Để giảm thiểu chi phí thí nghiệm và đẩy nhanh tốc độ cải tiến giống Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam đưa ra quá trình tuyển chọn giống gồm các khâu Tuyển non TN – Sơ tuyển ST – Chung tuyể
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƠ TUYỂN CÁC DÒNG VÔ TÍNH CAO SU VỤ LAI
Ngành: Nông học Niên khóa: 2008 – 2012
Sinh viên thực hiện: TRƯƠNG MỸ CHÂU
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07/2012
Trang 2SƠ TUYỂN CÁC DÒNG VÔ TÍNH CAO SU VỤ LAI 2001
TRÊN VÙNG ĐẤT XÁM LAI KHÊ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
∗ Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Học cùng tất cả Quý Thầy Cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tại trường
∗ Ban lãnh đạo Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam, bộ môn Giống, các phòng chức năng đã cho phép và hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và rèn luyện tại quý cơ quan
∗ ThS Trần Văn Lợt đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt thời gian tôi học tại trường và thực tập tốt nghiệp
∗ ThS Lê Mậu Túy, Bộ môn Giống - Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài
∗ KS Lê Đình Vinh luôn nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn và có những đóng góp quý báu cho tôi trong thời gian thực tập
∗ Tập thể cán bộ công nhân viên bộ môn Giống - Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực tập tốt nghiệp
∗ Các bạn lớp DH08NH đã chia sẻ cùng tôi những vui buồn trong thời gian học
và động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập
∗ Xin cảm ơn bố mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng và dạy bảo con nên người Bố
mẹ và anh chị luôn là chỗ dựa vững chắc về tinh thần cho con vượt qua mọi khó khăn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2012
TR ƯƠNG MỸ CHÂU
Trang 4TÓM TẮT
TRƯƠNG MỸ CHÂU, Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh SƠ TUYỂN CÁC DÒNG VÔ TÍNH CAO SU VỤ LAI 2001 TRÊN VÙNG ĐẤT XÁM LAI KHÊ Thời gian thực hiện từ tháng 02/2012 đến tháng 07/2012 trên thí nghiệm sơ tuyển Lai Khê 2006 tại lô STLK06 thuộc Bộ Môn Giống, Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam
Hội đồng hướng dẫn:
ThS Lê Mậu Túy ThS Trần Văn Lợt
KS Lê Đình Vinh Đối tượng nghiên cứu gồm 84 dòng vô tính (dvt) cao su được bố trí với 3 lần lặp lại theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên trên thí nghiệm sơ tuyển tại ấp Lai Khê, xã Lai Hưng, Bến Cát, Bình Dương năm 2006 (ký hiệu STLK 06) với 7 dvt nhập nội, 1 DVT lai tự do (TD00/0469), 75 DVT mới lai tạo của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam trong giai đoạn 2000-2001 (viết tắt LH), trong đó dvt RRIV 4 được trồng làm đối chứng
Nội dung nghiên cứu: theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu nông học chủ yếu của 84 dvt cao su (năng suất, sinh trưởng, khả năng kháng bệnh và một số chỉ tiêu phụ khác) nhằm chọn lọc những dòng vô tính ưu tú đưa sang giai đoạn tuyển chọn tiếp theo (giai đoạn chung tuyển)
Kết quả đạt được:
Nhiều dvt cao su mới lai tạo của Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam tỏ ra có triển vọng hơn các dvt cao su nhập nội và dvt RRIV 4 đang được trồng phổ biến
Trong 84 dvt trên thí nghiệm STLK 06 đã gạn lọc được 8 dvt có triển vọng, thể hiện
ưu thế về sinh trưởng cũng như sản lượng cá thể trong ba tháng đầu năm khai thác thứ nhất Trong đó ba dvt LH01/0814, LH01/1080, LH01/1163 sinh trưởng tốt và có sản lượng vượt trội Các dvt có triển vọng khác gồm: LH01/0846, LH01/1065, LH01/0518, LH01/0813, LH01/0684
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt vi
Danh sách các bảng vii
Danh sách các hình viii
Danh sách các sơ đồ ix
Danh sách các biểu đồ ix
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích – Yêu cầu – Giới hạn đề tài 3
1.2.1 Mục đích 3
1.2.2 Yêu cầu 3
1.2.3 Giới hạn đề tài 3
CH ƯƠNG 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan về cây cao su 4
2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố cây cao su 4
2.1.2 Đặc điểm thực vật học cây cao su 4
2.1.3 Đặc tính sinh thái cây cao su 6
2.2 Tình hình nghiên cứu cao su ở Việt Nam và trên thế giới 8
2.2.1 Việt Nam 8
2.2.2 Thế giới 12
CHƯƠNG 3 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Nội dung 14
3.2 Phương pháp nghiên cứu 14
3.2.1 Thời gian thực hiện 14
3.2.2 Địa điểm thực hiện 14
Trang 63.2.3 Vật liệu nghiên cứu 14
3.2.4 Bố trí thí nghiệm 15
3.2.5 Các chỉ tiêu quan trắc 17
3.2.5.1 Sinh trưởng 17
3.2.5.2 Sản lượng 17
3.2.5.3 Bệnh hại 18
3.2.5.4 Hình thái 22
3.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 22
CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Sinh trưởng và tăng trưởng của các dòng vô tính 26
4.1.1 Sinh trưởng 26
4.1.2 Tăng trưởng 26
4.2 Sản lượng cá thể (g/c/c) của các dòng vô tính 29
4.3 Dày vỏ nguyên sinh 31
4.4 Bệnh hại của các dòng vô tính 34
4.4.1 Bệnh phấn trắng 34
4.4.2 Bệnh nấm hồng 36
