn gốc

Papua New Guinea sinh trưởng rất tốt (Sau 54 tháng tuổi, Keo lưỡi liềm đã đạt

D = 10,74 - 12,01cm, H = 7,45 - 9,33m) (Nguyễn Hoàng Nghĩa) [9]

Các nghiên cứu về chọn giống đã xác định thêm được một số xuất xứ có triển vọng cho trồng rừng một số vụng gồm: Xuất xứ Chilli Beach (Qld), Bimadebum (PNG) và Bensbeach (PNG) cho vùng Nam Trung Bộ và xuất xứ Oriomo (PNG), Gubam Village (PNG) và Bimadebum (PNG) cho các lập địa đất đồi ở miền Trung Ngoài ra bước đầu đã khẳng định các chỉ tiêu về chất lượng thân cây như độ thẳng thân, số thân trên một cây của Keo lá liềm có biến động lớn giữa các gia đình, các xuất xứ, và lập địa Để đạt được tăng thu thoả đáng trong cải thiện giống đối với loài cây này thì phương thức hữu hiệu nhất là chọn lọc đồng thời theo nhiều chỉ tiêu dựa trên chỉ số chọn lọc của các tính trạng (Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê Đình Khả, 1998) [7]

Trang 16

16

Nghiên cứu về sinh trưởng cho thấy cây có nguồn gốc bắc Queensland chỉ đạt tốc độ sinh trưởng trung bình 9,9m chiều cao và 12.6cm đường kính sau 6 năm (ở Hoà Thông) và 13,2m chiều cao, 13,8cm đường kính sau 8 năm (ở Ba Vì) Sự khác nhau của cây có nguồn gốc PNG đã tạo nên những sinh trưởng ngoại lệ, ví dụ như sinh trưởng về chiều cao đạt 6m trong vòng 3.5 năm trên đất cát acid, cằn cỗi (với 1 mùa ngập úng) ở tỉnh Thừa Thiên Huế Cây có nguồn gốc PNG cũng sinh trưởng nhanh trên đất cằn cỗi ở Cam Lộ (Quảng Trị), tốc độ sinh trưởng về chiều cao trung bình đạt trên 6m sau 2 năm, vượt trội hơn so với những loài keo nhiệt đới khác, bao gồm cả Keo tai tượng [3]

Nghiên cứu về kỹ thuật lâm sinh cho Keo lá liềm trồng trên cát nội đồng ở vùng Bắc Trung Bộ đã kết luận Keo lá liềm là loài có triển vọng nhất trên cát nội đồng bán ngập vùng Bắc Trung Bộ Sinh trưởng tốt hơn khi đất được xử lý bằng cách lên líp, kích thước líp thích hợp cho Keo lá liềm là cao 0.2m và rộng 4m Ngoài

ra bón phân có ảnh hưởng đến sinh trưởng của Keo lá liềm cụ thể: Sinh trưởng chiều cao và đường kính của cây tại công thức bón phân NPK và phân vi sinh cao hơn so với công thức chỉ bón phân lân và công thức không bón phân Tuy nhiên sau 54 tháng thì sự khác nhau giữa các công thức bón phân và không bón phân không còn ý nghĩa Ngoài ra ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của Keo lá liềm chưa rõ rệt sau 3 năm trồng trên đât cát tại Quảng Trị Sinh trưởng tốt nhất về đường kính (6.1 cm) và chiều cao (4.1 cm) được ghi nhận trong công thức trồng với cự li 3 m x 2 m Đối với cây trồng cự li 3m x 1.5m, đường kính đạt 5.7cm và chiều cao đạt 3.6m và trồng với cự li 2m x 2m đường kính đạt 5.2 cm và chiều cao 3.9 m (Nguyễn Thị Liệu, 2006) [6]

Nghiên cứu về nhân giống bằng hom đã kết luận: IBA có tác dụng kích thích

ra rễ rất thấp đối với loài cây này chỉ đạt 40 – 50% IAA (nồng độ 3% dạng bột và 2000ppm dạng nước) và NAA (nồng độ 1% dạng bột và 1000ppm dạng nước) là có hiệu quả nhất, tỷ lệ ra rễ đạt 60 – 80% [1]

Đến nay, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã xây dựng 6 vườn giống kết hợp với khảo nghiệm hậu thế thế hệ 2 cho Keo lá liềm ở nhiều vùng sinh thái khác nhau với diện tích 10 ha, bao gồm 238 gia đình của 10 xuất xứ

Trang 17

xứ tốt của Keo lưỡi liềm là Dimiisi, Oriomo và Derideri [9]

Khảo nghiệm của Huỳnh Đức Nhân và Nguyễn Quang Đức (1997) [20] tại Hàm Yên - Tuyên Quang, Gia Thanh - Phú Thọ và Tam Đảo - Vĩnh phúc cho

4 loài keo là Keo lưỡi liềm, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Keo lá sim, và Keo A holosericea kết quả Keo lưỡi liềm sinh trưởng tốt nhất, có triển vọng gây trồng ở

án 661 ở 2 tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị nhất là những vùng cát nội đồng

