Nhằm mục đích tăng năng suất trên một đơn vị diện tích, giảm chi phí đầu tư, đem lại lợi nhuận tối ưu cho người sản xuất góp phần tăng thu nhập quốc dân, phục vụ cho chế biến trong nước
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài
SO SÁNH SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA 12 GIỐNG
ĐẬU XANH VỤ XUÂN HÈ 2012 TẠI XÃ LƠKU -
HUYỆN KBANG - TỈNH GIA LAI
Sinh viên thực hiện: LÊ THỊ HỒNG Ngành: Nông học
Tháng 7/2012
Trang 2Tháng 7/2012
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài này, trước hết con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng, giúp con trưởng thành và có được kết quả như ngày hôm nay
Em xin chân thành cảm ơn thầy ThS Hồ Tấn Quốc Bộ môn Di truyền – Giống, khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn chỉ dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập hoàn thành khóa luận
Trân trọng cảm ơn ThS Nguyễn Văn Chương, Phó giám đốc trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc đã giúp đỡ, chỉ dẫn em trong thời gian thực tập hoàn thành khóa luận
Thân cảm ơn các bạn bè trong và ngoài lớp DH08NHGL đã giúp đỡ, động viên tôi suốt thời gian qua
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 7 năm 2012
Sinh viên
Lê Thị Hồng
Trang 4iii
TÓM TẮT
Đề tài “So sánh sự sinh trưởng và năng suất của 12 giống đậu xanh vụ xuân
hè 2012 tại xã LơKu, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai” được tiến hành từ ngày 31/3 đến
ngày 4/6/2012 Tham gia thí nghiệm gồm 12 giống đậu xanh được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RCBD) đơn yếu tố, 3 lần lặp lại Thí nghiệm nhằm khảo sát một số đặc tính nông học, đánh giá sinh trưởng và năng suất, xác định giống tốt giới thiệu vào cơ cấu giống của vùng Kết quả đạt được như sau:
12 giống đậu xanh thí nghiệm đều có thời gian sinh trưởng trung bình từ 60 –
64 ngày Giống HL103 và giống VVC-4 có thời gian sinh trưởng dài nhất (64 ngày),
giống Cao sản (đ/c) có thời gian sinh trưởng (62 ngày)
Giống V94–208 đạt chiều cao cây cao nhất (44,62 cm) Giống Cao sản (đ/c) có chiều cao cây (40,65 cm)
Giống Cao sản (đ/c) và giống HL251 có khả năng phân cành số cấp 1 (4,6 cành) trên cây nhiều nhất
Hầu hết các giống đậu xanh tham gia thí nghiệm đều có đặc điểm hình thái giống nhau chỉ có giống V201 và giống V253 có đặc điểm màu vỏ hạt xanh nhăn khác các giống còn lại là xanh bóng
Giống HL251 có số quả/cây cao nhất (26,4 quả), giống HL103 và Cao sản (đ/c)
có số hạt chắc/quả đạt cao nhất (11,3 hạt)
Giống V253 có trọng lượng 1000 hạt nặng nhất (76,1 g) khác biệt rất có ý nghĩa
so với đối chứng Cao sản (71,3 g)
Năng suất lí thuyết của các giống biến động từ 1,85 – 3,43 tấn/ha Giống có năng suất lí thuyết cao nhất HL 251 (3,43 tấn/ha) Giống V253 có năng suất lí thuyết thấp nhất (1,85 tấn/ha)
Các giống tham gia thí nghiệm có năng suất thực thu từ 0,82 – 1,28 tấn/ha Trong đó giống HL251 có năng suất thực thu cao nhất (1,28 tấn/ha) vượt đối chứng Cao sản (1,03 tấn/ha) 20,4%
Trang 5iv
Các giống tham gia thí nghiệm có tỉ lệ sâu đục quả biến động từ 5,6 % – 12,5%, nhiễm bệnh đốm nâu ở mức độ nhẹ 0 – 1, nhiễm bệnh vàng lá ở mức độ từ 0 – 2 Tất
cả 12 giống đều chống đổ ngã tốt (cấp 1)
Trang 6v
MỤC LỤC
trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các hình và biểu đồ x
Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc và phân bố cây đậu xanh 3
2.2 Vị trí phân loại 3
2.3 Giá trị của cây đậu xanh 4
2.4 Đặc điểm thực vật học 5
2.4.1 Rễ 5
2.4.2 Thân và cành 6
2.4.3 Lá 6
2.4.4 Hoa 6
2.4.5 Quả 7
2.4.6 Hạt 7
2.5 Nhu cầu sinh thái của cây đậu xanh 7
2.5.1 Nhiệt độ 7
2.5.2 Lượng mưa 8
Trang 7vi
2.5.3 Ánh sáng 8
2.5.4 Đất đai 8
2.5.5 Yêu cầu về dinh dưỡng khoáng 8
2.6 Tình hình nghiên cứu đậu xanh trên thế giới và Việt Nam 9
2.6.1 Tình hình nghiên cứu đậu xanh trên thế giới 9
2.6.2 Tình hình nghiên cứu đậu xanh ở Việt Nam 11
2.7 Tình hình sản xuất và sử dụng đậu xanh trên thế giới và Việt Nam 12
2.7.1 Tình hình sản xuất và sử dụng đậu xanh trên thế giới 12
2.7.2 Tình hình sản xuất và sử dụng đậu xanh ở Việt Nam 13
2.8 Một số giống đậu xanh triển vọng 14
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 16
3.2 Điều kiện thời tiết đất đai khu thí nghiệm 16
3.2.1 Đặc điểm khí hậu, thời tiết trong thời gian thực hiện thí nghiệm 16
3.2.2 Đặc điểm về đất đai 17
3.3 Vật liệu thí nghiệm 17
3.3.1 Giống 17
3.3.2 Phân bón 18
3.3.3 Thuốc BVTV 18
3.4 Phương pháp thí nghiệm 18
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 18
3.4.2 Quy mô thí nghiệm 19
3.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 20
3.5.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển 20
3.5.2 Các tính trạng hình thái đặc trưng 21
3.5.3 Khả năng chống chịu đỗ ngã và sâu bệnh 21
3.5.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 22
3.6 Xử lí số liệu 22
Trang 8vii
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng 23
4.1.1 Thời gian sinh trưởng 23
4.1.2 Động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao 24
4.1.2.1 Động thái tăng trưởng chiều cao 24
4.1.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao 26
4.1.3 Động thái và tốc độ ra lá 28
4.1.3.1 Động thái ra lá của cây đậu xanh 28
4.1.3.2 Tốc độ ra lá của cây đậu xanh 29
4.1.4 Động thái và tốc độ phân cành cấp 1 của cây đậu xanh 30
4.1.4.1 Động thái phân cành cấp 1 của cây đậu xanh 30
4.1.4.2 Tốc độ phân cành của cây đậu xanh 32
4.1.5 Khả năng hình thành quả và hạt của cây đậu xanh 33
4.1.5.1 Khả năng hình thành quả của cây đậu xanh 33
