1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC TRỪ NẤM TRONG PHÒNG TRỊ BỆNH PHẤN TRẮNG, RỤNG LÁ CORYNESPORA, HÉO ĐEN ĐẦU LÁ TRÊN CÂY CAO SU

96 268 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA NÔNG HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC TRỪ NẤM TRONG PHÒNG TRỊ BỆNH PHẤN TRẮNG, RỤNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC TRỪ NẤM TRONG PHÒNG TRỊ BỆNH PHẤN TRẮNG, RỤNG LÁ

CORYNESPORA, HÉO ĐEN ĐẦU LÁ

TRÊN CÂY CAO SU

Sinh viên thực hiện: VŨ THỊ HOÀI THƯƠNG Ngành: NÔNG HỌC

Niên khóa: 2008 – 2012

Tp HỒ CHÍ MINH, tháng 08/2012

Trang 2

ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC TRỪ NẤM TRONG PHÒNG TRỊ BỆNH PHẤN TRẮNG, RỤNG LÁ

CORYNESPORA, HÉO ĐEN ĐẦU LÁ

TRÊN CÂY CAO SU

Tp HỒ CHÍ MINH, tháng 08/2012

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Lòng biết ơn sâu sắc của con đối với ba mẹ và gia đình đã chăm sóc, dưỡng dục con nên người

Tôi xin chân thành cảm tạ:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm khoa Nông học cùng tất cả quý thầy cô đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam và Bộ môn Bảo vệ Thực vật

đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

TS Nguyễn Anh Nghĩa đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

TS Võ Thị Thu Oanh, giáo viên hướng dẫn đề tài, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận

Th.S Nguyễn Đôn Hiệu đã trực tiếp hướng dẫn và truyền cho tôi nhiều kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành khóa luận này

KS Nguyễn Ngọc Mai và KTV Bùi Thanh Tuấn cùng tất cả các cô chú và anh chị trong Bộ môn Bảo vệ Thực vật đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại Bộ môn

Các bạn lớp Nông học và các bạn cùng thực tập tại Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam đã giúp đỡ và chia sẻ vui buồn với tôi trong suốt quá trình học và thực tập

Sinh viên thực hiện

Vũ Thị Hoài Thương

Trang 4

TÓM TẮT

Vũ Thị Hoài Thương, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/1012 “Đánh giá hiệu lực của một số thuốc trừ nấm trong phòng trị bệnh phấn trắng, rụng lá Corynespora, héo đen đầu lá trên cây cao su”

Đề tài được thực hiện tại Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam nhằm xác định hiệu lực trừ nấm của 4 loại thuốc Amistar 250 SC, Score 250

EC, TiltSuper 300 EC, Folicur 250 EW trong phòng trừ bệnh phấn trắng, rụng lá Corynespora, héo đen đầu lá trên cây cao su ở các nồng độ khác nhau theo phương pháp đầu độc môi trường và thử nghiệm ngoài đồng Đề tài được tiến hành với các nội dung:

Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây cao su của các loại thuốc

ở các nồng độ khác nhau ở điều kiện đồng ruộng

Đánh giá hiệu lực diệt nấm Corynespora cassiicola của các loại thuốc theo

phương pháp đầu độc môi trường

Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh Corynespora trên cây cao su của các loại thuốc ở điều kiện đồng ruộng

Đánh giá hiệu lực diệt nấm Colletotrichum gloeosporioides của các loại thuốc

theo phương pháp đầu độc môi trường

Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh héo đen đầu lá trên cây cao su của các loại thuốc ở điều kiện đồng ruộng

Kết quả đạt được:

Đối với bệnh phấn trắng:

Thí nghiệm thăm dò hiệu lực phòng trị bệnh của thuốc có hoạt chất

azoxystrobin (Amistar 250 SC): Thuốc Amistar 250 SC được áp dụng ở nồng độ 0,1% cho hiệu lực phòng trị bệnh cao nhất, sau 3 đợt xử lí thuốc có TLB (27,85%) và CSB (8,07 %) thấp nhất

Trang 5

Thí nghiệm thăm dò hiệu lực phòng trị bệnh của thuốc có hoạt chất

difenoconazole (Score 250 EC): Thuốc Score 250 EC được áp dụng ở nồng độ 0,15% cho hiệu lực phòng trị bệnh cao nhất, sau 3 đợt xử lí thuốc có TLB (26,67%) và CSB (5,73%)

Đối với bệnh Corynespora:

Theo phương pháp đầu độc môi trường, các loại thuốc Score 250 EC, TiltSuper

300 EC, Folicur 250 EW cho hiệu quả diệt nấm C cassiicola rất cao ở điều kiện phòng

thí nghiệm (chỉ số ED50 tương ứng là 1,33; 2,13; 3,46 ppm a.i) Theo phương pháp đầu độc môi trường thì thuốc Amistar 250 SC không có hiệu lực diệt nấm

Kết quả thí nghiệm ngoài đồng ruộng cho thấy thuốc Amistar 250 SC 0,05%

cho hiệu quả phòng trị bệnh Corynespora cao nhất, sau 3 đợt xử lí thuốc có TLB

(29,33%) và CSB (6,4%), kế đến là các loại thuốc Score 250 EC, TiltSuper 300 EC, đối chứng chuẩn (Anvil 5 SC ) và Folicur 250 EW

Đối với bệnh héo đen đầu lá:

Theo phương pháp đầu độc môi trường , các loại thuốc Amistar 250 SC, Score

250 EC, TiltSuper 300 EC, Folicur 250 EW cho hiệu quả diệt nấm C gloeosporioides rất cao ở điều kiện phòng thí nghiệm (chỉ số ED50 tương ứng là 2,61; 0,11; 0,17; 0,1ppm a.i)

Sau xử lí thuốc lần 3, thuốc Amistar 250 SC 0,05% cho hiệu quả phòng trị bệnh

héo đen đầu lá cao nhất ở điều kiện đồng ruộng kế đến là các loại thuốc TiltSuper 300

EC, Score 250 EC, Folicur 250 EW và đối chứng chuẩn (Anvil 5 SC)

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ II MỤC LỤC V DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VIII DANH SÁCH CÁC BẢNG IX DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ X

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu 3

1.3 Yêu cầu 3

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cây cao su 4

2.1.1 Nguồn gốc cây cao su 4

2.1.2 Đối tượng bảo vệ thực vật 5

2.2 Sơ lược về bệnh phấn trắng trên cây cao su 6

2.2.1 Phân bố 6

2.2.2 Tác nhân gây bệnh 6

2.2.3 Sơ lược về nấm O heveae Steinm 6

2.3 Sơ lược về bệnh rụng lá Corynespora trên cây cao su 8

2.3.1 Lịch sử phát hiện và tầm quan trọng 8

2.3.1 Triệu chứng 9

2.3.2 Tác nhân gây bệnh 10

2.3.2.1 Phân loại 10

Trang 7

2.3.2.2 Đặc điểm hình thái 11

2.3.2.3 Đặc điểm sinh lý 12

2.3.2.4 Sự xâm nhiễm 12

2.3.2.5 Độc tố cassiicolin 13

2.4 Sơ lược về bệnh héo đen đầu lá trên cây cao su 14

2.4.1 Sự phân bố và tác hại của bệnh héo đen đầu lá 14

2.4.2 Triệu chứng bệnh héo đen đầu lá cao su 14

2.4.3 Sự xâm nhiễm của nấm Colletochitrum spp trên lá cao su 14

2.4.4 Hình dạng bào tử và màu sắc tản nấm Colletotrichum spp 16

2.5 Thuốc bảo vệ thực vật: 16

2.5.1 Hoạt chất azoxystrobin 16

2.5.2 Hoạt chất difenoconazole 17

2.5.3 Hoạt chất propiconazole 18

2.5.4 Hoạt chất tebuconazole 19

2.5.5 Hoạt chất hexaconazole 20

CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 22

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

3.2 Nội dung nghiên cứu 22

3.3 Phương pháp nghiên cứu 22

3.3.1 Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây cao su của một số thuốc trừ nấm bằng phương pháp thí nghiệm ngoài đồng 22

