TÓM TẮT Đề tài nghiên cứu “ Điều tra tình hình canh tác cây ca cao tại Bình Phước và đánh giá hiệu lực phòng trừ Phytophthora palmivora của một số loại nông dược trong phòng thí nghiệm
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH CANH TÁC CÂY CA CAO TẠI BÌNH PHƯỚC VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC PHÒNG
TRỪ Phytophthora palmivora CỦA MỘT SỐ LOẠI
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN GIANG TRƯỜNG NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
KHÓA: 2008 – 2012
Tháng 7/ 2012
Trang 2ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH CANH TÁC CÂY CA CAO TẠI BÌNH PHƯỚC VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC PHÒNG
TRỪ Phytophthora palmivora CỦA MỘT SỐ LOẠI
NÔNG DƯỢC TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
Tác giả
TRẦN GIANG TRƯỜNG
Khóa luận tốt nghiệp được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng
kỹ sư Bảo vệ thực vật
Giáo viên hướng dẫn:
ThS LÊ CAO LƯỢNG
KS LÃ PHẠM LÂN
Tháng 7/ 2012
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Con xin khắc ghi công ơn sinh thành, dương dục của ba mẹ đã giúp con đạt kết quả ngày hôm nay, và những người thân yêu quý là nguồn động viên tinh thần bên con
Chị Nguyễn Hiếu Hạnh cùng các anh chị khác làm việt trong Viện Khoa Học
Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam đã nhiệt tình chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Các bạn trong lớp DH08BV đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2012
Sinh viên thực hiện Trần Giang Trường
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “ Điều tra tình hình canh tác cây ca cao tại Bình Phước và
đánh giá hiệu lực phòng trừ Phytophthora palmivora của một số loại nông dược
trong phòng thí nghiệm ”, được tiến hành tại huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước và
phòng thí nghiệm bệnh cây của bộ môn Bảo Vệ Thực Vật trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, thời gian thực hiện từ tháng 02 đến tháng 06 năm 2012
Đề tài được thực hiện nhằm mục đích nắm được tình hình canh tác ca cao tại Bình Phước và khảo sát hiệu lực của các loại thuốc: Agri – Fos 400; Norshield
86,2WG; Cabriotop 600WDG; Amistar 250SC đối với Phytophthora palmivora gây
bệnh thối trái trên cây ca cao trong điều kiện in vitro để tìm ra thuốc có hiệu quả phòng trừ bệnh thối trái trên ca cao
Qua điều tra hiện trạng canh tác cho thấy kỹ thuật canh tác ca cao tại địa phương ít được chú trọng Việc chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho ca cao chưa được quan tâm đúng mức
Kết quả điều tra diễn biến cho thấy bệnh thối trái tăng dần theo nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa tăng vì vậy các yếu tố khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ gây hại của bệnh
Kết quả khảo sát thuốc cho thấy chỉ có thuốc Norshield 86,2WG có khả năng
kìm hãm khả năng sinh trưởng của Phytophthora palmivora được nuôi cấy trên môi
trường PGA ở nồng độ 1000 ppm
Trang 5MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH VÀ ĐỒ THỊ x
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích đề tài 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Giới hạn đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu chung về cây ca cao 3
2.1.1 Nguồn gốc, vị trí phân loại và công dụng của cây ca cao 3
2.1.2 Yêu cầu ngoại cảnh 4
2.1.3 Đặc điểm thực vật học 4
2.1.3.1 Thân 4
2.1.3.2 Lá 4
2.1.3.3 Rễ 5
Trang 62.1.3.4 Hoa 5
2.1.3.5 Sự thụ phấn 5
2.1.3.6 Trái và hạt 6
2.1.4 Giá trị dinh dưỡng 7
2.1.5 Giá trị kinh tế 7
2.1.5.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ca cao trên thế giới 7
2.1.5.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ca cao tại Việt Nam 8
2.1.5.3 Tình hình phát triển ca cao tại tỉnh Bình Phước 9
2.2 Giới thiệu chung về Phytophthora palmivora 10
2.2.1 Vị trí phân loại và phổ ký chủ 10
2.2.2 Phân biệt Phytophthora palmivora với Pythium sp 10
2.2.3 Đặc điểm phát sinh và phát triển của Phytophthora palmivora 11
2.2.4 Chu kỳ sống của nấm Phytophthora palmivora 11
2.2.5 Khả năng gây bệnh của Phytophthora palmivora 12
2.3 Sơ lược về bệnh thối trái, loét thân trên cây ca cao 12
2.3.1 Tác nhân gây bệnh và sự phân bố của bệnh 13
2.3.2 Triệu chứng bệnh thối trái, loét thân ca cao do Phytophthora palmivora 13
2.3.3 Biện pháp phòng trừ 14
2.3.4 Một số nghiên cứu về bệnh hại do Phytophthora palmivora gây ra 15
2.4 Đặc tính của các loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm 16
2.4.1 Norshield 86.2 WG 16
2.4.2 Agri – Fos 400 16
2.4.3 Cabrio Top 600 WDG 17
2.4.4 Amistar 250 SC 17
Trang 7Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
3.1.1 Thời gian nghiên cứu: 18
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu: 18
3.2 Điều kiện khí hậu thời tiết trong thời gian thí nghiệm 18
3.3 Vật liệu nghiên cứu 18
3.4 Nội dung nghiên cứu 19
3.5 Phương pháp nghiên cứu 19
3.5.1 Điều tra về hiện trạng canh tác, mức độ gây hại của Phytophthora palmivora trên ca cao và các biện pháp phòng trừ tại địa phương 19
3.5.2 Phương pháp điều tra tình hình diễn biến bệnh 19
3.5.2 Khảo nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc trừ bệnh để phòng trị Phytophthora palmivora gây bệnh trên cây ca cao 20
3.5.2.1 Phương pháp thực hiện 20
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 22
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Điều tra hiện trạng canh tác ca cao ở Huyện Bù Đăng – Tỉnh Bình Phước 23
4.1.1 Lịch sử canh tác 23
4.1.2 Quy mô trồng 23
4.1.3 Giống ca cao trồng tại địa bàn điều tra 24
4.1.5 Kỹ thuật chăm sóc 25
4.1.5.1 Tưới tiêu nước 26
4.1.5.2 Tình hình bón vôi, phân hữu cơ và chế phẩm sinh sinh học 27
4.1.5.4 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại các hộ điều tra 28