4.1.5.2 Khả năng hình thành hạt của cây đậu xanh 34
4.2 Đặc điểm hình thái của cây đậu xanh 35
4.3 Khả năng chống chịu sâu bệnh và đỗ ngã 37
4.3.1 Sâu đục quả 38
4.3.2 Bệnh đốm nâu 38
4.3.3 Bệnh vàng lá 39
4.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cây đậu xanh 39
4.4.1 Các yếu tố cấu thành năng suất 39
4.4.2 Năng suất của 12 giống đậu xanh 40
4.5 Hiệu quả kinh tế của 12 giống đậu xanh 42
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC 48
Trang 9Đối chứng MungbeanYellow Mosaic Virus (Virus khảm vàng đậu xanh)
Mã hóa nghiệm thức Nghiệm thức
Ngày sau gieo Năng suất thực thu Năng suất lí thuyết Trọng lƣợng
Tỉ lệ nảy mầm
Tỉ lệ sâu hại
Trang 10ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG
trang
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu xanh của các nước trên thế giới 12
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu xanh ở Việt Nam từ 2000 - 2010 13
Bảng 3.2 Thành phần dinh dưỡng của khu đất thí nghiệm 17
Bảng 4.1 Thời gian sinh trưởng của 12 giống đậu xanh thí nghiệm 24
Bảng 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao của 12 giống đậu xanhthí nghiệm 25
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao của 12 giống đậu xanh thí nghiệm 27
Bảng 4.4 Động thái ra lá của 12 giống đậu xanh thí nghiệm 28
Bảng 4.5 Tốc độ ra lá của 12 giống đậu xanh thí nghiệm 30
Bảng 4.6 Động thái phân cành cấp 1 của 12 giống đậu xanh thí nghiệm 31
Bảng 4.7 Tốc độ phân cành cấp 1 của 12 giống đậu xanh thí nghiệm 32
Bảng 4.8 Khả năng hình thành quả của 12 giống đậu xanh thí nghiệm 33
Bảng 4.9 Khả năng hình thành quả của 12 giống đậu xanh thí nghiệm 35
Bảng 4.10 Đặc điểm hình thái của 12 giống đậu xanh thí nghiệm 36
Bảng 4.11 Khả năng chống chịu sâu bệnh của 12 giống đậu xanh thí nghiệm 37
Bảng 4.12 Các yếu tố cấu thành năng suất của12 giống đậu xanh thí nghiệm 40
Bảng 4.13 Năng suất của 12 giống đậu xanh thí nghiệm 41
Bảng 4.14 Chi phí đầu tư cho 360 m2 trồng đậu xanh thí nghiệm 42
Bảng 4.15 Lợi nhuận 1 ha đậu xanh thí nghiệm 43
Trang 11x
DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
trang
Biểu đồ 3.1 Diễn biến thời tiết trong thời gian thí nghiệm 16
Hình 3.1 Toàn cảnh khu thí nghiệm 20
Hình 4.1 Sâu đục quả 38
Hình 4.2 Bệnh đốm nâu 38
Hình 4.3 Bệnh vàng lá 39
Trang 121
Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cây đậu xanh (Vigna radiata (L.) Wilczek) là cây nông nghiệp quan trọng của
nền nông nghiệp Châu Á và nước ta Cây đậu xanh được xem là dược liệu có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, bớt sưng phù, điều hòa ngũ tạng, chữa bệnh cho con người Trồng đậu xanh không những mang lại hiệu quả về mặt kinh tế và dinh dưỡng mà còn
có tác dụng cải tạo đất vì hệ rễ của đậu xanh có nốt sần chứa vi khuẩn cố định đạm tạo phì nhiêu cho đất và chống xói mòn
Phần lớn diện tích đất ở xã LơKu, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai được sử dụng cho nông nghiệp, chủ yếu trồng các loại cây như mì, bắp, đậu xanh, mía Đất đai màu mỡ thích hợp với cây công nghiệp ngắn ngày nhưng do qua nhiều năm sản xuất đất đai dần dần bị thoái hóa, bạc màu, lượng phân chuồng và phân hữu cơ không đủ đáp ứng trên một diện tích quá lớn Vì vậy việc khuyến khích trồng cây đậu xanh tại xã là một điều cần thiết Nhưng tình hình sản xuất đậu xanh còn bị hạn chế về giống, vốn đầu tư, giá bán không ổn định Trong đó nhân tố giống chưa được quan tâm
Nhằm mục đích tăng năng suất trên một đơn vị diện tích, giảm chi phí đầu tư, đem lại lợi nhuận tối ưu cho người sản xuất góp phần tăng thu nhập quốc dân, phục vụ cho chế biến trong nước và xuất khẩu thì các việc làm không thể thiếu là chọn lọc giống mới, ứng dụng quy trình kỹ thuật tiến bộ phù hợp với từng vùng sản xuất, so sánh và đánh giá các giống để tìm ra những giống có triển vọng phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu – thời tiết của từng địa phương khác nhau
Xuất phát từ những thực tiễn trên, đề tài: “So sánh sinh trưởng và năng suất của 12 giống đậu xanh vụ xuân hè 2012 tại xã LơKu, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai”
được thực hiện
Trang 132
1.2 Mục đích và yêu cầu đề tài
1.2.1 Mục đích
- Khảo sát một số đặc tính nông học của 12 giống đậu xanh thí nghiệm
- So sánh khả năng sinh trưởng và năng suất của 12 giống đậu xanh thí nghiệm
- Xác định giống có năng suất cao, sinh trưởng tốt, ít đổ ngã, kháng sâu bệnh nhằm giới thiệu vào cơ cấu giống của vùng
Trang 143
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Nguồn gốc và phân bố cây đậu xanh
Theo Phạm Văn Thiều (2003), cây đậu xanh có nguồn gốc và phân bố như sau:
Cây đậu xanh (Mungbean, Green bean) có tên khoa học Vigna radiata (L)
Wilczek Đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Á, phân bổ chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, cây đậu xanh được trồng rộng rãi ở Ấn Độ và thung lũng sông Nin
Cây đậu xanh có khả năng thích ứng rộng, chịu hạn khá và có thể thích nghi với các vùng có điều kiện khắc nghiệt Khu vực Đông và Nam Châu Á, cây đậu xanh được trồng nhiều ở các quốc gia như: Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Miến Điện, Inđônexia, hiện nay đã được phát triển tại một số quốc gia ở vùng ôn đới, ở Châu Úc, lục địa Châu Mỹ
Ở nước ta, cây đậu xanh được trồng lâu đời ở các vùng đồng bằng, trung du và miền núi từ Bắc đến Nam Nhưng chủ yếu là trồng xen với các loại cây trồng chính như bắp, đậu phộng
Tên khoa học: Vigna radiata(L) R Wilczek