Trang 18

18

Phần III MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Chọn được vật liệu khởi đầu để sản xuất cây giống có khả năng chịu được những điều kiện khắc nhiệt và sinh trưởng tốt nhằm phát triển gây trồng rừng cho tỉnh Quảng Trị

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá được đặc ddieemrsinh trưởng của rừng keo lá liềm trồng trên các dạng lập đại khác nhau cả=ủa tỉnh

- Đánhgiá đươc đặc điểm đất nôi có rừng trồng keo lá liểm của tỉnh

- Chọn lọc được một số cây có khả năng chịu nóng, chịu hạn, sinh trưởng tốt của loài Keo lá liềm để làm vật liệu khởi đầu

- Đề xuuast các ccay trội và kỹ thuạt gây trồng loài cây keo lá liềm tại quảng trị

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Loài Keo lá liềm: Tên khoa hoc: Acacia crassicarpa A Cunn Ex Benth

Tên phổ thông: Keo lá liềm (Keo lưỡi liềm, Keo lá liềm, Keo lưỡi mác)

- Về không gian: Báo cáo thực hiện tại tỉnh Quảng Trị

- Về nội dung: Chọn cây trội chỉ dựa vào đạc điểm sinh trưởng và chịu nóng, chịu hạn

2.4 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài thực hiện một số nội dung sau:

Trang 19

19

2.4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh quảng trị

+ Điều kiện tự nhiên

+ Điều kiện kinh tế - xã hội

2.4.2 Mô tả và đánh giá đặc điểm lập địa lập địa vùng đất có rừng trồng keo lá liềm

+ Đặc điểm của đất ở vùng đất đồi núi

+ Khảo sát chọn cây dự tuyển

+ Tính toán chọn cây trội

2.4.5 Đề xuất chọn cây trội và kỹ thuật gây trồng rừng keo lá liềm

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1.1 Kế thừa các tài liệu đã có

- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu

- Kế thừa các kết quả, thông tin, số liệu nghiên cứu đã có về tài nguyên

rừng tự nhiên của tỉnh Quảng Trị

- Tham khảo tài liệu, trang web, các bài báo khoa học, tạp chí,…

- Các tài liệu liên quan đến Keo lá liềm ở trong nước và quốc tế

2.5.1.2 Điều tra thực địa

Tiến hành điều tra các rừng trồng cây keo lá liền tại vùng đất cát ven biển

và đồi núi có chế độ đất đai, khí hậu đặc trưng cho vùng để khảo sát chọn cây dự tuyển việc chọn cây dự tuyển căn cứ vào độ thẳng thân, tán tròn đều, không sâu bệnh, có đường kính thân và chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành vượt hơn

Trang 20

20

các cây khác trong lô rừng để chọn và đánh giấu các cây dự tuyển làm cơ sở để xác định cây ưu tú

Tại những lô rừng có cây dự tuyển, tiến hành thu thập số liệu thông qua ô

đo đếm về các chỉ tiêu D1.3, Hvn, Dt làm cơ sở để chọn cây ưu tú

 Điều tra đo đếm ô tiêu chuẩn:

+ Lập ô tiêu chuẩn: Diện tích từ 200 - 500m2

xung quanh cây dự tuyển (1 ô

50 cây) Điều tra (đo đếm) các chỉ tiêu liên quan đến phẩm chất cây dự tuyển

D ,1 3 là các giá trị trung bình về đường kính, chiều cao

S là sai tiêu chuẩn:

1

) (

n i i

n: là số cây đo đếm trong ô

Bảng 1 Tiêu chí, thang điểm lựa chọn cây trội

S

Thang điểm tối đa

1

1

- Hình thái cây mẹ: Hình thái cân đối, khỏe, 1 thân, không

sâu bệnh, vượt trội so với các cá thể khác của quần thể 20 2

2

- Sinh trưởng (D, H, cành tán) vượt trội trị số trung bình của

quần thể/ cao hơn mức bình thường: D 1 5S d;H  1 5S h 60

3

Trang 21

21

2.5.2 Phương pháp xử lý số liệu

 Sau khi thu thập số liệu, chỉnh lý số liệu, tôi sử dụng phần mềm Excel, SPSS 16.0 để xử lý số liệu, dùng các công thức để tính các đặc trưng của nhân tố điều tra:

- Tính giá trị bình quân mẫu:

n

i i

n n

X

1

1

Trong đó:

X : Giá trị trung bình của các chỉ tiêu Hvn, D0, số thân cây

n: Dung lượng mẫu quan sát

Xi: Trị số quan sát của nhân tố nào đó

) (

1 1

Trong đó:

2

x

S : Phương sai mẫu

n: Dung lượng mẫu quan sát

X :Giá trị trung bình của các chỉ tiêu Hvn, D0 Số thân trong bụi

Xi: Trị số quan sát của nhân tố nào đó

- Sai tiêu chuẩn (S x )