Trang 84.2 Điều tra tình hình diễn biến bệnh thối trái trên ca cao do Phytophthora palmivora
gây hại 30
4.1 Khảo nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc trừ nấm đến khả năng sinh trưởng của Phytophthora palmivora gây bệnh trên cây ca cao trong điều kiện in vitro 31
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37
5.1 Kết luận 37
5.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 42
Trang 9CV (Coefficient of variation): Hệ số biến động
VCC (Vietnam Cocoa Committee): Ban điều phối phát triển ca cao Việt Nam
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Điều kiện thời tiết, khí hậu trong thời gian làm thí nghiệm tại, huyện Bù
Đăng, tỉnh Bình Phước 18
Bảng 4.1: Các cây được canh tác trước khi trồng ca cao tại 30 vườn điều tra 23
Bảng 4.2: Phân bố diện tích vườn ca cao trong 30 hộ 23
Bảng 4.3: Tuổi vườn ca cao tại 30 hộ điều tra 24
Bảng 4.4: Nguồn gốc các giống ca cao đang trồng tại 30 vườn điều tra 25
Bảng 4.5: Các loại cây xen canh với vườn trồng ca cao 25
Bảng 4.6: Tình hình tưới nước cho ca cao vào mùa khô tại 30 vườn điều tra 26
Bảng 4.7: Tình hình làm cỏ, xén tỉa cành cho ca cao 26
Bảng 4.8: Loại phân và số lần bón tại các hộ điều tra 28
Bảng 4.9: Tình hình sử dụng thuốc hóa học tại các hộ điều tra 28
Bảng 4.10: Mức độ bệnh hại khác tại các vườn điều tra 29
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của 4 loại thuốc trừ nấm đến khả năng sinh trưởng của Phytophthora palmivora trên môi trường nhân tạo 32
Trang 11DANH SÁCH HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Túi bào tử dạng hình cầu của Pythium sp (A, B) và túi bào tử dạng hình
trứng của Phytophthora palmivora (C, D) (Jason, 2009) 11
Hình 2.2: Cách phóng động bào tử của Pythium sp (A) và cách phóng động bào tử
của Phytophthora palmivora (B) (Theo Erwin và Riberio, 1996) 11
Hình 4.1: Bệnh thối trái do Phytophthora palmivora gây ra 29 Hình 4.2: Một số sâu, bệnh hại chính trong vườn ca cao làm thí nghiệm – (A) Bệnh
thối trái do Phytophthora palmivora gây ra trên trái non, (B) Triệu chứng do sâu đục
trái gây hại, (C) Triệu chứng do rệp sáp gây hại trên trái, (D) Trái ca cao bi bọ xít muỗi
gây hại 30 Hình 4.3: Đường kính tản nấm Phytophthora palmivora trên môi trường CRA có
nhiễm độc thuốc Amistar 250SC sau 4 ngày nuôi cấy 35 Hình 4.4: Đường kính tản nấm Phytophthora palmivora trên môi trường CRA có
nhiễm độc thuốc Cabrio Top 600WDG sau 4 ngày nuôi cấy 35 Hình 4.5: Đường kính tản nấm Phytophthora palmivora trên môi trường CRA có
nhiễm độc thuốc Agri – Fos 400 sau 4 ngày nuôi cấy 36 Hình 4.6: Đường kính tản nấm Phytophthora palmivora trên môi trường CRA có
nhiễm độc thuốc Norshield 86.2WG sau 4 ngày nuôi cấy 36
Đồ thị 4.1: Diễn biến tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh thối trái 30
Trang 12Chương 1
GI ỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Cây ca cao (Theobroma cacao L.) là một loài cây công nghiệp dài ngày có giá
trị dinh dưỡng và kinh tế khá cao Hiện nay trên thế giới, nhu cầu tiêu thụ hạt ca cao để phục vụ cho ngành công nghiệp thực phẩm là rất lớn trong khi nguồn cung ca cao chưa đáp ứng đủ Vì nguồn sản xuất ca cao chính ở hai nước Tây Phi là Bờ Biển Ngà và Ghana nếu có sự bất ổn về chính trị và thiên tai dịch bệnh xảy ra sẽ dẫn đến nguồn nguyên liệu trên thế giới bị thiếu hụt nặng
Do vậy, việc phát triển cây ca cao ở Việt Nam trong vòng 10 năm tới rất được khuyến khích Bộ NN và PTNT, các địa phương rất quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện cho ngành ca cao phát triển trong 5 năm qua Bộ đã thành lập ban điều phối phát triển
ca cao Việt Nam (2005), và phê duyệt “Đề án phát triển cây ca cao đến 2015 là 60.000
ha và định hướng đến 2020 là 80.000 ha” Tuy nhiên, việc tăng diện tích trồng ca cao
sẽ dẫn đến sự phát sinh, phát triển của một số loại sâu bệnh hại làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất và chất lượng ca cao như: bệnh thán thư, chết cây con, bọ xít muỗi, chết ngược cành Trong đó
Phytophthora palmivora luôn là vấn đề nan giải đối với người trồng ca cao vì
Phytophthora palmivora là tác nhân gây hại chính và nghiêm trọng trên cây ca cao ở hầu hết các nước trồng ca cao trên thế giới cũng như ở Việt Nam
Phytophthora palmivora có nguồn gốc từ đất, có khả năng lưu tồn lâu trong đất
và trên trái bệnh Vì vậy nấm bệnh phát tán mạnh từ hai nguồn chính là từ đất và từ
trái bệnh Đặc biệt, bệnh phát triển rất mạnh trong điều kiện mùa mưa, ẩm độ cao, gây thiệt hại nghiêm trọng về năng suất và rất khó kiểm soát được bệnh Hiện nay, chưa có
loại thuốc nào đặc trị được Phytophthora palmivora Để hạn chế những thiệt hại do
Phytophthora palmivora gây ra thì việc tìm ra các loại thuốc và phương pháp canh tác
Trang 13tổng hợp có khả năng phòng trừ Phytophthora palmivora gây bệnh trên cây ca cao là
Nắm được tình hình canh tác ca cao tại Bình Phước và khảo nghiệm hiệu lực
phòng trừ của thuốc hóa học đối với Phytophthora palmivora trên ca cao trong phòng
thí nghiệm để làm cơ sở cho việc phòng trừ bệnh thối trái trên ca cao ngoài đồng
1.3 Yêu cầu
Điều tra 30 hộ nông dân tại địa phương về hiện trạng canh tác ca cao, mức độ
gây hại của Phytophthora palmivora trên ca cao và các biện pháp phòng trừ tại địa
phương
Khảo sát hiệu lực của các loại thuốc: Agri – Fos 400; Norshield 86,2WG; Cabriotop 600WDG; Amistar 250SC đối với Phytophthora palmivora gây bệnh thối trái trên cây ca cao trong điều kiện in vitro
Hiểu biết về triệu chứng, tác nhân gây bệnh
Thu thập thông tin hiểu biết của các hộ nông dân về bệnh thối trái
Xác định hiệu lực các loại thuốc thí nghiệm trên bệnh thối trái ca cao
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu chung về cây ca cao