3.3.2 Đánh giá hiệu lực phòng trừ nấm C cassiicola của một số loại hoá chất 27

3.3.2.1 Thử nghiệm thuốc theo phương pháp đầu độc môi trường 27

3.3.2.2 Thử nghiệm thuốc ngoài đồng ruộng 29

3.3.3 Đánh giá hiệu lực phòng trừ nấm C gloeosporioides của một số loại hoá chất 31

Trang 8

3.3.3.1 Thử nghiệm thuốc theo phương pháp đầu độc môi trường 31

3.3.3.2 Thử nghiệm thuốc ngoài đồng ruộng 32

3.4 Xử lý số liệu 34

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây cao su của một số thuốc trừ nấm bằng phương pháp thí nghiệm ngoài đồng 35

4.1.1 Triệu chứng 35

4.1.2 Kết quả thử thuốc trên vườn nhân 37

4.2 Đánh giá hiệu lực phòng trừ nấm C cassiicola của một số loại hoá chất 42

4.2.1 Triệu chứng bệnh Corynespora trên cây cao su 42

4.2.2 Kết quả thử nghiệm hiệu lực của một số hóa chất phòng trừ nấm C cassiicola theo phương pháp đầu độc môi trường 44

4.2.3 Kết quả đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh Corynespora trên cây cao su của một số thuốc trừ nấm bằng phương pháp thí nghiệm ngoài đồng 49

4.3 Đánh giá hiệu lực phòng trừ nấm C gloeosporioides của một số loại hoá chất 51

4.3.1 Triệu chứng 51

4.3.2 Kết quả thử nghiệm hiệu lực của một số hóa chất phòng trừ nấm C gloeosporioides theo phương pháp đầu độc môi trường 52

4.3.3 Kết quả thí nghiệm đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh héo đên đầu lá trên cây cao su của một số thuốc trừ nấm bằng phương pháp thí nghiệm ngoài đồng 56

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Đề nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 62

Trang 9

ED50: Liều lượng hiệu quả đối với 50% số cá thể thí nghiệm (Effective Dose 50)

FAO: Food and Agriculture Organization

Ha: Hecta

KT: Khai thác

KTCB: Kiến thiết cơ bản

LD50: Liều lượng gây chết 50% số cá thể thí nghiệm (Lethal Dose 50)

LSD: Least Significant Difference Test

PDA: Potato Dextrose Agar

ppm: part per million

PSA: Potato Sucrose Agar

TLB: Tỷ lệ bệnh

VNCCSVN: Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Loại thuốc và nồng độ xử lý ở các nghiệm thức 23

Bảng 3.2: Nồng độ hoạt chất các loại thuốc dùng trong thí nghiệm 27

Bảng 3.3: Nồng độ hoạt chất các loại thuốc dùng trong thí nghiệm: 32

Bảng 4.1: Diễn biến TLB sau 3 đợt xử lí thuốc 37

Bảng 4.2: Diễn biến CSB sau 3 đợt xử lí thuốc 38

Bảng 4.3: Diễn biến TLB sau 3 đợt xử lí thuốc 39

Bảng 4.4: Diễn biến CSB sau 3 đợt xử lí thuốc 39

Bảng 4.5: Ảnh hưởng của các loại thuốc đến sự phát triển khuẩn lạc nấm C cassiicola 45

Bảng 4.6: Phương trình hồi qui và chỉ số ED50 của các loại thuốc sau 12 ngày cấy 47

Bảng 4.7: Diễn biến TLB sau 3 đợt xử lí thuốc 49

Bảng 4.8: Diễn biến CSB sau 3 đợt xử lí thuốc 50

Bảng 4.9: Ảnh hưởng của các loại thuốc đến sự phát triển khuẩn lạc nấm C gloeosporioides 53

Bảng 4.10: Phương trình hồi qui và chỉ số ED50 của các loại thuốc sau 12 ngày cấy 54 Bảng 4.11: Diễn biến TLB sau 3 đợt xử lí thuốc 56

Bảng 4.12: Diễn biến CSB sau 3 đợt xử lí thuốc 56

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Hình 2 : Hình thái nấm C cassiicola 11

Hình 4.1: Triệu chứng bệnh phấn trắng trên lá cao su 35

Hình 4.2: Nấm bệnh gây hại trên chồi 36

Hình 4.3: Nấm bệnh gây hại trên lá già 36

Hình 4.4: Triệu chứng ngộ độc 41

Hình 4.5: Triệu chứng ngộ độc khác 41

Hình 4.6: Triệu chứng bệnh Corynespora dạng xương cá và cháy một phần phiến lá 43 Hình 4.7: Triệu chứng bệnh Corynespora dạng đốm tròn 43

Hình 4.8: Đường kính khuẩn lạc C cassiicola sau cấy 12 ngày 47

Đồ thị 4.1: Đường hồi qui của % ức chế nấm C cassiicola theo nồng độ a.i của các loại thuốc sau 12 ngày 48

Hình 4.9: Nấm bệnh gây hại trên lá non 51

Hình 4.10: Nấm bệnh gây rụng từng lá chét 51

Hình 4.11: Khuẩn lạc C gloeosporioides sau cấy 12 ngày 54

Đồ thị 4.2: Đường hồi qui của % ức chế nấm C gloeosporioides theo nồng độ a.i của các loại thuốc sau 12 ngày 55

Trang 12

Chương 1

GIỚI THIỆU CHUNG

1.1 Đặt vấn đề

Cây cao su (Hevea brasiliensis) là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế

cao, từ sản phẩm chính là mủ cao su có thể được dùng để chế biến thành nhiều sản phẩm phục vụ trong ngành công nghiệp; ngoài ra gỗ cao su có thể chế biến thành các sản phẩm sử dụng trong xây dựng, vật dụng trang trí hay vật dụng gia đình Về môi trường, cao su có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất, cân bằng sinh thái và bộ tán

lá cây cao su đóng một vai trò như bộ lọc luôn hoạt động để làm sạch không khí

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa như ở Việt Nam, cây cao su là mục tiêu cho nhiều loài sâu bệnh tấn công Trong số các bệnh hại lá trên cây cao su thì bệnh phấn trắng, rụng lá Corynespora, héo đen đầu lá được coi là những bệnh làm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây cao su

Bệnh phấn trắng do nấm Oidium heveae Steimn gây ra làm cây bị rụng lá nhiều

lần, gây mất sức cây, vì vậy làm chậm thời gian khai thác và làm giảm 10 – 50% sản lượng mủ (Phan Thành Dũng, 2004) Bệnh cũng làm chậm tốc độ sinh trưởng, hoặc có thể gây chết cây ở những vườn cao su giai đoạn kiến thiết cơ bản, vườn nhân và vườn ươm giống

Bệnh rụng lá cao su Corynespora do nấm C cassiicola gây ra, được biết như

một đại dịch từ hai thập kỷ trở lại đây, bệnh gây hại trên phiến lá non lẫn lá già, cuống

lá và chồi, trường hợp bệnh nghiêm trọng có thể làm cho cây bị chết và giảm sản lượng

mủ từ 20 – 25% cho vườn cây cao su (Phan Thành Dũng, 2004)

Bệnh héo đen đầu lá do nấm C gloeosporioides gây ra thường xuất hiện vào

mùa mưa và gây hại nặng trên vườn nhân, vườn ương và vườn cây trồng trong thời gian kiến thiết cơ bản, ít gây hại trên vườn cây khai thác Bệnh gây hại lên chồi và lá non, gây rụng lá và có thể gây chết chồi, hậu quả làm làm cây chậm sinh trưởng, giảm