Sx%: Hệ số biến động của một nhân tố

Sx: Sai tiêu chuẩn của một nhân tố

X : Giá trị trung bình của một nhân tố

Trang 22

22

2.5.3 Dựa vào khả năng chịu nóng, chịu hạn để chọn lọc cây trội

2.5.3.1 Phương pháp nghiên cứu.

Xác định khả năng giữ nước và phục hồi sức trương của lá

+ Phương pháp xác định: theo phương pháp của G.N.Eremeev

Chọn những lá cùng tầng về một hướng, có hình thái gần giống nhau và không bị tổn thương Mỗi lần thí nghiệm 3-5 lá

Sau khi cắt lá ,đem cân nhanh ta được trọng lượng P1(gam)

Để lá héo tự nhiên, tránh bức xạ nhiệt trực tiếp (treo lá trên dây) Sau khoảng thời gian 8 giờ ta đem cân và thu được trọng lượng P2(gam)

Sau đó đem những lá có trọng lượng P2 (gam) ngâm vào trong nước 1-2 giờ để khôi phục sức trương, lá phục hồi có màu xanh trở lại Cân lá ta được trọng lượng P3 (gam) Khi đó sẽ có những mô bị tổn thương và chết, còn lại những mô khỏe

Khi cân xong, ta tiến hành tính toán các chỉ tiêu:

- Lượng nước mất đi khi cây héo trong 5 giờ là P1-P2(gam)

- Lượng nước chứa trong lá sau khi phục hồi sức trương là: P3-P2(gam) Lúc đó :

- Lượng nước mất đi của lá là: (% so với lượng nước ban đầu):

A =

P1

P2 P1 

x 100%

- Lượng nước lá hút lại là: (% so với lượng nước trong lá )

B =

P1 P2 P3

Trang 23

- Nguyên lý của phương pháp:

Dựa vào sự thay đổi khối lượng của lá tươi sau khi cắt ra khỏi cây trong một thời gian ngắn Khối lượng thay đổi giữa hai lần cân chính là lượng nước

mà lá thoát đi trong thời gian ngắn Khối lượng thay đổi giữa hai lần cân chính

là lượng nước mà lá thoát đi trong thời gian đó Xác định được diện tích lá thí nghiệm, ta tính ngay được cường độ thoát hơi nước của lá theo công thức:

) / / (

60 ).

h dm mg S

t

P P

Trang 24

 Xác định khả năng chịu nóng theo phương pháp của Maxcốp

Chọn những lá cùng tầng về một hướng, có hình thái gần giống nhau và không bị tổn thương Mỗi lần thí nghiệm 3-5 lá

Cho vào cốc đựng nước nóng ở các nhiệt độ 40, 45, 50, 55, 600C Sau 30 phút lấy ra và quan sát sự biến đổi của lá, xuất hiện những dấu thâm Tùy thuộc vào khả năng chịu nóng của từng loài mà dấu thâm nhiều hay ít, rộng hay hẹp

+Phương pháp xử lý số liệu

- Sau khi thu thập số liệu, chỉnh lý số liệu, tôi sử dung phần mềm Excel để

xử lý số liêu, dùng một số công thức cơ bản để tính các đặc trưng của các nhân

tố cần thể hiện

- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Excel trong xử lý thông kê trong Lâm nghiệp (Theo tác giả Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi – Trường Đại học Lâm nghiệp)

Trang 25

25

Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh quảng trị

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Quảng Trị là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ - Việt Nam Toàn tỉnh có 10 đơn vị hành chính, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện (kể cả huyện đảo Cồn Cỏ) với tổng diện tích tự nhiên 4746,99 km2 và dân số trung bình 599.221 người (số liệu năm 2012) [NGTK 2012] Toạ độ địa lý của tỉnh từ 16018'30'' đến

17010' vĩ độ bắc và 106030'51'' đến 107023'48'' kinh độ đông (Hình 1.1 và 1.2)

Vị trí của tỉnh như sau:

- Phía bắc giáp huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

- Phía nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Phía đông giáp Biển Đông

- Phía tây giáp tỉnh Savanakhet và Salavan, nước CHDCND Lào(với khoảng 228 km đường biên giới)

Nằm trên lãnh thổ tỉnh Quảng Trị có Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh,

đường sắt Bắc - Nam (trục giao thông huyết mạch xuyên Việt), có Quốc lộ 9 nối

từ Cảng Cửa Việt qua Quốc lộ 1A đến cửa khẩu quốc tế Lao Bảo sang Lào và có

bờ biển dài 75 km với cảng Cửa Việt cùng với các cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, cửa khẩu La Lay, đã tạo cho Quảng Trị điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa không chỉ với các tỉnh khác trong vùng mà

cả trong giao lưu kinh tế quốc tế, đặc biệt là với nước bạn Lào, vùng Đông bắc Thái Lan, Myanma

Cách mũi Lay khoảng 25 km về phía đông bắc là huyện đảo Cồn Cỏ với diện tích 2,14 km2