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2006) đậu xanh được chia làm 2 nhóm:
Nhóm giống địa phương: Là những giống đã được trồng từ lâu đời ở nước ta
Tên giống thường căn cứ vào màu sắc và dạng hạt Ví dụ: đậu mốc (vỏ hạt mốc), đậu
da tre (hạt màu da tre), đậu tiêu (hạt nhỏ như hạt tiêu), đậu mỡ (hạt bóng mỡ) Những
Trang 154
giống hạt mốc thường nhỏ nhưng phẩm chất ngon Hạt đậu mỡ to hơn, năng suất cao hơn đậu mốc nhưng phẩm chất kém, giá trị thương phẩm thấp Điểm nổi bật là các giống địa phương đều thuộc nhóm năng suất thấp, không chịu phân, dễ lốp đổ
Nhóm giống cải tiến: Là những giống nhập nội trong thời gian gần đây hoặc
những giống lai tạo trong nước từ các giống bố mẹ có đặc điểm nông học tốt Đặc điểm chung của nhóm giống cải tiến là sinh trưởng khoẻ, chịu phân bón và có tiềm năng năng suất cao (15 - 20 tạ/ha), phẩm chất tốt (các giống có hạt bóng mỡ cũng có chất lượng hạt cao - chất lượng hạt không phụ thuộc vào màu sắc vỏ hạt), hạt to (khối lượng 1.000 hạt đạt trên 50 g) Đặc điểm sinh trưởng quan trọng là tầng quả thường vượt trên tầng lá vì vậy dễ chăm sóc quả và dễ thu hái Trong sản xuất hiện nay, nhóm giống cải tiến đang được phổ biến nhanh với các giống như: ĐX.044, No.9, VN.93.1, T135 ĐX - 044, ĐX - 06, ĐX - 92-1, V87 - 13, HL 89 – E3 , V91 – 15 Thực tế sản xuất đậu xanh cho thấy rằng: Muốn đậu xanh trở thành cây kinh tế nhất thiết phải sử dụng các giống cải tiến trên
2.3 Giá trị của cây đậu xanh
Theo Lê Kim Phụng và Phó Thuần Hương (2010), cây đậu xanh có những giá trị sau:
Theo y học hiện đại, đậu xanh có thành phần dinh dưỡng rất cao Bên cạnh thành phần chính là protid, tinh bột, chất béo và chất xơ, đậu xanh chứa rất nhiều vitamin như vitamin E, B1, B2, B3, B6, C, tiền vitamin A, vitamin K, acid folic; và các
khoáng tố gồm Ca, Mg, K, Na, Zn, Fe, Cu
Đậu xanh còn là nguồn cung cấp chất xơ hòa tan Chất này đi qua đường tiêu hóa, lấy đi những chất béo thừa và loại bỏ khỏi cơ thể trước khi hấp thụ, nhất là cholesterol Do đó, ăn cháo đậu xanh thường xuyên giúp người béo kiềm chế sự thèm
ăn và giảm lượng chất béo nguy hiểm cho cơ thể Đồng thời đậu xanh giúp ổn định lượng đường trong máu sau bữa ăn nên rất tốt cho người bệnh tiểu đường
Các chuyên gia dinh dưỡng tại Đại học Kentucky ở Lexington (Mỹ) và là tác giả của chương trình “Magic Bean” – hạt đậu xanh kỳ diệu đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu về lợi ích của đậu xanh Kết quả ghi nhận là nếu ăn một chén cháo đậu xanh nấu chín mỗi ngày có thể hạ thấp 20% lượng cholesterol trong 3 tuần, nguy cơ
Trang 16vú chỉ bằng ½ so với phụ nữ da trắng do thường sử dụng đậu xanh trong chế độ ăn hàng ngày
Theo Đông y, đậu xanh vị ngọt, hơi tanh, tính hàn, không độc, bổ nguyên khí, thanh nhiệt mát gan, giải được trăm thứ độc, có thể làm sạch mát nước tiểu, chữa lở loét, làm sáng mắt, nhuận họng, hạ huyết áp, mát buồng mật, bổ dạ dày, hết đi tả, thích hợp với các bệnh nhân say nắng, miệng khát, người nóng, thấp nhiệt, ung nhọt, viêm tuyến má, đậu mùa, nhìn mọi vật không rõ
Đậu xanh là loại thức ăn nhiều kali, ít natri Người thường xuyên ăn đậu xanh
và chế phẩm của nó huyết áp của họ sẽ thấp Trong đậu xanh còn có thành phần hạ huyết mỡ hữu hiệu, nó còn giúp cho cơ thể phòng chống chứng xơ cứng động mạch và bệnh cao huyết áp, đồng thời có công hiệu bảo vệ gan và giải độc
Từ rễ con lại mọc ra nhiều rễ nhánh khác làm nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng để cây hấp thu
Trên rễ cây đậu xanh có nhiều nốt sần Nốt sần hình thành là do sự cộng sinh
giữa rễ cây đậu xanh với vi khuẩn Rhizobium Nốt sần bắt đầu hình thành khi cây có 2
– 3 lá thật Đầu tiên các nốt sần phát triển mạnh trên rễ cái, sau đó giảm dần và khô đi Nốt sần thường tăng nhanh về kích thước và số lượng vào thời kì cây bắt đầu ra hoa và đạt tối đa vào thời kì ra hoa rộ
Trang 17Thời kì trước khi cây có 3 lá kép thì tốc độ tăng trưởng của thân cây chậm, sau
đó mới tăng nhanh dần đến khi ra hoa rộ và đạt chiều cao tối đa lúc đã có quả chắc
Chiều cao cây từ 20 – 60 cm và phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm sóc Đường kính thân trung bình từ 8 – 12 mm và tăng trưởng tỉ lệ thuận với tăng trưởng chiều cao cây
Cây đậu xanh ít phân cành và thường phân cành muộn, trung bình có 1 – 5 cành Các cành mọc ra từ các nách lá thứ 2, 3 phát triển mạnh gọi là cành cấp I
Cũng có trường hợp không phân cành, trường hợp này thường thấy trong vụ xuân và khi mật độ cây quá dày
2.4.3 Lá
Lá đậu xanh là loại lá kép, có 3 lá chét, mọc cách
Một lá đậu xanh được gọi là hoàn chỉnh gồm có: lá kèm, cuống lá và phiến lá Sau khi cây mọc được 1 – 2 ngày thì lá sò xòe ra và sau đó khoảng 7 – 8 ngày cây mới hình thành các lá thật Cả 2 mặt lá đều có lông, gân lá nỗi rõ lên ở phía dưới mặt lá
Trên mỗi cây thường có khoảng 4 – 5 lá to nhất, lúc các lá này phát triển mạnh
Trang 182.5 Nhu cầu sinh thái của cây đậu xanh
Theo Phạm Văn Thiều (2003), Trần Thị Trường và ctv (2006) nhu cầu sinh thái của cây đậu xanh có những đặc điểm sau:
tỉ lệ nảy mầm thấp và tốc độ phát triển của cây con giảm đi đáng kể
Tốc độ sinh trưởng, sinh dưỡng và khả năng tích lũy chất khô đạt mức cao nhất
ở nhiệt độ 24 – 25 0C Những giống ở vùng nhiệt đới rất mẫm cảm với nhiệt độ thấp
Trang 19Ở hầu hết các thời kì sinh trưởng của cây đậu xanh cần độ ẩm 80%
2.5.4 Đất đai
Do đặc điểm khả năng chống hạn và úng kém của bộ rễ cây đậu xanh nên khi trồng đậu xanh cần chọn loại đất nhẹ, tơi xốp, chủ động được việc tưới tiêu, có tầng đế cày sâu, đủ ẩm có đầy đủ dinh dưỡng, độ pH từ 5,5 – 6,5