2.1.1 Nguồn gốc, vị trí phân loại và công dụng của cây ca cao
Theo Peterson (2002), vị trí phân loại của cây ca cao như sau:
Giới: Plantae
Bộ: Malvales
Họ: Sterculiaceae Giống: Theobroma Loài: Theobroma cacao Tên khoa học của cây ca cao là Theobroma cacao L., từ “Theobroma” là do
Lìnne - một nhà thực vật học của Thụy Điển đặt tên và từ “cacao” xuất phát từ tiếng
Mayas Cây ca cao có nguồn gốc từ lưu vực sông Amazon nằm ở Nam Trung Mỹ và cũng được trồng rộng rãi ở đây từ hơn 500 năm trước Thổ dân Aztec ở Mexico đã chế
biến hạt ca cao thành một thực phẩm thiêng liêng dùng để dâng cúng thần linh
Theobroma cacao L gồm 3 nhóm chính là: Criollo, Forastero và Trinitario Nhóm Criollo có vỏ trái màu đỏ, cấu trúc vỏ mềm; mỗi trái có 20 – 30 hạt, hạt có chất lượng rất cao do có hương ca cao đặc trưng; tử diệp có màu trắng ngà hoặc tím rất nhạt; cây phát triển kém, lá nhỏ, rất mẫn cảm với sâu bệnh Nhóm Forestero có vỏ trái màu xanh, cấu trúc vỏ mềm, mỗi trái có từ 30 hạt trở lên, tử diệp có màu tím Forestero được trồng rộng rãi trên thế giới vì nhóm này cho năng suất cao Nhóm Trinitario có màu sắc vỏ thay đổi, cấu trúc vỏ trái cứng, mỗi trái có từ 30 hạt trở lên, tử diệp có màu thay đổi Trinitario có nguồn gốc từ Trinidad là con lai của nhóm Criollo
và nhóm Forastero
Bộ phận chính được sử dụng là hạt, hạt ca cao được chế biến thủ công hoặc chế biến công nghiệp thành các sản phẩm bột, bơ, chocolate và dầu tươi ca cao Ngoài ra,
Trang 15vỏ và lá ca cao còn có thể làm thức ăn cho gia súc, phân bón Mặt khác, ca cao là loại cây ưa bóng râm nên có thể trồng xen với các cây trồng khác Hằng năm, lá ca cao rụng tạo nên một lớp thảm mục bảo vệ tầng đất mặt và trả lại chất hữu cơ cho đất Đồng thời, cây ca cao còn được xem là một loài cây lâm nghiệp dùng để phủ kín đồi trọc và bảo vệ đất chống xói mòn (Phạm Hồng Đức Phước, 2009)
2.1.2 Yêu cầu ngoại cảnh
Khí hậu: Cây ca cao thích hợp với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 20– 30 oC, độ ẩm 70 – 80 %, lượng mưa trung bình hằng năm 1.500 – 2.000 mm Cây ca cao thích hợp với khí hậu có mùa khô kéo dài không quá 3 tháng, không có gió mạnh thường xuyên
Ánh sáng: Cây ca cao thích hợp với ánh sáng tán xạ (50 – 60 % cường độ ánh sáng tự nhiên) nên có thể trồng xen ca cao vào trong vườn dừa, cà phê, điều, tiêu hay vườn cây ăn trái có tán thưa như sầu riêng, nhãn, cam, chuối
Đất đai: Cây ca cao trồng được với nhiều loại đất khác nhau (đất đỏ, đất xám, đất phù sa cổ) Nhưng cây ca cao thích hợp nhất với đất có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, pH từ 5 – 7, tầng canh tác dày trên 1 m, dễ thoát nước, giàu chất hữu cơ
(Nguyễn Mạnh Hùng và Phạm Anh Cường, 2007)
2.1.3 Đặc điểm thực vật học
2.1.3.1 Thân
Sự sinh trưởng của thân mọc từ hạt gồm có 3 giai đoạn Giai đoạn 1 bắt đầu từ khi hạt ca cao nẩy mầm, rễ mọc ra trước, sau đó 2 lá mầm được đẩy lên khỏi mặt đất
3 – 4 cm Giai đoạn 2 được tính từ lúc các lá mầm mở ra, sau đó 4 lá đầu tiên xuất
hiện, cây sinh trưởng tiếp tục trong 6 – 7 tuần và chiều cao có thể đạt 0,5 – 2 m Giai
đoạn 3 được tính từ lúc chiều cao cây bắt đầu sinh trưởng chậm lại và 5 chồi bên phát triển đồng thời tạo thành một tầng lá Sau một số năm, cây ca cao có thể đạt chiều cao
4 – 10 m tùy theo mật độ trồng và độ che sáng, các chồi vượt thường hình thành từ thân chính và cũng tạo ra các tầng lá làm cho cây ca cao tạo tán rõ rệt Tán cây ca cao
có liên quan nhiều đến sản lượng nên việc tạo tán cho cây là một kỹ thuật quan trọng trong nghề trồng ca cao (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 1996)
2.1.3.2 Lá
Trang 16Lá ca cao phát triển thành từng đợt Ở mỗi đợt, các chồi đỉnh phát triển nhanh tạo ra từ 3 đến 6 cặp lá mới, các lá mới đều có màu xanh nhạt hoặc hơi đỏ nhưng khi thành thục hoàn toàn sẽ có màu xanh đậm của lá trưởng thành Sau mỗi đợt lá mới, các chồi đỉnh lại đi vào tình trạng ngủ một thời gian dài hay ngắn tùy vào một số điều kiện ngoại cảnh Ở một đợt ra lá mới, chất dinh dưỡng được chuyển một phần từ các lá già
về các lá mới, về sau các lá già này rụng đi nên có người gọi mỗi đợt lá mới ở ca cao là thay áo Các yếu tố ngoại cảnh dẫn đến đợt lá mới chủ yếu là nhiệt độ và độ ẩm, mưa giúp các đợt ra lá mới dày hơn và ở các cây ca cao không được che nắng thì lá mới cũng ra nhiều hơn các cây ca cao được che nắng (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 1996)
2.1.3.3 Rễ
Bộ rễ của cây ca cao gồm một rễ trụ chính có thể dài tới 2 m và hệ thống rễ phụ nằm chủ yếu ở tầng đất mặt khoảng 20 cm Hệ thống rễ phụ đan nhau dày đặc có chức năng hút chất dinh dưỡng, nước ở tầng mặt và rễ trụ chính có nhiệm vụ hút nước, chất dinh dưỡng ở tầng sâu Biện pháp tủ gốc để giữ và kéo dài ẩm độ đất vào mùa khô rất quan trọng cho việc duy trì hoạt động của hệ thống rễ phụ này trong quá trình hấp thu
nước và dinh dưỡng (Nguyễn Mạnh Hùng và Phạm Anh Cường, 2007)
2.1.3.4 Hoa
Đợt hoa đầu tiên trên cây trồng từ hạt có thể nở vào khoảng 14 – 20 tháng sau khi trồng Hoa ra tập trung vào mùa mưa, những nơi có đủ nước cây ra hoa quanh năm nhưng vẫn có cao điểm ra hoa rộ Hoa ca cao xuất hiện trên sẹo lá ở thân, cành Do hàng năm hoa xuất hiện cùng một chỗ nên lâu ngày phình to gọi là đệm hoa, thường mỗi đệm hoa mang rất nhiều hoa, nếu đệm hoa bị tổn thương thì lượng hoa giảm hoặc không ra nữa Hoa nhỏ, màu hồng, có 5 cánh, hoa bắt đầu nở từ khoảng 3 giờ chiều hôm trước cho đến 9 giờ sáng hôm sau Sau khoảng thời gian đó thì các túi phấn bắt đầu tung phấn và sự thụ phấn xảy ra trong ngày, các hoa không được thụ phấn sẽ rụng Trên mỗi cây ca cao trưởng thành có thể thấy rất nhiều hoa hình thành nhưng thông thường chỉ 1 – 5 % được thụ tinh và kết trái (Phạm Hồng Đức Phước, 2009)