4.4.3 Bệnh rụng lá Corynespora 37
4.5 Đánh giá các dòng vô tính chọn lọc trên thí nghiệm STLK 06 39
4.5.1 Gạn lọc các dòng vô tính triển vọng 39
4.5.2 Mô tả tóm tắt các dòng vô tính chọn lọc 41
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 53
Trang 7GU, TU Dòng vô tính chọn lọc ở Nam Mỹ
IRCA Institut de Recherches sur le caouchouc au Afrique (Viện Nghiên cứu Cao
su Châu Phi)
IRRDB International Rubber Research Development Board (Hiệp hội nghiên cứu
và phát triển cao su thiên nhiên thế giới)
KTCB Kiến thiết cơ bản
LH Dòng vô tính cao su lai hoa do Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam lai tạo
PB Prang Besar (Trạm nghiên cứu cao su, đồn điền Golden Hope, Malaysia) RRIV Rubber Research Institute of VietNam (Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam) RRIM Rubber Research Institute of Malaysia (Viện Nghiên cứu Cao Su Malaysia) RRIC Viện Nghiên cứu Cao Su Sri Lanka (Rubber Research Institute of Ceylon) STLK 06 Thí nghiệm sơ tuyển tại Lai Khê trồng năm 2006
VRG Vietnam Rubber Group (tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam)
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng quy ước phân cấp bệnh phấn trắng 18
Bảng 3.2 Phân hạng mức độ nhiễm bệnh phấn trắng dựa vào cấp bệnh trung bình 19
Bảng 3.3 Bảng quy ước phân cấp bệnh nấm hồng 20
Bảng 3.4 Phân hạng tỷ lệ bệnh và mức độ bệnh nấm hồng của các dòng vô tính 20
Bảng 3.5 Bảng quy ước phân cấp bệnh Corynespora 21
Bảng 3.6 Phân hạng mức độ nhiễm bệnh Corynespora trên cây cao su 21
Bảng 3.7 Phân cấp sinh trưởng và sản lượng theo Paardekooper 23
Bảng 4.1 Vanh thân và tăng vanh của các dòng vô tính trên thí nghiệm STLK 06 27
Bảng 4.2 Sản lượng cá thể 3 tháng đầu năm 2012 của các dvt trên thí nghiệm STLK 06 30
Bảng 4.3 Dày vỏ nguyên sinh của các dòng vô tính trên thí nghiệm STLK 06 32
Bảng 4.4 Mức độ nhiễm bệnh phấn trắng của 84 dvt trên thí nghiệm STLK 06 35
Bảng 4.5 Mức độ nhiễm bệnh nấm hồng của các dvt trên thí nghiệm STLK 06 36
Bảng 4.6 Mức độ nhiễm bệnh Corynespora của các dvt trên thí nghiệm STLK 06 38
Bảng 4.7 Tóm tắt thành tích của 8 dvt triển vọng trên thí nghiệm STLK 06 39
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1 (a),(b),(c): Đánh đông mủ, lấy mủ tại vườn và rửa mủ 24
Hình 3.2 (a),(b): Phơi mủ và cân mủ thí nghiệm STLK 06 25
Hình 4.1 Dòng vô tính LH 01/814 41
Hình 4.2 Dòng vô tính LH 01/1080 42
Hình 4.3 Dòng vô tính LH 01/1163 43
Hình 4.4 Dòng vô tính LH 01/846 44
Hình 4.5 Dòng vô tính LH 01/1065 45
Hình 4.6 Dòng vô tính LH 01/518 46
Hình 4.7 Dòng vô tính LH 01/813 47
Hình 4.8 Dòng vô tính LH 01/684 48
Trang 10DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cải tiến giống cao su Việt Nam 11
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm vườn STLK 06 16
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Trung bình sản lượng và sinh trưởng qua 3 tháng đầu năm cạo thứ nhất
của 8 dvt triển vọng và đối chúng RRIV 4 trên thí nghiệm STLK 06 16
Trang 11Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Cây cao su (Hevea brasiliensis) thuộc chi Hevea, họ Euphorbiacea có nguồn gốc
từ lưu vực sông Amazon ở Nam Mỹ Với đặc tính hơn hẳn cao su tổng hợp về độ giãn,
độ đàn hồi cao, chống đứt, chống lạnh tốt, ít phát nhiệt khi cọ xát, dễ sơ luyện…, cao
su là loại nguyên liệu đã và được sử dụng rộng rãi với hơn 50.000 sản phẩm được tạo
ra Ngoài ra, cây cao su được xem là cây nông lâm kết hợp, xóa đói giảm nghèo, góp phần bảo vệ, phục hồi và cải tạo môi sinh nên rất được chính phủ quan tâm đầu tư Từ trước đến nay, trong quá trình phát triển của cây cao su, giống luôn là yếu tố quan
trọng và giữ vai trò quyết định Chính vì vậy, nghiên cứu chọn tạo giống mới có những đặc tính nông học thỏa đáng, thích hợp cho các vùng sinh thái khác nhau là một trong những nhiệm vụ hàng đầu nhằm góp phần tăng năng suất và mở rộng diện tích trồng cao su ra các vùng miền
Hiện nay, cao su là mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam cùng lúa gạo và cà phê Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao su của Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2010 bình quân đạt 17,66%/năm là cao nhất so với các nước Thái Lan (2,37%), Indonesia (5,27%), Malaysia (3,52%) Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu cao su Việt Nam đạt 2,3 tỷ USD; năm 2011 đã đạt 3,2 tỷ USD và là mức cao nhất từ trước tới nay (Bản tin Cao su Việt Nam ngày 31/01/2012)
Được du nhập vào Việt Nam từ năm 1897, cây cao su được tập trung phát triển ở vùng Đông Nam Bộ, hiện đang được mở rộng lên Tây Nguyên, phát triển ra miền Trung và miền Bắc Định hướng phát triển chung của Nhà nước đối với ngành cao su Việt Nam đến năm 2015 là diện tích cây cao su đạt 1 triệu ha Theo số liệu của Tổng cục thống kê và Bộ Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn, đến cuối năm 2011, diện tích cây cao su tại Việt Nam đã đạt 834.000 ha chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Bên cạnh đó, từ năm 2007, cây cao su đã được nhà nước quy hoạch phát triển ra các tỉnh miền núi phía Bắc gồm Phú Thọ, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang và Yên Bái; đến cuối năm 2011, diện tích cây cao su ở các tỉnh này đã