(thời kỳ triều thấp là 2,4 km2), vị trí vào khoảng 17o

08'15''-17o10'05'' vĩ độ bắc 107o

19'50''-107o21'40'' kinh độ đông Đây là đảo duy nhất thuộc tỉnh Quảng Trị

Trang 26

4.1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

Tổng diện tích tự nhiên Quảng Trị (theo điều tra năm 2012) là 474.414,87

ha, được phân bố đa dạng theo không gian và có sự đan xen giữa vùng gò đồi, thung lũng, miền nội đồng và cồn cát ven biển với 5 vùng đặc trưng đó là: Vùng núi, vùng gò đồi và núi thấp, vùng đồng bằng, vùng thung lũng và vùng cát ven biển Tài nguyên khoáng sản Quảng Trị tương đối đa dạng, đến cuối năm 2000

đã đánh giá, thống kê được trên 74 mỏ đất quặng, điểm khoáng sản

Trang 27

27

Khí hậu Quảng Trị nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa và là vùng chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu Bắc- Nam, có sự phân hoá của địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông cùng với vị trí địa lý và quy định đặc thù khí hậu Quảng Trị

Quảng Trị có 12 con sông lớn tập trung thành 3 hệ thống chính đó là: Sông Bến Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu với trên 60 phụ lưu khác có chiều dài trên 10 km Theo tính toán lý thuyết mạng lưới sông ngòi Quảng Trị

có thể cung cấp nguồn điện năng khoảng 3 tỷ kw/h Trong đó có công trình thuỷ điện, thuỷ lợi Quảng Trị nằm trên sông Rào Quán

Quảng Trị có quốc lộ 1A và đường xe lửa xuyên Việt đi qua, có Quốc lộ 9 xuyên Á, có cảng Cửa Việt (Gio Linh), bãi tắm Mỹ Thuỷ (Hải Lăng), bãi tắm

Cửa Tùng, trong đó: Bãi tắm Cửa Tùng được mệnh danh là "Nữ hoàng của những bãi tắm", có Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, La Lay Đặc biệt từ năm 1999,

Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo được đầu tư xây dựng thành Trung tâm Kinh tế Thương mại đặc biệt Lao Bảo

Cách bờ biển Mũi Lay (Vĩnh Linh) khoảng 30 km là Đảo Cồn Cỏ rộng 4

km2, được coi là hòn đảo tiền tiêu của Tổ quốc với những chiến công oai hùng, nay là Huyện đảo đang chuyển mình để trong tương lai gần trở thành huyện đảo

du lịch

4.1.2 Kinh tế - xã hội

 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội:

Hệ thống giao thông thuận lợi, bao gồm cả đường bộ, đường sắt và đường thủy: Quốc lộ 1A, Đường Hồ Chí Minh, đường sắt chạy xuyên qua tỉnh theo hướng Bắc – Nam, Quốc lộ 9 gắn với Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo chạy theo hướng Đông – Tây; cảng Cửa Việt đang được đầu tư nâng cấp để đón tàu có trọng tải 5.000 đến 6.500 DWT Cảng biển Mỹ Thủy có khả năng đón tàu có trọng tải 50.000 DWT ra vào thuận lợi đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch

và đang được tỉnh đẩy mạnh xúc tiến đầu tư xây dựng Bưu chính viễn thông phát triển, có mạng cáp quang trang bị đến 100% huyện và thị xã Hệ thống cấp

Trang 28

- Sản xuất công nghiệp: Đang có bước phát triển khá Giá trị sản xuất

công nghiệp trong giai đoạn 2005 - 2009 tăng bình quân 26,84%/năm Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu là vật liệu xây dựng, cơ khí, khai khoáng, và chế biến các sản phẩm nông - lâm - thủy hải sản Khu Kinh tế Thương mại Đặc biệt Lao Bảo, Khu công nghiệp Nam Đông Hà, Quán Ngang và một số cụm công nghiệp đã và đang được các nhà đầu tư quan tâm đầu tư kinh doanh, sản xuất Khu kinh tế Đông Nam của tỉnh gắn với cảng biển Mỹ Thủy đã được đưa vào quy hoạch Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp được triển khai xây dựng và đưa vào sản xuất, bước đầu tạo ra các sản phẩm công nghiệp Các ngành nghề truyền thống từng bước được khôi phục và phát triển

- Sản xuất nông nghiệp: Thế mạnh là sản xuất lương thực, cây công

nghiệp dài ngày: cao su, hồ tiêu, cà phê; trồng rừng; chăn nuôi trang trại; nuôi trồng và đánh bắt hải sản Sản lượng lương thực có hạt năm 2009 đạt 22,05 vạn tấn Cơ cấu cây trồng, vật nuôi đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa Diện tích cây công nghiệp dài ngày hiện có trên 14.000 ha cao su; 4.200 ha cà phê; 2.200 ha hồ tiêu, và đang tiếp tục tăng lên hàng năm

- Thương mại và dịch vụ: Đây là ngành có nhiều tiềm năng phát triển

Trung tâm thương mại Đông Hà, khu kinh tế Thương mại đặc biệt Lao Bảo đang phát huy tác dụng tốt, là những trung tâm động lực phát triển kinh tế của tỉnh

Trang 29

29

Hệ thống chợ được quy hoạch và xây dựng khá đồng bộ Hoạt động du lịch đang được quan tâm tăng cường đầu tư phát triển mạnh