2.1.3.5 Sự thụ phấn
Trang 17Việc thụ phấn chủ yếu do côn trùng thuộc họ Ceratopogonidae; loại côn trùng này rất nhỏ nên khó quan sát thấy, chúng sống ở những nơi mát, tối, ẩm và sinh sản trên các tàn dư thực vật, kể cả trên các vỏ quả ca cao Vòng đời của loài côn trùng này khoảng 28 ngày và quần thể chúng tăng rõ rệt vào mùa mưa Cả côn trùng đực và cái đều làm nhiệm vụ thụ phấn nhưng những con cái tích cực hơn, chúng hoạt động thụ phấn chủ yếu vào chiều tối, bay từ cây nọ qua cây kia ở một khoảng cách nhỏ Việc phun thuốc sâu chỉ ảnh hưởng một vài ngày tới mật độ quần thể côn trùng vì chúng phục hồi rất nhanh nên chưa có bằng chứng rõ rệt về ảnh hưởng xấu của việc phun thuốc sâu lúc ra hoa đến sản lượng quả Cây ca cao có mức độ thụ phấn chéo cao vì phần lớn các giống trồng hiện nay đều tự bất thụ, mức độ tự bất thụ cũng không giống nhau ở các loài phụ khác nhau (Nguyễn Mạnh Hùng và Phạm Anh Cường, 2007)
2.1.3.6 Trái và hạt
Sau khi thụ phấn, trái ca cao phát triển chậm trong 40 ngày đầu nhưng sau đó nhanh dần, trái đạt kích thước lớn nhất sau thụ phấn khoảng 75 ngày Sau khi thụ phấn khoảng 85 ngày, sự tăng trưởng của trái chậm lại, trong khi hạt bên trong trái bắt đầu tăng trưởng nhanh, đây cũng là thời kỳ hạt tích lũy chất béo Lớp cơm nhầy hình thành khoảng 140 ngày sau khi thụ phấn Khi hạt tăng trưởng đạt kích thước tối đa, trái sẽ vào giai đoạn chín Như vậy, thời gian từ khi thụ phấn đến khi trái chín kéo dài từ 5 –
6 tháng tùy theo giống Số lượng hoa thụ tinh mặc dù nhỏ so với tổng số hoa nhưng cây ca cao thường không duy trì được hết số trái đã hình thành Trong vòng 100 ngày sau khi thụ tinh, chủ yếu vào các thời điểm sau 50 và 70 ngày, trái non có thể trở nên vàng và ngừng sinh trưởng sau đó đen lại nhưng vẫn dính trên cây Tỷ lệ trái không đi đến được giai đoạn chín tùy thuộc rất nhiều vào giống và điều kiện ngoại cảnh
Mỗi trái ca cao thường chứa 30 – 40 hạt, chung quanh hạt có lớp cơm nhầy bao bọc, lớp cơm nhầy có vị hơi ngọt và là cơ chất cho quá trình lên men khi ủ hạt sau này Trái ca cao có kích thước, hình dáng và màu sắc khá đa dạng, kích thước có thể từ
10 – 30 cm theo chiều dài, hình dáng có thể từ gần tròn đến dài dạng ống, vỏ ngoài có thể tương đối nhẵn hoặc xù xì, màu sắc có thể từ xanh vàng đến tím sẫm hoặc hơi đỏ Hình thức thụ phấn của cây ca cao là thụ phấn chéo nhờ côn trùng, vì vậy sự phân ly tính trạng rất rõ rệt, các trái trên cùng một cây có thể giống nhau nhưng trong cùng
Trang 18một vườn có thể gặp nhiều dạng trái khác nhau rõ rệt (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 1996)
2.1.4 Giá trị dinh dưỡng
Ca cao thô và một số thành phẩm sô cô la chứa rất nhiều nhóm chất chống oxy hóa, cụ thể như nhóm chất flavanol (epicatechin, catechin, procyanidin) Các nghiên cứu cho thấy nhóm chất flavanol có vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ thống tim mạch hoạt động tốt, ngăn ngừa bệnh tim
Trong bơ ca cao giàu acid béo không no và acid béo no Trong đó, acid béo không no (acid oleic và acid linoleic) chiếm một phần ba của tổng lượng chất béo, chất này được cho là làm giảm lượng cholesterol trong máu Acid béo no (acid stearic) cũng chiếm một phần ba của tổng lượng chất béo và acid stearic không có ảnh hưởng
gì đến lượng cholesterol trong máu mặc dù theo các nghiên cứu khoa học thì acid béo
no thường có hại cho sức khỏe vì làm tăng lượng cholesterol trong máu gây tắc nghẽn các mạch máu về sau
Bột ca cao giàu các thành phần dinh dưỡng như: Carbonhydrate, protein, chất béo cùng một số vitamin và khoáng chất Trong 100 g bột ca cao chứa 115 mg carbonhydrate, 185 mg protein, 217 mg chất béo, 950 mg Na, 1.500 mg K, 130 mg Ca,
520 mg Mg, 660 mg P, 460 mg Cl (Phạm Hồng Đức Phước, 2009)
2.1.5 Giá trị kinh tế
2.1.5.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ca cao trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có 3 vùng trồng ca cao chủ lực là Tây Phi, Nam Mỹ và Đông Nam Á Năm 2008, Tây Phi được xếp thứ nhất về sản xuất ca cao chiếm khoảng
70 % tổng sản lượng ca cao của thế giới với các nước sản xuất chính là Bờ Biển Ngà (1.370.000 tấn), Ghana (675.000 tấn), Nigeria (210.000 tấn) và Cameroon (185.000 tấn) Đứng thứ hai là khu vực Đông Nam Á chiếm khoảng 18 % tổng sản lượng ca cao của thế giới với nước sản xuất chính là Indonesia (580.000 tấn) Cuối cùng là Nam Mỹ chiếm khoảng 12 % tổng sản lượng ca cao của thế giới với hai nước sản xuất chính là Brazil (160.000 tấn) và Ecuador (115.000 tấn) Tổng sản lượng ca cao của thế giới đạt khoảng 3.700.000 tấn vào năm 2008 (Vietnam – WTO, 2009)
Trang 19Nếu chỉ xét riêng trong vùng Đông Nam Á thì nhu cầu về hạt ca cao rất lớn Hiện nay các nhà máy chế biến trong vùng Đông Nam Á chỉ mới họat động 61 % công suất Năm 2007, lượng tiêu thụ ca cao của Malaysia rất lớn (306.000 tấn) trong khi lượng sản xuất trong nước rất thấp (35.000 tấn) nên Malaysia phải nhập khẩu ca cao từ Indonesia nhưng do hạt ca cao của Indonesia chất lượng kém nên phải nhập thêm từ Tây Phi để pha trộn (Vietnam – WTO, 2009)
Giá ca cao trên thị trường thế giới vừa lập kỷ lục cao chưa từng có trong vòng
32 năm qua, do tình hình bất ổn chính trị gia tăng ở Bắc Phi và Trung Đông Theo Bloomberg, ca cao kỳ hạn tháng 5 tại thị trường New York phiên giao dịch cuối tuần qua, 4/3/2011, vọt lên mức 3.775 đô la/tấn, mức cao chưa từng có kể từ tháng 1/1979, sau khi bạo lực gia tăng tại Bờ Biển Ngà, nước sản xuất ca cao lớn nhất thế giới Tại London, giá ca cao cũng vọt lên 2.425 bảng Anh/tấn, mức cao nhất kể từ ngày 19/7/2010 Theo Rabobank: “bất ổn nghiêm trọng ở Bờ Biển Ngà sẽ không chỉ làm giảm cung ca cao ngắn hạn mà có thể tiếp tục ảnh hưởng tới nguồn cung trong cả vụ mùa tới” (Hải Hà, 2011)