Trang 12đạt 19.039 ha (Bản tin Cao su Việt Nam số 57 ngày 15/06/2012) Ngoài ra, cây cao su cũng đã và đang được Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam đầu tư phát triển ở hai nước láng giềng Lào và Campuchia Hiện nay, cao su là mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam với sản lượng cao su năm 2011 ước đạt 811.600 tấn, giữ vị trí thứ năm về sản lượng cao su thiên nhiên, sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ
Cây cao su là cây công nghiệp lâu năm có chu kỳ kinh doanh 30 năm và mất 6 - 7 năm kiến thiết cơ bản mới cho thu hoạch Do vậy, để cây cao su đạt hiệu quả kinh tế cao và khả năng thích ứng với môi trường ngày càng ít thuận lợi, một trong những giải pháp kỹ thuật hàng đầu là trồng giống có thành tích cao và thích hợp cho từng vùng sản xuất Cây cao su là loại cây đại mộc lâu năm vì vậy để có thể khuyến cáo các giống có thành tích cao cho sản xuất cần mất một quá trình theo dõi, đúc kết lâu dài và tốn một diện tích lớn Cho đến nay trên thế giới chưa có giống cao su hoàn hảo, để giảm thiểu rủi ro cho sản xuất, giống chỉ được khuyến cáo khi đã qua các bước khảo nghiệm cơ bản Chu kỳ khảo nghiệm giống cao su phải mất 20 – 25 năm, chu kỳ này
có thể rút ngắn nhưng vẫn phải đảm bảo độ tin cậy bằng cách tiến hành các bước song hành trong 10 – 15 năm Để giảm thiểu chi phí thí nghiệm và đẩy nhanh tốc độ cải tiến giống Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam đưa ra quá trình tuyển chọn giống gồm các khâu Tuyển non (TN) – Sơ tuyển (ST) – Chung tuyển (CT) – Sản xuất thử (XT), trong
đó Sơ tuyển là một khâu quan trọng sau khi có được những dòng lai đã tuyển lựa sơ bộ
ở tuyển non Ở giai đoạn sơ tuyển, các dòng vô tính được đánh giá tương đối đầy đủ và chính xác về các đặc tính nông học với thời gian thí nghiệm 8 – 10 năm Thí nghiệm
Sơ tuyển STLK 06 được thiết lập tại Trạm Thực nghiệm Cao su Lai Khê, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam, xã Lai Hưng, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương vào năm 2006 nhằm đánh giá đặc tính nông sinh học của 84 dòng vô tính cao su lai tạo từ vụ lai
2001, từ đó gạn lọc ra những dòng vô tính xuất sắc giới thiệu cho các bước khảo nghiệm tiếp theo
Từ những lí do trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Nông học trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh và Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Cao su Việt
Trang 13Nam, đề tài: “SƠ TUYỂN CÁC DÒNG VÔ TÍNH CAO SU VỤ LAI 2001 TRÊN
VÙNG ĐẤT XÁM LAI KHÊ” đã được thực hiện
1.2 Mục đích – Yêu cầu – Giới hạn đề tài
1.2.1 Mục đích
Đánh giá các đặc tính nông học: Sinh trưởng, sản lượng, bệnh hại, hình thái và một
số đặc tính khác của các dòng vô tính bố trí trên vườn sơ tuyển STLK 06 tại trạm thực nghiệm cao su Lai Khê – Lai Hưng - Bến Cát – Bình Dương
- Do một số dvt có sinh trưởng (vanh thân) chưa đạt tiêu chuẩn mở cạo sớm ở năm tuổi thứ 6 nên trong số 84 dvt trên thí nghiệm có 62 dvt đã được mở cạo từ tháng 04/2012 (sớm hơn một năm so với quy trình kỹ thuật của Tập đoàn Công nghiệp Cao
su Việt Nam) Vì vậy các chỉ tiêu quan trắc trong đề tài chỉ theo dõi trên 62 dvt này
Trang 14C hương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về cây cao su
2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố cây cao su
Cây cao su có tên khoa học là Hevea brasiliensis Muell Agr., thuộc chi Hevea,
họ thầu dầu (Euphorbiaceae), được tìm thấy trong điều kiện hoang dại tại lưu vực
sông Amazon (Nam Mỹ) trong 1 vùng rộng lớn bao gồm các nước: Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuador, Venezuela…có vĩ độ từ 150 Nam đến 60 Bắc, và từ 460
- 770kinh tây Đây là vùng nhiệt đới ẩm với lượng mưa trên 2.000 mm, nhiệt độ cao và đều quanh năm, có mùa khô hạn kéo dài 3-4 tháng, đất thuộc loại đất sét tương đối giàu dinh dưỡng, có độ pH: 4,5-5,5 với tầng đất mặt sâu, thoát nước trung bình (Nguyễn Thị Huệ, 2006)
Trong chi Hevea, ngoài loài Hevea brasiliensis còn có chín loài khác cũng cho
mủ cao su; tuy nhiên, chỉ có loài Hevea brasiliensis là cho mủ cao su có ý nghĩa về
mặt kinh tế và được trồng phổ biến nhất Cây cao su được trồng thành công cho mục đích kinh doanh trên địa bàn rộng lớn ở Đông Nam Á có cùng vĩ tuyến và điều kiện khí hậu tương tự vùng nguyên quán Sau đó diện tích cây cao su mở rộng từ vĩ tuyến
230 Nam (Săo Paulo, Brazil) đến vĩ tuyến 290 Bắc (Ấn Độ, Miến Điện và Trung Quốc)
2.1.2 Đặc điểm thực vật học cây cao su
Thân
Cây cao su trong điều kiện hoang dại là 1 loại cây rừng lớn, thân thẳng, cao trên 30m, có khi đến 50m, vanh thân có thể đạt được 5-7 m, tán lá rộng và sống trên 100 năm (Nguyễn Thị Huệ, 2006)