Trang 13

chất lượng gỗ ghép và tỷ lệ ghép sống thấp Ở một số nước khác, bệnh xuất hiện và gây hại nặng trên cả cây cao su khai thác làm giảm sản lượng đến 45% (Phan Thành Dũng, 2004)

Để hạn chế tác hại của các bệnh về lá trên cây cao su, hiện nay có nhiều biện pháp đã được nghiên cứu và áp dụng Trong đó, nghiên cứu về sử dụng giống kháng bệnh được xem là biện pháp lâu dài Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có dòng vô tính cao su nào hoàn toàn miễn dịch đối với loại nấm này Mặt khác, công tác chọn tạo giống cũng cần rất nhiều thời gian nghiên cứu Trong những năm gần đây, việc sử

dụng các thuốc trừ nấm hoạt chất hexaconazole, phối trộn carbendazim và

hexaconazole với các chế phẩm thương mại như Anvil 5SC, Callihex 50SC, Arivit 250SC, Vixazol 275 SC trong phòng trừ bệnh về lá cũng đã mang lại nhiều hiệu quả, nhất là đối tượng vườn ương, vườn nhân và kiến thiết cơ bản

Tuy nhiên việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật lâu dài, không chọn lọc đã tạo mối nguy cơ gây phát sinh nhiều nòi nấm mới có khả năng kháng thuốc cao, làm giảm hiệu quả phòng trừ của thuốc bảo vệ thực vật, làm bệnh phát tán trên diện rộng Ngoài

ra giá bán trên thị trường của một số loại thuốc hiện nay khá cao dẫn đến tổng chi phí phòng trị bệnh phấn trắng, rụng lá Corynespora, héo đen đầu lá khá cao Trước hiện

trạng đó, việc nghiên cứu, tìm ra một số thuốc thế hệ mới có hiệu quả phòng trừ cao và phổ tác dụng rộng, có thể phòng trừ các bệnh về lá, ít độc với môi trường và xây dựng chế độ luân phiên sử dụng thuốc phù hợp trong phòng trị các bệnh về lá là rất quan trọng, đây được coi là một chiến lược phòng trừ bệnh cây một cách hữu hiệu, bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế

Nhằm tìm ra loại thuốc mới có hiệu quả phòng trị bệnh phấn trắng, rụng lá Corynespora, héo đen đầu lá tốt hơn so với khuyến cáo hiện hành và khảo sát hiệu lực của một số thuốc trừ nấm trong phòng trị cả 3 bệnh: phấn trắng, rụng lá Corynespora,

héo đen đầu lá, đề tài: “Đánh giá hiệu lực của một số thuốc trừ nấm trong phòng trị bệnh phấn trắng, rụng lá Corynespora, héo đen đầu lá trên cây cao su” được

thực hiện

Trang 14

1.2 Mục tiêu

Khảo sát và đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc trừ nấm trong phòng trị

bệnh phấn trắng do nấm O heveae Steimn, bệnh rụng lá Corynespora do nấm C

cassiicola , bệnh héo đen đầu lá do nấm C gloeosporioides gây ra trên cây cao su

1.3 Yêu cầu

Nhận biết được triệu chứng bệnh phấn trắng, rụng lá Corynespora, héo đen đầu

lá gây ra trên lá cây cao su

Thuần thục các thao tác trong phòng thí nghiệm, phương pháp bố trí thí nghiệm ngoài đồng, theo dõi các chỉ tiêu nhằm đánh giá được hiệu lực của thuốc

Khảo nghiệm một số loại số thuốc trong phòng trị bệnh rụng lá Corynespora do

nấm C cassiicola, bệnh héo đen đầu lá do nấm C gloeosporioides gây ra trên cây cao

su bằng phương pháp đầu độc môi trường

1.3 Giới hạn của đề tài

Các thí nghiệm tiến hành thử thuốc ngoài đồng chịu ảnh hưởng phần nào của

những yếu tố tác động từ bên ngoài (nguồn nấm ngoài tự nhiên, thời tiết)

Thời gian thực tập ngắn (02 - 07/2011) nên thí nghiệm chỉ mang tính thăm dò,

chưa có điều kiện nghiên cứu sâu hơn, thí nghiệm chỉ tiến hành ở quy mô nhỏ

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cây cao su

2.1.1 Nguồn gốc cây cao su

Cao su có danh pháp khoa học là Hevea brasiliensis Muell Arg, là loại cây thân

gỗ thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae), có nguồn gốc ở lưu vực sông Amazone, Nam

Mỹ Ngoài loài H brasiliensis còn có 9 loài khác cũng cho mủ cao su Tuy nhiên, chỉ

có loài H brasiliensis là loài cho mủ cao su có ý nghĩa về mặt kinh tế và được trồng

phổ biến nhất (Nguyễn Thị Huệ, 1997)

Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu rừng mưa Amazon Cách đây gần 10 thế kỉ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt và tạo ra những quả bóng vui chơi trong hội dịp hè Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo thổ ngữ Mainas nghĩa là “Nước mắt của cây” (cao là gỗ, uchouk là chảy ra hay khóc) Do nhu cầu tăng lên và sự phát minh ra công nghệ lưu hóa năm 1839 đã dẫn tới sự bùng nổ trong khu vực này, làm giàu cho các thành phố Manaus (bang Amazoneas) và Belém (bang Pará) thuộc Brasil Thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm vi Brasil diễn ra vào năm 1873 Sau một vài

nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm tại vườn thực vật Hoàng gia Kew, những cây con này

đã được gửi tới Ấn Độ để gieo trồng nhưng chúng đã bị chết Cố gắng lần thứ hai sau

đó đã được thực hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm 1875 Khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm và vào năm 1876 khoảng 2.000 cây giống đã được gửi trong các thùng tới Ceylon và 22 cây đã được gửi tới các vườn thực vật tai Singapore Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở ngoài nơi bản địa của nó, cây cao su đã được nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa của Anh Cây cao su đã có mặt tại các vườn thực vật Buitenzorg, Indonesia năm 1883 Vào năm 1898, một đồn điền cao su

Trang 16

đã được thành lập tại Malaysia và ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tai khu vực châu Phi nhiệt đới (Nguyễn Thị Huệ, 1997)

2.1.2 Đối tượng bảo vệ thực vật

Theo Chee (1976), có trên 550 loài sinh vật tấn công cây cao su, trong đó có 24 loài có tầm quan trọng về kinh tế (trích dẫn bởi Phan Thành Dũng, 2004) Trong các đối tượng bảo vệ thực vật trên cây cao su, bệnh hại đóng vai trò quan trọng nhất

Trần Nguyên Khang và cộng sự (1979) trích dẫn tài liệu của Dyakova G A (1969) cho biết, cây cao su bị tất cả 27 loại bệnh, trong đó có 14 loại bệnh lá, 8 loại

bệnh thân cành và 5 loại bệnh rễ Bệnh Cháy lá Nam Mỹ do nấm Microcyclus ulei gây

ra được đánh giá là bệnh nguy hiểm nhất trên cây cao su ở khu vực Nam Mỹ

Hiện nay, ở Việt Nam chưa phát hiện bệnh do vi khuẩn và virus trên cây cao su Các loại bệnh gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất cao su có thể kể đến như bệnh phấn trắng (O heveae), bệnh Corynespora (C cassiicola), héo đen đầu lá (C

gloeosporioides), r ụng lá mùa mưa (Phytophthora palmivora và Phytophthora

botryosa ), đốm mắt chim (Drechslera heveae), loét sọc mặt cạo (Phytophthora

palmivora và Phytophthora botryosa), n ấm hồng (Corticium salmonicolor), bệnh rễ nâu (Phellinus noxius) và b ệnh nứt vỏ (Botryodiplodia theobromae) Mặc dù mới được

phát hiện vào năm 1999, nhưng bệnh Corynespora đã nhanh chóng được xem là loại bệnh nguy hiểm nhất trên cây cao su ở nước ta (Phan Thành Dũng, 2004)

