1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG TRE LẤY MĂNG Ở HUYỆN ĐĂKĐOA, TỈNH GIA LAI

95 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Võ Thái Dân Đề tài được tiến hành nhằm xác định một số biện pháp kỹ thuật trồng tre lấy măng ở huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai niên vụ 2010 -2011, cũng như những thuận lợi và khó khăn của nôn

Trang 1

KHOA NÔNG HỌC



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG TRE

LẤY MĂNG Ở HUYỆN ĐĂKĐOA, TỈNH GIA LAI

NIÊN KHÓA: 2008 - 2012 SVTH: PHẠM THỊ DUYÊN

Tháng 07/2012

Trang 2

ĐIỀU TRA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG TRE

LẤY MĂNG Ở HUYỆN ĐĂKĐOA, TỈNH GIA LAI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Suốt đời ghi nhớ công lao cha mẹ sinh thành và nuôi dưỡng con nên người Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Ban Chủ nhiệm Khoa Nông học

Phân hiệu trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh tại Gia Lai

Cùng toàn thể quý Thầy Cô trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập

Đặc biệt, Tôi xin bày tỏ lòng thành kính và biết ơn đến cô ThS Phạm Thị Ngọc – Bộ môn Vi Sinh và thầy TS Võ Thái Dân - Bộ môn Cây Công Nghiệp đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn Phòng Nông nghiệp huyện ĐăkĐoa và Ủy ban Nhân dân các xã, thị trấn trên địa bàn huyện ĐăkĐoa, Cục Thống kê tỉnh Gia Lai đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Cảm ơn các hộ dân trồng tre tại huyện ĐăkĐoa đã trao đổi thông tin, kinh nghiệm và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thu thập số liệu

Xin chân thành cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên, chia sẽ những khó khăn cùng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận

Tháng 7/2012

Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Duyên

Trang 4

TÓM TẮT

PHẠM THỊ DUYÊN, 07/2012 “ĐIỀU TRA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG TRE LẤY MĂNG Ở HUYỆN ĐĂKĐOA, TỈNH GIA LAI” Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Khóa luận tốt nghiệp 61 trang

Giáo viên hướng dẫn: ThS Phạm Thị Ngọc và TS Võ Thái Dân

Đề tài được tiến hành nhằm xác định một số biện pháp kỹ thuật trồng tre lấy măng ở huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai niên vụ 2010 -2011, cũng như những thuận lợi và khó khăn của nông dân trồng tre gặp phải Từ đó định hướng cho nông dân sử dụng một số biện pháp kỹ thuật trồng tre một cách có hiệu quả nhất Đề tài được tiến hành

từ ngày 13/02/2012 đến ngày 13/06/2012 Các thông tin về tình hình điều tra một số biện pháp kỹ thuật trồng tre được điều tra bằng mẫu in sẵn ở 90 hộ dân tại xã Kon Gang, xã Hải Yang, xã Nam Yang Số liệu về kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên được thu thập từ phòng Nông nghiệp huyện ĐăkĐoa, Cục thống kê huyện ĐăkĐoa

Kết quả thu được: Có 67 người chiếm 74 % số người trả lời phỏng vấn là nam,

23 người chiếm 26 % số người trả lời phỏng vấn là nữ Độ tuổi trung bình của những người được phỏng vấn là 46, trong đó người thấp tuổi nhất 31 tuổi và người cao tuổi nhất 64 tuổi Kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp trung bình của các nông hộ trồng tre

là 13 năm

Trình độ văn hóa của những người được phỏng vấn còn thấp trình độ cấp 2 chiếm 68 %; trình độ cấp 3 chiếm 27 % và trình độ cấp 1 chiếm 5 % Có 90 người tức

là 100 % người được phỏng vấn là dân tộc Kinh, không có dân tộc khác

Diện tích đất nông nghiệp trung bình của các hộ qua điều tra là 2,9 ha Trong

đó, diện tích đất trung bình của tre kinh doanh là 0,27 ha Riêng ông Phan Văn Quang

có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất 6,3 ha thuộc xã Kon Gang

Giống tre Điền Trúc được trồng nhiều nhất tại huyện ĐăkĐoa Mật độ trồng tre phổ biến của các hộ qua điều tra được là khoảng cách trồng 6 x 6 m có 63 hộ trồng, 6 x

5 có 10 hộ 5 x 5 m có 17 hộ

Có một số nông hộ sử dụng vôi để xử lý đất trồng tre, trong đó lượng vôi sử dụng phổ biến nhất từ khoảng 1 kg/hố Nông dân sử dụng phân hữu cơ để bón lót cho

Trang 5

cây tre nhưng đối với phân vô cơ thì rất ít sử dụng Thời gian sử dụng phân để bón lót cho tre là 20 – 25 ngày trước ngày trồng, cách bón phân đơn giản là rãi vào hố đã được đào sẵn Lượng phân vô cơ được nông dân sử dụng để bón rất ít

Tuy nhiên tình hình sử dụng thuốc trừ sâu của nông dân trồng tre là hoàn toàn không có Không dùng bất kỳ loại thuốc hóa học nào để phòng trừ bệnh hại cho cây tre, sử dụng biện pháp vệ sinh đồng ruộng Trên diện tích trồng tre của các nông hộ có rất ít loại cỏ dại, trong đó cỏ chỉ, trinh nữ, cỏ cứt lợn không đáng kể nên tất cả các nông hộ không sử dụng thuốc trừ cỏ 100 % nông hộ không sử dụng thuốc để xử lý đất, không sử dụng thuốc kích thích cho cây tre nhưng phải đảm bảo vấn đề nước tưới cho cây tre trong thời gian thu hoạch

Hiệu quả kinh tế từ cây tre mang lại cho nông dân khá cao

Thuận lợi và khó khăn của nông hộ trồng tre

Thuận lợi: Khí hậu, đất đai phù hợp cho cây tre sinh trưởng phát triển, có năng suất cao và chất lượng tốt Nông dân có nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc trồng và chăm sóc cây tre, cây tre dễ chăm sóc, ít sâu và bệnh hại, ít cỏ dại tiết kiệm được chi phí đầu tư

Khó khăn: Giá thành vật tư nông nghiệp cao, nông dân tự sản xuất giống tre để trồng nên năng suất không cao, thiếu nước tưới cho cây tre vào mùa khô Sản phẩm làm ra chưa có nơi tiêu thụ nhất định, giá cả bấp bênh Chưa có quy trình kỹ thuật canh tác hoàn chỉnh cho cây tre để mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG TỰA i

LỜI CẢM ƠN ii 

TÓM TẮT iii 

MỤC LỤC v 

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix 

DANH SÁCH CÁC BẢNG x 

DANH SÁCH CÁC HÌNH xii 

Chương 1GIỚI THIỆU 1 

1.1 Đặt vấn đề 1 

1.2 Mục tiêu của đề tài 2 

1.3 Yêu cầu của đề tài 2 

1.4 Giới hạn của đề tài 2 

Chương 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 

2.1 Nguồn gốc, xuất xứ của cây tre 3 

2.2 Sinh thái của cây tre 4 

2.3 Giá trị kinh tế của cây tre 5 

2.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất măng tre trên thế giới và trong nước 6 

2.4.1Tình hình nghiên cứu và sản xuất măng tre trên thế giới 6 

2.4.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất măng tre trong nước 8 

2.4.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ măng tre ở Gia Lai 10 

2.4.4 Quy mô diện tích, cơ cấu giống, năng suất và sản lượng của vùng trồng tre lấy măng của huyện Đăk Đoa 11 

2.4.4.1 Hiện trạng sản xuất măng tre tại huyện ĐăkĐoa 11 

2.4.4.2 Cơ cấu giống tre được trồng ở huyện ĐăkĐoa năm 2011 12 

2.4.4.3 Hệ thống cây trồng của huyện ĐăkĐoa năm 2011 12 

2.5 Nghiên cứu về tình hình cỏ dại ở cây tre 14 

2.5.1 Tình hình cỏ dại 14 

2.5.1.1 Cỏ chỉ (Cynodon dactylon (L) Pers) 14 

2.5.1.2 Cây Trinh Nữ Móc (Mimosa invisa Mart Ex Colla.) 14 

Trang 7

2.5.1.3 Cây Cứt Lợn (Ageratum conyzoides L.) 14 

2.5.1.4 Cỏ Kim Thất (Tàu Bay) (Crassocephalum crepidioides (Benth) S Moore 14 

2.5.1.5 Cỏ thảm lá rộng (Axonopus comapressus) 14 

2.6 Khái quát về đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu 15 

2.6.1 Vị trí địa lý 15 

2.6.2 Đất đai - địa hình 16 

2.6.3 Khí hậu, nguồn nước: 17 

2.6.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên 19 

2.6.5 Điều kiện kinh tế - xã hội 20 

2.7 Dân số và lao động tại huyện ĐăkĐoa năm 2011 22 

2.7.1 Dân tộc và tôn giáo tại huyện ĐăkĐoa năm 2011 24 

2.7.2 Cơ cấu tôn giáo 24 

2.8 Nhận xét chung về điều kiện kinh tế - xã hội của huyện ĐăkĐoa 25 

Chương 3NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26 

3.2 Điều kiện tự nhiên địa bàn điều tra 26 

3.2.1 Điều kiện đất đai địa hình ở huyện ĐăkĐoa 26 

3.2.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết ở huyện ĐăkĐoa 27 

3.3 Nội dung nghiên cứu 27 

3.3.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc phát triển cây tre lấy măng huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai 27 