Khi được nhân trồng trong sản xuất, do việc tính toán hiệu quả của cây trên việc
sử dụng đất và vốn đầu tư nên cây cao su được đặt trong các điều kiện sống khác hẳn
Trang 15với điều kiện hoang dại (18-25m2/cây, mật độ trồng 400-550 cây/ha) Chu kỳ sống giới hạn 25-30 năm, chiều cao 25-30m, vanh thân khoảng 1m vào cuối thời kỳ kinh doanh
Các lá chét có hình bầu dục, hơi dài hoặc hơi tròn Phần cuối phiến lá chét nơi gắn vào cuống lá bằng một gọng lá ngắn có tuyến mật (tuyến mật chỉ chứa mật trong giai đoạn lá non vừa ổn định)
Các mạch mủ trong lá nằm trong các lớp libe và khi lá ở mức độ trưởng thành tối đa, các mạch mủ tập trung lại ở phần cuối của lá chét làm ngăn chặn việc vận chuyển mủ nước và các chất quang hợp từ lá xuống thân cây Lá tập trung thành từng tầng
Quả và hạt
Trang 16Quả cao su hình tròn hơi dẹp, có đường kính từ 3-5 cm, quả nang gồm 3 ngăn, mỗi ngăn chứa 1 hạt Quả cao su hình thành và phát triển được 12 tuần thì đạt được kích thước lớn nhất, 16 tuần vỏ quả hóa gỗ và 19 - 20 tuần thì quả chín
Hạt cao su hình tròn hơi dài hoặc hình bầu dục, chứa nhiều dầu, có kích thước thay đổi từ 2-3,5 cm Hạt có 2 mặt rõ rệt: mặt bụng thường phẳng, và mặt lưng cong lồi lên Kích thước, hình dạng và màu sắc hạt thay đổi nhiều giữa các giống và là một trong những đặc điểm để nhận diện giống cao su Vỏ hạt cứng ở đầu hạt có lỗ mầm: bên trong vỏ hạt gồm phôi nhũ và cây mầm
2.1 3 Đặc tính sinh thái cây cao su
Do cây cao su có nguồn gốc từ Nam Mỹ nên khi nhân trồng ở nước ta cần chú ý đến vấn đề sinh thái của từng vùng để chọn giống thích hợp
C, cây khô héo; khi nhiệt độ xuống đến 4-50
C, cây bắt đầu bị tổn hại vì lạnh, lá khô, chết chồi, trong trường hợp nghiêm trọng có thể gây chết cây thậm chí cả chết cả bộ rễ
● Lượng mưa: cây cao su sinh trưởng và phát triển tốt nhất ở các vùng có
lượng mưa từ 1.500-2.000 mm nước/năm Nếu lượng mưa thấp dưới 1.500 mm/năm thì lượng mưa cần phân bố đều trong năm Các trận mưa tốt nhất cho cao su phát triển
là 20-30 mm nước và mỗi tháng là 150 mm nước Số ngày mưa tốt nhất cho cây cao su
là 100-150 ngày/năm Cây cao su trưởng thành có thể chịu hạn tốt, tuy nhiên ở cây non
và đặc biệt khi cây mới trồng, nếu gặp khô hạn cây sẽ bị tổn thương nghiêm trọng Phân bố mưa không đều trong năm sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất mủ của cây
● Gió: gió nhẹ 1-2 m/giây có lợi cho cây cao su vì giúp vườn cây thông thoáng,
hạn chế nguồn nấm bệnh và giúp vỏ cây mau khô sau mưa Nếu tốc độ gió lớn hơn 17 m/s cây cao su bắt đầu gãy cành, gió lớn hơn 25 m/s cây sẽ bị gãy thân, trốc gốc
Trang 17(Nguyễn Thị Huệ, 2006) Mỗi giống cao su có khả năng chống chịu gió khác nhau nên mức độ thiệt hại do gió phụ thuộc vào đặc điểm của từng giống Ở cao trình càng cao thì mức thiệt hại do gió càng lớn
● Giờ chiếu sáng: giờ chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp
của cây cao su Ánh sáng đầy đủ giúp cây ít bị nhiễm bệnh, tăng trưởng nhanh và năng suất cao Giờ chiếu sáng được ghi nhận tốt nhất cho cây cao su bình quân là 1.800-2.800 giờ/năm Để cho vườn cây tiếp nhận được ánh sáng nhiều nhất người ta thường trồng hàng cao su theo hướng Đông – Tây
Đất đai
Cây cao su có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau, tuy nhiên để đảm bảo hiệu quả kinh tế, cần lưu ý chọn lựa đất đai thích hợp phục vụ cho việc nhân rộng vườn cây trên diện tích lớn
● Độ cao: Cây cao su thích hợp với các vùng đất có cao trình tương đối thấp dưới
200 m, cao trình càng cao càng bất lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Theo kết quả nghiên cứu tại Malaysia cho thấy cứ lên cao 200 m thì thời gian kiến thiết cơ bản dài hơn 3-6 tháng (Webster, 1989) và sản lượng mủ cũng bị ảnh hưởng Cao trình
lý tưởng cho cây cao su được khuyến cáo như sau:
- Ở vùng xích đạo có thể trồng đến cao trình 500-600 m
- Vị trí 5-60 mỗi bên vĩ tuyến có thể trồng cao su ở cao trình 400 m
● Độ dốc: tốt nhất là đất bằng phẳng, trong điều kiện có thể lựa chọn được nên
trồng cây cao su ở đất có độ dốc dưới 30% (Quy trình kỹ thuật – Tổng Công ty Cao su Việt Nam, 2004)
● pH: độ pH thích hợp từ 4,5-5,5 (theo Edgar 1960)
● Chiều sâu đất: đất trồng cao su lý tưởng có tầng canh tác sâu 2 m (Nguyễn Thị
Huệ, 2006)
Trang 182.2 Tình hình nghiên cứu cao su ở Việt Nam và trên thế giới
2.2.1 Tại Việt Nam
Cây cao su được du nhập vào Việt Nam từ năm 1897 và được trồng thực nghiệm tại Bình Dương và Nha Trang Từ năm 1932-1944, công tác lai tạo giống mới
đã được công ty cao su đất đỏ (SPRT) tiến hành, các cây lai được trồng trực tiếp trên vườn sản xuất và làm vật liệu để tuyển chọn cây mẹ đầu dòng Tuy nhiên do tình hình kinh tế chính trị xã hội lúc đó không ổn định nên chương trình chưa được áp dụng rộng rãi vào thực tế sản xuất Mặt khác, các công ty tư bản Pháp thường chiếm những vùng đất tương đối thuận lợi để thiết lập đồn điền cao su nên cơ cấu giống cho từng vùng chưa được chú trọng