- Thu hút đầu tư: Đến cuối năm 2009, tỉnh đã thu hút được 144 dự án đầu

tư trong và ngoài nước với tổng số vốn đầu tư đăng ký khoảng 24.034 tỷ đồng, trong đó có 8 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đầu tư khoảng 616

tỷ đồng Đã có 51 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đạt hiệu quả cao như: Nhà máy sản xuất gỗ MDF GERUCO (450 tỷ đồng), nhà máy sản xuất thạch cao - ximăng (vốn đầu tư 120 tỷ đồng), nhà máy dệt may Hoà Thọ (54 tỷ đồng), nhà máy sản xuất nước uống tăng lực super horse, nhà máy sản xuất xăm lốp xe máy Camel, nhà máy lắp ráp điện thoại di động ICALL Ngoài ra, có một

số dự án đầu tư trong và ngoài nước đang trong giai đoạn xây dựng và hoàn thành, đi vào hoạt động

- Phát triển xã hội: Đến cuối năm 2009, dân số tỉnh Quảng Trị gần

600.000 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động chiếm 55,15% Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 30%, trong đó đào tạo nghề là 21,5% Mạng lưới y

tế, giáo dục được đầu tư khá hoàn chỉnh Chính sách xã hội được quan tâm giải quyết, đời sống văn hóa tinh thần, tự do, dân chủ, bình đẳng không ngừng được nâng cao

4.1.3 Định hướng phát triển của tỉnh Quảng Trị đến 2020

- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tạo động lực phát triển cho nền kinh tế:

Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư, phát huy hiệu quả các khu Công nghiệp Tập trung đầu tư phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng lợi thế như: thủy điện, nhiệt điện, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm, thủy sản Chú trọng sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, tạo hàng hóa xuất khẩu

- Tạo bước chuyển biến mạnh trong phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ, tăng khả năng đóng góp cho nền kinh tế và tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập dân cư:

Trang 30

30

Tập trung đầu tư và khai thác hiệu quả các trung tâm thương mại của tỉnh, phát huy các lợi thế của Hành lang kinh tế Đông - Tây Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, thương mại Hình thành các trung tâm thương mại, tài chính, ngân hàng, bưu chính viễn thông đáp ứng nhu cầu giao lưu khu vực Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác kinh tế quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu; tham gia tích cực vào chương trình hợp tác phát triển tiểu vùng sông Mêkông mở rộng, các chương trình du lịch kết nối di sản văn hóa của các tỉnh miền Trung và các nước dọc Hành lang kinh tế Đông - Tây

- Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh thâm canh và đầu tư chiều sâu, sử dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch gắn với công nghiệp chế biến, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn, kết hợp với giữ gìn môi trường, bảo đảm phát triển bền vững:

Ổn định diện tích trồng lúa nước 2 vụ hiện có, đi sâu vào thâm canh và sản xuất lúa chất lượng cao, phát triển mạnh các vùng chuyên canh sản xuất tập trung các loại cây trồng vật nuôi chủ lực Tăng cường áp dụng khoa học công nghệ trong tất cả các khâu sản xuất, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông lâm, thủy sản trên thị trường trong nước và xuất khẩu, tăng giá trị kinh tế và hiệu quả sản xuất

- Chú trọng đầu tư các lĩnh vực xã hội:

Đẩy mạnh giáo dục - đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Nâng cao năng lực, chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, quê hương Thực hiện tốt các chính sách xã hội, xóa đói, giảm nghèo; Bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội

- Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và phát triển mạng lưới

đô thị theo hướng hiện đại, tạo nền tảng vững chắc cho bước phát triển tiếp

theo:

Tập trung xây dựng và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tiền đề cho khai thác hiệu quả Hành lang kinh tế Đông – Tây, bao gồm nâng cấp

Trang 31

31

các tuyến đường quan trọng như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 9 đến Cửa Việt, đường ven biển, đường cao tốc Quảng Trị - Huế, đường 4 làn xe Đông Hà – Lao Bảo, nâng cấp cảng hàng hóa Cửa Việt, xây dựng cảng biển Mỹ Thủy, cầu Cửa Việt, nhà máy đóng tàu Hoàn thiện hệ thống giao thông nội tỉnh Khai thác hiệu quả công trình thủy lợi – thủy điện Quảng Trị, nâng cấp hệ thống các công trình thủy lợi hiện có

Mở rộng mạng lưới điện, hiện đại hóa bưu chính viễn thông, tăng cường hoàn thiện hạ tầng giáo dục, y tế, văn hóa Nâng cấp thị trấn Lao Bảo lên thị xã – đô thị loại III trước năm 2015 và đến năm 2020 trở thành thành phố để làm hạt nhân phát triển cho toàn vùng Thúc đẩy phát triển kinh tế và đô thị hóa các vùng nông thôn

4.2 Mô tả và đánh giá điều kiện lập địa nơi trồng

4.2.1 Vùng cát

4.2.1.1 Vùng cát nội đồng

 Đặc điểm của đất:

 Khái niệm chung:

- Cồn cát và đất cát biển kí hiệu là : (AR), theo FAO – UNESCO loại đất này có tên là Arenosol