3.3.2 Điều tra về điều kiện kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến việc phát triển cây tre lấy măng huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai 28 

3.3.3 Điều tra các biện pháp trồng và chăm sóc cây tre lấy măng 28 

3.3.4 Điều tra về tình hình thu hoạch 28 

3.3.5 Điều tra về chi phí và lợi nhuận của nông hộ 28 

3.3.6 Điều tra một số thuận lợi và khó khăn trong sản xuất tre lấy măng 28 

3.4 Phương pháp điều tra 29 

3.4.1 Mẫu phiếu điều tra 29 

3.4.2 Cơ sở chọn hộ điều tra 29 

3.4.3 Điều tra tình hình sâu, bệnh, cỏ dại trên diện tích trồng tre 29 

Trang 8

3.4.4 Tiến độ thực hiện đề tài 29 

3.5 Xử lý số liệu 30 

Chương 4KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31 

4.1 Thông tin chung về các hộ sản xuất măng tre tại huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai 31 

4.1.1 Thông tin về giới tính, tuổi của người trả lời phỏng vấn 31 

4.1.2 Trình độ văn hóa, thành phần dân tộc của người trả lời phỏng vấn 32 

4.1.3 Thông tin về kinh nghiệm canh tác tre của người trả lời phỏng vấn 32 

4.2 Kết quả điều tra về hiện trạng sản xuất tre ở các nông hộ được điều tra 33 

4.2.1 Diện tích đất nông nghiệp của các hộ điều tra 33 

4.2.2 Tình hình phân bố các giống tre của các hộ điều tra 35 

4.2.3 Chuẩn bị đất trồng, mật độ, khoảng cách trồng tre 35 

4.3 Tình hình sử dụng phân bón cho cây tre tại huyện ĐăkĐoa 37 

4.3.1 Tình hình bón lót cho tre 37 

4.3.2 Tình hình bón thúc cho tre 39 

4.3.3 Thời gian, số lần bón thúc cho cây tre 40 

4.4 Tình hình sâu, bệnh hại trên vườn tre 41 

4.5 Thành phần cỏ dại và các biện pháp trừ cỏ dại 41 

4.5.1 Thành phần cỏ dại 41 

4.5.2 Số lần làm cỏ dại 42 

4.6 Tình hình sử dụng thuốc điều hòa sinh trưởng cho cây tre 43 

4.7 Tình hình tưới nước cho cây tre 43 

4.7.1 Nguồn gốc nước tưới 43 

4.8 Năng suất thu hoạch của nông hộ 44 

4.9 Điều tra về tình hình thu hoạch 51 

4.9.1 Thời gian thu hoạch 51 

4.9.2 Phương pháp thu hoạch và vận chuyển 52 

4.10 Chi phí và lợi nhuận của nông hộ 52 

4.10.1 Tổng chi phí đầu tư 52 

4.10.2 Lợi nhuận 53 

4.10.3 Tỷ suất lợi nhuận 54 

4.11 Kết quả điều tra diện tích ở một số hộ nông dân tại huyện ĐăkĐoa 55 

Trang 9

4.11.1 Tình hình cỏ dại trên vườn của các hộ điều tra đồng ruộng 55 

4.11.2 Lượng phân bón lót dùng cho 1 ha tre của các hộ điều tra 55 

4.11.3 Tình hình bón thúc cho tre 55 

4.12 Một số thuận lợi và khó khăn trong trồng tre tại huyện ĐăkĐoa 56 

4.12.1 Thuận lợi 56 

4.12.2 Khó khăn 56 

4.13 Sự khác nhau giữa một số biện pháp canh tác cây tre theo khuyến cáo và theo thực tế của nông dân trồng tre tại huyện ĐăkĐoa 56 

4.14 Một số đề xuất và giải pháp đối với tình hình canh tác cây tre tại huyện ĐăkĐoa .57 

Chương 5KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58 

5.1 Kết luận 58 

5.2 Đề nghị 58 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 

PHỤ LỤC 61 

Trang 10

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NN & PTNN Nông nghiệp và phát triển nông thôn

BVTV Bảo vệ thực vật

SD Standard deviation: độ lệch chuẩn

CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích và số lượng loài tre trúc ở một số quốc gia trên thế giới (theo Chu

Phương Thuần, 1998) 7 

Bảng 2.2 Hiện trạng tre trúc Việt Nam tính tới tháng 12/2004 (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2007) 9 

Bảng 2.3 Cơ cấu cây trồng của huyện ĐăkĐoa năm 2011 12 

Bảng 2.4 Trung bình của một số thông số khí hậu - thời tiết tỉnh huyện ĐăkĐoa 18 

Bảng 2.5 Tình hình dân số tại huyện ĐăkĐoa năm 2011 22 

Bảng 2.6 Tình hình dân số lao động các xã, phường năm 2011 23 

Bảng 2.7 Tình hình tôn giáo ở huyện ĐăkĐoa năm 2011 24 

Bảng 4.1 Thành phần giới tính, tuổi của người trả lời phỏng vấn 31 

Bảng 4.2 Trình độ văn hóa, thành phần dân tộc của người trả lời phỏng vấn 32 

Bảng 4.3 Kinh nghiệm canh tác tre của người trả lời phỏng vấn 32 

Bảng 4.4 Quy mô diện tích đất nông nghiệp của các hộ điều tra 33 

Bảng 4.5 Quy mô diện tích đất trồng tre của các hộ điều tra 34 

Bảng 4.6 Tuổi tre của các hộ điều tra 34 

Bảng 4.7 Cơ cấu giống tre của các hộ điều tra niên vụ 2012 35 

Bảng 4.8 Mật độ tre được trồng của các hộ trồng qua điều tra 36 

Bảng 4.9 Khoảng cách trồng tre của các hộ điều tra 36 

Bảng 4.10 Lượng vôi sử dụng cho cây tre tại các địa phương điều tra 37 

Bảng 4.11 Lượng phân bón lót dùng cho 1 ha của các hộ điều tra 38 

Bảng 4.12 Thời gian sử dụng phân bón lót và cách bón phân theo số hộ điều tra 39 

Bảng 4.13 Lượng phân bón thúc dùng cho 1 ha của các hộ điều tra 39 

Bảng 4.14 Thời gian bón thúc cho cây tre 40 

Bảng 4.15 Số lần bón thúc và cách bón phân cho cây tre 41 

Bảng 4.15 Thành phần cỏ dại trên vườn tre trong vùng điều tra 41 

Bảng 4.17 Số lần làm cỏ của các hộ điều tra 42 

Bảng 4.18 Nguồn nước tưới của các hộ điều tra 43 

Bảng 4.19 Năng suất tre của các hộ điều tra 44 

Bảng 4.20 Biến thiên giữa năng suất và giống tre các hộ điều tra 44 

Trang 12

Bảng 4.21 Biến thiên giữa năng suất theo lượng vôi các hộ điều tra 45 

Bảng 4.22 Biến thiên giữa năng suất theo phân chuồng bón lót các hộ điều tra 46 

Bảng 4.23 Biến thiên giữa năng suất theo phân DAP bón lót các hộ điều tra 47 

Bảng 4.24 Biến thiên giữa năng suất theo phân Lân bón lót các hộ điều tra 48 

Bảng 4.25 Biến thiên giữa năng suất theo phân Việt Nhật bón thúc của các hộ điều tra .49 

Bảng 4.26 Biến thiên giữa năng suất theo phân Bình Điền bón thúc các hộ điều tra 49 

Bảng 4.27 Biến thiên giữa năng suất theo phân Urê bón thúc các hộ điều tra 50 

Bảng 4.28 Biến thiên giữa năng suất theo lượng SA các hộ điều tra 51 

Bảng 4.29 Tổng chi phí đầu cho trồng tre của các hộ điều tra 52 

Bảng 4.30 Lợi nhuận trồng tre của các nông hộ 53 

Bảng 4.31 Tỷ suất lợi nhuận của các hộ qua điều tra 54 

Bảng 4.33 So sánh các yêu cầu về kỹ thuật canh tác cây tre giữa các hộ điều tra với khuyến cáo 57 

Trang 13

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ vị trí địa lý huyện ĐăkĐoa 15 