Thiệt hại do côn trùng gây ra trên cây cao su thấp hơn nhiều so với những loại cây trồng khác Mối, sùng hại rễ, sâu ăn lá, nhện và rệp là các loại côn trùng gây hại chính trên cây cao su Trong các loại cỏ dại xuất hiện trong lô cao su thì cỏ tranh, cỏ

mỹ và cỏ đuôi chồn là các loại cỏ dại có tác hại lớn nhất Các loại cỏ dại không những làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và sản lượng cây cao su, gây trở ngại cho chăm sóc mà còn là nguyên nhân chính gây cháy trong mùa khô (Phan Thành Dũng, 2004)

Trang 17

2.2 Sơ lược về bệnh phấn trắng trên cây cao su

2.2.1 Phân bố

Xuất hiện lần đầu tiên trên cây cao su năm 1918 tại Java (Indonesia) và gần đây nhất tại Papua New Guinea năm 1967 Ngày nay, bệnh hiện diện ở tất cả các nước trồng cao su và có khả năng gây hại cho cây cao su ở mọi lứa tuổi từ vườn nhân, ương đến vườn cây cao su kinh doanh và nặng nhất vào giai đoạn ra lá mới hằng năm Tuy nhiên mức độ thiệt hại còn tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, tính kháng của dòng vô tính và biện pháp phòng trị (Phan Thành Dũng, 2004)

Vùng có cao trình trên 300 m bệnh trở lên nặng hơn do nhiệt độ thấp và thường xuyên có sương mù (Phan Thành Dũng, 2004)

2.2.2 Tác nhân gây bệnh

Bệnh rụng lá phấn trắng do nấm O heveae Steinm, họ Erysiphaceae, ngoài ra còn có tên Acrosporium heveae (Steinm) Subramanian (Phan Thành Dũng, 2004)

2.2.3 Sơ lược về nấm O heveae Steinm

- Phân loại: Nấm O heveae Steinm là tác nhân chủ yếu gây nên tình trạng rụng lá

thứ cấp trên cây cao su trong giai đoạn ra lá mới ngay sau đợt rụng lá qua đông

ng năm Nấm O heveae có hệ thống phân loại như sau:

Giới: Fungi

Giới phụ: Dikarya

Ngành: Ascomycota

Ngành phụ: Pezizomycotina Lớp: Leotiomycetes Bộ: Erysiphales

Họ: Erysiphaceae

Họ phụ: Mitofporic Erysiphaceae Chi: Oidium

Loài: Oidium heveae

Trang 18

- Đặc điểm hình thái

Sợi nấm O heveae có cấu tạo đa bào, màu trắng trong suốt và phân cành Cành

không phân bào tử và hợp với sợi nấm theo chiều thẳng đứng Bào tử có dạng elip hoặc hình trống, với kích thước biến động trong khoảng 25 – 42 x 12 – 17 µm Có 2 –

4 bào tử đính thành chuỗi trên một cành (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1998;

Sivanesan và Holilday, 1976)

- Đặc tính thực vật học

Những nghiên cứu in vitro và in vivo của Liyanage và cộng sự (1985) cho biết, một tỷ lệ cao bào tử O heveae lấy được từ những lá nhiễm bệnh đã không nảy mầm nếu không được rung nhẹ để loại đi những bào tử già có sức sống kém Bào tử nấm O

heveae có thể nảy mầm ở nhiệt độ 5 – 350C, đạt cực đại ở 25 – 350C và bị ức chế hoàn toàn ở 490C Bào tử có thể nảy mầm ở khoảng biến thiên nhiệt độ rất rộng, tuy nhiên

để sự nhiễm bệnh diễn ra tốt hơn thì cần phải có ẩm độ cao Sự hình thành bào tử bị ức chế khi kéo dài thời gian nấm trong nước Ánh sáng trực tiếp của mặt trời và đèn cực tím gây ảnh hưởng xấu đến sự nảy mầm của bào tử, điều này thể hiện trên các bào tử rời rõ hơn trên các bào tử dính chặt với nhau trên lá

- Khả năng tồn tại của nấm trong tự nhiên

Các bào tử nấm tồn tại suốt năm trên các cây con trong vườn ương, các chồi non mọc dưới tán cây già và khi gặp điều kiện thuận lợi nó sẽ sản sinh ra các bào tử để phát triển và gây bệnh (Nguyễn Thị Huệ, 2007) Bào tử từ các ổ nấm ban đầu phát tán rơi trên lá, sau 2 giờ mọc mầm xâm nhiễm vào mô lá Qua giai đoạn tiềm dục khoảng

3 – 4 ngày nấm hình thành bào tử vô tính, phát tán đi xa tiến hành nhiều đợt xâm nhiễm lập lại, mở rộng diện tích bệnh một cách nhanh chóng

- Con đường gây bệnh, phổ kí chủ và khả năng gây bệnh

Nấm O heveae Steinm là loại kí sinh bắt buộc (chỉ sống và phát triển trên cây

kí chủ) Ngoài cây cao su, nấm còn kí sinh trên cỏ mực (Euphorbia hirta), cây xà bông (Jastropha curcas) và cây song, mây Bào tử nảy mầm và xâm nhiễm vào lá qua khí

khổng hoặc xuyên qua tầng cutin và biểu bì dậu, nấm hình thành bào tử vào khoảng 48 giờ sau đó, phát tán nhờ gió, đây là nguồn lây lan chính (Phan Thành Dũng, 2004)

Trang 19

- Triệu chứng bệnh rụng lá phấn trắng trên cây cao su

Sau khi bị nấm O heveae xâm nhiễm từ 7 – 10 ngày, nhiều bào tử hình thành trên bề mặt vết bệnh, tạo nên một lớp phấn trắng ở cả hai mặt lá

Nấm bệnh có khả năng gây hại trên mọi lứa tuổi của lá cao su, đặc biệt là trên lá non giai đoạn từ 1 – 10 ngày tuổi (thời kì lá có màu từ đồng tím đến màu xanh nhạt) với triệu chứng chủ yếu: ban đầu lá bệnh bị mất độ láng bóng bình thường, nhăn nheo

dị hình rồi chuyển sang màu tím tối và cuối cùng lá bị khô và rụng Nấm bệnh thường gây rụng từng lá chét một và để trơ lại cuống phủ đầy phấn trắng

Khi lá đã chuyển sang màu xanh nhạt bệnh thường biểu hiện dưới dạng chấm nhỏ màu vàng nhạt, trên bề mặt vết bệnh phủ một lớp nấm mỏng mịn màu trắng, các vết bệnh này sẽ lớn dần lên cùng với sự lan rộng của lớp nấm trắng phủ trên bề mặt chứa vô số các bào tử Trên các lá trưởng thành nấm bệnh thường không gây rụng mà

để lại các vết bệnh màu vàng nhạt với hình dạng bất định tồn tại quanh năm trên bề mặt lá làm giảm diện tích quang hợp

- Tác hại của bệnh phấn trắng

Tác hại chủ yếu của nấm bệnh là làm giảm chất lượng gỗ ghép trên vườn nhân, làm chậm sinh trưởng của cây và gây chết cành, chết cây trên vườn nhân, vườn ương, vườn KTCB và vườn cây kinh doanh Ngoài ra, do phải kéo dài thời gian nghỉ dưỡng qua đông để chờ ổn định tầng lá mới, do đó bệnh phấn trắng còn làm giảm sản lượng nghiêm trọng từ 10 – 50% trên vườn cây khai thác (Phan Thành Dũng, 2004)