- Loại đất này thường được hình thành tại các khu vực ven biển chịu tác động mạnh mẽ của sóng biển và thuỷ triều

 Quá trình hình thành và đặc trưng:

Đất cũng được hình thành do quá trình bồi tích của biển nhưng đã được khai thác sử dụng từ lâu đời, vì vậy tính chất lý hóa học của đất đã thay đổi theo chiều hướng có lợi cho sản xuất nông nghiệp

Nhóm đất cát biển ở tỉnh Quảng Trị có có quá trình hình từ nhiều nguồn gốc khác nhau Cát màu vàng có nguồn gốc biển – gió, phân bố thành dãy cồn – đụn cát ven biển và các bãi biển kéo dài từ Vĩnh Linh qua Gio Linh, Cửa Việt đến Đông Hà, Hải Lăng Cát xám trắng chủ yếu có nguồn gốc biển và phân bố trên các dải gò cao Cát xám trắng cũng được phát hiện ở Thị xã Quảng Trị và

Trang 32

32

rải rác ở ven rìa đồng bằng Cát vàng nghệ nguồn gốc biển phần lớn bị cát vàng nhạt và cát xám trắng trẻ hơn che phủ Tuy nhiên ở một số huyện một số cồn cát nằm sâu trong vị trí nội đồng lại được hình thành sớm hơn và gắn liền với quá trình biển tiến

 Thành phần đất:

 Đặc điểm vật lý, hóa học của đất cát biển:

Đất cát biển thường có những đặc điểm, tính chất chủ yếu như mất nhiệt nhiều hơn các nhóm đất khác, cường độ bốc hơi mạnh nhất là vào những tháng khô, có gió Tây Nam hoạt động mạnh Lượng nước ngầm phong phú và ở gần

bề mặt cao từ 50-180 cm dao động phụ thuộc vào lượng mưa, càng xa biển thì mực nước ngầm càng sâu hơn

Thành phần cơ giới:

Hình thái phẫu diện đã có sự phân hóa khá rõ, lớp đất mặt thường trắng hơi xám hoặc xám sáng, có nơi hơi vàng; các tầng dưới thường chặt, khả năng tích lũy oxyt sắt lớn nên màu sắc thường vàng hoặc vàng nhạt Thành phần cơ giới cát đến cát rời - cát pha, nghèo mùn và các chất dinh dưỡng, nhưng so với loại cồn cát trắng vàng thì tỷ lệ cấp hạt sét cao hơn, kết cấu đất tốt hơn, hàm lượng mùn cao hơn, nên khả năng giữ nước, giữ phân tốt hơn nhiều

Đây là loại đất có độ phì tự nhiên thấp, nhưng có lợi thế về thành phần cơ giới nhẹ, mực nước ngầm nông, lại thích hợp với nhiều loại cây trồng như: cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, rau màu, dưa, cà, cây gia vị nếu chọn được cơ cấu cây trồng thích hợp, chú ý vấn đề thủy lợi, đầu tư thêm phân hữu cơ

và các loại phân bón khác, thì có thể thu được hiệu quả kinh tế cao khi sản xuất trên loại đất này

Đối với đất cồn cát thường thô và nghèo dinh dưỡng hơn so với các loại đất cát khác, tỷ lệ cát thô từ 33-34 %,sét vật lý từ 4-5 %, Sự thay đổi các cấp hạt trong đất cát phụ thuộc vào vị trí của chúng so với biển

- Tỷ trọng của đất cát là 2,6 - 2,7

- Độ xốp khoảng 35-40%

- Đất thường phản ứng chua đến ít chua PH<5.0 ở tất cả các tầng đất

Trang 33

33

Tính chất hoá học:

Tính chất hoá học của đất cát biển phụ thuộc vào thành phần cơ giới của đất, phụ thuộc vào quá trình phong hoá, vào thảm thực vật tự nhiên ngoài ra còn phụ thuộc vào sự tác động của con người Nhìn chung rất phức tạp

- Hàm lượng chất hữu cơ ở các tầng đất nghèo (0,59-1.25 %) càng xuống tầng dưới càng giảm, đạm tổng số ở lớp đất mặt trung bình càng xuống sâu càng giảm

- Lượng cation kiềm trao đổi thấp, tỷ số Ca++/Mg++ >1.0 chứng tỏ canxi trao đổi chất kém hơn so với magie

- Dung tích hấp thụ (CEC) thấp : 3.05 meq/100g đất ở tầng mặt, chất hữu

cơ phân giải mạnh (C/N<5)

- Một số chất hữu cơ khác: Nitơ: 0.04-0.08, P205: 0,01-0,03, Mùn: 0,5- 2.6 %

Qua đó cho thấy đất cát biển Quảng Trị từ hơi chua đến chua, mùn đạm nghèo, hàm lượng các chất hữu cơ đều thấp, đặc biệt là nghèo lân

đó các sản phẩm lắng đọng lại thường là những hạt vật liệu thô chủ yếu là các hạt cát có kích thước khác nhau Ngoài ra, về cấu tạo địa chất ở khu vực đầu nguồn phần lớn có cấu tạo đá mẹ khó phong hóa như các loại đá granit, riolit, cát kết nên chất liệu của các sản phẩm phong hóa cũng thường rất thô