2.1.5.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ca cao tại Việt Nam
Cây ca cao đã được người Pháp du nhập vào Việt Nam từ năm 1878 và chỉ trồng thử nghiệm trên diện tích nhỏ Năm 1956, chính quyền miền Nam đã đưa cây ca cao vào trồng chính thức tại một số tỉnh ở miền Nam nhưng do không có thị trường tiêu thụ, lại trồng rải rác không tập trung, gây khó khăn trong việc chế biến và tiêu thụ nên khó có thể khuyến khích việc trồng phổ biến cây ca cao (Nguyễn Văn Uyển và Nguyễn Tài Sum, 1996)
Năm 1980, với chương trình khuyến khích trồng ca cao của nhà nước, ca cao được trồng rộng rãi ở các tỉnh miền Trung và miền Nam Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhà nước hỗ trợ cho chương trình này không xây dựng được thị trường tiêu thụ các sản phẩm của ca cao nên toàn bộ ngành sản xuất ca cao đã sụp đổ Năm 1990, công ty Mars và hiệp hội ca cao thế giới đã đề nghị Việt Nam nên trồng phổ biến cây ca cao do tình hình trong nước cũng như trên thế giới thay đổi theo chiều hướng thuận lợi để phát triển cây công nghiệp này Năm 1993, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với
Mỹ là nước tiêu thụ ca cao chủ yếu trên thế giới Nhu cầu tiêu thụ ca cao trên thế giới
Trang 20tăng nhanh trong khi vùng sản xuất ca cao chủ lực là Nam Mỹ và Tây Phi lại có nhiều biến động về chính trị, thời tiết và dịch bệnh, làm giới hạn nguồn cung cấp ca cao
Năm 2005, ban điều phối ca cao Việt Nam được bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành lập nhằm giúp bộ định hướng phát triển cho ngành ca cao Việt Nam Cũng trong năm 2005, bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã ban hành tiêu chuẩn hạt ca cao Việt Nam nhằm giúp người sản xuất có cơ sở để sản xuất hạt ca cao chất lượng cao Năm 2006, lần đầu tiên 8 dòng ca cao thương mại trong bộ giống do trường Đại học Nông Lâm Tp HCM khảo nghiệm được bộ NN và PTNT công nhận và cho phép trồng rộng rãi trên toàn quốc Đây là 2 sự kiện có ý nghĩa lớn góp phần giúp cây ca cao trở thành cây trồng chính trong hệ thống canh tác ở Việt Nam
Năm 2007, các tỉnh có diện tích trồng ca cao lớn trong nước ta bao gồm: Bến Tre (2.922 ha), Tiền Giang (1.300 ha), Bình Phước (1.200 ha), Bà Rịa – Vũng Tàu (1.119 ha) và Đắk Lắk (1.111 ha) Sản lượng ca cao của Việt Nam đạt khoảng 300 tấn trong năm 2007 (Vietnam – WTO, 2009)
Theo báo cáo của Ban Điều phối Phát Triển Ca Cao Việt Nam, tính đến cuối tháng 6 năm 2011, diện tích trồng ca cao ở Việt Nam là 20.598 ha, tăng 4.404 ha so với năm 2010 Tổng số có 2.100 ha ca cao trồng thuần, số còn lại là diện tích trồng xen với một số cây công nghiệp (dừa, điều, cà phê) và cây ăn quả Diện tích ca cao thu hoạch đến nay khoảng 7.300 ha, chiếm 43,6 % tổng diện tích trồng Năng suất ca cao bình quân cả nước còn thấp (khoảng 3,5 tạ/ha), chênh lệch khá lớn giữa các vùng trồng Ước tính, nếu được thâm canh tốt thì nhiều diện tích có thể cho năng suất từ 1 –
2 tấn/ha Về sản lượng, đến hết năm 2010, sản lượng ca cao Việt Nam ước đạt 2.500 tấn hạt khô/năm (Chu Văn, 2011)
2.1.5.3 Tình hình phát triển ca cao tại tỉnh Bình Phước
Toàn tỉnh Bình Phước hiện có khoảng 2.000 ha đất trồng ca cao, là địa phương
có diện tích trồng ca cao lớn trong cả nước Trong đó, diện tích đang cho thu hoạch là
250 ha, sản lượng hàng năm đạt hơn 200 tấn Theo đó, tỉnh dự tính sẽ phát triển 2.500 – 3.000 ha cây ca cao xen canh với các loại cây công nghiệp khác chủ yếu trồng xen dưới tán điều vào năm 2015 Hiện tại có gần 131 ha ca cao của tỉnh Bình Phước đang trồng theo tiêu chuẩn UTZ Certified Thông qua việc sản xuất caocao bền vững theo
Trang 21tiêu chuẩn UTZ Certified người nông dân giờ đây sẽ có điều kiện nâng cao năng lực trong thực hành nông nghiệp tốt, quản lý sản xuất, kinh doanh có hiệu quả và đáp ứng các đòi hỏi về tinh thần trách nhiệm đối với xã hội và môi trường Đây cũng là một mục tiêu đảm bảo thu nhập cao cho nông dân và là cơ sở để ca cao Bình Phước đạt chứng nhận toàn cầu phát triển mạnh mẽ trong những năm tới, cũng là bước khởi đầu thuận lợi để xây dựng thương hiệu cho cây ca cao Bình Phước (Đậu Tất Thành, 2012)
2.2 Giới thiệu chung về Phytophthora palmivora
2.2.1 Vị trí phân loại và phổ ký chủ
Theo Trịnh Đình Hưng (2008), vị trí phân loại của Phytophthora palmivora như sau:
Ngành: Chomista Lớp: Oomycetes Bộ: Peronosporales Họ: Pythiaceae
Giống: Phytophthora Loài: Palmivora Bốn loài Phytophthora được biết là tác nhân gây bệnh trên cây ca cao bao gồm
Phytophthora palmivora, Phytophthora megakarya, Phytophthora capsici, Phytophthora citriophthora Trong đó, Phytophthora palmivora là loài gây hại chủ
yếu ở nhiều nước trồng ca cao trên thế giới Không chỉ gây hại trên cây ca cao,
Phytophthora palmivora còn gây ra rất nhiều bệnh trên nhiều loại cây trồng khác nhau như bệnh loét sọc mặt cạo trên cao su, bệnh thối rễ và thân trên đu đủ, bệnh thối rễ và loét thân trên sầu riêng, bệnh thối rễ và xì mủ thân trên cam quýt (George, 1983)
2.2.2 Phân biệt Phytophthora palmivora với Pythium sp
Khi phân lập Phytophthora palmivora, chúng ta thường phân lập nhầm với
Pythium sp bởi vì Phytophthora palmivora và Pythium sp đều thuộc họ Pythiaceae nên chúng có mối quan hệ di truyền rất gần nhau Tuy nhiên, giữa Phytophthora
palmivora với Pythium sp vẫn có nhiều đặc điểm đặc trưng để phân biệt, cụ thể là
hình dạng túi bào tử của chúng khác nhau và cách phóng động bào tử cũng khác nhau
Trang 22Hình 2.1: Túi bào tử dạng hình cầu của Pythium sp (A, B) và túi bào tử dạng hình
trứng của Phytophthora palmivora (C, D) (Jason, 2009)
Hình 2.2: Cách phóng động bào tử của Pythium sp (A) và cách phóng động
bào tử của Phytophthora palmivora (B) (Theo Erwin và Riberio, 1996)