2.3 Sơ lược về bệnh rụng lá Corynespora trên cây cao su

2.3.1 Lịch sử phát hiện và tầm quan trọng

Khoảng 95% sản phẩm cao su thiên nhiên trên thế giới được sản xuất từ châu Á Tuy nhiên cây cao su ở khu vực này đã và đang chịu mối đe dọa rất lớn từ bệnh Corynespora Bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1936 trên cây cao su thực sinh ở Sierra Leone thuộc châu Phi Ấn Độ phát hiện bệnh lần đầu tiên ở vườn ương của VNCCS Ấn Độ vào năm 1958 Sau đó bệnh được ghi nhận trên vườn nhân gỗ ghép ở Malaysia vào năm 1960, tại trại thực nghiệm Sembawa (phía Nam Sumatra) ở Indonesia năm 1980 Thái Lan và Sri Lanka phát hiện bệnh vào năm 1985 (Jacob,

Trang 20

2006) Gần đây nhất, vào năm 2006 bệnh đã xuất hiện trên cây cao su ở Trung Quốc (Jinji và cộng sự, 2007)

Nấm bệnh xâm nhiễm trên cả lá non lẫn lá già và gây rụng lá quanh năm Bệnh

là nguyên nhân kéo dài thời gian kiến thiết cơ bản, làm giảm năng suất mủ, gây chết chồi và đôi khi chết cả cây ở những dòng vô tính mẫm cảm Malaysia, Sri Lanka, Ấn

Độ và một số quốc gia khác ở châu Á đã trải qua nhiều trận đại dịch do bệnh Corynespora gây ra trên cây cao su Trong đó, Sri Lanka là quốc gia trồng cao su chịu ảnh hưởng nặng nhất (Jacob, 2006)

Các dòng vô tính nhiễm bệnh nặng hầu hết là các dvt cao sản và đầy triển vọng như RRIC 103, RRIC 104, RRIC 110, RRIC 131, RRIC 132, RRIC 133, RRIM 725, RRIM 600, RRII 105, GT 1, IAN 873, FX 25, KRS 21, PPN 2685, PPN 2444 và PPN

2447 (Jacob, 2006)

Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào tháng 8 năm 1999 tại Trạm

Thực nghiệm Cao su Lai Khê/VNCCS Việt Nam, gây hại nặng trên các dvt RRIC 103, RRIC 104 và LH 88/372 (con lai của RRIC 110 và GU 1479) Đến tháng 9 năm 1999, bệnh cũng được ghi nhận tại các vùng trồng cao su thuộc Đông Nam bộ và vào tháng 1 năm 2000 bệnh bộc phát mạnh trên dvt RRIC 104 ở Công ty Cao su Lộc Ninh với hơn

200 ha cao su kiến thiết cơ bản và cao su khai thác bị rụng lá gần như hoàn toàn Trước dịch bệnh nguy hiểm, 221 cây cao su nhiễm bệnh ở Trạm Thực nghiệm Cao su Lai Khê và hơn 3.000 cây cao su của các dvt mẫn cảm từ các vùng lân cận đã bị loại

bỏ để tránh sự lây lan của bệnh Các dvt cao su khác như PB 235, RRIM 600, VM 515

và RRIC 110 cũng bị nhiễm nhẹ Ước tính tổn thất trong đợt dịch hại đầu tiên do bệnh gây ra khoảng 500.000.000 đồng (Dung và Hoan, 2000)

2.3.1 Triệu chứng

Trên lá: Triệu chứng đặc trưng với vết bệnh màu đen có hình dạng xương cá

dọc theo gân lá Nếu gặp điều kiện thuận lợi các vết lan rộng gây chết từng phần lá do

sự phá hủy của lục lạp, sau đó toàn bộ lá đổi màu vàng - cam và rụng từng lá một

Trang 21

Trên lá non các vết bệnh có hình tròn màu xám đến nâu với vòng màu vàng xung quanh, tại trung tâm đôi khi hình thành lỗ Lá quăn và biến dạng sau đó rụng toàn

bộ

Trên chồi và cuống lá: Các chồi xanh dễ nhiễm, đôi khi nấm bệnh cũng gây hại chồi đã hóa nâu Dấu hiệu đầu tiên với vết nứt dọc theo cuống và chồi có dạng hình thoi, có mủ rỉ ra sau đó hóa đen, vết bệnh có thể phát triển dài đến 20 cm gây chết

chồi, đôi khi chết cả cây Nếu dùng dao cắt bỏ lớp vỏ ngoài sẽ xuất hiện những sọc đen

ăn sâu trên gỗ, chạy dọc theo vết bệnh Trên cuống lá với vết nứt màu đen có chiều dài 0,5 - 3,0 mm

Nếu cuống lá bị hại, toàn bộ lá chét bị rụng khi còn xanh dù không có một triệu chứng nào xuất hiện trên phiến lá

Các dòng vô tính cao su khác nhau thì triệu chứng bệnh cũng có thể khác nhau Một số dvt như RRIM 600 và GT 1, kích thước vết bệnh thường nhỏ hơn so với vết

- Loài: Corynespora cassiicola

Trước đây nấm có nhiều tên gọi khác nhau: Helminthosporium cassiicola Berk

Trang 22

& Curt., apud Berk.; H papayae H Syd.; H vignae Olive, apud Olive, Bain & Lefbvre; Cercospora melonis Cooke; C vignicola Kawamura; Corynespora melonis

(Cooke)

2.3.2.2 Đặc điểm hình thái

Khuẩn ty có màu xám đến nâu Khuẩn lạc biến thiên rất lớn về hình thái, hình

dạng bào tử trên vết bệnh cũng như trong môi trường nhân tạo Sự đa dạng về hình thái

của bào tử được ghi nhận không chỉ giữa các nguồn nấm mà còn trong cùng một nguồn nấm Bào tử có dạng bầu dục, dài, thẳng hoặc cong lưỡi liềm Kích thước bào tử

biến thiên rất lớn với chiều dài thay đổi từ 17 – 942 μm và chiều rộng thay đổi từ 3,9 16,8 μm Bào tử có nhiều vách ngăn và số vách ngăn thay đổi từ 0 – 70 (Nghĩa và ctv, 2006) Bào tử đơn và đôi khi dạng chuỗi dính với nhau ở hai đầu gọi là hilum (Phan

-Thành Dũng, 2004)

Hình 2.1: Hình thái nấm C cassiicola A: Tản nấm trên môi trường PDA B: Bào tử

nấm C: Bào tử nảy mầm (Nguồn: Bộ môn BVTV – Viện NCCS Việt Nam)

C

Trang 23

Theo Spencer và Walters (1969), sự khác nhau về hình thái học một phần phụ thuộc vào sự sống khác nhau ở mức độ loài Các mẫu nấm C cassiicola phân lập từ các ký chủ khác nhau có sự khác biệt rất lớn về đặc điểm nuôi cấy

2.3.2.3 Đặc điểm sinh lý

Ngoài tự nhiên, bào tử thường phóng thích vào ban ngày và cao điểm là từ 8 -11

giờ Đặc biệt là sau thời gian mưa nhiều và tiếp theo nắng ráo, số lượng bào tử phóng thích nhiều nhất Bào tử có khả năng tồn tại trên các vết bệnh hoặc trong đất với thời gian khá dài, trên lá cao su khô nấm vẫn tồn tại và giữ nguyên khả năng gây bệnh đến

3 tháng (Phan Thành Dũng, 2004)

Trái với ngoài tự nhiên, nấm C cassiicola khó sinh bào tử trên môi trường nhân

tạo Hình dạng và màu sắc khuẩn lạc thay đổi tùy vào điều kiện và môi trường nuôi

cấy Nấm phát triển ở 8 – 36o

C, thích hợp nhất ở 28o

C và ngưng phát triển ở 40o

C (Phan Thành Dũng, 1995)

Trên mô bệnh, số lượng bào tử có thể lên đến 1.200 bào tử/cm2

Trên môi

trường nhân tạo, số lượng bào tử thay đổi tùy theo nguồn nấm Số lượng bào tử hình thành trên các môi trường có sự biến thiên lớn (Jayasinghe, 2000) Theo Phan Thành Dũng (1995), bào tử nấm hình thành trên môi trường PSA (Potato Sucrose Agar) nhiều

hơn trên môi trường PDA (Potato Dextrose Agar) và RLEA (Rubber Leaf Extract Agar) Chee (1988) cho rằng C cassiicola phân lập từ cây cao su nuôi trên môi trường PSA được đặt trong bóng tối 3 ngày, sau đó đặt dưới ánh sáng 3 ngày ở 260