Trước 1975, các công ty tư bản Pháp đã di nhập một số dòng vô tính cao su để khảo nghiệm đưa vào sản xuất đại trà nhưng bị gián đoạn bởi chiến tranh nên cơ cấu giống chủ yếu dựa vào tài liệu nước ngoài
Năm 1976, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam bắt đầu khôi phục lại các vườn cây cũ và tổ chức lại chương trình cải tiến giống Bước đầu sưu tập lại các giống trong nước dựa trên các thí nghiệm chọn lọc giống còn lại của người Pháp và thiết lập các vườn thí nghiệm mới trên nhiều địa bàn, bên cạnh đó chuẩn bị công tác du nhập các giống mới để bổ sung cho vốn di truyền cao su trong nước
Từ năm 1977 – 1978, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam đã thực hiện đợt nhập nội đầu tiên các dòng vô tính cao su triển vọng thuộc nguồn di truyền Wickham từ Malaysia và Sri Lanka, đặt nền tảng sơ khởi cho việc xây dựng quỹ gen cây cao su và các chương trình cải tiến giống cao su tại Việt Nam thông qua các thí nghiệm khảo nghiệm giống khuyến cáo cho sản xuất và làm cha mẹ trong việc lai tạo hàng ngàn tổ hợp lai mới
Từ 1983 – 1990, thông qua tổ chức Nghiên cứu và Phát triển Cao su Quốc tế (IRRDB) quỹ gen cao su Việt Nam đã được bổ sung một khối lượng rất lớn các kiểu di truyền thuộc nguồn di truyền Amazon (hay còn gọi là nguồn di truyền IRRDB’81 được sưu tập từ vùng nguyên quán Nam Mỹ năm 1981), nhận từ trung tâm lưu giữ Malaysia và một phần từ nguồn hợp tác với CIRAD (Pháp) Đồng thời thông qua
Trang 19chương trình hợp tác với Pháp, nhiều dòng vô tính tiến bộ cũng được du nhập từ IRCA Từ những kết quả này, đã hình thành nên một quỹ gen cây cao su Việt Nam phong phú về mặt di truyền Có khoảng trên 3.500 kiểu di truyền và có khả năng đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công tác cải tiến giống cao su cho chương trình phát triển cây cao su Việt Nam về lâu dài
Chương trình lai tạo giống cao su của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam khởi đầu từ năm 1982 cho đến nay và với mạng lưới khảo nghiệm giống trên các vùng trồng cao su trọng điểm trải dài từ 11 đến 12 vĩ độ Bắc bao gồm miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Miền Trung và Bắc Việt Nam, đã có hàng ngàn giống được lai tạo với tên gọi
là lai hoa (LH) và các giống được công nhận là giống quốc gia được đặc tên là RRIV (Rubber Research Institute of Vietnam) Đến nay, rất nhiều dòng vô tính thuộc giai đoạn lai hữu tính 1982 – 1994 đã được đưa vào sản xuất diện rộng đạt hiệu quả cao, một số dòng vô tính mới có triển vọng đạt năng suất mủ hơn 3 tấn/ha/năm đang được thực nghiệm ở các qui mô khác nhau Cơ cấu giống cao su đang được khuyến cáo riêng biệt cho 6 vùng trồng cao su khác nhau của Việt Nam
Quá trình tuyển chọn giống được bắt đầu sau khi thu nhận các con lai Tại các Viện Nghiên cứu Cao su trên thế giới nói chung và Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam nói riêng, quá trình này đều được tiến hành qua 3 bước cơ bản từ qui mô nhỏ đến qui
mô lớn gồm: tuyển non, so sánh giống qui mô nhỏ (sơ tuyển) và so sánh giống qui mô lớn (chung tuyển và sản xuất thử) Theo Trần Thị Thúy Hoa (1998), sau mỗi bước tuyển chọn, số lượng giống nghiên cứu giảm dần (do gạn lọc) nhưng áp lực chọn lọc cao dần
Tuyển non cây cao su lai được thực hiện khi cây còn nhỏ, trong vòng 36 tháng tuổi với mục tiêu cơ bản là thải loại các con lai kém (chủ yếu về sản lượng và sinh trưởng) đồng thời có thể chọn sớm các cá thể xuất sắc để giảm số lượng con lai được chọn đưa vào các thí nghiệm đánh giá ở giai đoạn trưởng thành góp phần rút ngắn thời gian cũng như giảm giảm thiểu chi phí trong đánh giá giống cao su Tuyển non có thể thực hiện trên cây thực sinh hoặc trên dòng vô tính (cây ghép) Tại Việt Nam, tuyển non giống cao su được thực hiện trên cây lai đã được dòng vô tính hóa với chỉ tiêu chọn lọc chính là năng suất mủ và sinh trưởng
Trang 20Sơ đồ tạo tuyển giống cao su tại Việt Nam (sơ đồ 2.1) cho thấy sơ tuyển là bước chọn lọc giống đầu tiên và bắt buộc ở giai đoạn cây trưởng thành Từ sơ tuyển, những dvt ưu tú sẽ tiếp tục được đánh giá chọn lọc trên các thí nghiệm chung tuyển hoặc có thể được đề xuất vào cơ cấu bộ giống khuyến cáo qui mô sản xuất thử (bảng III – phụ lục 1) Các thí nghiệm sơ tuyển thường gồm 30 – 40 dvt hoặc nhiều hơn, đối chứng là một số dvt phổ biến trong sản xuất, được thiết kế 8 – 10 cây/ô cơ sở với 2 – 3 lần lặp lại Mục tiêu của giai đoạn này là: chọn lọc bước đầu các dvt xuất sắc ở giai đoạn trưởng thành cho một khối lượng khá lớn giống không thể bố trí ngay ở qui mô lớn và trên nhiều địa điểm Các chỉ tiêu chọn lọc gồm sản lượng cá thể, sinh trưởng, tăng trưởng trong khi cạo, dày vỏ nguyên sinh, dày vỏ tái sinh, tính kháng một số bệnh hại phổ biến, đặc tính sinh lý mủ, đặc điểm hình thái… Thông thường, việc chọn lọc