Hình 2.2 (A) cho thấy một ống tháo được hình thành từ túi bào tử của Pythium
sp và một túi giả có thành rất mỏng hình thành ở cuối ống tháo, các động bào tử sau
đó phát triển bên trong túi giả và được tung ra khi màng túi giả bị vỡ Ngược lại, ở
hình 2.2 (B) cho thấy các động bào tử của Phytophthora palmivra được hình thành
trong túi bào tử và được giải phóng trực tiếp từ túi bào tử
2.2.3 Đặc điểm phát sinh và phát triển của Phytophthora palmivora
Theo Tarjot (1974), điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất túi bào tử là
ở ẩm độ khoảng 80 % và nhiệt độ khoảng 25 – 30 0C, túi bào tử có thể sản xuất hệ sợi mới và động bào tử khi ở trong nước Sự phóng thích động bào tử tốt nhất khi nhiệt độ của nước vào khoảng 15 – 18 0C và ẩm độ từ 70 – 80 %; sau khi phóng thích, động bào tử bơi trong nước bằng 2 lông roi, cuối cùng không di chuyển nữa khi được bao vào nang và sau đó bắt đầu nẩy mầm khi nhiệt độ từ 28 – 30 0C và có đủ oxy
2.2.4 Chu kỳ sống của nấm Phytophthora palmivora
Trang 23Theo Trịnh Đình Hưng (2008), bào tử Phytophthora palmivora không nhìn thấy được bằng mắt thường Bào tử của Phytophthora palmivora gồm 3 dạng vô tính là: túi
bào tử, động bào tử, bào tử chống chịu và 1 dạng hữu tính là bào tử noãn
Túi bào tử (Sporangium) được tạo ra trên những sợi nấm (Mycelium) trong điều kiện ẩm ướt và nhiệt độ thích hợp 22 – 28 oC Trong mỗi túi bào tử chứa 30 – 40 động bào tử (Zoospore), động bào tử có hình dạng xác định và được giải phóng khi có điều kiện thích hợp Các động bào tử có thể di chuyển được nhờ 2 lông roi và chúng bơi lội hàng giờ liền, cuối cùng ngừng bơi lội và cuộn tròn để kết kén, về sau hình thành vách
tế bào tạo nên thể nang (Cyst) Nếu gặp điều kiện thuận lợi thì các thể nang này sẽ nảy mầm thành sợi nấm
Khi gặp điều kiện ít thuận lợi hơn (thường là khi đất trở nên khô), những sợi nấm có thể hình thành nên dạng bào tử khác như bào tử chống chịu (Chlamydospore)
và đây là giai đoạn tiềm sinh của bào tử Trong giai đoạn tiềm sinh, bào tử chống chịu
có thành tế bào dày và có khả năng sống sót trong đất hoặc mô của ký chủ trong nhiều năm đến khi gặp điều kiện thuận lợi thì chúng hoạt động trở lại
Quá trình giảm phân của sợi nấm của Phytophthora palmivora sẽ hình thành túi
giao tử đực (Antheridium) và túi noãn (Oogonium) Nhân của túi giao tử đực được đưa vào túi noãn thông qua ống thụ tinh của túi giao tử đực, kết quả là tạo thành bào tử noãn (Oospore) (Phan Thúy Hiền, 2009)
2.2.5 Khả năng gây bệnh của Phytophthora palmivora
Phytophthora palmivora có thể gây bệnh một cách hiệu quả trên cây trồng bởi
vì túi bào tử có thể lan truyền trong không khí theo gió và xâm nhiễm vào những cánh đồng lân cận; động bào tử và bào tử chống chịu có khả năng tồn tại bên trong hay bên ngoài mô ký chủ trong khoảng thời gian dài, động bào tử còn có khả năng sống sau khi
đi qua hệ tiêu hóa của động vật như ốc sên Động bào tử của Phytophthora palmivora
có thể xác định được vị trí của những đầu rễ non thông qua một loại hợp chất hoá học sản sinh ra từ đầu rễ non giúp chúng bơi đến và xâm nhiễm vào các vết thương trên những đầu rễ non (Ngô Thành Khôn Nguyên, 2010)
2.3 Sơ lược về bệnh thối trái, loét thân trên cây ca cao
Trang 242.3.1 Tác nhân gây bệnh và sự phân bố của bệnh
Theo Trần Hoài Thanh (2010), trong tất cảc các bệnh gây hại trên cây ca cao thì
bệnh thối đen quả hay thối đỉnh quả Phytophthora là nguyên nhân gây mất mùa lớn
nhất ở các vùng trồng ca cao trên thế giới Đã có 7 loài nấm được xác định là nguyên nhân gây bệnh thối đen quả và loét thân ca cao, nhưng có 2 loài gây hại chính:
Phytophthora palmivora phân bố ở khắp nơi trên thế giới, tìm thấy ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Nó gây hại trên 200 loài cây trồng khác cũng như trên ca cao
Phytophthora megakarya chỉ xuất hiện ở Trung và Tây Phi
2.3.2 Triệu chứng bệnh thối trái, loét thân ca cao do Phytophthora palmivora
Phytophthora palmivora xâm nhập và gây hại ở tất cả các bộ phận của cây nhưng triệu chứng được thấy rõ nhất là ở trên lá và trên trái Trước hết là triệu chứng ở trên lá: đầu tiên vết bệnh là những đốm nhỏ màu đen hay nâu xuất hiện trên bề mặt lá
và lan rất nhanh, sau đó lá sẽ bị cháy khô từng mảng và sẽ rụng khi bệnh nặng, nếu nấm tấn công vào phần đọt lá thì phần đọt lá sẽ bị khô và có màu đen
Triệu chứng trên trái: Ban đầu trên vỏ trái xuất hiện những chấm nhỏ màu nâu
và lan rất nhanh, về sau chuyển qua đen và từ từ bao kín bề mặt vỏ trái Trong điều kiện ẩm ướt, trên vết bệnh xuất hiện lớp tơ nấm màu trắng Trái non bị khô cứng, có màu đen nhưng vẫn dính trên cây Trái gần thu hoạch bị thối một phần hoặc cả trái, trái bị rụng, hạt lép, phần thịt bên trong bị thối và có rất nhiều sợi nấm màu trắng (Ngô Thành Khôn Nguyên, 2010)
Triệu chứng bệnh trên quả ca cao do các loài Phytophthora sp gây ra đều giống
nhau Bệnh lúc đầu xuất hiện với một đốm mờ, khoảng 2 ngày sau khi bị nhiễm các đốm chuyển sang màu nâu sôcôla, sau đó bị đen và lan rộng nhanh chóng trên khắp quả Trong vòng 14 ngày, quả trở nên đen hoàn toàn và các mô bên trong bao gồm cả hạt, khô quắt lại tạo thành một quả khô quắt Quả khô quắt này là nguồn lây nhiễm
chính của Phytophthora palmivora, trái lại Phytophthora megakarya chủ yếu lây
nhiễm từ đất Các quả dễ mẫn cảm ở tất cả các giai đoạn phát triển và sự lây nhiễm có thể xảy ra ở bất cứ phần nào của quả Trong điều kiện ẩm độ cao, một quả bị nhiễm bệnh có thể sản sinh ra 4 triệu bào tử Nước là yếu tố cần thiết cho quá trình lan truyền bệnh từ các nguồn lây nhiễm như từ đất, các rễ cây, quả hoặc thân bị loét Điều kiện
Trang 25ẩm độ cao giúp cho nấm bệnh phát triển và lan rộng nhanh hơn (Trần Hoài Thanh, 2010)