 Phẫu diện đất:

Đất vùng cát ven biển có hình thái phẫu diện ít phân hóa hơn đất cát nội đồng, nhìn đồng nhất cả về màu sắc và thành phần cơ giới, từ trên xuống dưới

Trang 34

34

đều là cát tơi hoặc cát dính Thành phần cơ giới rất nhẹ, rời rạc Tỷ lệ sét rất thấp hoặc không đáng kể, chủ yếu là cấp hạt cát, tỷ lệ cát khô khá cao Các đồn cát, đụn cát phần lớn chưa ổn định, hiện tượng di dộng của cát đang thường xuyên xảy ra Những nơi có địa hình thấp thì đã có sự phân hóa về màu sắc; nơi nào trũng đọng nước thì tầng mặt xám hơi đen, tầng dưới có màu xám vàng xen vệt trắng Đây là loại đất rất nghèo mùn và các chất dinh dưỡng, cation trao đổi rất thấp, dung tích hấp thu rất thấp, nên khả năng giữ nước, giữ phân kém Phần lớn diện tích loại đất này đang bị bỏ hoang

Nhẹ từ trên mặt xuống tầng giới phẩu diện, về cơ bản là cát trong đó cát mịn là thành phần chiếm ưu thế nhất (71-94%) limon và sét chiếm dưới 30 % phân lớp rõ có nơi còn lẫn vỏ sò, hến…

 Đặc điểm thực bì:

Thực vật tự nhiên chủ yếu là các loại thực vật chịu hạn như: cây bắt mồi (Drosera burmani Vohl), cây xương rồng, sim (Rhodomyrtustomentosa), cây mua, cỏ gừng, cỏ dầy, dứa gai Trên những vùng có điều kiện tưới nông dân

có thể trồng được lúa và một số cây hoa màu như khoai lang, lạc, thuốc lào, đậu đỗ, vừng, kê, ớt, năng suất tùy thuộc vào lượng nước mưa và lượng nước tưới hàng năm

 Địa hình:

Đặc điểm địa hình của các cồn cát có sự thay đổi khác nhau theo từng khu vực, có nơi tương đối bằng phẳng hoặc lượn sóng, nhưng cũng có nơi lại tạo thành những cồn cát có độ cao khác nhau (có cồn cao tới 50m) Những cồn cát này thường chạy song song với bờ biển có xu hướng lấn sâu vào đất liền khi có gió mạnh từ biển thổi vào Khi có mưa, bão lớn do ảnh hưởng của tác động của nước chảy bề mặt ở các cồn cát có thể tạo ra các rãnh xói sâu tới 8- 9m và rộng tới 2- 3m như ở một số xã ở Vĩnh Linh, Quảng Trị

 Màu sắc đất:

Đất cát phân bố ở sát biển, những cồn cát có màu trắng hoặc vàng có hai sườn dốc, sườn dốc đứng hướng về phía đất liền còn sườn thoải hướng về phía

Trang 35

N, P, K và các cation trao đổi đều rất nghèo; giá trị CEC của đất rất thấp (thấp nhất trong các loại đất ở Việt Nam) do tỷ lệ sét trong đất gần như không có, nhìn chung CEC chỉ đạt ở mức xấp xỉ 1 lđl/100g đất Hàm lượng OC% ở trong đất rất thấp (thường <1%, thậm chí thấp hơn cả đất bạc màu), do điều kiện thoáng khí đất có quá trình khoáng hóa mạnh Có thể tham khảo đặc tính, tính chất của đơn

vị đất này qua phẫu diện sau:

Ðặc điểm hình thái phẫu diện lấy từ xã Triệu Trạch, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Ðịa hình bằng phẳng, độ dốc 0- 3o Thảm thực vật có các loại cỏ rải rác

Bảng 4.1 Đặc điểm hình thái phẫu diện đất

A0 (0- 30cm): màu vàng sáng, cát; hơi ẩm; có nhiều rễ cây cỏ; chuyển lớp từ từ

C (30- 150cm): vàng cam xỉn, cát; ẩm; đôi khi bắt gặp những đốm đen của rễ cây; có những ánh cát lấp lánh

Trang 36

Ðộ xốp (%)

Ðộ ẩm (%)

Tỷ lệ % các cấp hạt 2,0- 0,2

mm

0,2- 0,02

mm

0,02- 0,002

mm

< 0,002

mm 0- 30

30- 150

1,31

1,35

2,62 2,61

50,0 48,3

3,1 3,2

3,8 2,2

96,2 97,8

0,0 0,0

0,0 0,0

Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu hoá học cơ bản của phẫu diện

Ðộ chua (lđl/ 100 g đất)

pH

OC N P2O5 K2O P2O5 K2O Trao

đổi

Thuỷ phân H2O KCl 0-30 0,08 vệt vệt 0,02 0,27 3,01 0,04 0,48 6,3 5,4

BS (%)