sẽ kết thúc sau 3 đến 5 năm cạo mủ, tức khi cây ở năm tuổi thứ 9 đến 11 (Lại Văn Lâm, 2011)
Trang 21 Sơ đồ cải tiến giống cao su Việt Nam
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cải tiến giống cao su Việt Nam
(Nguồn: Bộ môn Giống - Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam)
Sưu tập cây đầu
dòng
Du nhập /Trao đổi giống quốc tế
Trang 222.2.2 Thế giới
Đến cuối thế kỷ 19, sản lượng cao su thế giới chủ yếu được khai thác từ các cây cao su rừng mọc hoang dại với năng suất rất thấp Với nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên của thế giới ngày một tăng, cây cao su được du nhập sang Châu Á và nhân trồng nhanh nhưng bước đầu chỉ là những vườn cây thực sinh (cây trồng bằng hạt) với sản lượng thấp
Khi quan sát thực tế, người ta nhận thấy một số cá thể xuất sắc nổi trội trên vườn cây từ đó đã nảy sinh ý tưởng tuyển chọn giống cao su Năm 1910, Cramer là người đầu tiên nghiên cứu cải tiến sản lượng cao su bằng phương pháp chọn lọc quần thể (Mass selection) Dựa vào phân tích biến thiên sản lượng của 33 cây thực sinh thuộc nguồn di truyền Wickham, ông đã khuyến cáo phương pháp chọn lọc cây thực sinh đầu dòng (Mother-tree seedlings selection) trồng hạt thực sinh từ những cây có năng suất cao Kết quả là những vườn cao su trồng bằng hạt có chọn lọc đạt năng suất 639-704 kg/ha/năm, vượt hơn những vườn trồng bằng cây thực sinh không chọn lọc (496 kg/ha/năm) (Dijkman, 1951)
Năm 1920, công việc tuyển chọn giống cao su được bắt đầu ở Malaysia, Indonesia và SriLanka Mục tiêu của giai đoạn này là tuyển chọn giống bằng cách loại
bỏ các cây thực sinh sản lượng thấp trong vườn, kế đó tuyển chọn cây thực sinh xuất sắc làm cây mẹ đầu dòng để nhân giống vô tính Phương pháp lai hoa nhân tạo được Mass khởi xướng ở Indonesia vào năm 1919 (Dijkman, 1951), sau đó phương pháp này được áp dụng vào chương trình lai tạo giống cao su ở Malaysia từ năm 1928 (Ho, 1979), Việt Nam từ năm 1933 (Ehret, 1948), Sri Lanka từ năm 1939 (Fernando, 1977),
Ấn Độ từ 1954 (Nazeer, 1989) và Côte d’Ivoire từ năm 1974 (Legnate, 1991) Mặc dù phương pháp lai hoa nhân tạo cho tỉ lệ đậu quả rất thấp (2-3%), nhưng cho đến nay phương pháp này vẫn hiệu quả nhất để tạo ra các cây lai ưu tú từ việc phối hợp các bố
mẹ có chọn lọc mang những đặc tính mong muốn
Năm 1972 tại Hội thảo về cải tiến giống cao su của IRRDB đã khẳng định muốn đạt được những tiến bộ nhảy vọt về năng suất, sản lượng cần phải mở rộng vốn
di truyền cao su phong phú đa dạng từ vùng nguyên quán Amazon Đến năm 1981, các Viện Nghiên cứu Cao su thuộc Hiệp hội Nghiên cứu và Phát triển Cao su Quốc tế
Trang 23(IRRDB - International Rubber Research and Development Board) đã hợp tác để thực hiện một đợt sưu tập lớn từ 3 vùng cao su tập trung ở Acre, Rondonia và Mato Grosso
ở Brazil Qua đợt sưu tập này, đã thu được 64.734 hạt và cành gỗ ghép của 194 cây đầu dòng Số hạt này đã được giao cho Brazil (50%), và 2 trung tâm lưu trữ quỹ gen
1981 của IRRDB là Malaysia (37,5%) và Côte d’Ivoire (12,5%) Nguồn gen này đã được phân phối cho các nước thành viên ở Châu Á và Châu Phi từ năm 1984 và được gọi là nguồn di truyền IRRDB’81
Quá trình chọn tạo giống trước đây chỉ chú trọng mục tiêu sản lượng, đã làm xói mòn nghiêm trọng vốn di truyền của cây cao su Nhận thức được vấn đề này, các nước trồng cao su đã và đang nghiên cứu sử dụng nguồn di truyền hoang dại IRRDB’81 trong công tác lai tạo giống phục vụ các chương trình cải tiến giống cao su lâu dài
Năm 2002, IRRDB đã đề xướng chương trình hợp hợp tác giữa các quốc gia thành viên nhằm xây dựng một chiến lược sử dụng quỹ gen cao su Nam Mỹ vào chương trình chọn tạo giống cao su theo hướng đa dạng hóa sản phẩm và chức năng của cao su (mủ, gỗ, rừng), nâng năng suất lên 3 tấn/ha/năm để tăng hiệu quả kinh tế ngành cao su
Trang 24Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung
Sơ tuyển các dòng vô tính cao su lai tạo trong nước từ vụ lai 2001 trên thí nghiệm STLK 06 dựa vào thành tích nông sinh học chính ở năm khai thác đầu tiênnhằm bước đầu chọn lọc sơ bộ một số dòng vô tính vượt trội giới thiệu cho các bước khảo nghiệm giống tiếp theo
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Thời gian thực hiện
Từ 16/2/2012 đến 20/7/2012
3.2.2 Địa điểm thực hiện
- Thí nghiệm sơ tuyển trồng năm 2006 (STLK 06) tại Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam, Lai Khê - Lai Hưng - Bến Cát - Bình Dương
- Mở miệng cạo tháng 04/2012 Chế độ cạo S/2 d3
3.2.3 Vật liệu nghiên cứu
- Số nghiệm thức thí nghiệm: 84 dòng vô tính cao su (gồm PB 260, PB 235, RRIV 4, 5 dvt nhập nội, 1dvt lai tự do (TD 00/469), 75 dvt mới lai tạo của Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2001, viết tắt LH) Nhưng chỉ
Trang 25tiến hành quan trắc đánh giá trên 62 dvt đạt tiêu chuẩn mở cạo sớm trong tháng 04/2012
- Dòng vô tính RRIV 4 được dùng làm đối chứng trên vườn, là giống phổ biến