C và ẩm độ 100% Ở nhiệt độ dưới 20o

C sự nảy mầm của bào tử diễn

ra chậm Nhiệt độ trên 40oC ống mầm không phát triển Bào tử không nảy mầm ở ẩm

độ 50% (Jayasinghe, 2000)

Trang 24

Nấm xâm nhập chủ yếu ở mặt dưới lá qua biểu bì và khí khổng, bên cạnh đó nấm còn tiết ra men celluloza giúp phân hủy màng tế bào Trong quá trình sinh trưởng

nấm còn tiết ra độc tố cassiicolin, hợp chất này rất độc cho cây cao su nên chỉ với một

vết bệnh nhỏ trên gân chính của lá cũng đủ gây rụng lá (Phan Thành Dũng, 2004) Theo Nugewela và cộng sự (1989), cassiicolin làm giảm tỉ lệ đồng hóa CO2 ở mô

khỏe, từ đó làm thay đổi cơ chế quang hợp ở lá bị nhiễm bệnh (trích dẫn bởi Edathil và

cộng sự, 2000)

Theo Situmorang và cộng sự (1996), khả năng xâm nhiễm và gây bệnh cho lá

cây cao su của nấm C cassiicola phụ thuộc vào các giai đoạn sinh trưởng của lá Nấm

gây bệnh trên cao su ở vườn ương, vườn nhân, vườn cây kiến thiết cơ bản và cả vườn cao su kinh doanh Lá non dưới 4 tuần tuổi là giai đoạn lá mẫn cảm nhất với đối với bệnh Bệnh xuất hiện trên cây cao su khai thác trong suốt thời kì ra lá mới (trích dẫn bởi Edathil và cộng sự, 2000)

2.3.2.5 Độc tố cassiicolin

Năm 2000, Breton và cộng sự đã phát hiện ra độc tố được nấm C cassiicola tiết

ra trong dịch nuôi cấy Độc tố này tan trong nước và trong các dung môi khác Cassiicolin là loại độc tố đặc hiệu ký chủ, nó chỉ tạo ra vết bệnh trên cây ký chủ mẫn

cảm, và không tạo ra bất kì triệu chứng nào trên những loại cây trồng không phải là ký chủ Sự di chuyển của độc tố dọc theo gân lá đã làm cho gân lá mất màu và tạo ra triệu

chứng đặc trưng là xương cá Nếu nhỏ một giọt độc tố này lên trên mô lá đã được gây

vết thương trước thì nó cũng tạo ra những triệu chứng bệnh giống như phương pháp gây bệnh nhân tạo thông thường

Sử dụng kháng thể của độc tố và độc tố tinh khiết cho thấy độc tố cassiicolin có vai trò chọn lọc ký chủ trong quá trình xâm nhiễm và gây bệnh của nấm C cassiicola

Độ nhạy của dvt cao su với độc tố cassiicolin có mối tương quan chặt với tính mẫn

cảm của dvt đó với mầm bệnh, điều này đã được chứng minh khi dùng một nguồn nấm

từ Philippines Nồng độ độc tố cao có thể vượt qua tính kháng của GT 1, dvt có biểu

hiện tính kháng bệnh ở độc tố nồng độ thấp Do vậy, tính kháng bệnh của các dvt không phải là bất biến và có vẻ như còn có mối liên hệ chặt với nồng độ độc tố được thử nghiệm

Trang 25

2.4 Sơ lược về bệnh héo đen đầu lá trên cây cao su

2.4.1 Sự phân bố và tác hại của bệnh héo đen đầu lá

Bệnh được ghi nhận trên cây cao su ở Malaysia năm 1905, sau đó bệnh xuất hiện tại Châu Phi (Uganda) năm 1920 và Châu Mỹ (Brazil) năm 1926 Ngày nay bệnh

đã xuất hiện ở tất cả các quốc gia trồng cao su trên thế giới Bệnh xuất hiện trong suốt giai đoạn phát triển của cây cao su và phổ biến vào mùa mưa do nấm cần ẩm độ cao để phát sinh và gây bệnh

Điều kiện khí hậu ở Việt Nam, bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa và gây hại nặng trên vườn nhân, vườn ương và vườn cây trồng trong thời gian kiến thiết cơ bản, ít gây hại trên vườn cây khai thác Bệnh gây hại lên chồi và lá non, gây rụng lá và có thể gây chết chồi, hậu quả là làm cho cây chậm sinh trưởng, giảm chất lượng gỗ ghép và tỉ

lệ ghép sống thấp Ở một số nước khác, bệnh xuất hiện và gây hại nặng trên cả cây cao

su khai thác làm giảm sản lượng đến 45% (Phan Thành Dũng, 2004) Ngoài lá nấm còn có khả năng gây hại trên trái làm khô trái (Petch, 1926; Tan, 1976)

Bệnh héo đen đầu lá cao su do nấm C gloeosporioides (Penz.) Sacc gây ra

(Phạm Văn Biên và ctv, 2004; Phan Thành Dũng, 2004; IRRDB, 1998, Jayasinghe và ctv, 1997) Bệnh gây hại cao su ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Brazil, Malaysia, India, Indonesia và Thái Lan Mầm bệnh có thể tấn công vào bất cứ phần xanh nào của cây bao gồm lá non, chồi và vỏ xanh Nó tạo lên hình dạng bất thường của lá và là nguyên nhân gây rụng lá thứ cấp của cây cao su

2.4.2 Triệu chứng bệnh héo đen đầu lá cao su

Lá cao su từ 1 – 10 ngày tuổi là giai đoạn mẫn cảm nhất đối với bệnh, vết bệnh đầu tiên trên lá non có đốm màu nâu nhạt và thường xuất hiện ở đầu lá, sau đó vết bệnh lan rộng tạo vùng thâm đen tại đầu lá và gây rụng từng lá chét, sau cùng cả cuống

lá bị rụng Lá trên 14 ngày tuổi, bệnh không gây rụng lá mà để lại những đốm u lồi trên phiến lá có chứa nhiều bào tử (Phan Thành Dũng, 2001)

2.4.3 Sự xâm nhiễm của nấm Colletochitrum spp trên lá cao su

Theo IRRBD (1998), C gloeosporioides là một loại nấm đa kí chủ rất quan trọng, nguồn bệnh hoại sinh, nó lây nhiễm trên nhiều cây hoang dại và cây trồng, sinh

Trang 26

trưởng vùng nhiệt đới và thường trên những mô cây mục nát Mầm bệnh có giai đoạn tiềm ẩn và bào tử có thể tồn tại trong một thời gian dài Bào tử lây lan bởi nước mưa bắn tung tóe và trong luồng không khí ẩm ướt, tản nấm màu hồng Hệ sợi nấm có thể

có thể sống bất kì trong môi trường tối hoặc sáng mà có thể cung cấp carbon, nitrogen

và vitamin Nấm phát triển ở pH từ 4 – 10, tuy nhiên thích hợp nhất từ 6,5 – 7, nhiệt độ trong khoảng 0 – 35oC, thích hợp nhất từ 26 – 29oC Bào tử nảy mầm ở 28oC Sự sinh bào tử ở ẩm độ 96%, nhưng ẩm độ dưới 96% bào tử nảy mầm rất chậm và nảy mầm không bình thường Sự xâm nhiễm xảy ra khi ẩm độ vượt quá 96%, nhiệt độ xung quanh khoảng 26 – 31oC và có phủ một màng nước mỏng trên bề mặt của môi trường Thời gian ủ bệnh là 4 giờ, ở ẩm độ bình thường, sau đó bào tử nảy mầm và xâm nhiễm vào mô lá sau 8 giờ Giác bám hình thành trên bề mặt trước khi xâm nhiễm