Hình 2.2 Cơ cấu các loại đất ở ĐăkĐoa 16 

Hình 2.3 Cơ cấu đất đai ĐăkĐoa 17 

Hình 2.4 Cơ cấu dân số huyện ĐăkĐoa 21 

Hình 2.5 Cơ cấu tôn giáo ở huyện ĐăkĐoa 25 

Trang 14

Tre là cây đa dụng, hầu như mọi bộ phận của cây đều sử dụng được Hiện nay tre là nguyên liệu thô quan trọng nhất để lấy gỗ, làm giấy và để sản xuất tơ nhân tạo, hàng thủ công như vật liệu dùng cho chạm khắc, bút lông để viết và vẽ, vật liệu xây dựng, hàng gia dụng như nhạc cụ, cần câu, làm vườn, vật dụng trong nhà, dược liệu

Từ năm 1938 tác giả Chang đã chiết được những hợp chất tinh thể từ một loại tre Trung Quốc có ảnh hưởng đến hoocmon giới tính nữ, ngoài ra thân tre còn được dùng trong dược phẩm của Ấn Độ Măng của một số loại tre được dùng làm thực phẩm ở dạng tươi sống hoặc được chế biến đóng hộp xuất khẩu, trong đó phải kể đến măng của giống tre Lục Trúc, Điền Trúc

Tre Lục Trúc (Bambusa oldhamii Munro) có xuất xứ từ Đài Loan, vào giữa

năm 2000, được Trung tâm Nghiên cứu khoa học kỹ thuật và khuyến nông TP Hồ Chí Minh trồng thử nghiệm tại xã Hòa Phú, Phước Vĩnh An (Củ Chi) và Tân Hiệp (Hóc

Môn) Tre Điền Trúc (Dendrocalamus latiflorus Munro) cũng xuất xứ tại Đài Loan

đã được trồng thử nghiệm tại trung tâm Ba Vì – Hà Tây từ tháng 9 năm 1999 Hai loại tre này có chất lượng măng ngon, dòn, thơm, ngọt Nhu cầu thị trường ngày càng lớn, tuy nhiên việc trồng tre trên diện tích rộng để khai thác theo kiểu công nghiệp thì vẫn còn mới

Trang 15

Xuất phát từ thực tế đó, được sự phân công của Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài “ Điều tra một số biện pháp kỹ thuật trồng

tre lấy măng ở địa bàn huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai” đã được thực hiện trong khoảng

thời gian từ 13/02/2011 đến ngày 13/06/2011 nhằm thấy rõ những vấn đề tồn tại trong

biện pháp kỹ thuật trồng tre lấy măng tại địa phương

1.2 Mục tiêu của đề tài

Tìm hiểu các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có ảnh hưởng đến cây tre của huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai

Tìm hiểu về tình hình sản xuất và kỹ thuật canh tác tre của bà con nông dân trên địa bàn điều tra

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Xác định các điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tre lấy măng tại huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai

- Nắm bắt quy trình trồng và sản xuất cây tre lấy măng của các hộ nông dân tại huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai

- Xác định lợi nhuận của người trồng tre lấy măng tại huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai

1.4 Giới hạn của đề tài

Đề tài chỉ tiến hành xác định một số biện pháp kỹ thuật trồng tre lấy măng ở huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai Địa bàn huyện ĐăkĐoa rộng lớn, phức tạp nên đề tài chưa đủ lớn để đại diện cho tình hình sản xuât tre của huyện Bên cạnh đó bản thân còn nhiều hạn chế do đó không thể tránh những thiếu sót

Trang 16

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc, xuất xứ của cây tre

Tre Điền Trúc (Sinocalamus sternoauritus W.T.Lin) là loại tre chuyên trồng để

lấy măng thực phẩm Loài này phân bố tại Myanma và Nam Trung Quốc, là loại tre chuyên dùng để kinh doanh măng, giống được nhập từ Quảng Tây, Trung Quốc Tre Điền Trúc trồng nhân giống và trồng thu hoạch, sản phẩm được phát triển rộng ở nhiều tỉnh trong nước Tre là loại cây thân thảo, thường xanh, có đời sống lâu, mọc thành rừng, thuộc họ Poaceae

Tre phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới trừ Châu Âu, có tổng cộng 75 giống và trên 1250 loài đã được tìm thấy, phân bố chủ yếu giữa hạ chí tuyến và đông chí tuyến, ở những nơi khí hậu ấm áp, hơi ẩm nhiều và đất đai màu mỡ (Wong and Shen, 1987) Tre thường mọc ở đồng bằng, vùng núi, sa mạc và đầm lầy, đặc biệt tre không ưa đất kiềm Một số loài đặc biệt có thể mọc được ở những vùng có khí hậu lạnh Trước đây thì tre chủ yếu mọc ở phía Đông và Nam Châu Á nhưng gần đây tre đang được trồng và nhân rộng ở Trung và Nam Mỹ

Măng còn là sản phẩm rau sạch có hàm lượng lipit, protit, axit amin cao, chất sơ hợp lý, ngay cả lá của chúng cũng được sử dụng gói bánh và chiết suất chế biến để sử dụng cho nhiều mục đích ở các nước có nền công nghệ sinh học phát triển cao như: Nhật, Đài Loan, Singapore

Khác với các loài cây lấy gỗ, tre trúc thường có thân cứng như gỗ, song có đặc trưng là thân thường rỗng trong ruột, có hệ thân ngầm và phân cành khá phức tạp, có

hệ thống mo cau hoàn hảo được sử dụng hiệu quả trong quá trình phân loại (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) Thân ngầm thường phát triển bò dài trong đất, phát triển thành mạng lưới, hay chỉ phát triển thành một số đốt ngắn ở gốc cây Các đốt thân ngầm

Trang 17

thường có nhiều rễ và chồi ngủ Chồi sẽ mọc lên thành cây tre, trúc trên mặt đất hay

phát triển thành thân ngầm mới (Trích: Báo cáo tóm tắt kết quả các nghiên cứu về tre

trúc ở Việt Nam, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 5/2008)

2.2 Sinh thái của cây tre

Là loại tre có thân mọc cụm, nhưng xa cây mẹ hơn các loại khác, thân không có gai, thẳng, thành vách dầy, lá to, nhẵn, thân cao từ 7 - 8 m, đường kính 9 – 12 cm, măng to, lớp mỏng, vị ngọt dịu và không đắng, ăn tươi được, nhưng khi chế biến màu không đẹp (hơi tím)

Điền Trúc mọc cụm, yêu cầu nhiều ánh sáng mặt trời Đường kính thân gần gốc đến 20cm, đặc biệt lá có màu lục sẫm, kích thước lớn (chiều dài đến 40cm, chiều rộng

từ 7 đến 10cm Măng to và có chất lượng cao, rất được ưa chuộng trên thị trường Trung Quốc, Đài Loan Việt Nam nhập giống này từ Trung quốc, đặc điểm thân cây khá to, bản lá rộng, màu lá xanh đẹp, có thể nhân giống bằng hom Năng suất măng tre Điền Trúc cao, đạt 30 - 35 tấn/ha, chất lượng măng khá tốt, ăn giòn ngọt

Nhìn chung, tre măng Điền Trúc thích hợp với vùng khí hậu nóng và ẩm, có lượng mưa lớn và có lượng ánh sáng dồi dào Những vùng chịu ảnh hưởng của gió Lào cần hết sức chú ý trong việc chọn thời vụ trồng, tránh những ngày có gió khô nóng và cần có biện pháp tưới nước giữ ẩm cho cây trồng Đối với vùng núi cao cần phải tham khảo kỹ để lựa chọn loài tre măng có khả năng phân bố ở độ cao lớn (>500m) như loài Mao Trúc

Tre măng Điền Trúc là loài cây ưa sáng hoàn toàn vì vậy không được trồng dưới tán các cây khác, khi trồng rừng tập trung nếu cần trồng hỗn giao với cây gỗ thì nên trồng theo phương pháp hỗn giao với băng rộng để đảm bảo độ chiếu sáng cho tre

Các loài tre lấy măng đều thích hợp với các loại đất tầng dày, tơi xốp nhiều mùn, đất ẩm nhưng thoát nước Tốt nhất là các loại đất phù sa ven sông suối, đất trên nương rẫy còn tính chất đất rừng Không được trồng tre Điền Trúc ở đất bị ngập úng dài ngày, đất quá bí chặt, đất đá ong hoá tầng mỏng và đất cát khô rời rạc

Trường hợp nơi đồi trọc đất nghèo xấu, nhiều sỏi đá cần áp dụng các biện pháp cải tạo đất như đào hố to rộng, bón nhiều phân hữu cơ, che tủ đất bằng rơm rạ, tưới

nước, trồng xen cây cố định đạm (Trích: Báo cáo tóm tắt kết quả các nghiên cứu về tre

trúc ở Việt Nam, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 5/2008)

Trang 18

Nhìn chung cây tre yêu cầu nhiệt độ bình quân hàng năm 220c trở lên, nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất không dưới 80c, lượng mưa hàng năm 1,500 mm, độ ẩm không khí hàng tháng 80% trở lên Trong thời gian có gió Lào, gió khô hanh thì độ ẩm không khí thấp hơn nhưng cũng không ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của cây tre (Trích: Ngô Quang Đê (chủ biên) và Lê Xuân Trường, Tre Trúc (Gây trồng và sử dụng) NXB Nghệ An 2003.)