trồng đại trà trên vùng đất xám Bình Dương
3.2.4 Bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm sơ tuyển Lai Khê 2006 (STLK 06) được bố trí theo kiểu khối đầy
đủ ngẫu nhiên, gồm 84 nghiệm thức (tương ứng với 84 dvt) với 3 lần lặp lại
- Ô cơ sở: 8 điểm thiết kế/ô cơ sở
Trang 26Sơ đồ 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm vườn STLK 06
Trang 273.2.5 Các chỉ tiêu quan trắc
3.2.5.1 Sinh trưởng (Vanh thân, cm)
- Thời kỳ mở miệng cạo: Vanh thân (cm) đo cách mặt đất 100 cm
- Tăng trưởng trung bình (cm): tính từ lúc đo vanh tháng 04/2011 đến thời điểm quan trắc tháng 04/2012
- Dày vỏ nguyên sinh (mm): Đo 1 lần vào thời kỳ mở miệng cạo bằng đót kiểm tra kỹ thuật cách 2 - 3 cm trên đường mở miệng cạo
+ Thí nghiệm được mở cạo khi ít nhất trên 50% số cây trên thí nghiệm đạt vanh thân từ 48 cm trở lên, nên mở cạo hết cây ngay lần đầu trừ những cây quá nhỏ (vanh thân dưới 40 cm) để có thể đánh giá năng suất các cá thể cùng giống lúc bắt đầu khai thác
+ Thiết kế miệng cạo: Chiều cao của đường mở miệng cạo cách gốc 120 cm Cần lưu ý tránh thiết kế đường miệng cạo cắt vạch sơn đã đánh dấu để đo vanh trên thân cây Góc miệng cạo khoảng 300so với mặt phẳng ngang
+ Phương pháp theo dõi: Sản lượng theo dõi mỗi tháng 1 lần với chế độ cạo S/2 d3 vào những ngày thời tiết tốt và rơi trong khoảng ngày 15 hàng tháng (± 2 ngày) Toàn bộ các ô cơ sở trên thí nghiệm được cạo trong cùng ngày Sản lượng mủ được thu bằng phương pháp đánh đông tại lô, mủ nước được đánh đông ngay trong chén hứng mủ bằng dung dịch acid acetic 3% và thu lại bằng cách xâu vào dây kẽm sau khi
Trang 28mủ đông có biển đánh dấu từng giống Mẫu được cân sau khi hong khô bằng cách treo nơi khô ráo, tránh ánh nắng ít nhất 3 tuần hay lâu hơn tùy thuộc vào kiều kiện thời tiết
Mức độ bệnh: phân cấp theo bảng phân hạng mức độ nhiễm bệnh phấn trắng của
Bộ môn Bảo vệ Thực vật - Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam
Bảng 3.1: Bảng qui ước phân cấp bệnh phấn trắng
5 Nấm phủ kín lá hoặc ½ lá héo, lá biến dạng
Trên ½ số cành rụng hết lá, trên cành chỉ còn lại cuống lá
và bông, lá rụng phủ kín đất (Nguồn: Bộ môn Bảo vệ Thực vật – Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam)
Trang 29Số liệu điều tra được tính như sau:
CBTB = Ʃ (cá thể bị bệnh từng cấp x cấp bệnh tương ứng) / tổng số cá thể điều tra
- Mức độ nhiễm bệnh được phân hạng dựa vào cấp bệnh trung bình theo bảng 3.2
Bảng 3.2 Phân hạng mức độ nhiễm bệnh phấn trắng dựa vào cấp bệnh trung bình
- Mức độ bệnh: phân cấp theo bảng phân hạng mức độ nhiễm bệnh nấm hồng của
Bộ môn Bảo vệ Thực vật - Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam
Trang 30Bảng 3.3: Bảng qui ước phân cấp bệnh nấm hồng
- Chảy ít mủ giọt ngắn không rõ bệnh
- Mủ chảy nhiều dài
- Vết bệnh dài 40cm – 60cm, nứt vỏ,
mủ chảy nhiều xuống đất, lá héo khô
4 - Thân - Hồng đậm - Vết bệnh dài trên 60cm, nứt vỏ nhiều,
lá khô và có nhiều chồi mọc dưới vết bệnh
(Nguồn: Bộ môn Bảo vệ Thực vật – Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam)
Bảng 3.4: Phân hạng tỷ lệ bệnh và mức độ bệnh nấm hồng của các dòng vô tính
Trang 31(Nguồn: Bộ môn Bảo vệ Thực vật – Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam)
Bảng 3.6: Phân hạng mức độ nhiễm bệnh Corynespora trên cây cao su
Trang 323.2.5.4 Hình thái
Các chỉ tiêu quan trắc hình thái cây ( cho điểm từ 1 đến 5 điểm)
- Tổng thể cây: Tán dù – hình tháp (1-5 điểm)
- Tán lá: Thưa – trung bình – rộng (1-5 điểm)
- Góc phân cành: Hẹp – Trung bình – rộng (1-5 điểm)
- Cành cấp 1: to – trung bình – nhỏ (1-5 điểm)
- Thân: nghiêng – cong – thẳng (1-5 điểm)
- Vỏ nguyên sinh: U sần – vặn vẹo – trơn (1-5 điểm)
(Ghi chú: điểm 1: rất kém; 2: kém; 3: trung bình; 4: khá; 5: tốt)
3.2.6 Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu thô được xử lý bằng phần mềm EXCEL
- Xử lý thống kê bằng phương pháp ANOVA và phần mềm MTATC
- Các đồ thị được vẽ bằng phần mềm EXCEL
- Với số lượng nghiệm thức lớn, áp dụng phương pháp phân cấp sinh trưởng và sản lượng theo Paardekooper (1965) Tính theo giá trị tương đối (%) so với trung bình toàn thí nghiệm (giá trị của từng nghiệm thức * 100 / giá trị trung bình tất cả các nghiệm thức)
Trang 33Bảng 3.7: Phân cấp sinh trưởng và sản lượng theo Paardekooper 1965
(Nguồn: Bộ môn Giống - Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam)
Trang 34(a) (b)
(c) Hình 3.1: (a)(b): Đánh đông và lấy mủ tại vườn; (c): Rửa mủ
Trang 35(a)
(b) Hình 3.2: (a ): phơi mủ; (b): cân mủ thí nghiệm STLK 06
Trang 36Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Sinh trưởng và tăng trưởng của các dòng vô tính
4.1.1 Sinh trưởng
Trong chọn tạo giống cao su, sinh trưởng là một chỉ tiêu quan trọng thứ hai sau sản lượng và có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất kinh doanh Cây sinh trưởng khỏe sẽ rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản, đưa vườn cây vào khai thác sớm, tiết kiệm được chi phí đầu tư và nhanh thu hồi vốn Cây cao su sinh trưởng tốt trong giai đoạn khai thác