Sự nhiễm bệnh sinh ra loét thân, các vết loét này có thể phát triển vòng quanh thân, gây hiện tượng chết cây “bất ngờ” Các vết loét thân được thể hiện dưới dạng những mảng lõm trên vỏ cây, đôi khi rỉ ra dịch màu đỏ ở những chỗ vỏ cây nứt Cắt bỏ phần vỏ bên ngoài sẽ phát hiện một vết màu nâu đỏ mờ, lan rộng trong mô mạch, vết
này không xâm nhập sâu vào bên trong gỗ Ngoài ra Phytophthora sp còn gây ra hiện
tượng cháy lá ở ca cao (Trần Hoài Thanh, 2010)
2.3.3 Biện pháp phòng trừ
Chọn giống chống bệnh: kết quả đánh giá mức độ nhiễm bệnh của một số dòng
vô tính ca cao, dòng thương mại nhập nội cũng như các con lai F1 hiện đang được lưu giữ cho thấy các giống này đều bị nhiễm bệnh thối quả và loét thân từ mức độ nhẹ đến
trung bình Trên thế giới biện pháp sử dụng giống ca cao kháng bệnh do Phytophthora
palmivora hiện nay cũng chưa phổ biến Do đó, đây chưa phải biện pháp chủ lực trong
phòng trừ bệnh do Phytophthora palmivora gây ra
Sử dụng cây con sạch bệnh: tỷ lệ cây con nhiễm bệnh trong vườn ươm rất cao, cần phải loại bỏ những cây đã bị bệnh trong vườn ươm để hạn chế nguồn bệnh trên đồng ruộng
Vệ sinh đồng ruộng: đây là biện pháp cần được chú trọng và nên thực hiện thường xuyên trên đồng ruộng Làm cỏ kịp thời và loại bỏ nguồn bệnh từ quả, cành, thân sẽ hạn rất nhiều sự lan truyền của mầm bệnh Ngay từ đầu mùa mưa cần cắt bỏ kịp thời những cành bị bệnh, các quả non bị bệnh và thu gom tất cả các quả bị bệnh rụng dưới đất, mang ra khỏi vườn tập trung để đốt vì đây chính là nguồn mầm bệnh chủ yếu Nhiều thí nghiệm cho thấy, nếu không loại bỏ quả bệnh thì hiệu quả của việc phun thuốc hóa học cũng thấp hơn nhiều
Thu hoạch quả đúng lúc, không nên để quả chin quá lâu trên cây Không nên
chọn vỏ quả trong vườn ca cao, nhất là các vỏ quả đã bị bệnh vì Phytophthora
palmivora còn là loại nấm gây hại trong đất Ngay cả khi gặp điều kiện bất lợi như khô hạn, nhiệt độ cao, nấm vẫn có thể tồn tại dưới dạng bào tử hậu, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ phát sinh gây hại Tạo hình, tỉa cành giúp cho vườn cây thông thoáng Không
Trang 26trồng cây che bóng quá dày cũng như không nên trồng xen tiêu, bơ, sầu riêng, nhãn
trong vườn ca cao vì đây cũng là ký chủ của Phytophthora palmivora Thừa nước
trong đất là yếu tố quan trọng làm tăng mức độ bệnh trên đồng ruộng Vì vậy, vườn cây phải thoát nước tốt và không bị ngập cục bộ Ngoài ra, bổ sung phân hữu cơ và tủ gốc có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển và lan truyền của nấm bệnh nhất là đối với các vườn cây đã nhiều năm tuổi (Trần Kim Loang, 2006)
Sử dụng thuốc: dùng thuốc gốc đồng (Champion 77WP, Coc 85WP) hoặc Metalaxyl phun định kỳ để phòng Khi xuất hiện triệu chứng bệnh nên phun Fosetyl-Aluminium (Aliette 80WP) hoặc Metalaxyl (Ridomil MZ 72WP, Metalaxyl 25WP) Biện pháp sử dụng thuốc Phosphonate (Agri – Fos 400, Foli – R – Fos 400) tiêm vào thân ca cao hiện đang được khuyến khích vì an toàn cho môi trường và có hiệu quả cao (Trần Kim Loang, 2006) Cách sử dụng Agri – Fos 400: pha loãng thuốc để đạt nồng độ 200 g a.i/l Tiêm 20 ml/cây (cây có đường kính < 10 cm) hoặc tiêm 40 ml/cây (cây có đường kính 10 – 20 cm) Tiêm 1 lần/6 tháng (Phạm Hồng Đước Phước, 2009)
2.3.4 Một số nghiên cứu về bệnh hại do Phytophthora palmivora gây ra
Theo George (1983), ngoài cây ca cao ra, Phytophthora palmivora còn gây ra
rất nhiều bệnh trên nhiều loại cây trồng khác nhau chẳng hạn như: bệnh loét sọc mặt cạo trên cây cao su, bệnh thối rễ và thân trên cây đu đủ, bệnh thối rễ và loét thân trên sầu riêng, bệnh thối rễ và xì mủ thân trên cam quýt Theo Braudeau (1984), nấm ký sinh quan trọng nhất có mặt ở hầu hết các vùng trồng ca cao trên thế giới là
Phytophthora palmivora , tác nhân của bệnh thối nâu quả và thối lá và cành
Theo Hicks (1975), ở Papua New Guinea, bệnh thối trái ca cao do
Phytophthora palmivora gây ra là nguyên nhân chính làm thiệt hại đến năng suất của vùng Mất mùa từ bệnh thối trái thì thấp ở thập niên 60 nhưng nó tăng dần vào thập niên 80 Thiệt hại về năng suất được ước lượng vào khoảng 40 % sản lượng hằng năm của các nông hộ địa phương
Theo Drenth và Guest (2004), cây ca cao được nông dân Malaysia trồng vào năm 1940 nhưng mãi đến hơn 10 năm sau mới được trồng phổ biến Ở khu vực Đông Nam Á, Malaysia là nước có diện tích trồng ca cao lớn đứng thứ hai sau Indonesia Tuy nhiên, bệnh thối trái do Phytophthora palmivora gây ra đã làm thiệt hại khoảng 30
Trang 27% sản lượng ca cao của nước này vào mỗi năm Còn ở Indonesia, cây ca cao được người dân Indonesia trồng vào năm 1779 và là nước có diện tích trồng ca cao lớn nhất của khu vực Đông Nam Á Đến năm 1940, ca cao được trồng với qui mô lớn, sản
lượng hằng năm khoảng 2.000 tấn hạt khô Phytophthora palmivora đã làm thiệt hại
khoảng 25 – 50 % sản lượng ca cao của nước này vào hàng năm
Bệnh thối trái ca cao do Phytophthora palmivora xuất hiện rất phổ biến ở Tây Nguyên Các triệu chứng do Phytophthora palmivora gây hại trên cây ca cao như:
cháy lá, xì mủ thân và thối trái Trong vườn ươm xuất hiện chủ yếu là bệnh cháy lá, còn vườn ở giai đoạn kiến thiết cơ bản và khai thác thì chủ yếu là bệnh xì mủ thân, thối trái (Trần Kim Loang, 2006)
Theo Phạm Đình Trị (1989), cây ca cao là một trong các loài cây bị nhiều sâu
bệnh hại nhất Trong đó, bệnh thối trái do Phytophthora palmivora gây ra là một bệnh
quan trọng cần được quan tâm Theo Trần Văn Hòa và ctv (1999), bệnh thối trái do
Phytophthora palmivora gây ra là một bệnh quan trọng, bệnh xảy ra làm giảm năng suất từ 20 – 30 % đôi khi lên đến 90 % hay mất trắng
Ghi nhận của Ngô Hữu Phước (2000), ở Quảng Ngãi cho thấy Phytophthora
palmivora làm cho các lá non bị thối nhũn từng đám và dính lại với nhau Theo Phạm Hồng Đức Phước (2009), trong giai đoạn vườn ươm, ca cao thường bị các lọai bệnh
như thối trái, loét thân do Phytophthora Phytophthora sp có thể tấn công riêng lẻ
nhưng đa số là có sự kết hợp với các loại nấm khác như Fusarium, Pythium và Rhizoctonia
2.4 Đặc tính của các loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm
2.4.1 Norshield 86.2 WG
Công ty phân phối: Công ty TNHH Hóa Nông Hợp Trí
Hoạt chất: Cuprous oxide 86.2 g/kg
Công dụng chính: Thuốc trừ nấm và vi khuẩn gốc Đồng Phòng trừ hiệu quả nhiều bệnh hại trên nhiều loài cây trồng Sử dụng rất đa dạng có thể phun lá, tưới gốc (xử lý đất), dùng quét/sơn lên thân cành Hỗn hợp dễ dàng với các lại thuốc như: Zineb, Mancozeb, Matalaxyl
2.4.2 Agri – Fos 400
Trang 28Công ty phân phối: Công ty Phát triển CN sinh học – DONA Techno
Thành phần: Phosphorous acid 400 g/lít
Công dụng chính: Thuốc dùng hòa với nước phun lên cây hoặc tưới để phòng trừ bệnh thối rễ hại sầu riêng, hồ tiêu, bệnh mốc sương hại nho Là một loại acid mạnh, chất lỏng, màu vàng nhạt, tan hoàn toàn trong nước Sử dụng dưới dạng muối Phosphonate khi tiêm chích vào cây có khả năng lưu dẫn, hạn chế sự phát triển của nấm trong mạch dẫn Không pha chung với các thuốc trừ sâu bệnh khác
2.4.3 Cabrio Top 600 WDG
Công ty phân phối: Công ty BASF Việt Nam Co., Ltd
Thành phần: Metiram Complex 550g/kg + Pyraclostrobin 50g/kg
Công dụng chính: Thuốc trừ nấm, chủ yếu phòng trừ bệnh sương mai cho nhiều loại cây trồng Thuốc là một phức chất của muối kẽm, thuốc dạng bột màu vàng, không tan trong nước và nhiều dung môi hữu cơ, không bền trong acid và kiềm mạnh
Trang 29Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu: bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2012
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu: huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước và phòng thí nghiệm
bệnh cây của bộ môn Bảo Vệ Thực Vật trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Điều kiện khí hậu thời tiết trong thời gian thí nghiệm
Bảng 3.1: Điều kiện thời tiết, khí hậu trong thời gian làm thí nghiệm tại huyện Bù
Nguồn: Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh Bình Phước
3.3 Vật liệu nghiên cứu
Phiếu điều tra phỏng vấn về tình hình canh tác và các biện pháp phòng trừ bệnh thối trái trên ca cao
Phiếu điều tra thực tế ngoài đồng ruộng
Các loại thuốc trong thí nghiệm: Agri – Fos 400; Norshield 86,2 WG; Cabrio Top 600 WDG; Amistar 250 SC
Kính lúp, máy chụp hình, bao tay, sổ ghi chép.Các thiết bị dùng trong phòng thí nghiệm: Nồi hấp, tủ cấy, tủ định ôn, bếp điện, máy nước cất, đĩa petri, dao cấy, kẹp,
đèn cồn, nấm Phytophthora palmivora được phân lập từ trái ca cao
Trang 303.4 Nội dung nghiên cứu
Điều tra về hiện trạng canh tác, mức độ gây hại của bệnh thối trái ca cao do
dòng Phytophthora palmivora gây ra và các biện pháp phòng trừ trên một số diện tích trồng ca cao tại Bình Phước
Điều tra tình hình diễn biến bệnh thối trái trên ca cao do Phytophthora
palmivora gây hại
Khảo sát hiệu lực của các loại thuốc: Agri – Fos 400; Norshield 86,2 WG; Cabriotop 600 WDG; Amistar 250 SC đối với Phytopthora palmivora gây bệnh thối
trái trên cây ca cao trong điều kiện in vitro
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Điều tra về hiện trạng canh tác, mức độ gây hại và các biện pháp phòng trừ
Phytophthora palmivora trên ca cao tại địa phương
Điều tra bằng phương pháp dùng phiếu (30 phiếu) phỏng vấn trực tiếp các nhà vườn để ghi nhận hiện trạng canh tác; các yếu tố trong quá trình canh tác cây ca cao như tưới nước, bón phân, tỉa cành, làm cỏ, tình hình bệnh hại trong quá trình canh tác cây ca cao và các biện pháp phòng trừ Điều tra sự hiểu biết của nông dân về bệnh thối trái trên ca cao
Chỉ tiêu ghi nhận
Lịch sử canh tác, diện tích trồng, tuổi cây, giống, cây trồng xen, khoảng cách trồng, tưới tiêu nước, bón phân, tỉa cành, làm cỏ và một số bệnh hại trên cây ca cao
3.5.2.Phương pháp điều tra tình hình diễn biến bệnh
Chọn 3 vườn ngẫu nhiên, mỗi vườn chọn 5 điểm trên đường chéo góc, mỗi điểm chọn
3 cây, ghi rõ tổng số trái và số trái bị bệnh (Nguyễn Thị Lan và Phạm Tiến Dũng, 2006) Điều tra 6 lần, định kì 10 ngày/ lần
Chỉ tiêu theo dõi
Tỉ lệ bệnh và chỉ số bệnh trên trái
- Tỷ lệ bệnh (%) = Số trái bị bệnh x 100
Tổng số trái điều tra
Trang 31- Chỉ số bệnh (%) = 1n1 + 2 n2 + 3n3 + 4n4 +5n5 x 100
5N Trong đó: n1; n2; n3; n4; n5 là số trái bệnh của từng cấp 1; 2; 3; 4; 5
N: Tổng số quả điều tra
- Bảng phân cấp bệnh trên trái theo cục BVTV:
3.5.3 Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trừ bệnh để phòng trị Phytophthora
palmivora gây bệnh thối trái trên cây ca cao trong điều kiện phòng thí nghiệm 3.5.3.1 Phương pháp thực hiện
Chuẩn bị môi trường PGA (Potato – Glucose – Agar)
Thành phần môi trường PGA (Potato – Glucose – Agar) gồm: 200 g khoai tây,
20 g glucose, 20 g agar, 1.000 ml nước cất Ban đầu khoai tây được gọt sạch vỏ rồi cắt nhỏ hình khối khoảng 1 cm3, sau đó hầm với 1.000 ml nước cất trong 1 giờ, tiếp tục lọc bỏ cặn và điều chỉnh hỗn hợp với nước cất sao cho thể tích tổng cộng là 1.000 ml rồi mới cho glucose và agar vào, đem hấp tiệt trùng, cuối cùng pha thuốc vào môi trường để đổ vào đĩa petri hay dùng trong bảo quản
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên trong điều kiện phòng thí nghiệm Thí nghiệm gồm 13 NT, trong đó 12 NT được xử lý thuốc và 1 NT đối chứng không xử lý thuốc Mỗi NT gồm 3 LLL, 1 LLL là 1 đĩa petri
Trang 32nhiễm độc môi trường Thuốc được cho vào môi trường PGA để có được các nồng độ
theo yêu cầu thử nghiệm và đổ môi trường ra đĩa petri, 20 ml/đĩa Cấy một khoanh nấm có đường kính 0,6 cm có cùng độ tuổi (lấy từ mép khuẩn lạc 7 ngày tuổi) vào trung tâm của đĩa môi trường Các đĩa nấm được để ở nhiệt độ phòng