Bào tử của nấm C gloeosporioides vẫn có thể tồn tại trong điều kiện ẩm độ

thấp (62%) trong 1 đến 2 tuần và sau đó có thể nảy mầm trở lại nếu được đặt trở lại trong điều kiện ẩm độ 100% Nói chung, sự xâm nhiễm diễn ra thuận lợi trong khoảng nhiệt độ từ 20 – 30o

C (Arauz, 2000)

Trong quá trình xâm nhiễm, bào tử trực tiếp xuyên qua lớp cutin, phá hủy vách

tế bào và đi vào nội bào Lục lạp là cơ quan đầu tiên bị thiệt hại bởi mytokindria Mầm bệnh phóng thích men polygalacturonase, cellulose, pectin methylesterrase và độc tố trong suốt quá trình xâm nhiễm Triệu chứng có thể thấy trong khoảng 2 đến 4 ngày sau khi lá cao su bị nhiễm bào tử nấm (Ploetz, 1999)

Nấm có thể lây nhiễm từ mô bệnh đến mô khỏe và nó hình thành bào tử trên đó, thời gian ẩm độ lá kéo dài và mật số bào tử cao thì sự hình thành bào tử và tác hại rất lớn Mưa to gió lớn giúp sự phân tán bào tử và sự phân tán bào tử cũng có thể xảy ra trong mưa phùn Sương nhiều có khả năng làm cho bào tử rơi xuống để phân tán (Guyot và ctv, 2004)

Từ những kết quả nghiên cứu trên, nhận thấy nấm Colletochitrum là loại nấm

đa kí chủ, phạm vi phân bố rộng, nó gây hại nghiêm trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng, nó cũng là tác nhân gây hại nghiêm trọng trên cây

cao su Vì thế việc nghiên cứu về nấm Colletochitrum gây hại trên cây cao su đã được

các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và có nhiều đề tài đã nghiên cứu về đặc tính

Trang 27

sinh học của nấm Riêng ở Việt Nam, các nghiên cứu về đặc tính sinh học của nấm

Colletochitrum gây hại trên cây cao su và các giống cao su kháng bệnh đối với nấm

Colletochitrum còn rất hạn chế Theo ngành Cao Su Việt Nam cho rằng tác nhân gây

bệnh héo đen đầu lá cao su là do nấm C gloeosporioides, chưa có nghiên cứu nào để xác định bệnh héo đen đầu lá cao su do loài nấm Colletotrichum khác gây ra

2.4.4 Hình dạng bào tử và màu sắc tản nấm Colletotrichum spp

Theo Nguyễn Thị Hằng Phương và ctv (2003), nhóm có bào tử hình trụ nhọn một đầu và tròn một đầu hoặc tròn hai đầu, kích thước và hình dạng bào tử trong nhóm

này phù hợp với mô tả đặc trưng của loài C gloeosporioides

Nhóm có bào tử hình thoi nhọn hai đầu, kích thước và hình dạng bào tử của

nhóm này phù hợp với mô tả đăch trưng của loài C acutatum Loài C acutatum có

bào tử trong suốt, đơn bào, kích thước 8,5 – 16,5 x 2,5 – 4 µm (Yoshida, 2002) Tản

nấm C acutatum có màu hồng da cam và đặc trưng bào tử hình thoi, ngược lại, tản nấm C gloeosporioides màu xám có bào tử hình trụ dạng 2 đầu tròn (Jayasinghe và

ctv, 1997)

Theo Agrios (1997), nấm Colletotrichum sinh ra bào tử đơn bào, hình trứng,

hình trụ và đôi khi cong hoặc hình quả tạ Tản nấm xuất hiện màu hồng hoặc hồng da cam Ổ nấm nằm dưới biểu bì và gãy ra xuyên qua bề mặt của mô cây

Trang 28

• Công thức hóa học:

• Phân tử lượng: 403,4

• Tính chất:

Nhóm độc III, LD50 qua miệng là >5000 mg/kg Nó là một chất kích thích cho

ra và có thể làm da bị nhạy cảm Tương đối độc cho cá

Trang 29

Khả năng hỗn hợp: có dạng hỗn hợp với propiconazole (Tilt Super), khi sử

dụng có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác

Trang 30

Thuốc kĩ thuật ở dạng lỏng, màu vàng, điểm sôi 950C, áp suất hơi 3 x 10-6

mmHg (200C) Tan ít trong nước (110 mg/l), tan nhiều trong dung môi hữu cơ như acetone, metylic, không ăn mòn kim loại

Nhóm độc II, LD50 qua miệng 1.517 mg/kg, LD50 qua da 4.000 mg/kg Dư lượng tối đa với ngũ cốc, cà phê 0,1 mg/kg Thời gian cách ly 7 ngày Ít độc với cá và ong

Thuốc trừ nấm, tác động nội hấp Phổ tác dụng rộng, có hiệu quả cao với các

nấm lớp Ascomycetes, Basidiomycetes và Deuteromycetes

• Sử dụng:

Phòng trừ các bệnh khô vằn, đốm nâu, lem hạt cho lúa, bệnh gỉ sắt cà phê, bệnh phấn trắng, mốc xám, thối quả nho và các cây ăn quả, bệnh đốm lá, gỉ sắt ngô, đậu, bệnh phấn trắng, gỉ sắt cây hoa cảnh

• Khả năng hỗn hợp:

Có dạng hỗn hợp với difenoconazole (TiltSuper), với carbendazim,

chlorothalonil Khi sử dụng có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác

Trang 31

Thuốc kĩ thuật dạng tinh thể, điểm nóng chảy 102,40C Không tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ

Nhóm độc III, LD50 qua miệng > 2.000 mg/kg, LD50 qua da > 5.000 mg/kg Ít độc với cá, không độc với ong Thời gian cách li 7 ngày

Thuốc trừ nấm, tác động nội hấp Phổ tác dụng rộng, có hiệu quả với nhiều loại

nấm như Erysiphe, Puccinia, Rhizoctonia, Botrytis, Mycosphaerella

• Sử dụng:

Phòng trừ bệnh đốm lá, gỉ sắt đậu, phồng lá chè, gỉ sắt cà phê, bệnh mốc xám, phấn trắng nho, bệnh đốm lá chuối, thối cây ăn quả

• Khả năng hỗn hợp:

Có các dạng thuốc với triadimenol, thiram Khi sử dụng có thể pha chung với

nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác

Trang 32

• Nhóm độc: III, LD50 qua miệng: 2189 – 6071 mg/kg, LD50 qua da: trên 2000 mg/kg, thuốc ít độc với cá và ong Thời gian cách ly: 7 ngày

• Đối tượng phòng trừ: bệnh khô vằn và lem lép hạt trên lúa Đốm lá và gỉ sắt hại đậu Bệnh phấn trắng hại rau và bầu bí Thán thư và gỉ sắt cà phê Bệnh phấn trắng trên nho, bệnh phồng lá chè Bệnh sẹo trên táo Bệnh phấn trắng và gỉ sắt trên hoa cây cảnh

Thuốc có khả năng hỗn hợp với carbendazim Khi dùng có thể pha chung với

nhiều loại thuốc trừ sâu khác (Phạm Văn Biên và cộng sự, 2005)

Trang 33

Chương 3

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thí nghiệm thăm dò đối với bệnh phấn trắng được thực hiện tại vườn nhân của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam từ ngày 02/02/2012 đến 15/03/2012

Thí nghiệm in vitro được tiến hành từ 01/04/2012 đến 15/05/2012 tại phòng thí

nghiệm của Bộ môn BVTV/VNCCS Việt Nam

Thí nghiệm ngoài đồng ruộng đối với 2 bệnh Corynespora và héo đen đầu lá được thực hiện từ ngày 15/05/2012 đến 15/07/2012, tại vườn nhân gỗ ghép dvt RRIV