có khả năng cho sản lượng bền Hiện nay, ngoài việc cung cấp mủ trong thời gian khai thác thì đến thời kỳ thanh lý, cây cao su còn cung cấp một lượng gỗ rất lớn góp phần gia tăng hiệu quả kinh tế vườn cây, cây sinh trưởng tốt sẽ cho trữ lượng gỗ cao Chính
vì vậy, chỉ tiêu sinh trưởng ngày càng được chú ý trong công tác chọn giống cao su hiện nay
Qua kết quả thể hiện ở bảng 4.1 và phụ lục 5 ta thấy vanh thân của 62 dvt được
mở cạo trong năm 2012 trên thí nghiệm STLK 06 có sự khác biệt rất có ý nghĩa với vanh thân trung bình toàn thí nghiệm đạt 48,61 cm
Xét về mức độ sinh trưởng đến thời điểm quan trắc tháng 04/2012, trên thí nghiệm STLK 06 các dòng vô tính lai tạo năm 2000 – 2001 sinh trưởng rất tốt Có 56/62 dvt vượt đối chứng RRIV 4 từ 0,17 – 14,98 % Trong đó dẫn đầu về sinh trưởng là dvt
LH 01/470 với vanh thân mở cạo 52,58 cm đạt 114,98% RRIV 4 Từ kết quả sinh trưởng cũng cho thấy có 21 dvt đạt sinh trưởng khá (cấp 4) với vanh thân vượt đối chứng RRIV 4 từ 9,82 – 14,98 %, 21 dvt sinh trưởng trung bình (cấp 3), 20 dvt sinh trưởng dưới trung bình (cấp 2), trong đó dvt LH 01/408 có sinh trưởng kém nhất với vanh thân trung bình là 44,53 cm nhưng cũng đạt 97,38 % so với RRIV 4 là dvt sinh trưởng tốt đã được khuyến cáo trồng đại trà trong cơ cấu giống giai đoạn 2005 - 2008
Theo quy trình kỹ thuật năm 2004 của Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, vùng đất xám là vùng đất canh tác hạng II, thời gian KTCB cho cây cao su là 7 năm Tuy nhiên qua kết quả đánh giá sinh trưởng cho thấy có 62/84 dvt trên thí nghiệm STLK
Trang 3706 đã được mở cạo sau 6 năm KTCB trên vùng đất xám Điều này đã phần nào cho thấy các con lai vụ lai 2001 thể hiện ưu thế lai vượt trội về khả năng sinh trưởng
4.1.2 Tăng trưởng
Cây cao su tăng trưởng nhanh sẽ rút ngắn thời gian KTCB, tăng tỷ lệ cây mở cạo; bên cạnh đó, tăng trưởng tốt trong khi cạo đảm bảo cho cây cao su cho mủ lâu dài Trên thí nghiệm sơ tuyển STLK 06, sự tăng trưởng của các dvt khác biệt rất có ý nghĩa với mức tăng vanh trung bình của 62 dvt từ tháng 04/2011 đến tháng 04/2012 đạt 6,29 cm (bảng 4.1)
Kết quả bảng 4.1 cho thấy hầu hết các dvt được mở cạo trên thí nghiệm STLK
06 có mức độ tăng trưởng khá, vượt đến 96,39% so đối chứng RRIV 4 như dvt LH 01/1124 Tuy nhiên cũng có một số dvt có tăng trưởng kém như LH 01/266 và LH 01/408, trong đó tăng trưởng kém nhất là dvt LH 01/408 (chỉ tăng 4,15 cm/năm, đạt 88,12% so đối chứng) Kết quả trên cũng cho thấy hầu hết các dvt sinh trưởng khỏe đều có mức tăng trưởng tốt, điển hình là các dvt LH 01/470, LH 01/948, LH 01/471,
LH 01/1071, LH 01/1080, LH 01/161 và LH 01/745 dẫn đầu về số đo vanh và có mức tăng trưởng trung bình tương đối tốt
Bảng 4.1: Vanh thân và tăng vanh trung bình của các dvt trên thí nghiệm STLK 06
Trang 39Ghi chú: - Các giá trị đi kèm cùng chữ cái biểu thị khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê
4.2 Sản lượng cá thể (g/c/c) của các dvt qua 3 tháng đầu năm cạo thứ nhất
Năng suất cao và ổn định suốt cả chu kỳ khai thác là một trong những chỉ tiêu hàng đầu mà các nhà chọn tạo giống cây trồng nói chung và chọn tạo giống cao su nói riêng đều cố gắng đạt đến Chỉ tiêu này nhằm giúp cho các nhà sản xuất phát triển công việc kinh doanh lâu dài trên vườn cây do đạt được hiệu quả kinh tế cao cho cả chu kỳ kinh doanh
Cây cao su là cây công nghiệp lâu năm phải mất 5 - 7 năm kiến thiết cơ bản mới cho thu hoạch Do vậy, để thu hồi vốn nhanh thì cần phải có những giống cho năng suất cao ngay trong những năm đầu khai thác nhưng vẫn phải đảm bảo duy trì được năng suất trong cả chu kỳ kinh doanh
Kết quả bảng 4.3 và phụ lục 7 cho thấy sản lượng trung bình qua 3 tháng đầu năm 2012 của các dvt trên thí nghiệm STLK 06 khác biệt rất có ý nghĩa, với sản lượng trung bình trên thí nghiệm đạt 31,82 g/c/c Xét về cấp sản lượng, trong 62 dvt mở cạo trên thí nghiệm có 9 dvt (chiếm 14,52%) đạt cấp sản lượng tốt (cấp 5), 11 dvt (chiếm 17,74%) đạt cấp khá, 20 dvt (chiếm 32,26%) đạt cấp trung bình (cấp 3), 13 dvt (chiếm 20,97%) đạt cấp dưới trung bình (cấp 2) và 9 dvt (chiếm 14,52 %) đạt cấp sản lượng kém (cấp 1)
Nhìn chung các dvt có sản lượng tăng dần qua các tháng, có 30/62 dvt vượt RRIV 4 từ 2,86 – 75,50 % Trong đó, dvt LH 01/814 có g/c/c trung bình 3 tháng cao nhất đạt 56,58g nhưng sản lượng biến động giữa các tháng rất lớn tăng cao ngay khi
mở miệng cạo (71,61 g) sau đó giảm dần theo thời gian khai thác (54,78g – tháng 5 và 43,34 g – tháng 6) Bên cạnh đó, dvt LH 01/1080 có sản lượng khởi đầu thấp (26,71 g)
Trang 40sau tăng vượt từ 57,98 – 82,34g đạt 172,70% RRIV 4 Dvt LH 01/297 có sản lượng cá thể thấp nhất (12,40 g/3 tháng đạt 38,45% RRIV 4)
Bảng 4.2: Sản lượng cá thể (g/c/c) qua 3 tháng đầu năm 2012 của các dvt trên thí