2.3 Giá trị kinh tế của cây tre

Măng Điền Trúc là loại sản phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao, rất được thị trường các nước Đông Âu và Tây Âu quan tâm Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, măng có chứa khá nhiều thành phần dinh dưỡng Theo các tài liệu của Trung Quốc, cứ mỗi 100g măng có chứa 4,1g protid (protid chứa trong măng có tới 16 loại acid amin), 0,1g lipid, 5,7g glucid, 22mg Ca, 56mg Photpho, 0,1g Fe, 0,08mg caroten, 0,08mg vitamin B1, 0,08mg vitamin B2, 0,6mg vitamin B3, 1,0mg vitamin C

Ngoài ra, trong măng còn chứa khá nhiều Mg và rất giàu chất xơ Với hàm lượng chất béo, chất đường rất thấp và giàu chất xơ, măng là loại thực phẩm có tác dụng thúc đẩy nhu động ruột, trợ giúp tiêu hóa, phòng chống có hiệu quả tình trạng béo phì, vữa xơ động mạch, cao huyết áp, bệnh táo bón, bệnh ung thư đại tràng và ung thư vú Một số nghiên cứu gần đây cho thấy, với hàm lượng Mg khá phong phú và một loại đường đa có trong thành phần, măng có khả năng nhất định trong việc phòng ung, kháng ung và được coi là một trong những thực phẩm chống ung thư (Nguồn: Dự án đầu tư trồng tre Điền Trúc áp dụng vào huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai,2004)

Ngoài hiệu quả kinh tế cao, cây tre còn bảo vệ đất, chống xói mòn, chắn gió, hạn chế dòng chảy, hạn chế tác hại của lũ quét, cải thiện môi trường và phủ xanh đất trống, đồi núi trọc Thân tre từ 3 đến 5 tuổi còn dùng làm nguyên liệu phục vụ chế biến giấy, vật liệu xây dựng, mỹ nghệ, dược liệu, ván ép, làm tăm, làm đũa………

Trang 19

được ưa chuộng dùng trong thú chơi cây cảnh (Ngô Quang Đê (chủ biên) và Lê Xuân Trường, Tre Trúc (Gây trồng và sử dụng) NXB Nghệ An 2003.)

2.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất măng tre trên thế giới và trong nước

2.4.1Tình hình nghiên cứu và sản xuất măng tre trên thế giới

Các nghiên cứu về tre trúc trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa dạng Đầu tiên phải kể tới ấn phẩm Nghiên cứu về tre trúc của Munro (1868) Sau đó có nghiên cứu về các loài tre trúc ở Ấn Độ (Gamble, 1896) Tác giả cũng cho rằng các loài tre trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều các nghiên cứu về phân loại, các kỹ thuật tạo giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác, chế biến và cả về thị trường tre trúc và các sản phẩm sản xuất từ

tre trúc (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn 2007) (Trích: Báo cáo tóm tắt kết quả

các nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 5/2008)

Các loài tre trúc phân bố tự nhiên ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao 4000m (so với mực nước biển), song chủ yếu tập trung ở vùng thấp tới đai cao trung bình (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) Các loài tre trúc có thể mọc hoang dại hoặc được gây trồng và có một đặc điểm nổi bật là có mặt ở rất nhiều các môi trường khác nhau (Dransfied and Widjaja, 1995) Theo Rao and Rao (1995), cả thế giới có khoảng 1250 loài tre trúc của 75 chi, phân bố ở khắp các châu lục, trừ Châu

Âu Châu Á đặc biệt phong phú về số lượng và chủng loại tre trúc với khoảng 900 loài

của khoảng 65 chi (Rao and Rao, 1995; 1999) (Trích: Báo cáo tóm tắt kết quả các

nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 5/2008)

Trung Quốc là quốc gia rất giầu tiềm năng về tre Riêng về tre cho măng ăn

được có trên 50 loài, nhưng chủ yếu có 30 loài chính như: Phyllostachys edulis, Ph

praecox, Ph vivax, Ph iridenscens, Dendrocalamus latiflorus, D oldhamii, D giganteus, D beecheynus var pubescens, Diện tích trồng tre chuyên măng có

khoảng 100.000 ha với năng suất trung bình từ 10 đến 20 tấn/ha.năm Năng suất măng ở một số diện tích có thể lên đến 30-35 tấn/ha.năm Trung Quốc có khoảng trên 3 triệu ha tre để sản xuất thân tre kết hợp với thu hoạch măng

Thái Lan cũng là nước sản xuất măng lớn trên Thế giới Một số loài cho

măng như: Dendrocalamus asper (Pai Tong), D brandisii (Pai Bongyai), D

strictus (Pai sang doi), Bambltsa blumenana (Pai Seesuk), Thyrsostachys siamensis

Trang 20

(Pai Ruak), T oliveni (Pai Ruakdum) và Gigantochloa albociliata (Pai Rai) Trong

số đó, loài D asper là loài chủ lực trồng để sản xuất măng Năm 1994, D asper

được trồng ở 67 trong tổng số 76 tỉnh, với diện tích 424.169 ha Trong giai đoạn

1996 đến 1997, Thái Lan đã xuất khẩu măng D asper với tổng giá trị, trên nghìn

triệu bath

Đài Loan có ít nhất 9000 ha tre D latiflorus và xuất khẩu hàng năm trên

40.000 tấn măng Nhật Bản, Việt Nam, Ấn Độ, Myanma, Úc và một vài nước khác

cũng là những nước đã và đang đẩy mạnh việc phát triển tre lấy măng đáp ứng nhu

cầu trong nước và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu

Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và Singapore

là những nước tiêu thụ lớn về măng tươi, măng ướp lạnh, măng muối Sản phẩm măng

hộp hầu như có mặt trên khắp thị trường thế giới Riêng một tỉnh ở Thái Lan chế biến

khoảng 68.000 tấn măng mỗi năm và xuất khẩu trên 40.000 tấn/năm Nhật Bản tung ra

thị trường khoảng 90.000 tấn măng Moso và nhập khẩu khoảng 100.000 tấn măng từ

Thái Lan, Đài Loan và Trung Quốc Đài Loan hàng năm xuất sang Nhật Bản khoảng

40.000 tấn măng Dendrocalamus latiflorus Trung Quốc xuất khẩu khoảng 140.000

tấn măng D latiflonus và lượng lớn măng Moso (Victor cusack, 1977)

Như vậy, sản phẩm măng tre ngày nay được rất nhiều nước trên thế giới biết

đến Nhiều quốc gia đã và đang đầu tư mạnh vào việc gây trồng, kinh doanh măng

tre để tạo ra hàng hoá đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu

Bảng 2.1: Diện tích và số lượng loài tre trúc ở một số quốc gia trên thế giới

(theo Chu Phương Thuần, 1998)

Tên nước

hoặc vùng

Diện tích (1 triệu ha) Số chi

Số loài (gồm cả thứ, dạng) Trung Quốc 7,000 50 500

Myanma 2,170 90

Băngladet 0,600 13 30

Trang 21

2.4.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất măng tre trong nước

Nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam đã được bắt đầu từ khá lâu Có thể nói công

trình đầu tiên nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam thuộc về một người Pháp trong ấn

phẩm nghiên cứu về thực vật chí Đông Dương (Le Comte, 1923) Trong những năm

1960, Phạm Quang Độ đã nghiên cứu về kỹ thuật trồng và khai thác tre trúc ở Việt

Nam (Phạm Quang Độ, 1963) Cũng thời gian này, các nghiên cứu về phân loại, kỹ

thuật nhân giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng tre trúc, kỹ thuật chế biến và

bảo quản tre trúc cũng được thực hiện Tuy nhiên, các nghiên cứu về tre trúc của Việt

Nam còn khá lẻ tẻ và tản mạn ở nhiều cơ sở trên cả nước

Là đất nước nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa Châu Á và chịu ảnh hưởng rất lớn từ

3 luồng thực vật di cư: hệ thực vật Himalaya – Quảng Châu – Vân Nam ở phía bắc, hệ

thực vật Ấn Độ - Mianma – Thái Lan ở phía tây, và hệ thực vật Indonexia và Malaixia

ở phía nam, Việt Nam có một hệ thực vật rất phong phú và đa dạng (Lê Chấn Đông và

Trang 22

cộng sự, 1999, Vũ Tá Lập, 1999) Những nghiên cứu gần đây cho thấy số lượng loài tre trúc phân bố ở Việt Nam lớn hơn rất nhiều Theo Vũ Văn Dũng và Lê Viết Lâm (2005) thì Việt Nam có trên 140 loài của 29 chi và có thể tìm thấy các loài mới Cũng cùng năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa đã rà soát các kết quả nghiên cứu về phân loại tre trúc ở Việt Nam kết hợp với một số nghiên cứu, khảo sát ở thực địa đã đưa ra danh sách của 216 loài thuộc 25 chi tre trúc phân bố tự nhiên ở Việt Nam