Các loại đất thịt nhẹ, cát pha, đất phù sa ven song, đất trên các nương rẫy Trung
du và miền núi phía Bắc, đất đỏ bazan, đất xám, đất cao ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long….là những loại đất thích hợp để trồng đậu xanh
2.5.5 Yêu cầu về dinh dưỡng khoáng
Đối với cây đậu xanh có 16 nguyên tố quan trọng Các nguyên tố khoáng được phân bố ở các bộ phận của cây đậu xanh như sau: ở trong thân lá N > K > Ca > P >
Mg > S, còn trong hạt là: N > K > Mg > S > Ca > Mn
Trang 209
Tuy là cây họ đậu nhưng vẫn cần được bổ sung một lượng đạm, nhất là những nơi đất xấu, vì đạm do vi khuẩn nốt sần cung cấp không đủ cho cây, chú ý nhiều ở giai đoạn đầu khi chưa có nốt sần
2.6 Tình hình nghiên cứu đậu xanh trên thế giới và Việt Nam
2.6.1 Tình hình nghiên cứu đậu xanh trên thế giới
Theo Phạm Văn Thiều (2003) và Trần Thị Trường (2006), một số kết quả nghiên cứu đậu xanh trên thế giới như sau:
Cây đậu xanh hiện nay ước tính có trên 20.000 mẫu giống Viện Nghiên cứu và Phát triển rau màu châu Á (AVRDC) có bộ giống khá phong phú và đầy đủ gồm 5108 mẫu, Bộ Nông nghiệp Mỹ có 3494 mẫu, Trường Đại học Punzab có 3000 mẫu Australia, Đài Loan, Ấn Độ, Mỹ người ta không ngừng thu thập nguồn gen cây đậu xanh ngày càng phong phú Mục tiêu hàng đầu của các chương trình thu thập và đánh giá nguồn gen là nhằm phục vụ việc tuyển chọn giống cải tiến theo hướng năng suất và chất lượng cao có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất lợi của môi trường, giảm tính nhạy cảm với quang chu kỳ và nhiệt độ
Đậu xanh là một trong những cây trồng chính được nghiên cứu của AVRDC Hằng năm ở đây đã đưa ra hàng ngàn dòng lai vào mạng lưới khảo nghiệm quốc tế và
từ đây các tổ chức nghiên cứu các nước đã chọn hàng trăm giống đưa vào mạng lưới giống quốc gia phổ biến trong sản xuất và dùng làm vật liệu trong công tác chọn giống Thái Lan là nước đã tiếp cận tốt nhất nguồn gen của AVRDC Các giống KPS1, KPS2… là những giống được tuyển chọn từ tập đoàn của AVRDC
Nhiều chương trình nghiên cứu được tiến hành tại Nhật Bản, Thái Lan và AVRDC, trong đó 497 mẫu đã được sử dụng cho việc xác định kiểu sinh trưởng, 651 mẫu cho việc đánh giá đặc điểm hạt và 590 mẫu cho việc đánh giá sự đa dạng protein
Ngày nay, các nhà chọn giống đang nghiên cứu tạo ra giống đậu xanh có thể cải thiện năng suất và tính kháng bệnh Ấn Độ có 22 trung tâm khắp cả nước nghiên cứu
về cây đậu xanh Thái Lan cũng có nhiều trung tâm và các viện chuyên tham gia nghiên cứu về cây đậu xanh
Tuy nhiên, năng suất của cây đậu xanh rất thấp, khoảng 0,6 – 0,8 tạ/ha vì chưa được đầu tư đúng mức nên gần đây nhiều nước đã chọn được giống cho năng suất bình
Trang 2110
quân 1 – 1,2 tấn/ha với các ưu điểm là hạt to, màu đẹp, thời gian sinh trưởng ngắn, chín tập trung, chống chịu một số sâu bệnh hại chính
Kết quả nghiên cứu về phương pháp bảo quản đậu xanh của AVRDC cho thấy:
Sử dụng Phostosin để xông hơi trong kho, cứ 1 viên cho 1m3 kho trong một tuần lễ, có khả năng bảo quản được vài năm mà không hề hỏng Hiện nay thì AVRDC đã tạo ra được giống đậu xanh chống mọt mà chúng ta cũng đã nhập được Có nơi lại có cách bảo quản khác như dùng Malthion Có một công trình nghiên cứu về vấn đề này ở Mỹ cho là đặc điểm của các con mọt này khi muốn đục lỗ để chui vào hạt đậu thì chúng buộc phải dùng các hạt đậu xung quanh làm điểm tựa và thời gian cần thiết để cho một con mọt đục được một lỗ hết 15 – 16 giờ Do đó họ đã đề xuất ra một phương pháp bảo quản mới theo nguyên tắc là làm mất điểm tựa của con mọt bằng cách quay hoặc lăn các thùng đựng hạt giống vài lần trong một ngày Nếu lại bỏ xen vào giữa các hạt đậu xanh một số đồ vật khác như các mẫu gỗ chẳng hạn, để tăng cường độ xáo trộn của các hạt đậu xanh khi các thùng này chuyển động thì kết quả sẽ cao hơn
Mặt khác, giá trị sinh học của đậu xanh rất quan trọng, phân đạm mà cơ thể cây đậu xanh hấp thụ và giữ lại được là 40,66% nên có tác dụng rất tốt trong cải tạo, bồi dưỡng đất vì sau khi trồng đậu xanh đất được tơi xốp và tăng được một lượng đạm khoảng 30 - 70 kg/ha
Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đậu xanh, với các tổ hợp phân bón càng đầy đủ thì các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất càng tăng Cụ thể là số quả/cây, số hạt/quả và năng suất của đậu xanh đạt được rất thấp ở công thức không được bón phân hoặc chỉ được bón N, trong khi đó công thức được bón đầy đủ NPKBMo cho các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất cao nhất Và đưa ra kết luận cây đậu xanh phản ứng mạnh với việc bón phân,
nhất là các nguyên tố vi lượng như B và Mo
Bón đầy đủ NPK làm tăng năng suất đậu xanh tương ứng là 13% và 38% so với
đối chứng Nếu bón thêm cả B và Mo đã làm tăng tương ứng 38 so với đối chứng
Về hiệu quả kinh tế của việc bón phân cho thấy, đối với cây đậu xanh, bón đầy
đủ NPK cùng với B và Mo đã cho hiệu quả cao nhất
Trang 2211
2.6.2 Tình hình nghiên cứu đậu xanh ở Việt Nam
Theo Trần Thị Trường và ctv (2006), tình hình nghiên cứu đậu xanh ở Việt Nam có những kết quả sau:
Với Việt Nam, đậu xanh đã trồng lâu đời, khắp nơi trong cả nước, nhưng bị xem là cây trồng phụ tận dụng đất đai, lao động nên năng suất rất khiêm tốn Đậu xanh chiếm diện tích khoảng 40.000 ha, năng suất trung bình 6 – 7 tạ/ha
Công tác nghiên cứu trong nước đối với cây trồng này vẫn còn hạn chế vì chưa
có những định hướng lâu dài và không phải là cây trồng trọng tâm mang tính chiến lược, nên công tác nghiên cứu về giống chủ yếu vẫn bằng con đường nhập nội, khảo sát, tuyển chọn, ứng dụng và phục tráng giống mới Đến nay, có khoảng 14 giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận chính thức và tạm thời Trong đó được ứng dụng rộng rãi ở các tỉnh phía Nam là các giống HL 89-E3, V94-
208, V91-15, V87-13 Đậu xanh được trồng nhiều ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ (vụ mùa mưa) và ở Đồng bằng sông Cửu Long hoặc trên những chân đất 2 vụ lúa (vụ Đông Xuân và Xuân Hè chủ động nước), trong đó tập trung nhiều ở An Giang
Theo Phạm Văn Thiều (2003), tình hình nghiên cứu đậu xanh ở Việt Nam có những kết quả sau:
Từ năm 1983, diện tích, năng suất và sản lượng tăng nhưng chậm và không liên tục Năng suất đậu xanh thời kỳ 1981 - 1985 là 5,5 tạ/ha, 1986 - 1991 là 5,9 tạ/ha Năm 1999 là năm có năng suất cao nhất: 8,2 tạ/ha nhờ sự chuyển đổi giống mới Năng suất đậu xanh ở các tỉnh phía Nam thường cao hơn các tỉnh phía Bắc, một số vùng ở
An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang đã đạt gần 20 tạ/ha trong vụ Đông Xuân vì có nhiều điều kiện thích hợp cho canh tác đậu xanh
Từ đó rút ra những yếu tố làm hạn chế năng suất đậu xanh là:
- Giống sử dụng là các giống cũ của địa phương không được chọn lọc
- Quan niệm là cây trồng phụ nên được mùa là tốt nếu không cũng ít quan tâm bằng cây trồng chính vì thế tất cả các khâu chọn giống, chăm sóc xới xáo, tưới nước, bảo vệ thực vật không đúng phương pháp khoa học
- Nông dân nghèo vùng sâu vùng xa còn thiếu thông tin, chưa có điều kiện tiếp cận những thành tựu về cây đậu xanh
Trang 23+ Năng suất đậu xanh còn hạn chế so với năng suất các cây trồng khác (điển hình là đậu nành) trên cùng 1 diện tích
+ Đậu xanh khá mẫn cảm với một số loại sâu bệnh nên chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật còn cao
+ Công đoạn thu hoạch còn gặp nhiều khó khăn, thường thì thu hoạch từ 2 - 4 lần, nên gặp khó khăn về công lao động (lao động nông thôn hiện nay rất khan hiếm)
+ Chưa có cơ giới hóa trong công đoạn thu hoạch đậu xanh, hiện nay công đoạn thu hoạch và tách hạt thường chỉ thực hiện thủ công, rất khó khăn cho việc trồng với diện tích lớn
2.7 Tình hình sản xuất và sử dụng đậu xanh trên thế giới và Việt Nam
2.7.1 Tình hình sản xuất và sử dụng đậu xanh trên thế giới
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu xanh của một số nước trên thế giới
Quốc gia Diện tích
(1000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Trang 242745,7 ngàn hecta và năng suất từ 6,8 – 12,1 tạ/ha
2.7.2 Tình hình sản xuất và sử dụng đậu xanh ở Việt Nam
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lƣợng đậu xanh ở Việt Nam từ năm 2000 - 2010
(1000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (1000 tấn)
Trang 2514
2.8 Một số giống đậu xanh có triển vọng
Theo Trần Thị Trường (2006) và Bùi Việt Ngữ (2010) các giống đậu xanh có triển vọng được các cơ quan nghiên cứu khoa học đã chọn lọc thuần hóa từ một số giống trong các tập đoàn nhập nội từ AVRDC, từ Philiphine… đã được so sánh khảo nghiệm, khu vực hóa ở các vùng sinh thái khác nhau, đã được bộ Nông nghiệp và Nông thôn công nhận và cho phép đưa vào sản xuất Đặc điểm chung là chúng có thời
gian sinh trương ngắn có năng suất cao hơn các giống địa phương
Giống đậu xanh 004: cây cao 45 – 50 cm, sinh trưởng khỏe, nhiều quả, chín tập
trung, thu hoạch làm 2 - 3 đợt Thời gian sinh trưởng vụ xuân 80 - 86 ngày, vụ hè 75 -
80 ngày, vụ thu 90 ngày Hạt dạng bầu dục, màu hạt xanh vàng, bóng (mỡ), trọng lượng 1.000 hạt đạt 66 -79 g Năng suất thâm canh 17 - 19 tạ/ha Khả năng chống chịu bệnh khá, ít bị bệnh đốm lá, phấn trắng, khả năng chịu nóng tốt Thích ứng rộng, trồng
được cả 3 vụ của vùng đồng bằng trung du, miền núi phía Bắc
Giống đậu xanh số 9: sinh trưởng khỏe, cây cao 48 – 55 cm, lá to, số cành cấp 1
cao Thời gian sinh trưởng từ 80 - 90 ngày, chín tập trung (thu 1 lần 60 – 65 % sản lượng), hạt màu xanh mốc, trọng lượng 1.000 hạt đạt 55 – 60 g Năng suất thâm canh đạt 16 - 18 tạ/ha Khả năng chống bệnh trung bình Thích ứng rộng, trồng được cả 3 vụ của vùng đồng bằng trung du, miền núi phía Bắc
Giống T135: Giống này có nguồn gốc từ tổ hợp lai VC768A x Vàng Hà Bắc, do
Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệm Đậu đỗ lai tạo và chọn lọc, được Bộ Nông nghiệp va PTNT công nhận giống Quốc gia năm 1999 tại Hà Nội Đặc điểm của giống
là sinh trưởng khỏe, thời gian sinh trưởng ngắn (75 ngày), chịu hạn,cỡ hạt lớn (65 – 70 g/1000 hạt) màu xanh mốc, chịu thâm canh, năng suất trung bình 15 tạ/ha, thích ứng
vụ xuân và vụ thu đông
Giống V123: Giống này do do Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệm Đậu đỗ
lai tạo Đặc điểm của giống thời gian sinh trưởng ngắn, chín tập trung, chịu nóng, chịu thâm canh, năng suất trung bình 17 tạ/ha, ruộng thâm canh có thể đạt 25 tạ/ha
Giống ĐX044: Có thời gian sinh trưởng trong vụ xuân 60 – 65 ngày có ưu thế
nỗi bật về năng suất ở vụ hè tiềm năng 20 tạ/ha, thấp cây với chiều cao trung bình 40 –
Trang 2615
60 cm, vụ hè cao hơn vụ xuân, cứng cây, chịu mưa và chống đổ tốt, vỏ hạt xanh mỡ, màu hạt xanh vàng, ruột hạt vàng, phẩm chất thơm ngon
Giống HL89-E3: chiều cao trung bình cây 60 – 70 cm thời gian từ khi gieo đến
bắt đầu thu hoạch ở miền Đông Nam Bộ vụ đầu mùa mưa là 59 – 69 ngày Năng suất
trung bình là 11 – 12 tạ/ha thâm canh tốt có thể đạt 20 tạ/ha Trung bình mỗi cây có 10 – 18,8 quả Dạng hạt hình trống màu xanh bóng, khối lượng 1000 hạt la 50 – 53g Phẩm chất tốt, hợp thị hiếu tiêu dùng, sản phẩm có thể xuất khẩu, nhiễm bệnh vàng lá nhẹ, nhiễm bệnh đốm lá trung bình
Giống đậu xanh VN93-1: chiều cao cây trung bình 60 – 75 cm, sinh trưởng
khỏe Năng suất thâm canh đạt 18 - 20 tạ/ha Thời gian sinh trưởng vụ xuân 70 - 80 ngày, vụ hè 60 - 69 ngày Hạt màu xanh mốc ruột vàng Trọng lượng 1.000 hạt đạt 50 – 60 g Khả năng chống đổ, chống úng khá Nhiễm bệnh phấn trắng, bệnh đốm nâu ở mức trung bình Khả năng thích ứng rộng, trồng được cả 3 vụ của vùng đồng bằng trung du, miền núi phía Bắc
Giống HL33-6: Giống được tuyển chọn từ dòng HL33-612 của tổ hợp Mỡ Long
Khánh x VC3902A Thời gian sinh trưởng 65 – 68 ngày Cây cao trung bình 47 – 48
cm, ra hoa và chín quả tập chung, số quả trung bình 20 – 23 quả/cây Hạt to, màu xanh
mỡ, khối lượng hạt đạt 66 – 69g/1000 hạt Năng suất cao và ổn định, thích ứng với nhiều vùng trồng đậu xanh ở miền Nam
Trang 2716
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 31/3/2012 đến ngày 4/6/2012 tại xã LơKu, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai
3.2 Điều kiện thời tiết – đất đai khu thí nghiệm
3.2.1 Đặc điểm khí hậu, thời tiết trong thời gian thực hiện thí nghiệm
Biểu đồ 3.1 Diễn biến thời tiết trong thời gian thí nghiệm
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Gia Lai, 2012)
Biểu đồ 3.1 cho thấy: Trong thời gian thí nghiệm nhiệt độ trung bình dao động
từ 23,5 - 26,3 0C với nhiệt độ này rất thích hợp cho cây đậu xanh sinh trưởng và phát triển
Trang 28Pdt Nts Pts Kts C Cation trao đổi
(meq /100g) Cát
(%)
Thịt
(%)
Sét (%)
(1: 2.5) (mg/100g)
(%)
Ca2+ Mg2+ K+
(Nguồn: Bộ môn Nông hóa thổ nhưỡng – ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, 2012)
Kết quả phân tích đất ở bảng 3.2 cho thấy:
- Đất thí nghiệm thuộc sa cấu thịt sét pha cát, hơi chua
- Hàm lượng dinh dưỡng như chất hữu cơ, đạm tổng số và caxi trung bình, lân
dễ tiêu, magie và kali giàu
Nhìn chung, điều kiện đất tương đối phù hợp với sự sinh trưởng của cây đậu xanh Tuy nhiên cần bón thên vôi để năng cao độ pH từ 5,17 lên 5,5 để cho cây đậu xanh phát triển tốt nhất
Trang 2918
HL103 1 Tuyển chọn từ giống HL89-E3 đột biến 100 Grey
HL204 2 Tuyển chọn từ giống HL89-E3 đột biến 200 Grey
HL251 3 Tuyển chọn từ giống HL89-E3 đột biến 250 Grey
V154 4 Tuyển chọn từ giống V94-208 đột biến 150 Grey
V201 5 Tuyển chọn từ giống V94-208 đột biến 200 Grey
Trang 30- Diện tích ô thí nghiệm: 2,5 m x 4 m = 10 m2
- Diện tích thí nghiệm: 10 x 36 = 360 m2
- Khoảng cách giữa các LLL: 1 m
- Hàng rào bảo vệ xung quanh: 1m
- Tổng diện tích khu thí nghiệm: 500 m2
Trang 3120
3.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Các chỉ tiêu theo dõi được lấy trên 5 điểm nằm trên 2 đường chéo góc, mỗi điểm theo dõi 2 cây, như vậy mỗi nghiệm thức theo dõi 10 cây
3.5.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển
- Thời gian sinh trưởng: tính từ khi gieo đến khi thu hoạch đợt cuối cùng
- Tỉ lệ nảy mầm: số cây mọc/số hạt gieo x 100
- Ngày phân cành: được tính khi có 50% số cây theo dõi phân cành
- Ngày ra hoa: được tính khi có 50% nở hoa đầu tiên
- Thời gian ra hoa: tính khi có 50% số cây trổ hoa đầu tiên đến kết thúc ra hoa
- Ngày đậu quả: tính khi có 50% số cây rụng hoa và bắt đầu có quả non dài 1 cm
- Ngày thu hoạch: tính vào thời điểm thu hoạch lần 1 khi cây có 40% số trái chín
- Chiều cao cây: đo từ vị trí đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính
- Tốc độ tăng trưởng chiều cao: là H (cm/cây/ngày) được tính theo công thức
H = (H2 – H1)/T (cm/cây/ngày)
Trong đó:
H1: chiều cao cây đo lần trước (cm)
H2: chiều cao cây đo lần sau (cm)
Hình 3.1 Toàn cảnh khu thí nghiệm 20 NSG
Trang 32SL2: số lá đếm lần sau T: thời gian giữa 2 lần đếm
- Số cành cấp 1: đếm số cành mọc ra từ thân chính
- Tốc độ phân cành tính theo công thức: C (cành/cây/ngày)
C = (SC2 – SC1)/T (cành/cây/ngày) Trong đó: SC1: số cành đếm lần trước
SC2: số cành đếm lần sau T: thời gian giữa 2 lần đếm
- Tỉ lệ đậu quả: tỉ lệ % số quả đậu so với vết nụ (theo dõi 3 - 5 ngày/1lần kể từ khi có trái đậu, đếm tổng số quả trên cây kể cả quả lép)
3.5.2 Các tính trạng hình thái đặc trưng
- Màu sắc thân: theo dõi khi cây được 3 – 5 lá thật Trên 50% thân cây cùng màu
- Hình dạng lá cuối: theo dõi khi lá đã trưởng thành Trên 50% số lá cùng hình dạng
- Màu sắc lá: theo dõi khi lá trưởng thành Trên 50% số lá cùng màu sắc
- Màu sắc hoa: tính khi hoa nở rộ Trên 50% số hoa cùng màu sắc
- Màu sắc hạt, hình dạng hạt, màu vỏ hạt: Ghi nhận khi đã nhìn thấy hạt đậu Trên 50%
số hạt đậu cùng màu sắc, hình dạng và màu vỏ hạt
3.5.3 Khả năng chống chịu đỗ ngã và sâu bệnh
- Đánh giá khả năng chống đỗ ngã: Đánh giá theo thang điểm
+ Điểm 1: Hầu hết các cây đều đứng thẳng
Trang 3322
* Theo dõi một số bệnh: bệnh đốm nâu (Cercospora sanescen), bệnh vàng lá
(Mungbean Yellow Mosaic Virus)
Đánh giá theo thang điểm cấp bệnh như sau:
+ Điểm 0: không nhiễm (dưới 5% số cây có vết bệnh)
+ Điểm 1: nhiễm nhẹ (6 – 25% số cây có vết bệnh)
+ Điểm 2: nhiễm trung bình (26 – 50% số cây có vết bệnh)
+ Điểm 3: nhiễm nặng (51 – 75% số cây có vết bệnh)
+ Điểm 4: nhiễm rất nặng (> 76% số cây có vết bệnh)
* Sâu đục quả (Maruca testulalis): Đếm số quả bị hại trên tổng số 100 quả lấy
ngẫu nhiên/ô, tính tỷ lệ %
3.5.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
- Số quả/cây: đếm tổng số quả trên 10 cây mẫu/ô Tính trung bình
- Số quả chắc/cây: đếm tổng số quả chắc/cây của 10 cây mẫu/ô Tính trung bình
- Số hạt/quả: đếm tổng số hạt/quả của 10 cây mẫu/ô Tính trung bình
- Số hạt chắc/quả: đếm tổng số hạt chắc/quả của 10 cây mẫu/ô Tính trung bình
- Tỉ lệ hạt chắc (%): (tổng số hạt chắc/tổng số hạt của 10 cây mẫu/ô) x 100
- Trọng lượng 1000 hạt (g): lấy ngẫu nghiên 1000 hạt trên mỗi ô thí nghiệm sau đó đem cân Tính trung bình
- Năng suất lí thuyết: Tính năng suất lí thuyết theo công thức:
NSLT (tấn/ha) = (Số cây/ha x số quả/cây x tỷ lệ quả chắc x số hạt/quả x tỷ lệ hạt chắc x P1.000) x 10-9
- Năng suất thực thu: Thu toàn bộ nghiệm thức rồi quy ra tấn/ha
Trọng lượng/ô NSTT (tấn/ha) = x 10
Trang 3423
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng
4.1.1 Thời gian sinh trưởng
Nảy mầm là quá trình chuyển từ trạng thái ngủ nghỉ của hạt sang trạng thái sinh trưởng, phát triển của cây Giai đoạn này chủ yếu dựa vào chất lượng hạt giống Chất lượng hạt giống có thể tăng 5 – 10 % về mặt năng suất, cho phép tiết kiệm số lượng hạt giống, công chăm sóc, trồng dặm, trồng trong bầu khi gieo trồng trên đơn vị diện tích
Giống có tỉ lệ nảy mầm cao, sớm, đồng đều là một trong những yếu tố quan trọng giúp cây phát triển nhanh trong giai đoạn đầu, làm tiền đề cho sinh trưởng và phát triển về sau
Qua bảng 4.1 cho ta thấy có sự khác biệt về tỉ lệ nảy mầm của 12 giống ở mức
có ý nghĩa thống kê (0,01<P<0,05) Giống KH1 và giống V253 có tỉ lệ nảy mầm cao nhất (96,7 %) và thấp nhất là giống HL204 (88,7 %) Giống Cao sản (đ/c) có tỉ lệ nảy mầm 95,3% cao hơn 8 giống và thấp hơn 3 giống còn lại
Các giống tham gia thí nghiệm đều nảy mầm trong khoảng thời gian từ 4 – 6 NSG Trong đó giống BVC5 và giống HL204 nảy mầm sớm nhất (4 NSG) và giống Cao sản ( đ/c) nảy mầm 5 NSG Thời gian phân cành giống Cao sản (đ/c) kéo dài hơn
4 giống HK1, KH1, HL251 và HL103, ngắn hơn 2 giống VVC-4, V154 Khi cây bắt đầu ra hoa và đậu quả thì ta thấy giống BVC5 và V201 có thời gian ra hoa kéo dài ngắn hơn 10 giống còn lại Và giống Cao sản (đ/c) có thời gian kéo dài ra hoa và đậu quả ngắn hơn 5 giống V94–208, VVC–4, HL251, HL204 và HL103
Sau 55 NSG thì cây bắt đầu thu hoạch và giống đậu xanh BVC5 cho thu sớm nhất 56 NSG, giống Cao sản (đ/c) bắt đầu cho thu hoạch 58 NSG Và hầu hết các
Trang 35Ngày mọc mầm
Ngày phân cành
Ngày
ra hoa đầu tiên
Thời gian
ra hoa
Ngày đậu quả (ngày)
Ngày thu hoạch
Tận thu (ngày) HL103 91,3bcd 5,1b 25,2b 34,4c 17,3a 36,2d 60,3a 64,0a HL204 88,7d 5,0b 26,1ab 34,2c 17,2a 36,3d 58,1b 62,1b HL251 93,3abc 4,3c 25,4b 34,1c 17,3a 36,1d 58,1b 62,3b V154 93,3abc 5,2b 27,1a 36,2ab 16,2ab 38,3ab 58,2b 62,2b V201 91,3bcd 6,0a 26,2ab 35,3bc 15,4b 37,3cd 58,3b 61,1c VVC-4 94,0abc 5,3b 27,0a 35,3bc 17,0a 37,2cd 60,2a 64,0a KH1 96,7a 6,0a 25,1b 37,0a 16,0ab 39,3a 58,1b 62,2b V253 96,7a 6,0a 26,0ab 34,3c 16,0ab 36,2d 58,3b 62,1b HK1 90,7cd 5,3b 25,3b 34,4c 16,2ab 36,2d 58,2b 62,3b BVC5 94,7abc 4,4c 26,2ab 36,4ab 15,4b 38,1ab 56,1c 60,1c V94-208 96,0a 5,2b 26,2ab 36,4ab 17,3a 38,1ab 58,3b 62,3b Cao sản(đ/c) 95,3ab 5,1b 26,1ab 35,3bc 16,2ab 37,3cd 58,4b 62,1b
CV (%)
F tính
2,8 2,9*
11,6 2,4*
2,1 5,7**
2,3 4,7**
4,2 4,0**
1,9 6,8**
1,0 11,0**
0,9 12,5**
Ghi chú: Các ký tự khác nhau trên cùng 1 cột có sự khác biệt thống kê ( *: có ý nghĩa;
**: rất có ý nghĩa)
4.1.2 Động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao
4.1.2.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây
Giai đoạn 10 NSG: Qua bảng 4.2 cho thấy chiều cao cây giữa các giống có sự khác biệt nhưng không đủ độ tin cậy trong thống kê (P>0,05) Giống VVC–4 có chiều cao cao nhất (4,7 cm), giống HL204 có chiều cao thấp nhất (3,5 cm) giống Cao sản (đ/c) có chiều cao (4,1 cm) Các giống còn lại có chiều cao biến động từ 3,7 – 4,4 cm
Trang 368,3 1,5ns
5,4 3,7**
6,6 2,0ns
7,1 2,9*
Ghi chú: Các ký tự khác nhau trên cùng 1 cột có sự khác biệt thống kê ( *: có ý nghĩa;
**: rất có ý nghĩa; ns: không khác biệt thống kê)
Giai đoạn 20 NSG: chiều cao cây giữa các giống có sự khác biệt nhưng không
đủ độ tin cậy trong thống kê (P>0,05) Giống V253 có chiều cao cây thấp nhất (7 cm), giống VVC- 4 vẫn có chiều cao cây cao nhất (8,5 cm), giống Cao sản (đ/c) có chiều cao cây đạt (7,7 cm) cao hơn 6 giống và thấp hơn 5 giống Các giống khác có chiều cao cây dao động trong khoảng 7,4 – 8,3 cm
Giai đoạn 30 NSG: Sự khác biệt về chiều cao cây của 12 giống ở mức rất có ý nghĩa thống kê (0,01<P<0,05) Giống V94 – 208 đạt chiều cao cây cao nhất (25,1 cm), giống có chiều cao cây thấp nhất V201 (19,5 cm), giống địa phương có chiều cao cây 22,4 cm cao hơn 4 giống và thấp hơn 7 giống Những giống khác chiều cao cây biến động từ 21,9 – 24,5 cm
Trang 3726
Giai đoạn 40 NSG: chiều cao cây giữa các giống có sự khác biệt nhưng không
đủ độ tin cậy trong thống kê (P>0,05) Giống V92 – 208 vẫn đạt chiều cao cây cao nhất 38,2 cm Giống có chiều cao cây thấp nhất V201 (32,2 cm) Giống Cao sản (đ/c)
có chiều cao cây 34,5 cao hơn 2 giống và thấp hơn 9 giống Những giống khác có chiều cao cây từ 34,5 – 37,9 cm
Giai đoạn 50 NSG: Sự khác biệt về chiều cao cây của 12 giống ở mức có ý nghĩa thống kê (0,01<P<0,05) Giống V94–208 đạt chiều cao cây cao nhất (44,6 cm) Giống có chiều cao cây thấp nhất V201 (35,4 cm), giống Cao sản (đ/c) có chiều cao cây (40,7cm) cao hơn 5 giống và thấp hơn 6 giống Các giống còn lại có chiều cao cây biến động từ 37,6 – 43,1 cm
4.1.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của cây đậu xanh
Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây là chỉ tiêu đánh giá tốc độ tăng trưởng chiều cao cây qua từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau để từ đó tác động những biện pháp
kỹ thuật canh tác phù hợp với từng giai đoạn nhằm làm cho cây phát triển tốt, phát huy hết đặc tính của từng giống
Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây tăng trưởng theo từng giai đoạn bắt đầu từ khi gieo đến giai đoạn 30 NSG, tăng trưởng mạnh ở giai đoạn từ 20 - 30 NSG Đây là giai đoạn tốc độ tăng trưởng chiều cao cây mạnh nhất do bộ rễ ăn sâu tỏa rộng, thân lá phát triển tối đa Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây vẫn tiếp tục tăng ở giai đoạn tiếp theo Đến giai đoạn 40 – 50 NSG, khi cây đã ra hoa, đậu quả, tập trung dinh dưỡng vào cơ quan sinh sản nên tốc độ tăng trưởng chiều cao cây không đáng kể
Giai đoạn 10 – 20 NSG: Tốc độ tăng trưởng chiều cao không đáng kể Giống HL251 có tốc độ tăng trưởng chiều cao cao nhất (4,6 cm/cây/10 ngày) Giống Cao sản (đ/c) có tốc độ tăng trưởng chiều cao (3,7 cm/cây/10 ngày) Các giống còn lại có tốc
độ tăng trưởng chiều cao dao động từ 3 – 4,2 cm/cây/10 ngày
Giai đoạn 20 – 30 NSG: Đây là giai đoạn tăng trưởng chiều cao diễn ra mạnh nhất Giống có tốc độ tăng trưởng chiều cao mạnh nhất là V94-208 (17,1 cm/cây/10 ngày) giống Cao sản (đ/c) có tốc độ tăng trưởng chiều cao (14,7 cm/cây/10 ngày), giống VVC4 có tốc độ tăng trưởng chiều cao thấp nhất (14,1 cm/10 ngày) Các giống còn lại biến động từ 14,2 – 15,9 cm/10 ngày
Trang 388,7 1,3ns
20,7 1,2ns
26,4 2,9*
Ghi chú: Các ký tự khác nhau trên cùng 1 cột có sự khác biệt thống kê ( *: có ý nghĩa; ns: không khác biệt thống kê)
Giai đoạn 30 – 40 NSG: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây vẫn diễn ra nhưng thấp hơn giai đoạn 20 – 30 NSG vì đây là giai đoạn bắt đầu phân hóa mầm hoa Giống HL251 có tốc độ tăng trưởng chiều cao cao nhất (14,9 cm/cây/10 ngày), giống Cao sản (đ/c) có tốc độ tăng trưởng chiều cao (12,2 cm/cây/10 ngày), giông V201 có tốc độ tăng trưởng chiều cao thấp nhất (9,5 cm/cây/10 ngày) Các giống còn lại dao động từ 11,8 – 14,6 cm/cây/10 ngày
Giai đoạn 40 – 50 NSG: tốc độ tăng trưởng chiều cao cây tăng rất ít vì giai đoạn này chiều cao cây đã tương đối ổn định Tốc độ tăng mạnh nhất là giống V94-208 ở mức (6,2 cm/cây/10 ngày), tiếp đến là giống Cao sản (đ/c) ở (6,1 cm/cây/10 ngày) Các giống còn lại biến động từ 2,7 – 5,3 cm/cây/10 ngày
Trang 3928
4.1.3 Động thái và tốc độ ra lá
4.1.3.1 Động thái ra lá của cây đậu xanh
Bảng 4.4 Động thái ra lá (lá/cây) của 12 giống đậu xanh thí nghiệm
Cao sản (đ/c) 1,4ab 2,9b 4,5abc 6,6bc 6,9bcd
CV (%)
F(tính)
4,8 22,8**
6,3 7,6**
3,1 8,1**
3,5 6,3**
3,1 7,0**
Ghi chú: Các ký tự khác nhau trên cùng 1 cột có sự khác biệt thống kê ( *: có ý nghĩa;
**: rất có ý nghĩa)
Lá là bộ phận quan trọng trong không thể thiếu trong quá trìng quang hợp, hô hấp và một số phản ứng trao đổi năng lượng, trao đổi chất với môi trường bên ngoài nhằm tích lũy vật chất hữu cơ, đảm bảo cho sự sinh trưởng, phát triển của cây
Giai đoạn 10 NSG: Đây là giai đoạn lá thật mới hình thành nên số lá trên cây còn ít Qua bảng 4.4 cho thấy có sự khác biệt về số lá trên cây của 12 giống đậu ở mức rất có ý nghĩa trong thống kê (P<0,01) Giống V201 có số lá trên cây ít nhất (1 lá/cây), giống Cao sản (đ/c) có số lá trên cây (1,4 lá/cây), 3 giống HL103, BVC5, V94-208 có
số lá trên cây cao nhất (1,5 lá) Các giống còn lại biến động từ 1,1 – 1,4 lá/cây
Trang 4029
Giai đoạn 20 NSG: Có sự khác biệt về số lá trên cây của 12 giống ở mức rất có
ý nghĩa trong thống kê (P<0,01) Giống BVC5 có số lá trên cây nhiều nhất (3,3 lá), giống Cao sản (đ/c) có (2,9 lá) trên cây, giống HL251 có số lá trên cây thấp nhất (2,4 lá) Các giống còn lại có số lá biến động từ 2,5 – 3 lá trên cây
Giai đoạn 30 NSG: Số lá tăng trưởng mạnh giống V94-208 có số lá trên cây nhiều nhất (4,7 lá), giống Cao sản (đ/c) có số lá trên cây (4,5 lá), các giống còn lại có
số lá biến động từ 4 – 4,6 lá
Giai đoạn 40 NSG: Đây là giai đoạn mà số lá tăng trưởng mạnh nhất Giống
KH 1 có số lá trên cây cao nhất (7,2 lá), giống Cao sản (đ/c) có số lá trên cây (6,6 lá) Các giống còn lại có số lá trên cây dao động từ 5,9 – 6,9
Giai đoạn 50 NSG, các giống đạt tối đa về số lá và dao động từ 6,2 (V201) – 7,5 (KH1) lá/cây
4.1.3.2 Tốc độ ra lá của cây đậu xanh
Tốc độ ra lá phản ánh khả năng sinh trưởng của các giống qua từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau Tốc độ ra lá của cây phụ thuộc vào đặc tính sinh trưởng của giống, điều kiện ngoại cảnh và biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
lá sinh trưởng Mỗi giống có tốc độ ra lá thay đổi trong từng giai đoạn sinh trưởng
Bảng 4.5 cho ta thấy được tốc độ ra lá của các giống đậu xanh thí nghiệm qua từng giai đoạn
Giai đoạn 10 – 20 NSG: Kết quả thống kê ở bảng 4.5 cho thấy tốc độ ra lá của các giống có sự khác biệt ở mức rất có ý nghĩa trong thống kê (P<0,01) Trong đó giống HL204 có tốc độ ra lá lớn nhất (1,7 lá/cây/10 ngày), giống Cao sản (đ/c) có tốc
độ ra lá (1,6 lá/cây/10 ngày) Các giống còn lại dao động từ 1,3 – 1,5 lá/cây/10 ngày
Giai đoạn 20 – 30 NSG: Tốc độ ra lá của cây đậu xanh ở bảng 4.5 cho thấy có
sự khác biệt rất có ý nghĩa trong thống kê giữa các giống (P<0,01) Giống HL204, Cao sản (đ/c), HK1, BVC5 có tốc độ ra lá giảm, các giống khác có tốc độ ra lá của tăng Giống KH1 và giống VVC-4 có tốc độ ra lá mạnh nhất (1,8 lá/cây/10 ngày), giống Cao sản (đ/c) có tốc độ ra lá giảm (1,4 lá/cây/10 ngày) Các giống khác dao động từ 1,3 – 1,7 lá/cây/10 ngày