Ca2+ Mg2+ K+ Na+ Tổng Ðất Sét 0-30

30-150

0,16 0,08

vệt vệt

0,06 0,06

0,03 0,02

0,25 0,16

0,80 0,48

0,0 0,0

31,2 33,3

4.2.2 Vùng đất đồi

 Đặc điểm của đất:

Ðất xám Feralit phát triển trên đá macma axit (Xfa)-Ferralic Acrisols:

Trang 37

37

Hình thái PD

Ðá mẹ: chủ yếu là granit, riolit, phoocphia thạch anh

a/ Cấu tạo phẫu diện:

- Phẫu diện điển hình có đủ 3 tầng A, B, C

- Phẫu diện QT14 đào tiêu khu 777, huyện Cam

Lộ, tỉnh Quảng Trị Ðộ cao nơi đào phẫu diện 1500

m, sườn dốc 15 o

Thảm thực vật gồm cỏ tranh, sim mua, lau lách Ðá mẹ granit

- 0-20 cm: màu nâu vàng, cát pha, hơi chặt, nhiều rễ cỏ tranh, rời rạc, chuyển lớp rõ về màu sắc

- 20-50 cm: màu nâu vàng, cát pha, ẩm, chặt, hạt thạch anh nhỏ (khoảng 20

%), còn ít rễ cây, chuyển lớp từ từ về màu sắc…

- 50-110 cm: màu nâu vàng tươi, cát pha limon, ẩm, chặt, hạt thạch anh nhỏ 30-50 %, cấu trúc rời rạc, còn ít rễ cây

Trang 39

39

- Ðơn vị đất này đã được sử dụng trồng nhiều loại cây như chè, sở, hồi, quế, ngô, khoai, sắn, lúa nương và trồng rừng Ðặc biệt cần thực hiện tốt các biện pháp chống xói mòn và các mô hình nông lâm kết hợp

4.3 Điều tra hiện trạng và sinh trưởng keo lá liềm trên một số dạng lập địa của tỉnh quảng trị

4.3.1 Hiện trạng trồng rừng keo lá liềm trên các dạng lập địa ở tỉnh quảng trị

Bảng 4.6 Vị trí, diện tích, năm trồng rừng keo lá liềm tỉnh quảng trị

Diện tích (ha)

Năm trồng

Địa điểm trồng

Đơn vị trồng

Trung tâm KH

LN Bắc Trung

Bộ

Vùng đồi núi

N 16077.197’ E106098.054’

Gio

Xã Gio Thành, Gio Linh

Trung tâm KH

LN Bắc Trung

Bộ

Vùng bãi cát

N16055.672’ E107007.891’

Triệu

Xã Triệu Trạch, Triệu Phong

Trung tâm KH

LN Bắc Trung

Bộ

Vùng cát bán ngập nước

N 16050.058’ E107013.324’

Qua bảng 4.6 cho thấy: Rừng trồng keo lá liềm ở Quảng Trị còn ít, cả tỉnh chỉ trồng tập trung chủ yếu ở ba huyện Cam lộ, Gio linh và Triệu phong với tổng diện tích là 22,5 ha Trong đó vùng đồi núi Cam lộ trồng nhiều hơn với 11,5 ha, còn lại vùng cát Gio linh là 6 ha và vùng bán ngập Triệu phong là 5 ha, cây được trồng vào năm 2001 tập trung ở ba huyện của tỉnh Tuy keo lá liềm là loài cây sinh trưởng tốt trên các điều kiện lập địa và phát triển tốt hơn cả keo lá tràm và keo lai khi trồng trên vùng cát nhưng hiện nay keo lá liềm chỉ được trồng bởi đơn vị nghiên cứu khoa học đó là Trung tâm khoa hoc lâm nghiệp Bắc Trung

Trang 40

40

Bộ Vì vậy cần khuyến khích địa phương trồng nhiêu hơn loài giống cây này nhất là các vùng cát phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt

4.3.2 Đặc điểm sinh trưởng của keo lá liềm ở các điều kiện lập địa

Bảng 4.7 Đặc điểm sinh trưởng đường kính keo lá liềm

Gio Linh

O1 19,7 6,242 2,498 12,68 O2 18,7 6,510 2,552 13,65 O3 19,2 6,605 2,570 13,39

Triệu Phong

O1 18,5 9,187 3,031 16,40 O2 18,7 8,920 2,987 16,01 O3 18,4 5,349 2,313 12,58 Qua bảng 4.7 thấy rằng sinh trưởng đường kính D13 của rừng keo lá liềm

ở ba khu vực trồng có sự khác nhau trên vùng đất Cam lộ cây sinh trưởng tốt hơn Gio linh và Triệu phong Sinh trưởng của các cây tiêu chuẩn của lập địa là không có sự sai khác chứng tỏ là điều kiện lập địa ở các vùng là tương đối giống nhau Điều này chừng tỏ là hệ số biến động từ 10,71% đến 16,40% là không có

sự biến động lớn vì đây là rừng trồng nên không có sự sai khác so với rừng tự nhiên

Bảng 4.8 Đặc điểm sinh trưởng chiều cao keo lá liềm Chỉ tiêu

Ngày đăng: 29/05/2018, 21:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w