Diện tích rừng tre trúc của Việt Nam cũng rất lớn Theo Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2007), tính tới năm 2001, tổng diện tích rừng tre trúc của Việt Nam

có khoảng 1.489.000 ha, trong đó 1.415.500 ha là rừng tự nhiên (thuần loài hoặc hỗn loài), và khoảng 73.500 ha là rừng trồng tre trúc Tính tới tháng 12/2004, thì tổng diện tích rừng tre trúc của Việt Nam là 1.563.253 ha, trong đó:

 Diện tích rừng tre trúc tự nhiên thuần loài: 799.130 ha

 Diện tích rừng tre trúc tự nhiên pha gỗ: 682.642 ha

 Diện tích rừng tre trúc trồng (chủ yếu là rừng luồng): 81.484 ha

(Trích: Báo cáo tóm tắt kết quả các nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam, Viện

Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 5/2008)

Bảng 2.2 Hiện trạng tre trúc Việt Nam tính tới tháng 12/2004 (Nguyễn Ngọc

Bình và Phạm Đức Tuấn, 2007)

Các loại

rừng tre trúc Diện tích (ha) Rừng đặc chủng

Rừng phòng hộ Rừng sản xuất

Trang 23

Tình hình sản xuất măng tre ở nước ta chưa được phổ biến, vẫn còn mang tính

tự phát

Trong những năm vừa qua, Lục Trúc bắt đầu được trồng ở một số địa phương như Ba Vì (Hà Tây), Bắc Giang, Phú Thọ, Long Thành (Đồng Nai), Hooc Môn (Tp.HCM), Tân Lập (Bình Phước), nhưng diện tích vẫn còn hạn chế, chủ yếu là trồng thử nghiệm và nhân giống

Theo kết quả tổng kiểm kê rừng toàn quốc (năm 2001) có 1.492.000 ha và phân

bố chủ yếu ở các Tỉnh KonTum, Lâm Đồng, Thanh Hóa, Nghệ An, Đăklăk Theo Phạm Hoàng Hộ (1999), Việt Nam đã thống kê được 23 chi với 121 loài tre trúc Đa phần các loài tre trúc ở Việt Nam là những loài có thân khí sinh mọc cụm, một số ít loài có thân mọc tản chỉ một số tỉnh Miền Bắc như trúc sào, trúc cần câu phần lớn là

loài gây trồng (Trích: Ngô Quang Đê (chủ biên) và Lê Xuân Trường, Tre Trúc gây

trồng và sử dụng, 2003)

2.4.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ măng tre ở Gia Lai

Cây tre lấy măng đang “bén duyên” rất nhanh ở Tây Nguyên nhờ nó không đòi hỏi kỹ thuật cao, dễ sống, phù hợp với nhiều loại đất, chịu được thời tiết khắc nghiệt

và trồng một lần mà cho thu hoạch liên tục trong nhiều năm Tại Gia Lai, J’rai trong mấy năm qua cũng đã mạnh dạn đưa các loại tre lấy măng giống mới của Trung Quốc như: Bát Độ, Lục Trúc, Điền Trúc, Mạnh Tông vào trồng thử nghiệm, ban đầu chỉ vài chục gốc thì nay dần dần đã mở rộng lên tới 1 đến 2 ha mỗi hộ cho sản lượng 20 – 30 tấn/ha

Măng là loại sản phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao, rất được thị trường các nước Đông Âu và Tây Âu quan tâm

Ngoài hiệu quả kinh tế cao, cây tre còn bảo vệ đất, chống xói mòn, chắn gió, hạn chế dòng chảy, hạn chế tác hại của lũ quét, cải thiện môi trường và phủ xanh đất trống, đồi núi trọc Thân tre từ 3 đến 5 tuổi còn dùng làm nguyên liệu phục vụ chế biến giấy, vật liệu xây dựng, mỹ nghệ, ván ép, làm tăm, làm đũa

Có thể nói: Việc trồng tre nhập nội chuyên măng ở nước ta hiện nay đang trên đà phát triển mạnh và rộng khắp Tre nhập nội đang được coi là một trong những đối tượng chính cần phát triển và phù hợp với mục đích của nhiều dự án,

Trang 24

chương trình là nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

ở nước ta

Theo con số thống kê ban đầu của Cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT, đến năm 2003 chương trình khuyến lâm đã đầu tư trồng khoảng gần 1.500 ha, chia ra cho trên 3.000 hộ dân

Công ty đầu tư xuất nhập khẩu Nông lâm sản chế biến thuộc Tổng công ty rau quả, nông sản từ 2001 đến 2003 đã cung cấp 191.000 cây giống cho 28 Trung tâm khuyến nông - khuyến lâm của một số tỉnh để trồng trên tổng diện tích khoảng 2.700 ha

Tổng diện tích trồng tre nhập nội lấy măng ở nước ta trên thực tế cao hơn con số thống kê được Bên cạnh các chương trình, dự án trồng tre lấy măng của Nhà nước còn có thêm một số dự án của nước ngoài cũng đầu tư cho phát triển tre măng Một số địa phương và thậm chí nhiều cá nhân cũng đã tự bỏ vốn đầu tư để

mở rộng thêm diện tích trồng tre lấy măng (Bùi Chính Nghĩa, 2004)

Cây tre lấy măng hiện không chỉ là cây giúp bà con nông dân ở ĐăkĐoa xóa đói gảm nghèo mà đang mang đầy hy vọng sẽ vươn lên làm giàu từ cây tre Vấn đề là diện tích ngày càng tăng lên, sản lượng càng ngày càng lớn nhưng thị trường tiêu thụ măng chưa nhiều, chưa được các doanh nghiệp lớn quan tâm đầu tư chế biến và xuất khẩu

Hiện măng tre tươi chủ yếu được bán cho người dân trong vùng, phục vụ bữa

ăn hàng ngày hoặc phơi khô để bán dần chứ chưa có đầu ra ổn định và lâu dài

2.4.4 Quy mô diện tích, cơ cấu giống, năng suất và sản lượng của vùng trồng tre lấy măng của huyện ĐăkĐoa

2.4.4.1 Hiện trạng sản xuất măng tre tại huyện ĐăkĐoa

Qua thực trạng phát triển cây tre lấy măng của huyện ĐăkĐoa trong những năm trước cho thấy

- Về diện tích: Năm 2006 cây tre bắt đầu được trồng thí điểm tại huyện ĐăkĐoa diện tích trồng tre bước đầu chỉ là vài ngàn m2 Nhưng đến năm 2008 diện tích tre đã tăng lên nhưng chưa đáng kể

- Về năng suất: Năng suất tre trong vùng vẫn còn thấp, năm 2006 tuy diện tích tre cao nhất nhưng năng suất tre lại thấp nhất chỉ đạt 10 tấn/ha là do nông dân chưa áp

Trang 25

dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất tre ở các năm 2009 - 2010 năng suất tre dần ổn

định

- Về sản lượng: Sản lượng tre dần dần tăng lên

Nguồn gốc các giống tre đa số các giống được trồng trên địa bàn do trạm

khuyến nông cung cấp cho các hộ hoặc do các hộ nông dân tự để giống từ những vụ

trước thu hoạch để giống cho vụ sau, dẫn đến năng suất thu hoạch không cao

(Phòng Nông nghiệp huyện ĐăkĐoa, 2011)

2.4.4.2 Cơ cấu giống tre được trồng ở huyện ĐăkĐoa năm 2011

Đa số giống tre được trồng ở địa bàn huyện ĐăkĐoa là giống tre Điền Trúc do

trạm khuyến nông huyện cung cấp theo dự án Chỉ có một số hộ trồng các giống khác

như Lục Trúc, Bát Độ

2.4.4.3 Hệ thống cây trồng của huyện ĐăkĐoa năm 2011

Bảng 2.3 Cơ cấu cây trồng của huyện ĐăkĐoa năm 2011

Trang 26

- Cây hằng năm khác 10 0.009

(Phòng Nông nghiệp huyện ĐăkĐoa, 2011)

Theo kết quả của phòng Nông nghiệp của huyện diện tích cây lâu năm của

huyện chiếm 20,90 % tổng diện tích gieo trồng Trong đó, tỷ lệ cây công nghiệp lâu

năm chiếm khá cao, đặc biệt là cây cà phê và cao su chiếm 20,24 % tổng diện tích; thứ

ba là cây lương thực có hạt chiếm 6,92 % so với tổng diện tích gieo trồng, ĐăkĐoa

còn là vùng trồng các loại cây chất bột có củ như sắn chiếm 4,36 % tổng diện tích gieo

trồng

Trang 27

2.5 Nghiên cứu về tình hình cỏ dại ở cây tre

2.5.1 Tình hình cỏ dại

2.5.1.1 Cỏ chỉ (Cynodon dactylon (L) Pers)

Mô tả: Loại cỏ lưu niên, thân rễ bò dài ở gốc, thẳng đứng ở ngọn, cứng Lá phẳng, hẹp, nhọn đầu, màu lục vàng, mềm, nhẵn, mép hơi ráp, cụm hoa gồm 2 - 5 bông xếp hình ngọn, đơn, mảnh

2.5.1.2 Cây Trinh Nữ Móc (Mimosa invisa Mart Ex Colla.)

Mô tả: Cây nhỏ, thân có gai hình mọc, lá xẻ lông chim 2 lần, phát hoa mọc ở nách lá, hoa tím đỏ, tụ thành hình đầu Quả giáp dài, hẹp lại ở phần giữa các hạt, có lông cứng ở mép

2.5.1.3 Cây Cứt Lợn (Ageratum conyzoides L.)

Mô tả: Cây cao 120cm, thân thảo nhiều lông, phân nhiều cành, sống hàng năm,

lá mọc đối, hoa hình đầu, nhỏ, tím hay trắng mỗi hoa có cuống riêng lẽ hình ống

2.5.1.4 Cỏ Kim Thất (Tàu Bay) (Crassocephalum crepidioides (Benth) S Moore

Mô tả: Thân mọng nước, mềm có gân, ở đỉnh có lông, phía dưới không có lông, các cành tược mọc dày đặc, lá xếp theo hình xoắn ốc có phiến thon dài, nhọn 2 đầu bìa

có răng cưa không đều Hoa ở chót nhánh nhiều hoa, dễ bay phát tán nhờ gió

Trang 28

2.6 Khái quát về đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu

2.6.1 Vị trí địa lý

Hình 2.1: Bản đồ vị trí địa lý huyện ĐăkĐoa

(Nguồn: Đề án ứng dụng KHCN vào sản xuất rau an toàn theo hướng Việt GAP

- Phía Bắc giáp huyện Chư Păh và Tỉnh KonTum

- Phía Nam giáp huyện Mang Yang và huyện Chư Sê

- Phía Đông giáp huyện Mang Yang và huyện Kbang

- Phía Tây giáp thành phố Pleiku và huyện Chư Pah

Trang 29

Với vị trí nằm trên trục quốc lộ 19 nối liền thành phố Pleiku và các tỉnh Tây nguyên với các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ, trục tỉnh lộ 670 nối quốc lộ 19 với tỉnh KonTum huyện có lợi thế trong giao lưu kinh tế và hội đủ điều kiện phát triển thành điểm phân phối, lưu thông hàng hóa đầu mối kinh tế của các tỉnh Tây nguyên với các tỉnh Duyên hải Nam trung bộ, đồng thời có vị trí rất quan trọng trong việc giữ vững an ninh quốc phòng của tỉnh Gia Lai và khu vực Tây nguyên

2.6.2 Đất đai - địa hình

Địa hình: Huyện ĐăkĐoa nằm ở

sườn Đông Trường Sơn, địa hình rất đa

dạng có xu thế thấp dần từ Bắc xuống

Nam và Đông sang Tây Vùng cao nhất

nằm ở phía Đông – Bắc huyện, vùng

thấp nhất nằm ở phía Tây – Nam huyện

Đất đai thổ nhưỡng trên địa bàn huyện

ĐăkĐoa được hình thành với 12 loại đất,

Fer al i t nâu tím Fer al i t nâu đỏ Fer al i t đỏ vàng Đất Thung l ũng

Hình 2.2: Cơ cấu các loại đất ở ĐăkĐoa

- Nhóm đất Feralit nâu tím phát triển trên nền đá macma Bazơ và trung tính (Ft) diện tích 19.368,04 ha chiếm 25,41% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Đăk Sơmei, Hà Bầu, Nam Yang, Kon Gang, H’Neng, Tân Bình, K’Dang, G’Lar, Ia Pết, Ia Băng, xã Trang và Thị Trấn ĐăkĐoa Đất có độ phì cao phù hợp cho trồng cây công nghiệp lâu năm

- Nhóm đất Feralit nâu đỏ phát triển trên nền đá macma Bazơ và trung tính (Fk) còn gọi là đất Basalt diện tích 26.959,28 ha chiếm 32,31% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Đăk Sơmei, Hà Bầu, Nam Yang, Kon Gang, H’Neng, Tân Bình, K’Dang, G’Lar, Ia Pết, Ia Băng, xã Trang và Hải Yang Đất có phản ứng chua có pH

từ 4,0 – 4,5, hàm lượng mùn 3 – 5% ở tầng mặt, các chất đạm, lân, kali dễ tiêu nghèo, thành phần cơ giới thường là sét, đất tơi xốp, độ thoáng khí lớn

- Nhóm đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá macma acid (Fa), diện tích

27.413,37ha chiếm 32,77% diện tích tự nhiên toàn huyện Phân ở các xã Hà Bầu, Hà

Trang 30

Đông, Kon Gang, K’Dang, Hải Yang và Đăk Sơmei Đất chua có pH từ 3,8 – 5 Hàm lượng mùn từ nghèo đến trung bình 1 – 2%, tổng số các chất đạm, lân, kali nghèo, hàm lượng các Cation trao đổi thấp, phần lớn diện tích này là đất rừng

- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D) diện tích 5.439,24 ha chiếm 9,51% tổng diện tích tự nhiên phân bố chủ yếu ở xã Trang, Tân Bình, K’Dang Đất chua có pH 4 – 4,5 hàm lượng mùn trên tầng đất mặt khá cao

Về cơ cấu đất đai: Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện sơ bộ năm 2011 là

98866,03 ha, hiện trạng sử dụng đất

đai cho thấy:

- Diện tích đất sản xuất nông

nghiệp: 52909,95ha chiếm 53,5%

- Diện tích đất lâm nghiệp:

Đất Nông nghiệp Đất Lâm nghiệp Đất chuyên dùng Đất nhà ở Đất chưa sử dụng

Hình 2.3: Cơ cấu đất đai ĐăkĐoa

- Diện tích đất chưa sử dụng: 14917,09 ha chiếm 15,08% Điều kiện đất đai trên toàn huyện ĐăkĐoa rất đa dạng và phong phú, tầng đất mặt dày, đất đai màu mỡ, độ phì cao phù hợp cho các loại cây trồng phát triển đặc biệt là cây công nghiệp

2.6.3 Khí hậu, nguồn nước

Khí hậu: Theo tài liệu trạm Khí tượng Pleiku cho thấy khí hậu huyện ĐăkĐoa

có đặc điểm chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa Cao Nguyên, được chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80 – 90% lượng mưa

cả năm, chủ yếu tập trung vào các tháng 7, tháng 8 và tháng 9 Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, đặc điểm nổi bật của mùa khô kéo dài trong 6 tháng hầu như không có mưa hoặc mưa rất ít nên ẩm độ không khí giảm, lượng nước bốc hơi lớn gây khô hạn nghiêm trọng Nhiệt độ trung bình năm là: 21,50C, nhiệt độ trung bình

Trang 31

tháng lạnh nhất là: 18,20C Có hai hướng gió thịnh hành là Đông - Bắc và Tây - Nam, tốc độ gió trung bình 3 – 5m/s, lớn nhất là 20m/s Mùa mưa thường bị ảnh hưởng áp

thấp nhiệt đới và bão ở các tỉnh Duyên Hải Miền Trung gây nên những cơn mưa lớn

kéo dài

Nguồn nước: ĐăkĐoa có hệ thống sông suối khá dày đặc với độ trên 814

km/1.000 ha, gồm hai hệ thống sông suối chính: Hệ thống sông Ia Kron và hệ suối

Đăk Pơkêi Với hệ thống sông suối lớn đã đem lại nguồn nước dồi dào để tưới cho các loại cây trồng trên địa bàn toàn huyện trong mùa khô

Một số thông số khí hậu thời tiết tỉnh Gia Lai cũng như huyện ĐăkĐoa được

thể hiện ở bảng 2.3 gồm: số giờ nắng, nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ

Bảng 2.4 Trung bình của một số thông số khí hậu - thời tiết tỉnh huyện ĐăkĐoa

Tháng Số giờ nắng TB (giờ) Nhiệt độ TB (oC) Lượng mưa TB (mm) Ẩm độ TB (%)

Trang 32

Nhiệt độ trung bình của ĐăkĐoa là 21,5oC Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất (tháng 5; 23,8oC) với tháng thấp nhất (tháng 1; 18,2oC) là 5,6oC Nhìn chung nhiệt độ của huyện ĐăkĐoa tương đối ổn định

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 Lượng mưa dồi dào, phân bố khá đều trong mùa mưa Sự chênh lệch lượng mưa giữa các năm là khá lớn, đặc biệt là tháng 5 với độ lệch chuẩn lên tới 377,1 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau do vậy người dân gặp nhiều khó khăn về nước tưới tuy nhiên mùa khô kéo dài mang lại thuận lợi cho việc thu hoạch và phơi phóng, kích thích phân hóa mầm hoa cà phê

Ẩm độ không khí tương đối cao, ẩm độ trung bình năm 84% thích hợp cho sinh trưởng và phát triển cây cà phê Ẩm độ trung bình của các tháng có sự chênh lệch không đáng kể Các tháng 1, 2, 3, 4 ẩm độ thấp hơn yêu cầu của cây cà phê nhưng lại phù hợp với giai đoạn hạn, giúp cà phê phân hóa mầm hoa tốt và ra hoa tập trung

Nhìn chung điều kiện khí hậu thời tiết ở huyện ĐăkĐoa tỉnh Gia Lai rất phù hợp cho cây cà phê phát triển và sinh trưởng Bên cạnh đó mùa khô kéo dài gây không

ít khó khăn trong việc đảm bảo nước tưới cho cây cà phê vào mùa khô

2.6.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên

Thuận lợi: Huyện ĐăkĐoa giàu tiềm năng về đất đai, đặc biệt là đất đỏ basalt chiếm phần lớn đất đai trong vùng, loại đất này rất thích hợp cho các loại cây trồng công nghiệp và cây ăn quả phát triển đặc biệt là cây cà phê, hồ tiêu, cao su

Mạng lưới sông suối khá đều, có nhiều vị trí xây dựng hồ, đập thủy lợi đáp ứng

đủ yêu cầu nguồn nước phục vụ các ngành kinh tế trong huyện

Với nền nhiệt độ thích hợp, không có sương muối, cường độ gió nhỏ đặc biệt ít chịu ảnh hưởng của gió bão

Đây là vùng đất có đủ điều kiện để phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng cây trồng vật nuôi cho sản phẩm có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn sau:

Khó khăn: Do ở đầu lưu vực suối Đăk Pơkei và suối Ia Krom nên địa hình bị chia cắt mạnh dẫn đến đất đai dễ bị xói mòn, rữa trôi nên cần chú trọng các biện pháp canh tác thích hợp cho đất đồi cũng như chú trọng việc khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng đầu nguồn phong hộ bằng các băng rừng, đai rừng cần đẩy mạnh mô hình nông lâm kết hợp

Trang 33

Một khó khăn lớn cho ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện ĐăkĐoa là do có

6 tháng khô hạn liên tục đã ảnh hưởng tới mùa vụ gieo trồng trong năm Do khó khăn này mà huyện ĐăkĐoa phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp được gieo trồng chủ yếu vào mùa mưa Đặc biệt thời gian thu hoạch của các loại cây trồng rơi chủ yếu vào mùa mưa nên khâu sơ chế sau thu hoạch bị ảnh hưởng lớn làm giảm chất lượng sản phẩm và hao hụt sản lượng

Do lượng dòng chảy phân bố không đồng đều trong năm với 6 tháng khô hạn kéo dài làm cho dòng chảy mùa này chỉ đạt khoảng 20 % lượng dòng chảy cả năm còn

6 tháng mùa mưa lượng dòng chảy đạt tới 80 % lượng dòng chảy cả năm đã gây bất lợi lớn đến mùa màng sản xuất nông nghiệp Vì vậy công tác phát triển thủy lợi nhằm điều hòa và phân phối nguồn nước trong năm là rất cần thiết, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu dùng nước cho các ngành, nhất là ngành nông nghiệp

2.6.5 Điều kiện kinh tế - xã hội

Huyện ĐăkĐoa có 17 đơn vị hành chính (16 xã và 1 thị trấn) Hệ thống giao thông thuận lợi đến trung tâm xã, thị trấn Điện lưới quốc gia đã đến được 100% trung tâm xã, 96,5% số thôn làng đã có điện Phổ cập giáo dục trung học cơ sở các xã đều đạt chuẩn, đội ngũ giáo viên đã từng bước được chuẩn hóa, công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng được sự quan tâm Lao động ở nông thôn tiếp tục phát triển theo hướng đa ngành nghề, đến năm 2010 số lao động qua đào tạo trên địa bàn huyện 24% trên tổng

số 53.153 lao động đang làm việc trên toàn huyện Tuy nhiên, số lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao 87,5% tổng số lao động đang làm việc Tỷ lệ hộ nghèo của huyện năm 2009 là 15,49% (theo tiêu chí cũ), tỷ lệ

hộ nghèo năm 2010 là 34,47% (theo tiêu chí mới)

Thu nhập bình quân đầu người/năm đạt 12,8 triệu đồng tăng 7,1 triệu đồng so với năm 2005 Có 16/16 xã có trạm y tế xã, đạt 100%; trong đó có 09/16 trạm đã được công nhận đạt chuẩn, tỷ lệ đạt 56%; có 03 trạm đang đề nghị công nhận đạt chuẩn trong năm 2011 Về y tế: đội ngũ cán bộ y tế trong trong toàn huyện có 159 người, trong đó có 25 bác sỹ; có 11 trạm y tế xã có bác sĩ, đạt 69%; 13 xã có nữ hộ sinh, 100% thôn bản có nhân viên y tế; có 100% số trạm y tế xã có tủ thuốc và y dụng thiết yếu phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân; có 100% trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vácxin

Trang 34

Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm đạt 71% Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế tuyến huyện và xã được tập trung đầu tư cơ bản Công tác khám chữa bệnh cho nhân dân ở các cơ sở y tế ngày càng tốt hơn Tuy nhiên, để cũng cố và nâng cấp đạt chuẩn, công tác y tế xã và các trạm y tế phải được tiếp tục đầu tư cả con người và

cơ sở vật chất (nhà chính của trạm y tế xã còn là nhà cấp IV, trang thiết bị còn thiếu, thiếu bác sĩ) để phục vụ khám, chữa bệnh tốt hơn nữa cho nhân dân

Toàn huyện ĐăkĐoa có 23.775 hộ, 103923 người trong đó:

dt kinh jalai bana khac

Hình 2.4: Cơ cấu dân số huyện ĐăkĐoa

Đồng bào Kinh sống tập trung ở thị trấn và các tụ điểm dân cư dọc theo Quốc lộ

19, tỉnh lộ 670 và 670B Phần lớn lao động làm nông nghiệp, chủ yếu trồng cà phê, tiêu, làm công nhân trong các nông trường cao su, chăn nuôi và kết hợp buôn bán, đời sống kinh tế tương đối khá cao Các buôn làng người đồng bào dân tộc thường ở xa đường giao thông, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu Phần lớn các hộ đồng bào dân tộc trồng các cây ngắn ngày để tự cung tự cấp như lúa ruộng, bắp, sắn, bầu bí và rau các loại, diện tích trồng cà phê, tiêu

không đáng kể

Giai đoạn 2006-2010, kinh tế huyện tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, bình quân đạt 32,18%/năm Đến năm 2010, giá trị sản xuất trên địa bàn huyện đạt 3.188 tỷ đồng, tăng gấp 4,03 lần so với năm 2005 Chuyển dịch cơ cấu đúng hướng, tốc độ nhanh giá trị sản xuất nông lâm nghiệp đã giảm từ 70,77% (năm 2005) xuống

Trang 35

còn 54,42% (năm 2010), công nghiệp – xây dựng tăng từ 21,77% (năm 2005) lên

24,5% (năm 2010), thương mại – dịch vụ tăng từ 7,47% (năm 2005) lên 21,08% (năm

2010) Trong nội bộ từng ngành, từng lĩnh vực cũng có nhiều chuyển biến tích cực

nông lâm nghiệp tiếp tục tăng nhanh cả về quy mô và chất lượng tăng trưởng năm

2010, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp theo giá hiện hành đạt 1.735 tỷ đồng, tăng gấp

3,1 lần so với năm 2005

Phổ cập giáo dục trung học cơ sở các xã đều đạt chuẩn, đội ngũ giáo viên đã

từng bước được chuẩn hóa, công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng được sự quan tâm Lao

động ở nông thôn tiếp tục phát triển theo hướng đa ngành nghề, đến năm 2010 số lao

động qua đào tạo trên địa bàn huyện 24% trên tổng số 53.153 lao động đang làm việc

trên toàn huyện Tuy nhiên, số lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư

nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao 87,5% tổng số lao động đang làm việc Tỷ lệ hộ nghèo của

huyện năm 2009 là 15,49% (theo tiêu chí cũ), tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 là 34,47%

(theo tiêu chí mới) Thu nhập bình quân đầu người/năm đạt 12,8 triệu đồng tăng 7,1

triệu đồng so với năm 2005 (Phòng Nông nghiệp huyện ĐăkĐoa, 2011)

2.7 Dân số và lao động tại huyện ĐăkĐoa năm 2011

Bảng 2.5: Tình hình dân số tại huyện ĐăkĐoa năm 2011

Tổng số hộ (hộ) 23.775 Tổng dân số (người) 103.923 Mật độ (người/km2)

- Thành thị

- Nông thôn

1.701,50 95,26

(Phòng Nông nghiệp huyện ĐăkĐoa, 2011)

Tổng số hộ trên địa bàn huyện ĐăkĐoa là 23.775 hộ với 102.769 nhân khẩu,

vậy trung bình có khoảng 4 người/hộ Sự phân bố dân cư không đồng đều, mật độ là

1.701,50 người/km2 đối với thành thị; 95,26 người/km2 đối với nông thôn

Đa số dân cư tập trung ở trục quốc lộ chính để thuận lợi cho việc làm ăn, kinh

doanh, một số hộ định cư trong rẫy để canh tác Đến năm 2009, số hộ nghèo của huyện

Trang 36

là 255 hộ, chiếm 1,07 % tổng số hộ; tỷ lệ tăng dân số chỉ còn 1,21 % Theo kế hoạch của UBND huyện thì đến cuối năm 2009, dân số huyện là 99.198 người

Bảng 2.6: Tình hình dân số lao động các xã, phường năm 2011

Các hộ trong vùng Số trực tiếp trồng tre

Xã, phường

Số hộ (hộ)

Số khẩu (người)

Lao động (Lđ)

Số hộ (hộ)

Số khẩu (người

Lao động (Lđ)

Trang 37

Xét trên phương diện những xã, phường trồng tre, có xã Kon Gang, Hải Yang là

2 xã có số hộ trồng tre cao nhất trong vùng Xã Kon Gang chiếm 20,49 % tổng số hộ

của xã, Hải Yang chiếm 13,93 % tổng số hộ của xã Lao động trong vùng nguyên liệu

khá cao, chiếm 1/2 tổng dân số của vùng

Hiện nay, tổng diện tích tre của huyện là 18 ha Vì thế việc quy hoạch, khai

thác có định hướng như mở rộng thêm diện tích đất trồng, tăng cường thâm canh trong

trồng trọt, thường xuyên cải tạo đất đai cho sản xuất nông nghiệp, thay đổi cơ cấu cây

trồng, cơ cấu mùa vụ một cách hợp lý là một trong những biện pháp hữu hiệu để tăng

năng suất cây trồng, hạn chế xói mòn, hạn chế dịch hại tồn dư trên cây kí chủ trên

đồng ruộng

2.7.1 Dân tộc và tôn giáo tại huyện ĐăkĐoa năm 2011

Bảng 2.7: Tình hình tôn giáo ở huyện ĐăkĐoa năm 2011

Dân tộc Số hộ (hộ) Cơ cấu (%) Số người Cơ cấu (%)

(Phòng Nông nghiệp huyện ĐăkĐoa, 2011)

Trong cơ cấu dân tộc của vùng khá đa dạng với 6 dân tộc anh em, người Kinh

chiếm đa số, các dân tộc khác ít hơn nhưng lại được ưu tiên về văn hóa đời sống cũng

như xã hội, đặc biệt là các em nhỏ người đồng bào đều được cấp sách vở, miễn giảm

học phí để động viên các em tới trường; về y tế, thuế, lãi suất cho vay cũng được miễn

giảm

2.7.2 Cơ cấu tôn giáo

Phật giáo: 18.963 người; Thiên chúa giáo: 24.465 người; Tin lành: 668 người;

Cao đài: 924 người; Không tôn giáo: 22.965 người

Trang 38

Trong năm 2009,

UBND huyện đã thống kê

được các tôn giáo đang hoạt

động ở huyện Chiếm đa số

công dân là không theo tôn

giáo nào, thứ hai là Thiên

chúa giáo với 36 % tổng dân

Phật Giáo Thiên Chúa Giáo Tin Lành Cao Đài Không

Hình 2.5: Cơ cấu tôn giáo ở huyện ĐăkĐoa 2.8 Nhận xét chung về điều kiện kinh tế - xã hội của huyện ĐăkĐoa

Thuận lợi: 2007 - 2010 huyện đã được UBND tỉnh quan tâm, đầu tư nhiều hơn

về tài chính Bằng cách giao đề án mới cho lãnh đạo, nhà nước hỗ trợ vốn, lãnh đạo hướng dẫn, bàn giao nhân dân thực hiện

Cây tre là cây trồng cạn thích hợp với các huyện phía Đông tỉnh Gia Lai Trong

cơ cấu cây trồng tre là một trong những cây đã khẳng định hiệu quả kinh tế cao hơn so với một số cây trồng khác

Khó khăn: Huyện ĐăkĐoa là một vùng có tiềm năng về sản xuất công nghiệp, đặc biệt là canh tác cà phê, cao su và hoa màu phụ khác Nhưng chưa được đầu tư đúng mức về tài chính và đặc biệt là kỹ thuật nên hiệu quả do sản xuất mang lại vẫn chưa đúng với tiềm năng của vùng

Trong vùng chưa có các cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc tưới tiêu, hệ thống đê điều chưa đảm bảo trong mùa lũ, việc trữ nước cho mùa khô cũng hạn chế, phần lớn là

tự dân trữ nước nên lượng nước tưới cho mùa khô vẫn không đủ

Trang 39

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ ngày 13/02/2012 đến ngày 13/06/2012 tại huyện

ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai Địa bàn huyện ĐăkĐoa nằm phía Đông bắc tỉnh Gia Lai, cách

trung tâm thành phố Pleiku 15 km, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 98.866 ha, dân

số năm 2011 là 103923 người, mật độ dân số 105,51 người/km2

Nằm trong tọa độ từ :13044’18” đến 14023’18” vĩ độ bắc, từ 108000’10” đến

108028’02” kinh độ đông Với vị trí nằm trên trục quốc lộ 19 nối liền thành phố Pleiku

và các tỉnh Tây nguyên với các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ, trục tỉnh lộ 670 nối quốc lộ 19 với tỉnh KonTum huyện có lợi thế trong giao lưu kinh tế và hội đủ điều kiện phát triển thành điểm phân phối, lưu thông hàng hóa đầu mối kinh tế của các tỉnh Tây nguyên với các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ, đồng thời có vị trí rất quan trọng trong việc giữ vững an ninh quốc phòng của tỉnh Gia Lai và khu vực Tây nguyên

3.2 Điều kiện tự nhiên địa bàn điều tra

3.2.1 Điều kiện đất đai địa hình ở huyện ĐăkĐoa

Địa hình: Huyện ĐăkĐoa nằm ở sườn Đông Trường Sơn, địa hình rất đa dạng

có xu thế thấp dần từ Bắc xuống Nam và Đông sang Tây Vùng cao nhất nằm ở phía Đông – Bắc huyện, vùng thấp nhất nằm ở phía Tây – Nam huyện

Đất đai thổ nhưỡng trên địa bàn huyện ĐăkĐoa được hình thành với 12 loại đất, trong đó đáng kể nhất là 4 loại đất:

+ Nhóm đất Feralit nâu tím phát triển trên nền đá macma Bazơ và trung tính (Ft)

Trang 40

+ Nhóm đất Feralit nâu đỏ phát triển trên nền đá macma Bazơ và trung tính (Fk)

+ Nhóm đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá macma acid (Fa)

+Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D)

Tuy nhiên, nhược điểm thường bị khô hạn và xói mòn mạnh Do đó, đây cũng

là một hạn chế về dinh dưỡng của đất ở địa bàn nghiên cứu Vì vậy, cần có biện pháp cải tạo đất như bón vôi để nâng cao pH đất, bón thêm phân hữu cơ cải tạo độ phì nhiêu cho đất, và có chế độ bón phân thích hợp mới có thể đáp ứng được những yêu cầu trồng cây công nghiệp đạt năng suất cao (Phòng Nông nghiệp huyện ĐăkĐoa, 2011)

3.2.2 Điều kiện khí hậu, thời tiết ở huyện ĐăkĐoa

Khí hậu: Theo tài liệu trạm Khí tượng Pleiku cho thấy khí hậu huyện ĐăkĐoa

có đặc điểm chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa Cao Nguyên, được chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80 – 90% lượng mưa

cả năm, chủ yếu tập trung vào các tháng 7, tháng 8 và tháng 9; mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, đặc điểm nổi bật của mùa khô kéo dài trong 6 tháng hầu như không có mưa hoặc mưa rất ít nên ẩm độ không khí giảm, lượng nước bốc hơi lớn gây khô hạn nghiêm trọng

Nhiệt độ trung bình năm là: 21,50C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là: 18,20C Có hai hướng gió thịnh hành là Đông - Bắc và Tây - Nam, tốc độ gió trung bình 3 – 5m/s, lớn nhất là 20m/s Mùa mưa thường bị ảnh hưởng áp thấp nhiệt đới và bão ở các tỉnh Duyên Hải Miền Trung gây nên những cơn mưa lớn kéo dài

Chính điều kiện khí hậu, thời tiết như vậy đã rất thuận lợi cho cỏ dại và sâu bệnh hại phát triển mạnh Do đó cần có phương hướng xây dựng hệ thống đập, hồ, kênh mương chứa nước để cung cấp cho cây khi gặp điều kiện bất lợi (Phòng Nông nghiệp huyện ĐăkĐoa, 2011)

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Điều tra về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc phát triển cây tre lấy măng huyện ĐăkĐoa, tỉnh Gia Lai

 Vị trí địa lý

 Đặc điểm địa hình

Ngày đăng: 29/05/2018, 18:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w