124 của đội sản xuất giống, VNCCS Việt Nam

3.2 Nội dung nghiên cứu

Đánh giá hiệu lực của một số thuốc BVTV có hoạt chất azoxystrobin, difenoconazole, propiconazole và difenoconazole, tebuconazole đối với 2 nấm C

cassiicola và C gloeosporioides bằng phương pháp đầu độc môi trường

Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh phấn trắng, Corynespora, héo đen đầu lá trên cây cao su của một số loại thuốc trừ nấm trong điều kiện vườn nhân

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh phấn trắng trên cây cao su của một số thuốc trừ nấm bằng phương pháp thí nghiệm ngoài đồng

Vật liệu

Chọn 4 loại thuốc có hoạt chất azoxystrobin (Amistar 250 SC), difenoconazole (Score 250 EC), propiconazole (TiltSuper 300 EC), tebuconazole (Folicur 430 EW) để tiến hành đánh giá hiệu quả phòng trị bệnh ở các mức nồng độ khác nhau (Bảng 3.1)

Trang 34

Phương pháp

Mỗi loại hoạt chất là một thí nghiệm thăm dò, các nghiệm thứctương ứng với dãy nồng độ 0,05; 0,1; 0,15; 0,2; 0,25% thuốc thương phẩm và đối chứng phun nước Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, 6 nghiệm thức, 3 lần lặp lại, 10 chồi/ô cơ sở

Bảng 3.1: Loại thuốc và nồng độ xử lý ở các nghiệm thức

Thí nghiệm 1 Amistar 250 SC 0,05; 0,1; 0,15; 0,2; 0,25; phun nước Thí nghiệm 2 Score 250 EC 0,05; 0,1; 0,15; 0,2; 0,25; phun nước Thí nghiệm 3 TiltSuper 300 EC 0,05; 0,1; 0,15; 0,2; 0,25; phun nước Thí nghiệm 4 Folicur 430 EW 0,05; 0,1; 0,15; 0,2; 0,25; phun nước

Dụng cụ thí nghiệm: bình xịt đeo vai hiệu Bình Minh dung tích 4 lít, pipet 10

ml và ống đong 100 ml

Cây cao su trong vườn nhân thuộc dvt RRIV 124 Chồi non có lá giai đoạn nhú chân chim

Trang 35

A-Giữa các lần lặp lại trên cùng một hàng được cách ly tối thiểu 3 cây không xử lý, giữa các hàng có xử lý thuốc được cách ly bằng 1 hàng cây không xử lý

Trang 36

Chú thích

S-0,05: Score 250 EC nồng độ 0,05%; S-0,1: Score 250 EC nồng độ 0,1%; S-0,15: Score 250 EC nồng độ 0,15%; S-0,2: Score 250 EC nồng độ 0,2%; S-0,25: Score 250

EC nồng độ 0,25%; ĐC: Phun nước (đối chứng)

Trang 37

Chú thích

F-0,05: Folicur 250 EW nồng độ 0,05%; F-0,1: Folicur 250 EW nồng độ 0,1%; F-0,15: Folicur 250 EW nồng độ 0,15%; F-0,2: Folicur 250 EW nồng độ 0,2%; F-0,25: Folicur

250 EW nồng độ 0,25%; ĐC: Phun nước (đối chứng)

- Phương pháp xử lý: Phun phủ toàn bộ chồi non của cây bằng bình đeo vai hiệu Bình Minh dung tích 4 lít, phun ướt cả mặt trên và mặt dưới lá Lượng nước sử dụng 400 lít/ha Tất cả các nghiệm thức trên đều pha với chất bám dính BDNH

(nguồn: Phan Thành Dũng, 2004)

- Phương pháp quan trắc: Trên mỗi chồi, quan trắc 5 lá chét giữa của tán lá trên cùng Mỗi ô cơ sở quan trắc cố định 5 chồi non có cùng giai đoạn sinh trưởng Số lần quan trắc: 1 lần/ đợt xử lý, vào thời điểm 6 ngày sau phun thuốc và 1 lần trong đợt kiểm trắng Tổng số lần quan trắc 4

- Chỉ tiêu đánh giá: chỉ số bệnh (CSB %) và tỷ lệ bệnh (TLB %)

Trang 38

Nguồn nấm C cassiicola được phân lập từ dvt LH 01/0131

Môi trường PDA (Potato Dextrose Agar) đã pha sẵn

Dụng cụ thí nghiệm: Nồi hấp, tủ sấy, đĩa petri, ống nghiệm, pipet, cốc thuỷ tinh, đèn cồn, que cấy, ống đục đường kính 0,8 cm, nước cất và cồn 95%

Phương pháp:

Bảng 3.2: Nồng độ hoạt chất các loại thuốc dùng trong thí nghiệm

4 Folicur 250 EW tebuconazole 0,01; 0,05; 0,1; 0,25; 0,5; 0,75; 1;

2,5

Trang 39

Chuẩn bị các dung dịch thuốc: Công thức quy đổi từ nồng độ hoạt chất (a.i.) sang nồng độ thuốc thương phẩm:

C trong 15 phút Dùng pipet lấy 5 ml dung dịch thuốc

đã pha sẵn ở các nồng độ khác nhau cho vào các bình tam giác tương ứng khác nhau (riêng bình tam giác của nghiệm thức đối chứng, cho vào bình 5 ml nước cất) Lắc đều cho thuốc hoà tan vào môi trường và mỗi bình rót đều vào 5 đĩa petri (mỗi đĩa tương ứng với 10 ml)

Khi môi trường trong các đĩa petri nguội và đặc lại, tiến hành cấy các mẫu nấm

có đường kính 0,8 cm vào giữa đĩa petri

Thí nghiệm được bố trí hòan tòan ngẫu nhiên, mỗi loại thuốc tương ứng với 1 thí nghiệm, mỗi nồng độ là nghiệm thức và 1 nghiệm thức đối chứng không sử dụng thuốc, thí nghiệm có 5 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 1 đĩa petri

• Các chỉ tiêu theo dõi đường kính khuẩn lạc nấm:

Cách đo đường kính khuẩn lạc: d = d1+2d2

Trong đó:

d: Là đường kính trung bình của khuẩn lạc

d1, d2: Là hai đường chéo vuông góc đo trên khuẩn lạc

• Đánh giá kết quả dựa vào phần trăm (%) ức chế đường kính khuẩn lạc theo công thức Vincent (1947):

I = (C –T) / C × 100

Trong đó:

I: Là % ức chế đường kính khuẩn lạc

Trang 40

C: Là đường kính khuẩn lạc ở nghiệm thức đối chứng

T: Là đường kính khuẩn lạc ở nghiệm thức xử lý thuốc

Phần trăm ức chế sự phát triển khuẩn lạc nấm được chuyển đổi sang probit (y)

và nồng độ hoạt chất được chuyển sang lg (C*1000) (x) Từ đó thiết lập mô hình toán học dạng y = a + bx để xác định ED50 của các loại thuốc

• Đánh giá hiệu lực của thuốc dựa vào chỉ số ED50 do Finney (1968) đưa ra như sau:

< 10 ppm a.i Rất có hiệu lực

10 - 50 ppm a.i Hiệu lực trung bình

51 - 125 ppm a.i Hiệu lực rất ít

> 125 ppm a.i Không có hiệu lực

Nồng độ hoạt chất của mỗi loại thuốc trong thí nghiệm chính thức được trình bày ở Bảng 3.2

3.3.2.2 Thử nghiệm thuốc ngoài đồng ruộng

• V ật liệu

Các loại thuốc trừ nấm: Amistar 250 SC, Score 250 EC, TiltSuper 300 EC, Folicur 250 EW, Anvil 5 SC

Vườn nhân gỗ ghép của dvt RRIV 124

Các dụng cụ đo lường: Pipet 10 ml và ống đong 100 ml

Bình phun đeo vai dung tích 4 lít

Ngày đăng: 29/05/2018, 18:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm