1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH GỈ SẮT TRÊN GIỐNG CÀ PHÊ VỐI GIAI ĐOẠN KINH DOANH VÀ KHẢO SÁT HIỆU QUẢ TRỊ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC TẠI HUYỆN ĐĂK ĐOA, TỈNH GIA LAI

69 322 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA NÔNG HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH GỈ SẮT TRÊN GIỐNG CÀ PHÊ VỐI GIAI ĐOẠN KINH DO

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH GỈ SẮT TRÊN GIỐNG

CÀ PHÊ VỐI GIAI ĐOẠN KINH DOANH VÀ KHẢO SÁT HIỆU QUẢ TRỊ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC TẠI HUYỆN ĐĂK ĐOA,

Trang 2

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH GỈ SẮT TRÊN GIỐNG CÀ PHÊ VỐI GIAI ĐOẠN KINH DOANH VÀ KHẢO SÁT HIỆU QUẢ TRỊ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC

HÓA HỌC TẠI HUYỆN ĐĂKĐOA,

Giáo viên hướng dẫn:

T.S VÕ THỊ THU OANH

Tp, Hồ Chí Minh, Tháng 07/2012

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:

Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Nông học, quý Thầy Cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Cô Võ Thị Thu Oanh đã tận tình trực tiếp hướng dẫn em thực hiện và hoàn thiện luận văn này

Ban lãnh đạo, các cô chú và các anh chị trạm Bảo vệ Thực vật, phòng Nông nghiệp phát triển Nông thôn huyện Đăk Đoa và bà con Nông dân đã hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Gia đình, tập thể lớp ĐH08NHGL đã góp ý, động viên tôi trong thời gian học tập cũng như trong thời gian làm đề tài

Sinh viên

Phan Đình Thông

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Điều tra tình hình bệnh gỉ sắt trên giống cà phê vối giai đoạn kinh doanh và khảo sát hiệu quả trị bệnh của một số loại thuốc hóa học tại huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai” nhằm tìm hiểu tình hình nhiễm bệnh gỉ sắt trên giống cà phê vối giai đoạn kinh doanh tại các xã trồng cà phê phổ biến của huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai Đồng thời đánh giá hiệu quả của 5 loại thuốc hóa học trong việc trị bệnh gỉ sắt cà phê

để chọn ra loại thuốc có hiệu quả cao và kinh tế nhất Thu được kết quả tình hình bệnh

gỉ sắt trên cây cà phê vối giai đoạn kinh doanh đươc cụ thể như sau:

- Qua 4 tháng ghi nhận tại 7 điểm điều tra cho thấy bệnh cao nhất vào tháng 6 với TLB (%) trung bình 12,37 %, thấp nhất vào tháng 5 với 10,07 % CSB (%) trung bình cao nhất vào tháng 3 với 4,49 % và thấp nhất vào tháng 5 với 3,42 %

- Các vườn cà phê kinh doanh được tại các điểm điều tra những vườn cà phê trồng càng lâu năm thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao và mức độ càng nặng Cao nhất là giai đoạn cây > 19 năm tuổi với TLB là 16,52 %, CSB 7,48 %

- Trong 5 loại thuốc hóa học phòng trị bệnh rỉ sắt thì thuốc Tilt super 300 EC

có hiệu lực cao nhất đạt 66,02 %, tiếp đến là Encoleton 25 WP 54,18 %, kế tiếp là Anvil 5 SC 40,38 %, Viben C 50 BTN 22,33 % và Copforce Blue 51 WP chỉ có tác dụng khống chế bệnh và hiệu quả không cao, đạt 12,46 % Các nghiệm thuốc sau xử

lý thuốc đều có hiệu lực cao hơn so với nghiệm thức đối chứng Trong những nghiệm thức đó cấn chọn ra 1 nghiệm thức có hiệu quả cao nhất là Tilt super 300 EC

- Tiếp tục, tìm ra loại thuốc hóa học thích hợp cho cây cà phê ở huyện Đăk Đoa, tìm ra mức chi phí hợp lý Đó là thuốc Tilt Super 300 EC có hiệu lực trị bệnh gỉ sắt cao nhất với mức chi vừa phải 1.203.213 đồng/ha

Trang 5

M ỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Lời cảm ơn ii

Tóm tắt iii

Mục lục iv

Danh sách các chữ viết tắt vii

Danh sách các bảng viii

Danh sách các hình ix

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Giới hạn đề tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Sơ lược về cây cà phê 3

2.1.1 Nguồn gốc 3

2.1.2 Phân loại thực vật học 3

2.1.2.1 Rễ 4

2.1.2.2 Thân 4

2.1.2.3 Lá 4

2.1.2.4 Hoa – quả – hạt 4

2.1.3 Khái quát về giống cà phê vối (Coffea canephora Pierre) 5

2.1.4 Tình hình sản xuất cà phê hiện nay 5

2.1.4.1 Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê trên thế giới 5

2.1.4.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam 6

2.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất cà phê vối tại huyện Đăk Đoa – Gia Lai 7

2.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội 7

Trang 6

2.2.1.1 Vị trí địa lí 7

2.2.1.2 Đất đai - địa hình 7

2.2.1.3 Khí hậu, nguồn nước 9

2.2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 10

2.2.2 Tổng hợp hiện trạng sản xuất cà phê trên địa bàn huyện Đăk Đoa 12

2.2.2.1 Diện tích và tình hình sản xuất cà phê trong của huyện Đăk Đoa 12

2.2.2.2 Kế hoạch phát triển cây cà phê 13

2.3 Bệnh gỉ sắt cà phê (Hemileia vastatrix) 14

2.3.1 Khái quát về bệnh gỉ sắt cà phê 14

2.3.2 Nguồn gốc của bệnh gỉ sắt cà phê (Hemileia vastatrix) 14

2.3.3 Tác hại của nấm (Hemileia vastatrix) 14

2.3.4 Triệu chứng bệnh 15

2.3.5 Tác nhân gây bệnh 15

2.4 Biện pháp phòng trừ bệnh gỉ sắt cà phê 17

2.4.1 Dùng giống chống bệnh 17

2.4.2 Ghép chồi 17

2.4.3 Hóa học 18

2.5 Sự xuất hiện bệnh gỉ sắc cà phê ở thế giới, Việt Nam và những nguyên cứu cơ bản về phòng trừ bệnh 18

2.6 Khái quát về đặc tính của một số loại thuốc hóa học dùng trong thí nghiệm 19

2.6.2 Copforce Blue 51 WP 19

2.6.3 Ecoleton 25 WP 20

2.6.4 Tilt Super 300 EC 20

2.6.5 Viben C 50 BTN 20

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

3.1.1 Thời gian 23

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 23

3.2 Vật liệu nghiên cứu 23

3.3 Phương pháp nghiên cứu 23

3.1.1 Điều tra tình hình nhiễm bệnh gỉ sắt cà phê vối ở các giai đoạn sinh trưởng 23

Trang 7

3.3.2 Khảo sát hiệu lực của các loại thuốc hóa học trên vườn cà phê vối kinh doanh

tại huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai 24

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 26

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 27

4.1 Điều tra tình hình bệnh gỉ sắt cà phê vối giai đoạn kinh doanh 27

4.1.1 Tình hình bệnh gỉ sắc cà phê ở các thời điểm 27

4.1.2 Ảnh hưởng của giai đoạn sinh trưởng trên cây cà phê đến bệnh gỉ sắt 28

4.2 Khảo sát hiệu quả trị bệnh gỉ sắt của một số loại thuốc hóa học trên vườn cà phê vối 13 năm 29

4.3 Hiệu lực của các loại thuốc thí nghiệm đối với bệnh gỉ sắt trên giống cà phê với 13 năm tuổi 33

4.4 Lượng toán chi phí câc loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm với nghiệm thức đối chứng 34

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 37

5.1 Kết luận 37

5.2 Đề nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

PHỤ LỤC 41

Trang 8

5 GSVTP : Giảm so với trước phun

6 GĐST : Giai đoạn sinh trưởng

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Sản lượng cà phê thô 10 nước trên thế giới 6

Bảng 2.2: Tình hình sản xuất cà phê đến hết tháng 9/2009 6

Bảng 2.3: Diện tích, sản lượng, năng suất cà phê huyện Đăk Đoa năm 2005 - 2011 12

Bảng 3.1: Các loại thuốc thí nghiệm và liều lượng sử dụng 23

Bảng 3.2: Các nghiệm thức thí nghiệm 25

Bảng 4.1: Diễn biến tỷ lệ bệnh (%) qua 4 tháng tại 7 điểm điều tra 27

Bảng 4.2: Diễn biến chỉ số bệnh (%) qua 4 tháng tại 7 điểm điều tra 27

Bảng 4.3: Ảnh hưởng của giai đoạn sinh trưởng đến bệnh gỉ sắc cà phê 28

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của 5 loại thuốc thí nghiệm đến TLB gỉ sắt qua 3 lần xử lý 29

Bảng 4.5: Ảnh hưởng các loại thuốc thí nghiệm đến CSB (%) gỉ sắt qua 3 lần xử lý 30 Bảng 4.6: Số lượng vết bệnh trung bình/lá qua 3 lần xử lý thuốc 31

Bảng 4.7: Số lượng vết bệnh có bào tử trung bình/lá qua 3 lần xử lý thuốc 32

Bảng 4.8: Hiệu lực của các loại thuốc thí nghiệm đối với bệnh gỉ sắt qua 3 lần xử lý 33 Bảng 4.9: Lượng toán chi phí 3 lần xử lý thuốc trong thí nghiệm và xử lý cho 1 ha 35

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1: Cơ cấu phân loại đất huyện Đăk Đoa 8

Hình 2.2: Cơ cấu đất đai huyện Đăk Đoa 9

Hình 2.3: Cơ cấu dân số huyện Đăk Đoa 11

Hình 2.4: Thuốc Anvil 5SC 21

Hình 2.5: Thuốc Coforce Blue 51WP 21

Hình 2.6: Thuốc Ecoleton 25 WP 21

Hình 2.7: Thuốc Tilt Super 300 EC 22

Hình 2.8: Thuốc Viben C 50 BTN 22

Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ngoài đồng 25

Hình 4.2: Mức độ nhiễm bệnh gỉ sắt ở lá cà phê 36

Hình 4.3: Vườn cà phê thí nghiệm xử lý thuốc hoá học 36

Hình 4.4 Mặt dưới và mặt trên lá cà phê nhiễm bệnh 36

Trang 11

Đăk Đoa là một trong những huyện trồng cà phê lớn của huyện Gia Lai Năm

2005 diện tích cà phê của huyện có 11363 ha, đến năm 2011 diện tích cà phê của huyện đã lên đến 12968 ha, tuy diện tích tăng không đáng kể nhưng sản lượng tăng gầp 2 lần Sản lượng cà phê tăng nhanh là do giá cả cà phê thế giới tăng cao, sản xuất

cà phê mang lại lợi nhuận rất lớn nên người dân đã chú trọng đầu tư, chăm sóc vườn cây hiệu quả Tính đến năm 2011, diện tích cà phê huyện Đăk Đoa có 12.968 ha chiếm 16,98 % diện tích cà phê toàn tỉnh, với sản lượng 29.980 tấn, năng suất bình quân 2,46 tấn/ha Hiện nay, tiếp tục duy trì và ổn định diện tích cà phê này theo hướng trẻ hóa vườn cây, tăng cường đầu tư thâm canh để ổn định và phòng trừ bệnh hại để nâng cao năng suất cà phê (Phạm Cường, 2011)

Trên địa bàn tỉnh huyện Đăk Đoa là nơi có đặc điểm khí hậu, đất đai khá lý tưởng cho sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê vối sinh trưởng và phát triển nhưng đồng thời cũng là một môi trường thích hợp cho sự phá hoại của các loại sâu bệnh hại Trong đó, phổ biến nhất là bệnh gỉ sắt cà phê luôn xuất hiện quanh năm đã làm ảnh hưởng đến năng xuất và phẩm chất của cây cà phê Vì vậy, để khai thác tốt các điều kiện tự nhiên của huyện Đăk Đoa nhằm phát triển diện tích và nâng cao năng

Trang 12

xuất nhằm đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế trong thời gian tới thì việc điều tra tình hình bệnh gỉ sắt cà phê tại đây là một công tác có ý nghĩa thực tiễn và cấp bách

Trên cơ sở đó, được sự phân công của Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Điều tra tình hình bệnh gỉ sắt (Hemileia vastatrix) trên cây cà phê vối giai đoạn kinh

doanh và khảo sát hiệu quả trị bệnh của một số loại thuốc hóa học tại huyện Đăk Đoa

- Khảo sát hiệu quả của 5 loại thuốc hóa học tại vườn cà phê vối 13 năm tuổi

- Trên cơ sở tổng hợp các kết quả điều tra sẽ rút ra kết luận và đề nghị loại thuốc có khả năng phòng trị bệnh gỉ sắt cao nhất ở vườn cà phê kinh doanh 13 năm tuổi

1.3 Giới hạn đề tài

Đề tài chỉ điều tra mức độ nhiễm bệnh gỉ sắt tại các vườn cà phê vối giai đoạn kinh doanh trong 4 tháng (từ 08/03 – 08/07) và thực hiện thí nghiệm khảo sát hiệu quả trị bệnh của một số loại thuốc hóa học trên giống cà phê vối 13 năm tuổi

Trang 13

Ch ương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về cây cà phê

2.1.1 Nguồn gốc

Nguồn gốc của cây cà phê là mọc hoang dại trong những cánh rừng ở Ethiopia

và ở vùng Arabica Feli (Yemen) Châu Phi Nhiều tài liệu xuất bản cho rằng: Người chăn dê ở tu viện đã phát hiện ra cây cà phê cà phê được uống phổ biến ở Yêmen vào thế kỷ thứ 14

Theo Chevalier (1929) cà phê được trồng phổ biến từ thế kỷ 14 tại vùng Arabica (Yemen) Theo Vesling, quả cà phê được đem từ Yemen sang bán ở Ai Cập dưới dạng quả khô và coi đó là thứ hàng rất xa xỉ Con đường phát tán hạt cà phê do

con người di chuyển từ lục địa này sang lục địa khác Đối với cà phê chè (Coffea

(Hà Lan) năm 1706, sang Trung Mỹ năm 1724, đến Colombia năm 1724 Từ Yêmen sang Brasil (Nam Mỹ) năm 1715 và từ Java sang Pabua New Guine vào năm 1700

Đối với cà phê vối (Coffea canephora) có nguồn gốc từ Tây Phi và Madagasca sang

Nam Mỹ và Amsterdam vào năm 1899 Sau đó từ Amsterdam đưa sang Java vào năm

1900 và sau đó từ Java lại trở về Châu Phi vào năm 1912 (Berthaud và Charrier, 1985)

Ở Việt Nam cây cà phê được trồng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tại một

số tỉnh Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, cao nguyên miền Trung và Đông Nam Bộ (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.1.2 Phân loại thực vật học

Cà phê là một loại cây lưu niên, thân gỗ nhỏ, cao từ 4 – 20 m tùy theo từng loài

và điều kiện sinh sống Cây có đặc tính sinh trưởng lưỡng tính hình theo 2 chiều là chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang Những chồi sinh trưởng theo chiều thẳng đứng được gọi là chồi vượt gồm thân chính và các chồi vượt mọc từ thân chính Những chồi

Trang 14

chỉ phát triển theo chiều nằm ngang được gọi là những cà nh ngang bao gồm những cà

nh ngang cơ bản mọc trên thân chính và các cà nh ngang thứ cấp mọc từ cà nh ngang

cơ bản trên thân chính, các cành thứ cấp mọc từ cành ngang cơ bản và từ những cành ngang thứ cấp khác (Lương Thành Trung, 1991)

2.1.2.1 Rễ

Bộ rễ cây cà phê gồm 1 rễ cọc to khỏe dài từ 30 cm – 100 cm, mọc thẳng sâu xuống mặt đất giúp cây đứng vững và hút nước Các rễ phụ mọc song song với mặt đất có nhiệm vụ hút dinh dưỡng nuôi cây (Hoàng Thanh Tiệm, 1999)

2.1.2.2 Thân

Thân cây cà phê lúc còn nhỏ có màu xanh hình vuông sau chuyển dần sang màu nâu và có dạng hình trụ tròn Trên thân được phân chia thành nhiều đốt Tại mỗi mắt của đốt thân có một cặp lá Trên mỗi nách lá có rất nhiều chồi ngủ nhưng chỉ duy nhất có một chồi là phát triển thành cà nh ngang cơ bản và chỉ mọc một lần không có khả năng tái sinh Các cà nh ngang cơ bản mọc thành từng cặp đối xứng nhau qua thân chính và cặp mọc ra sau luôn vuông góc so với cặp mọc ra trước Các chồi ngủ còn lại chỉ có thể phát triển thành chồi vượt tạo thành thân mới mọc nhiều lần thường xuyên quanh năm Vì vậy trong điều kiện tự nhiên cây cà phê thường có rất nhiều thân mọc thành từng bụi (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.1.2.3 Lá

Lá cà phê mọc đối xứng, hình bầu dục dài, đầu nhọn cuống ngắn, mép lá xoắn, phiến lá có màu xanh đậm, bóng, hơi gợn sóng và có từ 6 – 12 cặp gân (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.1.2.4 Hoa – quả – hạt

Hoa cà phê thuộc loại lưỡng tính phát triển trên các nách lá của cà nh ngang tạo thành các xim hoa Mỗi xim hoa có tư 1 – 5 hoa Cuống hoa ngắn, lá đài phát triển Hoa thường có 5 cánh màu trắng, phía dưới dính với nhau thành hình tràng ống Nhị hoa mảnh, phía dưới dính liền với tràng hoa, phía trên có bao phấn dài hẹp và vươn ra ngoài tràng hoa Nhụy gồm một bầu noãn hạ và một vòi nhụy dài với 2 nuốm Bầu noãn có 2 ngăn, trong mỗi ngăn có 1 noãn (Lương Thành Trung, 1991)

Quả cà phê thuộc loại quả hạch, thường có 2 hạt Lúc quả chín hạt được bao bọc bởi một lớp thịt dày Mỗi hạt có một nội nhũ cứng được bọc bởi lớp da mỏng màu

Trang 15

bạc gọi là vỏ lụa và phần còn lại của ngoại bì hóa gỗ có màu vàng nhạt gọi là vỏ thóc Giữa lớp vỏ thịt và vỏ thóc là lớp chất nhầy dính (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

Hạt cà phê thường được gọi là nhân, có màu xanh xám, xám xanh hoặc xanh lục… Hạt là một nội nhũ cứng mặt trong phẳng, có rãnh hẹp ở giữa, mặt ngoài cong, chứa một phôi nhũ nằm ở dưới đáy (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.1.3 Khái quát về giống cà phê vối (Coffea canephora Pierre)

Cây cà phê vối (Coffea canephora) hoặc (Coffea robusta) có nguồn gốc từ

vùng Trung Phi thuộc châu thổ sông Conggo Cây có dạng cây gỗ hoặc cây bụi, chiều cao của cây trưởng thành có thể lên tới 10 m Trong điều kiện tự nhiên có rất nhiều thân do khả năng phát sinh chồi vượt rất mạnh Lá to hình bầu hoặc hình mũi mác có màu xanh sáng hoặc xanh đậm, đuôi lá nhọn, mép lá thường gợn sóng, có chiều rộng

từ 10 – 15 cm, dài từ 20 – 30 cm Quả hình tròn hoặc hình trứng, cuống quả ngắn và dài hơn cà phê chè Hàm lượng cafein trong hạt từ 2,5 – 3 % cà phê vối là cây tự bất hợp

Giống như cà phê chè, cây cà phê vối 3 – 4 tuổi có thể bắt đầu thu hoạch Cây cho hạt trong khoảng từ 20 đến 30 năm cà phê vối ưa sống ở vùng nhiệt đới, độ cao thích hợp để trồng cây là dưới 1000 m Nhiệt độ ưa thích của cây khoảng 24 – 29 °C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm Cây cà phê vối cần nhiều ánh sáng mặt trời hơn so với cây cà phê chè

Cà phê vối, là cây quan trọng thứ hai trong các loài cà phê Khoảng 39 % các sản phẩm cà phê được sản xuất từ loại cà phê này Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới Các nước xuất khẩu quan trọng khác gồm Uganda, Brasil, Ấn

Độ Năm 2009 Việt Nam xuất khẩu trên 1.183.000 tấn cà phê loại này, chiếm gần một nửa lượng cà phê vối xuất khẩu của toàn thế giới Hiện nay gần 90 % diện tích cà phê

ở Việt Nam được trồng cà phê vối, 10 % trồng cà phê chè (Coffea arabica Line), khoảng 1 % còn lại trồng cà phê mít (coffea excelsa) (Trần Thị Thu Hương, 2011)

2.1.4 Tình hình sản xuất cà phê hiện nay

2.1.4.1 Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê trên thế giới

Brazil là nước sản xuất cà phê lớn nhất trên thế giới với 17 triệu tấn năm 2008, chiếm 21,96 % tổng sản xuất cà phê thô trên thế giới Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới về sản lượng cà phê thô 15,6 triệu tấn Năm 2008, toàn thế giới sản xuất cà phê

Trang 16

77,4 triệu tấn (International Coffee Organization, 2008)

Bảng 2.1: Sản lượng cà phê thô 10 nước trên thế giới

Brazil 17.000.000 Vietnam 15.580.000 Colombia 9.400.000 Indonesia 2.770.554 Ethiopia 1.705.446 Mexico 962.000 India 954.000

Guatemala 568.000 Honduras 370.000

World 77.742.675

(Nguồn: International Coffee Organization, 2008)

2.1.4.2 Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam

Năm 2009, cả nước đạt 522 nghìn ha Chủ yếu tập trung ở vùng Tây Nguyên, trong đó nhiều nhất là tỉnh Đắk Lắk với diện tích là 184400 ha, Gia lai đứng thứ 4 với diện tích là 76.356 ha

Bảng 2.2: Tình hình sản xuất cà phê đến hết tháng 9/2011

Địa phương Tổng diện tích

(Ha)

Diện tích trồng mới (Ha)

Diện tích cho sản phẩm (Ha)

Năng suất nhân

(Tạ/ha)

Sản lượngg

cà nhân (Tấn)

Trang 17

Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê Việt Nam tính chung 10 tháng đầu niên vụ

2011, xuất khẩu cà phê Việt Nam đạt 1,03 triệu tấn, hay 17,2 triệu bao, tăng 1,1 % so với cùng kỳ niên vụ trước

Về thị trường xuất khẩu: Việt Nam đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang nhiều nước như Đức: 17,8 %, Mỹ: 13,8 %, Anh: 12,7 %, Bỉ: 7,3 %, Tây Ba Nha: 6,9 %, Italia: 5,6 %, Nhật Bản: 3,2 %

2.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất cà phê vối tại huyện Đăk Đoa – Gia Lai

2.2.1 Khá i quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội

2.2.1.1 Vị trí địa lí

Huyện Đăk Đoa nằm phía Đông bắc tỉnh Gia Lai, cách trung tâm thành phố

Pleiku 15 km, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 98.866 ha, dân số năm 2011 là

103923 người, mật độ dân số 105,51 người/km2 Nằm trong tọa độ từ :13044’18” đến

14023’18” vĩ độ bắc, từ 108000’10” đến 108028’02” kinh độ đông

- Bắc giáp: huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum

- Nam giáp: huyện Chư Sê

- Đông giáp: các huyện Mang Yang, Kbang

- Tây giáp: huyện Chư Prông, thành phố Pleiku, huyện Chư Păh

Với vị trí nằm trên trục quốc lộ 19 nối liền thành phố Pleiku và các tỉnh Tây nguyên với các tỉnh Duyên hải Nam trung bộ, trục tỉnh lộ 670 nối quốc lộ 19 với tỉnh Kon Tum huyện có lợi thế trong giao lưu kinh tế và hội đủ điều kiện phát triển thành điểm phân phối, lưu thông hàng hóa đầu mối kinh tế của các tỉnh Tây nguyên với các tỉnh Duyên hải Nam trung bộ, đồng thời có vị trí rất quan trọng trong việc giữ vững an ninh quốc phòng của tỉnh Gia Lai và khu vực Tây nguyên (Bản đồ, 1999)

2.2.1.2 Đất đai - địa hình

- Địa hình: Huyện Đăk Đoa nằm ở sườn Đông Trường Sơn, địa hình rất đa

dạng có xu thế thấp dần từ Bắc xuống Nam và Đông sang Tây Vùng cao nhất nằm ở phía Đông – Bắc huyện, vùng thấp nhất nằm ở phía Tây – Nam huyện

- Đất đai thổ nhưỡng trên địa bàn huyện Đăk Đoa được hình thành với 12 loại đất, trong đó đáng kể nhất là 4 loại đất:

Trang 18

Đất Feralit nâu tím (Ft ) Đất Feralit nâu đỏ (Fk) Đất Feralit đỏ vàng (Fa)

Đất thung lũng (D) Đất khác

- Nhóm đất Feralit nâu tím phát triển trên nền đá macma Bazơ và trung tính (Ft) diện tích 19.368,04 ha chiếm 19,62% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Đăk Sơmei, Hà Bầu, Nam Yang, Kon Gang, H’Neng, Tân Bình, K’Dang, G’Lar, Ia Pết, Ia Băng, xã Trang và Thị Trấn Đăk Đoa Đất có độ phì cao phù hợp cho trồng cây công nghiệp lâu năm

Hình 2.1: Cơ cấu phân loại đất huyện Đăk Đoa

- Nhóm đất Feralit nâu đỏ phát triển trên nền đá macma Bazơ và trung tính (Fk) còn gọi là đất Basalt diện tích 26.959,28 ha chiếm 27,31 % tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Đăk Sơmei, Hà Bầu, Nam Yang, Kon Gang, H’Neng, Tân Bình, K’Dang, G’Lar, Ia Pết, Ia Băng, xã Trang và Hải Yang Đất có phản ứng chua có pH

từ 4,0 – 4,5, hàm lượng mùn 3 – 5 % ở tầng mặt, các chất đạm, lân, kali dễ tiêu nghèo,

thành phần cơ giới thường là sét, đất tơi xốp, độ thoáng khí lớn

- Nhóm đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá macma acid (Fa), diện tích 27.413,37 ha chiếm 27,77 % diện tích tự nhiên toàn huyện Phân ở các xã Hà Bầu, Hà Đông, Kon Gang, K’Dang, Hải Yang và Đăk Sơmei Đất chua có pH từ 3,8 – 5 Hàm lượng mùn từ nghèo đến trung bình 1 – 2 %, tổng số các chất đạm, lân, kali nghèo, hàm lượng các Cation trao đổi thấp, phần lớn diện tích này là đất rừng

- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D) diện tích 5.439,24 ha chiếm 5,51 % tổng diện tích tự nhiên phân bố chủ yếu ở xã Trang, Tân Bình, K’Dang Đất chua có pH 4 – 4,5 hàm lượng mùn trên tầng đất mặt khá cao

Trang 19

Đất sản xuất nông nghiệp Đất lâm nghiệp Đất chuyên dùng Đất nhà ở Đất chưa sử dụng

Hình 2.2: Cơ cấu đất đai huyện Đăk Đoa

- Về cơ cấu đất đai: Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện sơ bộ năm 2011 là 98866,03 ha, hiện trạng sử dụng đất đai cho thấy:

- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp: 52909,95 ha chiếm 53,5 %

- Diện tích đất lâm nghiệp: 23898,59 ha chiếm 24,17 %

- Diện tích đất chuyên dùng: 6378,40 ha chiếm 6,45 % Ngoài ra diện tích đất nhà ở: 672,00 chiếm 0,77 % và diện tích đất chưa sử dụng: 14917,09 ha chiếm 15,08

% Điều kiện đất đai trên toàn huyện Đăk Đoa rất đa dạng và phong phú, tầng đất mặt dày, đất đai màu mỡ, độ phì cao phù hợp cho các loại cây trồng phát triển đặc biệt là cây công nghiệp nói chung và cây cà phê nói riêng (Niên giám thống kê huyện Đăk Đoa, 2011 )

2.2.1.3 K hí hậu, nguồn nước

- Khí hậu: Theo tài liệu trạm Khí tượng Pleiku cho thấy khí hậu huyện Đak Đoa có đặc điểm chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa Cao Nguyên, được chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80 – 90 % lượng mưa cả năm, chủ yếu tập trung vào các tháng 7, tháng 8 và tháng 9; mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, đặc điểm nổi bật của mùa khô kéo dài trong

6 tháng hầu như không có mưa hoặc mưa rất ít nên ẩm độ không khí giảm, lượng nước bốc hơi lớn gây khô hạn nghiêm trọng Nhiệt độ trung bình năm là: 21,5 0

C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là: 18,2 0C Có hai hướng gió thịnh hànssh là Đông - Bắc và Tây - Nam, tốc độ gió trung bình 3 – 5 m/s, lớn nhất là 20 m/s Mùa mưa thường bị ảnh hưởng áp thấp nhiệt đới và bão ở các tỉnh Duyên Hải Miền Trung gây nên những cơn mưa lớn kéo dài

Trang 20

- Nguồn nước: Đăk Đoa có hệ thống sông suối khá dày đặc với độ trên 814

km/1.000 ha, gồm hai hệ thống sông suối chính: Hệ thống sông Ia Kron và hệ suối Đak Pơkêi Với hệ thống sông suối lớn đã đem lại nguồn nước dồi dào để tưới cho các loại cây trồng trên địa bàn toàn huyện trong mùa khô Nhìn chung nhiệt độ của huyện Đăk Đoa tương đối ổn định Mùa mưa bắt đầu 5 đến tháng 10 Lượng mưa dồi dào, phân bố khá đều trong mùa mưa Sự chênh lệch lượng mưa giữa các năm là khá lớn, đặc biệt là tháng 5 với độ lệch chuẩn lên tới 377,1 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau do vậy người dân gặp nhiều khó khăn về nước tưới tuy nhiên mùa khô kéo dài mang lại thuận lợi cho việc thu hoạch và phơi phóng, kích thích phân hóa mầm hoa cà phê Ẩm độ không khí tương đối cao, ẩm độ trung bình năm 84 % thích hợp cho sinh trưởng và phát triển cây cà phê Ẩm độ trung bình của các tháng có sự chênh lệch không đáng kể Các tháng 1, 2, 3, 4 ẩm độ thấp hơn yêu cầu của cây cà phê nhưng lại phù hợp với giai đoạn hạn, giúp cà phê phân hóa mầm hoa tốt và ra hoa tập trung Nhìn chung điều kiện khí hậu thời tiết ở huyện Đăk Đoa tỉnh Gia Lai rất phù hợp cho cây cà phê phát triển và sinh trưởng Bên cạnh đó mùa khô kéo dài gây không

ít khó khăn trong việc đảm bảo nước tưới cho cây cà phê vào mùa khô

2.2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội

Các xã: Hà Đông, Đăk Sơ Mei, Đăk Krong, Kon Gang, Hải Yang, Nam Yang,

Hà Bầu, HNeng, Hnol, KDang, Tân Bình, GLar, A Dơk, Ia Pết, Ia Băng và Trang Và thị trấn Đăk Đoa Hệ thống giao thông thuận lợi đến trung tâm xã, thị trấn Điện lưới quốc gia đã đến được 100 % trung tâm xã, 96,5 % số thôn làng đã có điện Phổ cập giáo dục trung học cơ sở các xã đều đạt chuẩn, đội ngũ giáo viên đã từng bước được chuẩn hóa, công tác xã hội hóa giáo dục ngày cà ng được sự quan tâm Lao động ở nông thôn tiếp tục phát triển theo hướng đa ngành nghề, đến năm 2010 số lao động qua đào tạo trên địa bàn huyện 24 % trên tổng số 53.153 lao động đang làm việc trên toàn huyện Tuy nhiên, số lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao 87,5 % tổng số lao động đang làm việc Tỷ lệ hộ nghèo của huyện năm 2009 là 15,49 % (theo tiêu chí cũ), tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 là 34,47 % (theo tiêu chí mới) Thu nhập bình quân đầu người/năm đạt 12,8 triệu đồng tăng 7,1 triệu đồng

so với năm 2005 Có 16/16 xã có trạm y tê xã, đạt 100 %; trong đó có 09/16 trạm đã được công nhận đạt chuẩn, tỷ lệ đạt 56 %; có 03 trạm đang đề nghị công nhận đạt

Trang 21

Dân tộc Kinh Dân tộc Jrai Dân tộc Bana Dân tộc khác

chuẩn trong năm 2011 Về y tế: đội ngũ cán bộ y tế trong trong toàn huyện có 159 người, trong đó có 25 bác sỹ; có 11 trạm y tế xã có bác sỹ, đạt 69 %; 13 xã có nữ hộ sinh, 100 % thôn bản có nhân viên y tế; có 100 % số trạm y tế xã có tủ thuốc và y dụng thiết yếu phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân; có 100 % trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vácxin Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm đạt 71 % Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế tuyến huyện và xã được tập trung đầu tư cơ bản Công tác khám chữa bệnh cho nhân dân ở các cơ sở y tế ngày cà ng tốt hơn Tuy nhiên, để cũng cố và nâng cấp đạt chuẩn, công tác y tế xã và các trạm y tê phải được tiếp tục đầu tư cả con người và cơ sở vật chất (nhà chính của trạm y tế xã còn là nhà cấp IV, trang thiết bị còn thiếu, thiếu bác sĩ ) để phục vụ khám, chữa bệnh tốt hơn nữa cho nhân dân

- Toàn huyện Đăk Đoa có 23.775 hộ, 103923 người Trong đó: Dân tộc Jrai: 20.125 người, chiếm 19,37 % Dân tộc Banar: 38.621 người, chiếm 37,16 % và Dân tộc khác: 455 người, chiếm 0,44 % Dân tộc Kinh: 44.722 người, chiếm 43,03 % Đồng bào Kinh sống tập trung ở thị trấn và các tụ điểm dân cư dọc theo Quốc lộ 19, tỉnh lộ 670 và 670B Phần lớn lao động làm nông nghiệp, chủ yếu trồng cà phê, tiêu, làm công nhân trong các nông trường cao su, chăn nuôi và kết hợp buôn bán, đời sống kinh tế tương đối khá cao Các buôn làng người đồng bào dân tộc thường ở xa đường giao thông, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu Phần lớn các hộ đồng bào dân tộc trồng các cây ngắn ngày để tự cung tự cấp như: lúa ruộng, bắp, sắn, bầu bí và rau các loại, diện tích trồng cà phê, tiêu không đáng kể

Hình 2.3: Cơ cấu dân số huyện Đăk Đoa

Trang 22

- Giai đoạn 2006 - 2010, kinh tế huyện tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, bình quân đạt 32,18 %/năm Đến năm 2010, giá trị sản xuất trên địa bàn huyện đạt 3.188 tỷ đồng, tăng gấp 4,03 lần so với năm 2005 (Niên giám thống kê huyện Đăk Đoa, 2011 )

- Chuyển dịch cơ cấu đúng hướng, tốc độ nhanh: giá trị sản xuất nông lâm nghiệp đã giảm từ 70,77 % (năm 2005) xuống còn 54,42 % (năm 2010), công nghiệp – xây dựng tăng từ 21,77 % (năm 2005) lên 24,5 % (năm 2010), thương mại – dịch vụ tăng từ 7,47 % (năm 2005) lên 21,08 % (năm 2010) Trong nội bộ từng ngành, từng lĩnh vực cũng có nhiều chuyển biến tích cực: Nông lâm nghiệp tiếp tục tăng nhanh cả

về quy mô và chất lượng tăng trưởng: năm 2010, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp theo giá hiện hành đạt 1.735 tỷ đồng, tăng gấp 3,1 lần so với năm 2005

- Phổ cập giáo dục trung học cơ sở các xã đều đạt chuẩn, đội ngũ giáo viên đã từng bước được chuẩn hóa, công tác xã hội hóa giáo dục ngày cà ng được sự quan tâm Lao động ở nông thôn tiếp tục phát triển theo hướng đa ngành nghề, đến năm 2010 số lao động qua đào tạo trên địa bàn huyện 24 % trên tổng số 53.153 lao động đang làm việc trên toàn huyện Tuy nhiên, số lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao 87,5 % tổng số lao động đang làm việc Tỷ lệ hộ nghèo của huyện năm 2009 là 15,49 % (theo tiêu chí cũ), tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 là 34,47

% (theo tiêu chí mới) Thu nhập bình quân đầu người/năm đạt 12,8 triệu đồng tăng 7,1 triệu đồng so với năm 2005

2.2.2 Tổng hợp hiện trạng sản xuất cà phê trên địa bàn huyện Đăk Đoa

2.2.2.1 Diện tích và tình hình sản xuất cà phê trong của huyện Đăk Đoa

Bảng 2.3: Diện tích, sản lượng, năng suất cà phê huyện Đăk Đoa từ năm 2005 - 2011

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đăk Đoa, 2011 ) Diện tích và tình hình sản xuất cà phê của huyện Đăk Đoa những năm qua có

Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất (tấn/ha)

Trang 23

một số biến động đáng kể, đặc biệt là về diện tích năng suất và sản lượng của cà phê huyện từ năm 2005 đến năm 2011 được thể hiện ở bảng 2.3

Bảng 2.3 thể hiện diện tích cà phê huyện Đăk Đoa là tương đối ổn định, tuy nhiên sản lượng cà phê không ngừng tăng lên qua các năm Năm 2005 và 2008 năng suất cà phê trung bình của huyện có sự chênh lêch khá lớn qua các năm, do mùa khô kéo dài, kỷ thuật canh tác của nông dân chưa vẫn còn theo cách truyền thống cho nên sản lượng chưa ổn định, năm được năm mất bà con nông dân không quan tâm đầu tư đúng mức nên ảnh hưởng đến năng suất cây cà phê

Theo bảng 2.3 thể hiện diện tích cà phê huyện Đăk Đoa là tương đối ổn định, tuy nhiên sản lượng cà phê không ngừng tăng lên qua các năm Trong khi diện tích cũng cà ng ngày cà ng tăng dần qua các năm Cụ thể: Năm 2005 diện tích cà phê của huyện có 11363 ha, đến năm 2011 diện tích cà phê của huyện đã lên đến 12968 ha, Năm 2005 và 2008 năng suất cà phê trung bình của huyện có sự chênh lêch khá lớn qua các năm, năm 2011 năng suất bình quân 2,46 tấn/ha với sản lượng 29980 tấn Những thay đổi về năng suất, sản lượng là do mùa khô kéo dài, kỷ thuật canh tác của nông dân… Để khắc phục nó ta phải tiếp tục duy trì và ổn định diện tích cà phê này theo hướng trẻ hóa vườn cây, tăng cường đầu tư thâm canh để ổn định và nâng cao năng suất

2.2.2.2 Kế hoạch phát triển cây cà phê

Chuyển giao kỹ thuật ghép cải tạo và tái canh cho các vườn cà phê lâu năm già cỗi, cho năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao Hỗ trợ giống, hướng dẫn kỹ thuật tái canh cà phê, đầu tư xây dựng các vườn nhân giống chồi ghép từ các cây đầu dòng

đã được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn công nhận tại các xã để đẩy nhanh việc ghép cải tạo cho diện tích có năng suất, chất lượng thấp

Đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi đảm bảo đủ nước tưới cho diện tích cà phê để đạt năng suất cao

Khuyến cáo nông dân hạn chế việc chặt phá vườn cà phê để trồng tiêu

Ổn định và giữ vững diện tích cà phê, tập trung các biện pháp tốt nhất để làm tăng và duy trì năng suất, chất lượng từng bước góp phần khẳng định vị thế cà phê Việt Nam trên trường quốc tế

Trang 24

Tóm lại: Khí hậu Đăk Đoa rất thích hợp cho sản xuất và phát triển của cây cà phê nói riêng và các cây công nghiệp nói chung Tuy nhiên nếu xét riêng từng yếu tố khí hậu

cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh phát triển của nấm gỉ sắt Hemileia vastatrix làm cho

việc kinh doanh cà phê ở đây thêm phần khó khăn.( (Nguồn: Đề án ứng dụng KHCN vào sản xuất rau an toàn theo hướng Việt GAP tại thị trấn Đak Đoa)

2.3 Bệnh gỉ sắt cà phê (Hemileia vastatrix)

2.3.1 Khái quát về bệnh gỉ sắt cà phê

Bệnh gỉ sắt còn gọi là bệnh nấm vàng da cam Đây là bệnh phổ biến và nghiêm trọng trên cây cà phê, đặc biệt là cây cà phê chè Bệnh gây hại chủ yếu trên lá, có thể xuất hiện trên thân, quả nhưng rất ít Bệnh gây hại ở khắp các vùng trồng cà phê chủ yếu trên thế giới như Ấn Độ, Philippines, Thái Lan, các nước Châu Mỹ như: Cuba, Mexico, Brasil và các nước Châu Phi: Conggo, Kenya…

Ở Việt Nam bệnh hại nặng ở các vùng trồng cà phê phía Bắc, vùng Phủ Qùy Bệnh gây hại phổ biến ở các vùng miền Nam Trung Bộ như: Đắk Lắk, Lâm Đồng (Vũ Triệu Mân và ctv, 2008)

2.3.2 Nguồn gốc của bệnh gỉ sắt cà phê (Hemileia vastatrix)

Theo Rayner (1972) bệnh gỉ sắt cà phê được phát hiện lần đầu tiên vào năm

1861 tại vùng hồ Victoria ở Kenya Năm 1868 xuất hiện ở Srilanca Sau đó bệnh bắt đầu lan sang miền Nam Ấn Độ (1869) và vượt qua hàng nghìn dặm về phía đông bán đảo Sumatra (1876) và đảo Java (1879 – 1880) thuộc Indonexia và bang Philippin (1990) Đến khoảng giữa thế kỷ XX hầu như nấm gỉ sắt đã có mặt ở các đồn điền của Châu Á, Châu Phi và gây ra nhiều tổn thất đáng kể Năm 1970 nấm này vượt qua Đại Tây Dương đến Châu Mỹ tại Brasil (1970), Paraquay (1972), Nicaragua (1976) Từ đó đến nay loại nấm này đã có mặt ở tất cả các nước trồng cà phê trên thế giới và trở thành mối lo ngại lớn cho việc kinh doanh cà phê chè

Tại nước ta bệnh xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1888 và đã gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng (Trần Kim Loang, 1999)

2.3.3 Tác hại của nấm (Hemileia vastatrix)

Bệnh làm rụng lá, cây kiệt sức, sản lượng kém và nếu nặng thì cây có thể chết Khi xuất hiện ở Srilanca (1868) bệnh đã gây ra nạn dịch dữ dội và có tính hủy diệt Tại đây, bệnh đã làm giảm hơn 75 % sản lượng chỉ trong vòng 10 năm (1869 – 1868)

Trang 25

Đến năm 1890 tại đây phải hủy bỏ toàn bộ diện tích cà phê để thay bằng cây chè và cây cao su Ở bang Parana (Brasil) trong vụ 1973 – 1974 bệnh đã làm giảm 34 % sản lượng mặc dù 40 % diện tích trồng cà phê đã được phun thuốc hóa học (Trần Kim Loang, 1999)

Tại Việt Nam, Tháng 3 năm 1958 bệnh đã làm rụng lá toàn bộ cây cà phê chè của nông trường Đông Hiếu Tại Đắk Lắk bệnh làm hủy diệt hàng nghìn ha cà phê chè trong những năm 1940 – 1945 và đến năm 1957 toàn bộ diện tích cà phê này phải thay bằng cà phê vối Những năm gần đây bệnh xuất hiện trên cây cà phê vối Tỷ lệ bệnh hiện nay đã lên đến 50 %, thậm chí có vườn bị nhiễm 70 – 85 % Trên đồng ruộng đã xuất hiện những cây cà phê vối bị rụng gần hết lá do nấm gỉ sắt (Trần Thị Kim Loan, 1999)

Ở các vết bệnh cũ, già thường có 2 loại nấm ký sinh trên nấm gỉ sắt, đó là nấm

hiện chậm, ít có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của nấm H vastatrix (Vũ Triệu

Mân, 2008)

2.3 5 Tác nhân gây bệnh

Bệnh gỉ sắt cà phê do nấm Hemileia vastatrix B & Br gây ra, thuộc họ

Puccinniaceae, bộ Uredinales, lớp nấm đảm Basidiomycetes Đây là loại nấm chuyên

kí sinh trên cây cà phê Nấm Hemileia vastatrix được Berkeley và Broomes mô tả và

đặt tên vào năm 1869 Theo Ward (1982), Thirumalachar và Narahimhaswamy trong

vòng đời của nấm H vastatrix có 3 dạng bào tử là Uredospore (bào tử hạ),

Trang 26

Teleutospore (bào tử đông) và Basidiospore (bào tử đảm) Trong đó bào tử hạ phổ biến nhất Bào tử này có dạng hình bán nguyệt, hình hạt đậu, hình trứng, đôi khi có hình tam giác và có màu vàng nâu gỉ sắt Mặt bằng của bào tử không có gai nhưng các mặt bên có nhiều gai nhỏ không đều Bào tử nấm nảy mầm, xâm nhập qua các khí khổng ở mặt dưới lá Nấm mọc nhanh với nhiều vòi hút có vỏ bọc Các sợi nấm liên kết với nhau lại thành bó và chui ra khỏi khí khổng mang các bào tử hạ ở đầu những cuống nhỏ gọi là sterigma

Bào tử hạ nảy mầm ở nghiệt độ từ 15 – 28 oC Ở nhiệt độ từ 21 – 25 o

C có 50

% bào tử nảy mầm trong 3 – 4 giờ Khi bào tử nảy mầm đòi hỏi phải có sự hiện diện của nước Sau khi nảy mầm 1 giờ, ống mầm xâm nhập vào khí khổng và tiến hành xâm nhiễm Sau 12 – 18 giờ vết bệnh mới xuất hiện ở mặt dưới lá và 3 tuần sau bào tử mới xuất hiện (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

Tại Tây Nguyên, mưa là yếu tố quyết định sự phát sinh phát triển của bệnh gỉ sắt trên cà phê Trong đó thời gian bắt đầu mùa mưa quyết định sự phát sinh sớm hay muộn của bệnh Sự phát sinh phụ thuộc chủ yếu vào các điều kiện khí hậu và số lá còn lại trên cây vào cuối mùa bệnh năm trước Trên cây cà phê chè phát sinh từ đầu mùa mưa (tháng 4, 5), phát triển trong suốt mùa mưa, phát triển mạnh từ tháng 7, 8 và đạt đỉnh cao vào tháng 9, 10 Trong mùa bệnh, tỷ lệ cây bệnh trên đồng ruộng là 100 % và

tỷ lệ bệnh trên 90 %, chỉ số bệnh đạt cao nhất khoảng 25 % vào tháng 9 Trên cây cà phê vối nhân giống hữu tính (bằng hạt), tỷ lệ và mức độ nhiễm bệnh thay đổi theo vườn (khoảng 35 – 77 % số cây trên vườn), sự phát sinh phát triển cũng khác nhau tùy theo nhóm Số cây nhiễm bệnh trên cà phê vối được phân làm 3 dạng như sau:

- Một dạng có diễn biến giống như cà phê chè, tức là bệnh phát sinh từ đầu mùa mưa, phát triển vào tháng 7, 8 và đạt đỉnh cao vào đầu tháng 10, 11 Cây ở dạng này là những cây bị bệnh nặng, tỷ lệ bệnh trung bình cao nhất trên 90 %, chỉ số bệnh 30 % Dạng cây này chiếm tỷ lệ khoảng 10 % số cây bệnh

- Một dạng có mức bệnh nhẹ, phát sinh từ đầu mùa mưa nhưng đến tháng 12 mới phát triển mạnh, đạt đỉnh cao vào tháng 1, tỷ lệ bệnh dưới 40 %, chỉ số bệnh dưới

2 % Dạng này chiếm tỷ lệ không nhiều, khoảng 20 % số cây bị bệnh

- Dạng phổ biến trên đồng ruộng phát sinh từ tháng 6, phát triển mạnh từ tháng

11, đạt đỉnh cao vào tháng 12 – 1 với tỷ lệ lá bệnh bình quân 80 %, chỉ số bệnh từ 2 –

Trang 27

15 % Dạng này chiếm 70 % tổng số cây bệnh

- Mức độ bệnh khác nhau giữa các cá thể trong cùng một vườn chứng tỏ có sự quan hệ trực tiếp đến bản chất di truyền của chúng, tức khả năng kháng bệnh của từng

ta đã lai tạo các con lai khác loài giữa cà phê vối tứ bội với cà phê chè hay lai Hibrido

de Timor với cà phê chè để tạo ra các con lai có tính kháng ngang đối với bệnh gỉ sắt như Icatu và Catimor (Lương Thành Trung, 1991)

Tại Việt Nam, từ năm 1978, Viện nghiên cứu cà phê đã chọn lọc được một số giống có năng suất cao và kháng bệnh gỉ sắt như S.73 và Bourbon ĐL Từ năm 1986, Viện đã tiếp nhận một số giống kháng bệnh gỉ sắt gồm 36 ký hiệu có nguồn gốc Ethiopia, giống Catimor F4 của Trung tâm nghiên cứu bệnh gỉ sắt Oeiras (Bồ Đào Nha) và Arabusta F1 Từ cơ sở này Viện đã chọn lọc được giống cà phê chè Catimor F6 kháng bệnh gỉ sắt, giống này được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là giống quốc gia năm 1994 Hiện nay giống này đang được trồng phổ biến ở nước ta để thay thế cho các giống mẫn cảm với bệnh gỉ sắt như Caturra, Typica, Mundo novo…(Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.4 2 Ghép chồi

Viện nghiên cứu cà phê đã chọn ra một số dòng có năng suất cao và ít bị bệnh

gỉ sắt, trong đó có 3 dòng vô tính được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận vào tháng 9/1997 là: 16/20, 4/55, 1/20 Hiện nay Viện nghiên cứu cà phê đang sử dụng chồi của các dòng vô tính trên để thay thế các cây bị bệnh gỉ sắt trên vườn cà phê (Lương Thành Trung, 1991)

Trang 28

2.4 3 Hóa học

Trong số các thuốc được thí nghiệm trên nhiều nước thì thuốc gốc đồng vượt hơn hẳn các thuốc khác Hiện nay có thể dung một trong các loại thuốc sau để phòng trừ bệnh gỉ sắt: Impact 125 SC ( 2 – 4 cc/200cc nước/gốc), Anvil 5SC (0,2 %) phun 2 – 3 lần cách nhau 1 tháng, Tilt super 300 EC (0,1 %) phun 2 lần cách nhau 1 tháng (Đoàn Triệu Nhạn, 1999)

2.5 Sự xuất hiện bệnh gỉ sắc cà phê ở thế giới, Việt Nam và những nguyên cứu cơ bản về phòng trừ bệnh

- Ở thế giới, bệnh xuất hiện đầu tiên vào năm 1868 ở Sri Lanca, Tại đây bệnh đã giảm tới 75% sản lượng cà phê chỉ trong 10 năm (1869- 1878), đến năm 1890 hầu như phải hủy bỏ toàn bộ diện tích cà phê để thay bằng cao su và chè Sau đó bệnh lan dần xang Châu Phi và các nước khác thuộc Châu Á Cho đến giữa thế kỷ 20 bệnh đã có mặt ở hầu hết các nước trồng cà phê tại hai châu này

Năm 1970 bệnh xuất hiện ở Châu Mỹ tại bang São Paulo của Brasil và lan dần sang các bang khác của Brasil cũng như các nước khác như Paraguay (1972), Nicaragua (1976), Colombia (1983), Cuba (1985) Ở bang Parama của Brasil trong vụ

thuốc hoá học Vụ 1989-1990, Colombia đã chi 123 triệu USD để phun thuốc cho 250.000 ha cà phê

Bắc, nhiều đồn điền của Pháp trước kia phải phá cà phê chè và thay bằng cà phê mít Tại ĐắcLắc bệnh đã huỷ hàng nghìn ha cà phê chè trong những năm 1940-1945, chỉ còn khoảng 60 ha, vào năm 1957 toàn bộ diện tich đã phải thay bằng cà phê vối Trong những năm gần đây, bệnh đã xuất hiện trên cà phê vối vốn được coi là có kháng bệnh

gỉ sắt tỷ lệ cây bệnh khoảng 50% cá biết có khi lên đến 70-85 %

Bệnh gỉ sắt do nấm (Hemileia vastatrix) chuyên ký sinh trên cà phê gây ra Đầu

tiên ở mặt dưới của lá xuất hiện những chấm nhỏ màu vàng nhạt như những giọt dầu Sau đó các chấm này lớn dần và từ giữa xuất hiện bột màu vàng cam, đó là bào tử của nấm gỉ sắt Bào tử chuyển dần sang màu trắng từ trung tâm ra ngoài và cuối cùng vết bệnh có màu nâu như vết cháy Các vết cháy có thể liên kết với nhau thành vết cháy lớn, dẫn đến cháy toàn bộ lá và rụng Khi bệnh nặng, cây rụng hết lá và chết

Trang 29

Nhiệt độ và mưa là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của bệnh gỉ sắt Tại Điện Biên, bệnh phát sinh quanh năm nhưng nặng nhất vào hai thời kỳ tháng 3 và 4; tháng 9, 10 và 11 Mùa thu bệnh phát triển và lây lan nặng hơn mùa xuân Tại Sơn La, bệnh phát sinh vào tháng 9, 10, 11 một số ít vào tháng 7, 8 Tại Tây Nguyên, mưa là yếu tố quyết định sự phát sinh và phát triển của bệnh gỉ sắt Trên

mưa, phát triển mạnh từ tháng 7, 8 và đạt đỉnh cao vào tháng 9, 10 Trong mùa bệnh, tỷ

lệ cây bệnh trên đồng ruộng là 100 % và tỷ lệ lá bệnh trên 90 %, chỉ số bệnh khoảng 25

như cà phê chè chiếm 10 %; dạng diễn biến rất nhẹ, phát sinh từ đầu mùa mưa, tháng

12 mới phát triển mạnh và đạt đỉnh vào tháng 1, tỷ lệ lá bệnh bình quân dưới 40 %, chỉ

số bệnh dưới 2 %, dạng này chiếm khoảng 20 % tổng số cây bệnh

Để phòng trừ bệnh gỉ sắt, hiện đang sử dụng các biện pháp như chọn giống kháng bệnh, ghép chồi và dùng thuốc hoá học Năm 1978, Viện nghiên cứu cà phê đã nghiên cứu chọn lọc được giống cà phê chè Catimor có khả năng kháng bệnh và hiện đang được trồng trên các diện tich cà phê chè ở Việt Nam Biện pháp sử dụng chồi của

nhiễm bệnh hiện cũng đang được sử dụng rộng rãi trên đồng ruộng Dùng các thuốc hoá học như Viben-C 50 BTN, Tilt Super 300 EC, Anvil 5SC, Dizeb-M45 80 WP, Tilt

2.6 Khái quát về đặc tính của một số loại thuốc hóa học dùng trong thí nghiệm 2.6.1 Anvil 5SC

- Nhóm hóa học: Triazol

- Hoạt chất: Hexaconazole

- Thuốc trừ nấm, tác động nội hấp, phổ tác dụng rộng

- Sử dụng: trừ bệnh gỉ sắt, bệnh khô vằn, lem lép hạt, bệnh phấn trắng

- Sản xuất từ nguyên liệu của Syngenta Thụy Sỹ

- Đóng gói tại Syngenta Việt Nam

2.6.2 Copforce Blue 51 WP

Trang 30

- Nhóm hóa học: Zineb

- Hoạt chất: copper + Zineb

- Tính chất: Nhóm độc III

- Thuốc trừ nấm hỗn hợp, phổ tác dụng rộng

- Sử dụng: trừ bệnh sương mai hại cà chua, dưa chuột, gỉ sắt

- Sản xuất từ nguyên liệu của Agria SA Bulgaria

- Đóng gói tại Cty cổ phần Bảo vệ Thực vật Sài Gòn

- Sản phẩm của Enchochem In t Corp – China

- Đóng gói tại Cty TNHH Anfa Sài Gòn

- Sử dụng: trừ bệnh gỉ sắt, khô vằn, thán thư, phấn trắng, mốc xám, thối trái

- Sản xuất từ nguyên liệu của Syngenta Thụy Sỹ

- Đóng gói tại Syngenta Việt Nam

- Sử dụng: trừ bệnh đạo ôn, gỉ sắt, đốm lá, thán thư, chết cây con, phấn trắng

- Sản phẩm của công ty Thuốc sát trùng Việt Nam

Trang 31

2.6.6 Giới thiệu hình các loại thuốc dùng trong thí nghiệm

Hình 2.4: Thuốc Anvil 5SC

Hình 2.5: Thuốc Coforce Blue 51WP

Hình 2.6: Thuốc Ecoleton 25 WP

Trang 32

Hình 2.7: Thuốc Tilt Super 300 EC

Hình 2.8: Thuốc Viben C 50 BTN

Trang 33

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Thời gian

Đề tài được tiến hành từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2012

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Điều tra các vườn cà phê vối giai đoạn kinh doanh tại một số xã ở huyện Đăk Đoa

- Bố trí thí nghiệm tại hộ cô Đinh Thị Hoài ở thôn 1, Xã Tân Bình, huyên Đăk Đoa

3 2 Vật liệu nghiên cứu

 Sổ ghi chép, bút, máy ảnh

 Các vườn cà phê vối giai đoạn kinh doanh

 Phiếu điều tra định kỳ 15 ngày/lần

 Các loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.1.1 Điều tra tình hình nhiễm bệnh gỉ sắt cà phê vối ở các giai đoạn sinh trưởng

- Phương pháp điều tra: lập phiếu điều tra, tiến hành điều tra tại 7 điểm (5 xã và thị trấn) của huyện Đăk Đoa, mỗi điểm chọn 10 hộ cố định Điều tra gồm phỏng vấn

Trang 34

và kết hợp điều tra ngoài đồng Điều tra định kỳ 15 ngày/lần Điều tra ở 5 vườn có các giai đoạn sinh trưởng khác nhau

- Phỏng vấn trực tiếp điền vào phiếu điều tra

- Điều tra ngoài đồng: điều tra 5 điểm trên 2 đường chéo góc, mỗi điểm điều tra

5 cây, mỗi cây lấy 4 cà nh theo 4 hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc), trên mỗi cà nh tiến hành đếm 20 lá từ gốc cà nh ra phía ngoài cà nh

Các chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ bệnh (%) và chỉ số bệnh (%)

N1, N2, …, Nn: số lá bị bệnh ở mỗi cấp 1, 2, …, n

N: tổng số lá điều tra

n: cấp bệnh cao nhất theo bảng phân cấp

Mức độ nhiễm bệnh được đánh giá theo thang 5 cấp:

- Cấp 5: > 50 % diện tích lá bị bệnh ( Lương Thành Trung, 1991)

3.3.2 Khảo sát hiệu lực của các loại thuốc hóa học trên vườn cà phê vối kinh doanh tại huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai

Thí nghiệm được tiến hành trên vườn cà phê vối 13 năm tuổi tại xã Tân Bình, Huyện Đăk Đoa, Tỉnh Gia Lai Thi nghiệm được bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) 3 lần lặp lại với 6 nghiệm thức (5 NT xử lý thuốc và 1 NT phun nước lã), mỗi NT phun 10 cây Tổng số cây thí nghiệm 180 cây Diện tích bố trí thí nghiệm:

1620 m2 Tổng diện tích khu thí nghiệm: 2358 m2 Trong mỗi NT chọn 3 cây, trên mỗi cây chọn 4 cành theo 4 hướng khác nhau để theo dõi số lá bị bệnh/tổng số lá của cành

Ngày đăng: 29/05/2018, 18:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm