BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐƯỜNG KÍNH GỐC GHÉP VÀ LOẠI MẮT GHÉP KHÁC NHAU ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐƯỜNG KÍNH GỐC GHÉP VÀ LOẠI MẮT GHÉP KHÁC NHAU ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG CỦA CHỒI GHÉP CÂY CAO SU TẠI TP PLEIKU – GIA LAI
Sinh viên thực hiện: LÊ DUY TRUYỀN Ngành: NÔNG HỌC
Niên khóa: 2008 - 2012
Tháng 07/2012
Trang 2KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐƯỜNG KÍNH GỐC GHÉP
VÀ LOẠI MẮT GHÉP KHÁC NHAU ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG
CỦA CHỒI GHÉP CÂY CAO SU TẠI TP PLEIKU – GIA LAI
Tác giả
LÊ DUY TRUYỀN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư nông nghiệp ngành
Nông học
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S TRẦN VĂN LỢT
Tháng 07 năm 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực tập cuối khóa, tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Tất cả quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc thầy Trần Văn Lợt, giảng viên Bộ môn Cây Công Nghiệp đã tận tình quan tâm, hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
Xin cảm ơn Ban Lãnh đạo Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cao su Mang Yang đã đồng ý tiếp nhận tôi về Công ty thực tập
Xin cảm ơn Ban Giám đốc Nông trường cao su K’dang đã trực tiếp giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Xin cảm ơn cô Phạm Thị Nga, anh Nguyễn Ngọc Lâm – cán bộ kỹ thuật vườn ươm – cùng các anh chị công nhân Đội 2, Nông trường cao su K’dang , Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cao su Mang Yang đã nhiệt tình giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian thực tập
Đồng thời xin gửi lời cảm ơn thân mến đến tập thể lớp DH08NHGL, các bạn
đã nhiệt tình giúp đỡ cho tôi hoàn thành tốt đề tài này
Xin được bày tỏ lòng thành kính và biết ơn sâu sắc tới cha mẹ, chân thành cảm
ơn các anh em trong gia đình đã luôn động viên và là điểm tựa tin cậy cho tôi vững bước, trưởng thành hôm nay
Gia Lai, tháng 07 năm 2012 Sinh viên
Lê Duy Truyền
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “ Khảo sát ảnh hưởng của các đường kính gốc ghép và loại mắt ghép khác
nhau đến sự sinh trưởng của chồi ghép cây cao su tại tp Pleiku – Gia Lai” được
tiến hành tại vườn ươm của Nông trường cao su K’dang, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cao su Mang Yang và tại diện tích đất canh tác của gia đình tại Phường Thống Nhất tp Pleiku - Gia Lai; thời gian thực hiện từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2012
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 2 yếu tố với 9 nghiệm thức, 3 lần lặp lại, 27 ô cơ sở, mỗi ô cơ sở gồm 15 cây ghép được khảo sát
Kết quả thu được:
Qua thời gian theo dõi thí nghiệm, với các số liệu ghi nhận được và từ các kết quả phân tích thống kê, nhận thấy:
Đối với tỷ lệ cây ghép sống thì chịu sự ảnh hưởng của mức đường kính gốc ghép
+ Tỷ lệ ghép sống và đường kính gốc ghép có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau: Gốc ghép có đường kính từ 9-11,9 mm có tỷ lệ ghép sống thấp đạt 77,04%
Gốc ghép có đường kính từ 12 – 13,9 mm cho tỷ lệ ghép sống khá là 82,96% Gốc ghép có đường kính từ 14 – 15,9 mm cho tỷ lệ ghép sống tốt ở 91,11% Đối với tỷ lệ nảy chồi của chồi ghép qua các giai đoạn thì ở giai đoạn sau 15 ngày cắt ngọn thì các nghiệm thức đều mang sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Nhưng đến giai đoạn 25 ngày sau cắt ngọn thì sự khác biệt ở các nghiệm thức không còn mang ý nghĩa thống kê
Đối với sự sinh trưởng của chồi ghép ở giai đoạn 25 ngày sau cắt ngọn, các nghiệm thức sinh trưởng và phát triển đồng đều và sự khác biệt không mang ý nghĩa thống kê
Đối với giai đoạn 35 và 45 ngày sau cắt ngọn thì sự khác biệt chưa thể hiện ở các giai đoạn đầu trong chu kỳ sinh trưởng của chồi ghép mà chỉ thể hiện rõ ở giai
Trang 5đoạn ra lá non và sự ổn định tầng lá thứ nhất của chồi ghép Tỷ lệ ra lá non và ổn định tầng lá thứ nhất chịu ảnh hưởng lớn của loại mắt ghép và có xu hướng tăng theo hướng
từ mắt ghép xanh vảy cá đến mắt ghép nâu xanh nách lá và tăng theo mức đường kính gốc ghép
Chiều cao và đường kính chồi ghép cũng chịu sự ảnh hưởng lớn của đường kính gốc ghép và loại mắt ghép ở các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sinh trưởng của cây ghép Đường kính gốc ghép càng lớn, khả năng sinh trưởng của chồi ghép (đặc biệt là sự gia tăng chiều cao và đường kính chồi ghép) càng mạnh
Từ kết quả đó cho ra sự lựa chọn gốc ghép có đường kính từ 12 mm trở lên và
sử dụng mắt nâu xanh nách lá và mắt xanh nách lá khi ghép để công tác ghép đạt hiệu quả
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách chữ viết tắt và ký hiệu vii
Danh sách các hình viii
Danh sách các bảng ix
Chương 1 Giới thiệu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu đề tài 3
1.3 Phạm vi đề tài 3
Chương 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển cây cao su 4
2.1.1 Nguồn gốc 4
2.1.2 Lịch sử phát triển 4
2.1.2.1 Lịch sử phát triển cây cao su trên thế giới 4
2.1.2.2 Lịch sử phát triển cây cao su ở Việt Nam 6
2.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái của cây cao su 8
2.2.1 Đặc điểm sinh học 8
2.2.2 Đặc điểm sinh thái 10
2.2.2.1 Khí hậu 10
2.2.2.2 Đất đai 10
2.3 Một số kết quả nghiên cứu về ghép cao su ở Việt Nam 11
Chương 3 Vật liệu và phương pháp nguyên cứu 13
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13
3.2 Điều kiện nghiên cứu 13
Trang 73.2.1 Điều kiện đất đai 13
3.2.2 Điều kiện khí hậu – thời tiết 13
3.3 Vật liệu nghiên cứu 13
3.4 Phương pháp nghiên cứu 14
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 14
3.5 Tiến trình và chỉ tiêu theo dõi 15
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 16
Chương 4 Kết quả và thảo luận 17
4.1 Tỷ lệ cây ghép sống 17
4.1.1 Tỷ lệ cây ghép sống sau tháo băng 17
4.1.2 Tỷ lệ cây ghép sống sau cắt ngọn 18
4.2 Sự sinh trưởng của chồi ghép qua các giai đoạn sau cắt ngọn 19
4.2.1 Tỷ lệ nảy chồi và chưa nảy chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 19
4.2.2 Tỷ lệ nảy chồi và chưa nảy chồi của chồi ghép sau tháo băng 25 ngày 20 4.2.3 Sự sinh trưởng của chồi ghép sau cắt ngọn 25 ngày 21
4.2.4 Sự sinh trưởng của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày 23
4.2.5 Sự sinh trưởng của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày 27
4.3 Sự tăng trưởng về chiều cao và đường kính của chồi ghép 30
4.3.1 Chiều cao và đường kính chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày 30
4.3.2 Chiều cao và đường kính chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày 32
Chương 5 Kết luận và đề nghị 35
5.1 Kết luận 35
5.2 Đề nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHỤ LỤC 1 Một số hình ảnh trong quá trình thực hiện đề tài 39
PHỤ LỤC 2 Kết quả phân tích thống kê các chỉ tiêu theo dõi 44
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
ANOVA: Analysis of Variance
F: Giá trị tính của hàm phân bố xác suất F
GDP: Grofs Domestic Product ( giá trị tổng thu nhập quốc dân)
Prob: Probability (giá trị xác suất)
RRIV: Rubber Research Institute of Việt Nam
(Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam)
Tscc: Tổng số cây chết
Tsccnc: Tổng số cây chưa nảy chồi
Tscnc: Tổng số cây nảy chồi
Tscqt: Tổng số cây quan trắc
Tscs: Tổng số cây sống
Tsc ≥14 mm: Tổng số cây đạt đường kính gốc ≥14 mm
(Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam)
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 1: Đánh dấu cây trước khi ghép 39
Hình 2: Đo đường kính gốc ghép trước khi ghép 39
Hình 3: Thao tác lấy mắt ghép 39
Hình 4: 3 loại mắt ghép dùng trong thí nghiệm 40
Hình 5: Thao tác mở cửa sổ gốc ghép 40
Hình 6: Thao tác đưa mắt ghép vào cửa sổ trên gốc ghép 40
Hình 7: Thao tác cắt phần vỏ của cửa sổ gốc ghép 41
Hình 8: Thao tác quấn dây nilon buộc mắt ghép 41
Hình 9: Cây ghép đã hoàn thành 41
Hình 10: Mắt ghép chết sau cắt ngọn 42
Hình 11: Mắt ghép sống sau cắt ngọn 42
Hình 12: Mắt ghép nhú hạt gạo 43
Hình 13: Mắt ghép nhú chồi 43
Hình 14: Mắt ghép nhú chân chim 43
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Điều kiện khí hậu thời tiết 6 tháng đầu năm 2012
tại Tp Pleiku – Gia Lai 13
Bảng 4.1: Tỷ lệ cây ghép sống sau tháo băng (%) 17
Bảng 4.2: Tỷ lệ cây ghép sống sau cắt ngọn (%) 18
Bảng 4.3: Tỷ lệ nảy chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 15 ngày (%) 19
Bảng 4.4: Tỷ lệ nảy chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 25 ngày (%) 20
Bảng 4.5: Tỷ lệ hạt gạo của chồi ghép sau cắt ngọn 25 ngày (%) 21
Bảng 4.6: Tỷ lệ nhú chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 25 ngày (%) 22
Bảng 4.7: Tỷ lệ chân chim của chồi ghép sau cắt ngọn 25 ngày (%) 22
Bảng 4.8: Tỷ lệ chưa nảy chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%) 23 Bảng 4.9: Tỷ lệ hạt gạo của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%) 24
Bảng 4.10: Tỷ lệ nhú chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%) 25
Bảng 4.11: Tỷ lệ chân chim của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%) 25
Bảng 4.12: Tỷ lệ lá non của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%) 26
Bảng 4.13: Tỷ lệ ổn định của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%) 26
Bảng 4.14: Tỷ lệ hạt gạo của chồi ghép sau cắt ngọn t 45 ngày (%) 27
Bảng 4.15: Tỷ lệ nhú chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày (%) 28
Bảng 4.16: Tỷ lệ chân chim của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày (%) 28
Bảng 4.17: Tỷ lệ lá non của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày (%) 29
Bảng 4.18: Tỷ lệ lá ổn định của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày (%) 29
Bảng 4.19: Trung bình chiều cao của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (cm) 30 Bảng 4.20: Trung bình đường kính của chồi ghép sau bấm đọt 35 ngày 31
Bảng 4.21: Trung bình chiều cao của chồi ghép sau bấm đọt 45 ngày 32 Bảng 4.22: Trung bình đường kính của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày 33
Trang 11Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Cây cao su (Hevea brasiliensis) là cây công nghiệp dài ngày, đây cũng là loại cây có giá trị kinh tế cao trong các lĩnh vực nông – lâm – công nghiệp Loại cây này có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, lưu vực sông Amazone (Nam Mỹ), được đưa vào châu Á năm 1876 và được du nhập thành công vào Việt Nam năm 1897 tại Suối Dầu – Nha Trang Đầu thế kỷ 20, cây cao su được trồng tại Đông Nam Bộ và đến đầu thập kỷ 50,
nó được trồng tại một số vùng Tây Nguyên, miền Trung và một số vùng ở phía Bắc Sau hơn 100 năm du nhập, cây cao su đã từng bước khẳng định vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp nước ta Cây cao su không những là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao
mà còn góp phần tạo công ăn việc làm, ổn định tình hình xã hội, an ninh quốc phòng
và bảo vệ môi trường sinh thái (Trích theo Nguyễn Thị Dịu 2010)
Cao su là ngành xuất khẩu mũi nhọn của nước ta Ngành cao su Việt Nam đứng thứ 7 trong 10 ngành có giá trị xuất khẩu cao nhất cả nước và đang đứng thứ 4 thế giới
về số lượng xuất khẩu Xuất khẩu cao su thiên nhiên hàng năm mang lại một nguồn ngoại tệ lớn, đóng góp một phần không nhỏ vào GDP của nước ta
Khác với nhiều loài cây trồng khác, cây cao su có chu kỳ kinh doanh dài, thông thường đời sống của một vườn cao su kéo dài 26-30 năm với 20-25 năm khai thác Vì vậy, việc mắc sai lầm trong sử dụng giống khi trồng sẽ đưa đến hậu quả kéo dài suốt thời kỳ kinh doanh; nếu tiến hành thanh lý vườn cây để trồng mới lại thì tốn kém quá nhiều chi phí Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) là đơn vị có năng lực
và tích cực áp dụng kịp thời các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác cây cao su, với năng suất bình quân đạt 1,8 tấn/ha vào năm 2007 Sự tiến bộ rất đáng kể về năng suất của VRG có sự đóng góp quan trọng và rất cơ bản của việc kịp thời ứng dụng các tiến bộ
về giống cao su Hàng năm, nước ta xuất khẩu trên 80% sản lượng cao su sản xuất được, trong đó lượng xuất khẩu của VRG chiếm hơn 70%
Trang 12Với những chính sách khuyến khích phát triển ngành cao su của Chính phủ, những năm gần đây Công ty Cao su Mang Yang- một thành viên của VRG - đang nỗ lực cho công tác quy hoạch trồng mới cao su, thanh lý dần vườn cao su già cỗi cho năng suất thấp để tái canh vườn cây đạt tiêu chuẩn cao về năng suất và chất lượng Bên cạnh đó công ty cũng đang tích cực đầu tư trồng mới các vườn cao su lớn tại Campuchia và Lào
Việc ghép cao su được bắt đầu vào năm 1918 với hai vườn cao su ghép tại Java
và Sumatra (Indonesia) đã cho kết quả rất khả quan: vườn cây ghép có năng suất cao hơn vườn cây thực sinh từ 40 – 70% Phương pháp ghép mắt cao su được áp dụng ở Việt Nam từ năm 1925 và phổ biến từ những năm 1960 Từ đó đến nay, kỹ thuật ghép mắt cao su ở nước ta đã từng bước được quan tâm nghiên cứu và ngày càng tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn (trích theo Nguyễn Thị Dịu 2006)
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy độ lớn gốc ghép và loại mắt ghép có ảnh hưởng đến tỉ lệ sống, sức sinh trưởng của chồi ghép, thời điểm vòng thân đạt tiêu chuẩn khai thác Vì vậy, việc lựa chọn gốc ghép và mắt ghép như thế nào là việc làm rất cần thiết để vườn cao su trồng mới sinh trưởng, phát triển tốt, sớm cho khai thác
mủ, năng suất mủ cao và ổn định là một yêu cầu cấp thiết của ngành trồng cao su hiện nay
Xuất phát từ sự cần thiết trên, được sự đồng ý của khoa Nông học cùng với sự
cộng tác, giúp đỡ của Công ty Cao su Mang Yang nên đề tài “Khảo sát ảnh hưởng
của các đường kính gốc ghép và loại mắt ghép khác nhau đến sự sinh trưởng của chồi ghép cây cao su tại Tp Pleiku– Gia Lai” đã được thực hiện
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích đề tài
Đánh giá được sự ảnh hưởng của các kích thước đường kính gốc ghép và loại mắt ghép khác nhau đến khả năng sinh trưởng của chồi ghép cây cao su trong giai đoạn vườn ươm
Xác định được đường kính gốc ghép và loại mắt ghép thích hợp với điều kiện
cụ thể để mắt ghép đạt tỷ lệ sống cao, chồi ghép sinh trưởng mạnh
Trang 131.2.2 Yêu cầu đề tài
Đo đường kính gốc ghép ở độ cao 10 cm cách mặt đất ngoài vườn ươm trước khi ghép
Kiểm tra số lượng mắt ghép sống của từng nghiệm thức sau khi tháo băng Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng của chồi ghép giai đoạn từ sau khi tháo băng
1.3 Phạm vi đề tài
Thí nghiệm được thực hiện đối với các gốc ghép thuộc vườn ươm bầu 12 tháng tuổi và mắt ghép là dòng vô tính PB260, tiến hành theo dõi các nghiệm thức với các chỉ tiêu: tỷ lệ cây ghép sống; đường kính gốc ghép; tỷ lệ nảy chồi; chiều cao và đường kính của chồi ghép Vì thời gian thực hiện đề tài có hạn nên các chỉ tiêu sinh trưởng của chồi ghép chỉ được theo dõi trong giai đoạn sinh trưởng của tầng lá thứ nhất
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LI ỆU
2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển cây cao su
2.1.1 Nguồn gốc
Cây cao su (Hevea brasiliensis Muell Arg.) thuộc chi Hevea, họ Euphorbiaceae (Họ Thầu Dầu) Cây cao su hoang dại được tìm thấy tại vùng châu thổ sông Amazone (Nam Mỹ) trong một vùng rộng lớn bao gồm các nước: Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuador, Venezuela, Guiyane thuộc Pháp nằm ở khu vực vĩ độ 50Bắc
- 50 Nam Nơi đây là vùng nhiệt đới ẩm ướt, lượng mưa trên 2000 mm, nhiệt độ cao
và đều quanh năm, có mùa khô hạn kéo dài 3 – 4 tháng, đất sét tương đối giàu dinh dưỡng, độ pH = 4,5-5,5 với tầng đất canh tác sâu, thoát nước trung bình
Trong 10 loài cây cho mủ thuộc họ Euphorbiaceae, cây cao su Hevea brasiliensis Muell Arg, là cây có giá trị kinh tế lớn nhất và được trồng rộng rãi nhất
2.1.2 Lịch sử phát triển
2.1.2.1 Lịch sử phát triển cây cao su trên thế giới
Vào giai đoạn 1500 – 1870, cây cao su mọc hoang dại tại lưu vực sông Amazone ở Nam Mỹ Đến năm 1873, Collin và Markham thu được 2000 hạt Hévéa brasiliensis tại Cametta gần cảng Para và đem trồng trong vườn Bách Thảo Kew (Luân Đôn) nhưng chỉ có 12 cây sống và được đem trồng trong vườn bách thảo ở Calcutta, sau đó không còn cây nào sống
Năm 1876, Henry Wickham mang 70.000 hạt cao su từ vùng thượng lưu sông Amazone về trồng tại vườn thực vật Kew và có 2.700 hạt nảy mầm và phát triển thành cây được Tháng 9 năm 1876, các cây cao su từ vườn thực vật Kew được đưa về vườn thực vật Ceylon (Srilanka) Năm 1883, 22 cây cao su sống tại vườn thực vật Ceylon được phân phối để nhân trồng trên thế giới Đến năm 1892, sản lượng cao su từ những
Trang 15cây nhân trồng tại Ceylon có chất lượng tốt và tiếp theo đó là 120 ha cao su đầu tiên được nhân trồng ở Mã Lai
Năm 1897, công trình nghiên cứu về phương pháp cạo mủ của Ridley thành công, nhờ đó bảo vệ được lớp vỏ cây và cho phép khai thác nhiều lần lớp vỏ cạo như hiện nay
Từ năm 1900 – 1941, do nhu cầu mủ cao su cao để đáp ứng cho ngành kỹ nghệ
ô tô, các nước trên thế giới trong đó chủ yếu là các nước châu Á và đặc biệt là các nước Đông Nam Á bắt đầu gia tăng diện tích cũng như sản lượng Mức sản xuất cao su thiên nhiên thời kỳ này tăng rất nhanh, từ 125.000 tấn năm 1914 đã đạt tới 1.504.000 tấn năm 1941 (tăng gấp 12 lần sau 27 năm) Những năm sau đó (1942 – 1945) mức sản xuất cao su thiên nhiên sụt giảm nghiêm trọng do sự tàn phá của chiến tranh thế giới thứ II Sản lượng cao su thiên nhiên thế giới năm 1942 giảm còn 650.000 tấn và chỉ còn 254.000 tấn vào năm 1945 (chỉ đạt 16,8% so với năm 1941) Mã Lai từ năm 1920 – 1941 là nước sản xuất cao su thiên nhiên hàng đầu thế giới (đạt 650.000 tấn năm 1941) nhưng sau đó sụt giảm nhanh và đến năm 1945 hầu như không còn sản xuất được gì cả
Sau giai đoạn sụt giảm nghiêm trọng, sản lượng cao su thiên nhiên thế giới được phục hồi trở lại, năm 1946 đạt 867.000 tấn, đến năm 1948 đạt 1.547.000 tấn (tăng 178% so với năm 1946 và vượt qua sản lượng năm 1941) Sau đó, sản lượng cao
su thiên nhiên tăng dần đều đặn qua các năm, đén năm 1995 đạt 5.870.000 tấn
Xét về thứ hạng mức sản xuất cao su thiên nhiên: năm 1985 Mã Lai là nước đứng đầu với sản lượng 1.469.000 tấn, kế đến là Indonesia với 1.130.000 tấn, Thái Lan xếp thứ ba với 725.000 tấn Năm 1990, cả ba nước có sản lượng tương đương nhau (đạt từ 1.256.000 đến 1.291.000 tấn) Đến năm 1991, sản lượng cao su Thái Lan đã vượt qua Mã Lai, Indonesia và từ năm 1991 Thái Lan là nước dẫn đầu về sản lượng cao su thiên nhiên thế giới Năm 1995 Thái Lan đứng đầu với sản lượng 1.784.000 tấn, Indonesia đứng thứ hai với 1.456.000 tấn, Mã Lai tụt xuống hạng ba với 1.089.000 tấn, đứng thứ tư là Ấn Độ với 499.500 tấn, tiếp đến là Trung Quốc với 360.000 tấn
Trong năm 1995, các nước châu Phi đạt sản lượng 260.000 tấn, các nước châu
Mỹ mặc dù là vùng nguyên quán của cây cao su nhưng chỉ đạt 77.000 tấn, đó là do
Trang 16bệnh rụng lá Nam Mỹ (SALB) đã tàn phá nghiêm trọng khiến diện tích cây cao su vùng này không thể phát triển nhanh được
Một số nghiên cứu và thành tựu của ngành sản xuất cao su thiên nhiên: năm
1918 việc ghép cao su được bắt đầu tại Indonesia, vườn cây ghép đã cho năng suất cao hơn vườn thực sinh 40 – 70% Năm 1920, công việc tuyển chọn giống cao su được bắt đầu tại Mã Lai, Indonesia và Srilanka Mục tiêu trong giai đoạn đầu là loại bỏ các cây thực sinh cho sản lượng thấp trong vườn ương, kế đó là tuyển chọn những cây thực sinh xuất sắc làm cây mẹ đầu dòng để nhân giống vô tính Năm 1928, Malaysia bắt đầu chương trình lai hoa có kiểm soát để tạo các giống cây lai ưu tú từ các cây mẹ và cây cha đã tuyển chọn Vào năm 1958 – 1960, ghép mắt xanh được triển khai lần đầu tại Bắc Borne'o, sau đó được hưởng ứng rộng rãi để thay thế phương pháp ghép mắt nâu Từ năm 1960 - 1962, nhiều phương pháp trồng mới tiến bộ đã được áp dụng cho ngành trồng cao su trên thế giới như Malaysia, Thái Lan, Indonesia
Theo báo cáo của Tập đoàn nghiên cứu cao su Quốc tế (IRSG), trong những năm gần đây mức sản xuất và tiêu thụ cao su tự nhiên trên thế giới có xu hướng ngày càng tăng, sản lượng sản xuất cao su thiên nhiên toàn thế giới tăng trưởng bình quân 5%/năm và mức tăng trưởng tiêu thụ bình quân là 5,2% trong giai đoạn 2003-2007 Trong đó nước sản xuất cao su thiên nhiên đứng đầu là Thái Lan, kế đến là Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam Năm 2007, sản lượng cao su thiên nhiên toàn thế giới đạt 9.893.000 tấn, dự kiến đến năm 2010, con số này sẽ lên đến 10.712.000 tấn
2.1.2.2 Lịch sử phát triển cây cao su ở Việt Nam
Năm 1878, Piere đưa hạt giống cao su vào trồng ở vườn Bách Thảo Sài Gòn nhưng không cây nào sống Đến năm 1897, Raoul, một dược sĩ hải quân Pháp đã mang hạt giống cao su từ vườn thực nghiệm Buitenzorg (Java - Indonesia) vào trồng thành công tại trạm thí nghiệm Ông Yệm - Sông Bé và trạm thí nghiệm của viện Pasteur tại Suối Dầu – Nha Trang
Năm 1930 Việt Nam đã khai thác trên 10.000 ha cao su, sản xuất 11.000 tấn Năm 1950, sản xuất 92.000 tấn, trên diện tích khai thác gần 70.000 ha Nhờ chính sách khuyến khích của chính quyền thuộc địa (chính sách đất đai và chính sách cho vay lãi
Trang 17suất thấp), tư bản Pháp đã thiết lập các đồn điền lớn ở các tỉnh miền Đông và ở Tây Nguyên
Cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60, Việt Nam phát động phong trào cao su tiểu điền như Malaysia, Indonesia và Thailand, nhưng với nét khác biệt là chương trình cao su dinh điền Các tiểu điền cao su dinh điền thiết lập liên canh, liên địa thành diện tích lớn với các dòng năng suất cao lúc đó là GT1, PB86…Trong hơn 5 năm (từ
1958 – 1963), diện tích cao su dinh điền đã lên đến 30.000 ha
Năm 1962, chương trình cao su được khuyến khích tài trợ và giúp đỡ kỹ thuật cho các tư nhân Việt Nam Tuy nhiên, chiến tranh tàn khốc đã làm tan hoang các đồn điền công ty và nhất là các vườn cao su tiểu điền dinh điền
Trong thập niên 1970, chích sách phát triển kinh tế tập thể đã không còn hỗ trợ phát triển tư nhân tiểu điền cao su nữa Theo thống kê năm 1976, tổng diện tích cao su mới chỉ có 76.600 ha (riêng các tỉnh phía Bắc có khoảng 5.000 ha), với sản lượng 40.200 tấn
Trong thập niên 80, chính sách đổi mới bắt đầu cho phép tiểu nông thuê khai thác tiểu điền, đã đem lại phần nào sinh khí cho ngành cao su Việt Nam Tuy nhiên, do giá cao su vào thập niên thập niên 80 giảm mạnh, các tiểu điền cũng như đồn điền cũ chưa tạo ra được bước phát triển đáng kể cho ngành cao su Việt Nam
Năm 1990, diện tích cao su Việt Nam là 250.000 ha và sản lượng là 103.000 tấn Diện tích cao su không phát triển được vào những năm đầu thập niên 90, nhờ chủ trương phát triển kinh tế thị trường những năm 90, cao su tiểu điền lại được khuyến khích phát triển, và cũng trong thời kỳ này giá cao su xuất khẩu đã lên đến đỉnh với 1.500 USD/tấn, và ngành cao su khởi sắc trở lại
Đến năm 2000 sản lượng cao su đạt 290,8 ngàn tấn Trước tình hình cạnh tranh đất trồng giữa các loại cây công nghiệp khác có cùng yêu cầu sinh thái như cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả Chính phủ đã chủ trương chỉ phát triển ngành cao su với quy mô 400.000 ha Tuy nhiên, đến năm 2001 diện tích cao su trên toàn quốc đã lên tới trên 405.000 ha, và các địa phương vẫn tiếp tục ủng hộ phát triển cao su, nhất là các tỉnh duyên hải miền Trung
Trang 18Trước năm 2005, Việt Nam là nước sản xuất cao su thiên nhiên đứng thứ 6 trên thế giới (sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, và Trung Quốc) Vị thế của ngành cao su Việt Nam trên thế giới ngày càng được khẳng định Từ năm 2005, nhờ sản lượng tăng nhanh hơn Trung Quốc, Việt Nam đã vươn lên hàng thứ 5 Riêng về xuất khẩu, từ nhiều năm qua Việt Nam đứng hàng thứ 4 thế giới
Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 500.000 ha cao su, tập trung ở Đông Nam Bộ (339.000 ha), Tây Nguyên (113.000 ha), Bắc Trung Bộ (41.500 ha) và Duyên hải Nam Trung Bộ (6.500 ha) (Trần Đức Viên, 2008)
Mục tiêu Chính phủ đưa ra đến năm 2010 là diện tích cao su Việt Nam sẽ tăng lên 700.000 ha, trong đó diện tích trồng mới chủ yếu là cao su tiểu điền (dự kiến chiếm 350.000 ha)
2.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái của cây cao su
Rễ cao su gồm có rễ cọc và rễ bàng Rễ cọc đảm bảo cho cây cắm sâu vào đất, giúp cây chống đổ ngã và đồng thời hút nước và muối khoáng từ các lớp đất sâu Hệ thống rễ bàng cao su phát triển rất rộng và phần lớn nằm trong lớp đất mặt (80-85% số lượng rễ bàng tập trung ở lớp đất sâu từ 0 – 30 cm, 10 – 15% tập trung ở lớp đất sâu từ 30-40cm) Cây cao su trưởng thành, trọng lượng toàn bộ hệ thống rễ chiếm 15% trọng lượng toàn cây Trên các giống cây sinh trưởng mạnh, trọng lượng rễ bàng nhiều hơn trên các giống cây sinh trưởng yếu Hệ thống rễ bàng phát triển theo mùa, tối đa vào giai đoạn cây ra lá non sau thời gian rụng lá qua đông và tối thiểu vào vào giai đoạn lá già trước khi rụng (Nguyễn Thị Huệ, 1997)
Lá cao su là lá kép gồm 3 lá chét với phiến lá nguyên, mọc cách, lá gắn với cuống lá một góc gần 1800 Các lá chét có hình bầu dục, hơi dài hoặc hơi tròn Màu
Trang 19sắc, hình dáng, kích thước lá thay đổi khác nhau giữa các giống Lá cao su tập trung lại thành từng tầng Trên các cây non 1 – 2 tuổi, khi chồi ngọn phát triển để tạo nên các tầng lá mới thì các lá già ở tầng dưới tự hoại đi Đối với các cây từ 3 tuổi trở lên, hàng năm vào một thời điểm tương đối cố định, toàn bộ tán lá vàng úa và rụng đi (gọi là giai đoạn rụng lá sinh lý hay rụng lá qua đông) Ngay sau khi cây rụng trụi lá, lá non bắt đầu xuất hiện và sau 1 - 1,5 tháng, tán lá non sẽ ổn định
Hoa: Cây cao su từ 5 – 6 tuổi trở lên bắt đầu trổ hoa, hoa cao su là hoa đơn tính đồng chu
Quả cao su hình tròn hơi dẹp, có đường kính từ 3 – 5 cm, quả nang gồm 3 ngăn, mỗi ngăn chứa một hạt Quả cao su sau khi hình thành và phát triển được 12 tuần thì đạt kích thước lớn nhất, 16 tuần sau vỏ quả đã hóa gỗ và 19 – 20 tuần thì quả chín Quả cao su vỡ nhiều vào lúc thời tiết khô hạn
Hạt cao su hơi dài hoặc hình bầu dục, có đường kính thay đổi từ 2 - 3,5 cm, trọng lượng hạt thay đổi từ 3,5 – 6 g Hạt có hai mặt rõ rệt: mặt bụng thường phẳng, mặt lưng cong lồi lên Lớp vỏ ngoài hạt láng, màu nâu đậm hay nhạt hoặc màu vàng đậm, có các vân Vỏ hạt cứng, ở đầu hạt có lỗ nảy mầm Kích thước, hình dáng, màu sắc hạt thay đổi tùy giống và là một trong những đặc điểm để nhận dạng giống cao su
Vỏ và hệ thống ống mủ: Khi cắt ngang thân cây, có thể phân biệt được ba phần
rõ rệt: phần trong cùng là gỗ, kế đến là lớp tượng tầng, ngoài cùng là lớp vỏ
- Vỏ được phân chia thành 3 lớp chính, theo thứ tự từ ngoài vào trong gồm: lớp mộc thiêm, lớp trung bì, lớp nội bì
- Tượng tầng (cambium): là tầng phát sinh libe mộc, là cơ quan sản xuất ra các
tế bào non của thân cây
- Ống mủ: được tạo nên từ một phần của các tế bào libe chuyên hóa mà thành Ống mủ là một ống rỗng có kích thước Ø = 20 – 50 µ Các ống mủ xếp đứng, hơi nghiêng từ phải trên cao xuống trái dưới thấp tạo thành một góc từ 201 đến 701 so với đường thẳng đứng Các ống mủ không liên tục từ gốc cây đến nơi phân cành và càng xuống thấp (gần gốc), số lượng ống mủ càng tăng Các ống mủ được sắp xếp theo vòng tròn đồng tâm, bình quân mỗi năm cây tạo được từ 1,5 - 2,5 vòng ống mủ Số
Trang 20lượng ống mủ tăng dần từ ngoài vào trong, càng gần tượng tầng số lượng ống mủ càng nhiều, càng non trẻ nên hoạt động mạnh và cho nhiều mủ
2.2.2 Đặc điểm sinh thái
2.2.2.1 Khí hậu
Nhiệt độ: Cây cao su cần nhiệt độ cao và đều, thích hợp nhất là từ 25 - 300
C, trên 400C cây khô héo, dưới 100C cây có thể chịu đựng trong một thời gian ngắn, nếu kéo dài cây sẽ bị nguy hại như lá cây bị héo, rụng, chồi ngọn ngưng tăng trưởng, nhiệt
độ thấp 50C kéo dài sẽ dẫn đến chết cây
Lượng mưa: Cây cao su có thể trồng ở các vùng có lượng mưa từ 1500 – 2000 mm/năm Đối với các vùng có lượng mưa thấp dưới 1500 mm/năm thì lượng mưa cần được phân bố đều trong năm Ở những nơi không có điều kiện thuận lợi, cây cao su cần lượng mưa 1800 – 2000 mm/năm
Gió: Gió nhẹ 1 – 2 m/giây có lợi cho cây cao su Khi gió có tốc độ trên 17,2 m/giây, cây cao su bị gãy cành, thân
Giờ chiếu sáng: ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp của cây Ánh sáng đầy đủ giúp cây ít bệnh, tăng trưởng nhanh và sản lượng cao Giờ chiếu sáng được ghi nhận tốt cho cây cao su bình quân là 1800-2800 giờ/năm và tối hảo là khoảng
1600 – 1700 giờ/năm (Trần Văn Lợt, 2006)
Sương mù: tạo điều kiện ẩm ướt cho nấm bệnh phát triển và tấn công cây cao su
như nấm Oidium heveae gây bệnh phấn trắng với mức độ nặng tại các vùng cao su Tây
Nguyên do ảnh hưởng của sương mù buổi sáng xuất hiện thường xuyên
2.2.2.2 Đất đai
Cao trình: Cây cao su thích hợp với cao trình tương đối thấp (dưới 200 m) Tuy nhiên, có nhiều kết quả khảo sát cho thấy ở cao trình cao, cây cao su cho sản lượng tốt hơn, mức sản xuất của cây cao su ở 500m tốt hơn ở 250 m Vì vậy, cao trình đất lý tưởng được khuyến cáo để trồng cao su là:
- Ở vùng xích đạo có thể trồng đến cao trình 500-600 m
- Ở vị trí 5 - 60mỗi bên vĩ tuyến, có thể trồng đến cao trình 400 m
Trang 21Độ dốc: Nên trồng cao su ở các đất có độ dốc dưới 30%
pH đất thích hợp cho cây cao su là 4,5 - 5,5, giới hạn pH có thể trồng cao su là 3,5 - 7,0
Chiều sâu đất: Đất trồng cao su lý tưởng phải có tầng đất canh tác sâu 2m, trong
đó không có tầng trở ngại cho sự tăng trưởng của rễ cao su như lớp thủy cấp treo, lớp latérit hóa dày đặc, lớp đá tảng
Sa cấu đất: Đất trồng cao su phải có thành phần sét ở lớp đất mặt (0 – 30 cm) tối thiểu 20% và lớp đất sâu hơn (>30 cm) tối thiểu là 25% (Trần Văn Lợt, 2006)
Chất dinh dưỡng trong đất: Cây cao su cũng như các loại cây trồng khác cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng như N, P, K,Ca, Mg và cả vi lượng Đối với cây cao su, dinh dưỡng trong đất không phải là yếu tố giới hạn nghiêm trọng, tuy nhiên trồng cao su trên các loại đất nghèo dinh dưỡng sẽ làm hiệu quả kinh tế kém đi
2.3 Một số kết quả nghiên cứu về ghép cao su ở Việt Nam
Giai đoạn đầu của cây cao su ở Việt Nam là những cây thực sinh, vườn cây không đồng đều, vỏ dày khó cạo và năng suất thấp
Năm 1930 – 1950, áp dụng phương pháp trồng stump trần 18 tháng tuổi
Năm 1950 – 1970, áp dụng phương pháp trồng hạt và ghép ngoài đồng, biện pháp thông thường là ghép mắt nâu, gốc ghép 16 – 20 tháng tuổi
Năm 1970 – 1975, Viện nghiên cứu Cao su Việt Nam (RRIV) thử nghiệm phương pháp trồng bầu, phương pháp ghép mắt xanh và phổ biến ra sản xuất Tuy nhiên, phương pháp trồng hạt và ghép ngoài đồng vẫn được áp dụng
Năm 1975, chương trình nghiên cứu của RRIV đề cập đến biện pháp ghép non, ghép xanh cây con còn 4 – 10 tháng tuổi
Trong Hội nghị trồng mới năm 1977, RRIV được giao ghép cây non 4 – 6 tháng tuổi để hoàn chỉnh phương pháp trồng bầu vụ muộn
Tháng 07/1979, Hội nghị khoa học kỹ thuật về cao su nhận định là có thể trồng stump trần 10 tháng tuổi trên diện rộng kết hợp với phương pháp trồng bầu
Trang 22Tháng 04/1980, Hội nghị trồng mới toàn ngành cao su đánh giá cao phương pháp trồng stump trần và đề ra biện pháp kỹ thuật quản lý vườn cây
Năm 1997, Phạm Thị Dung và cộng sự đã nghiên cứu biện pháp kỹ thuật sản xuất cây con và phương pháp trồng mới đối với cây cao su và đưa ra kết luận:
- Trong điều kiện vườn ương có chủ động nước tưới nên áp dụng kỹ thuật ghép non, ghép xanh khi đường kính gốc ghép đạt 4,9 – 10 mm, khi đưa ra trồng mới đường kính đạt 14 mm
- Kích thước bầu có thể giảm từ loại bầu 25 x 50 cm xuống còn 20 x 40 cm đối với cây non dưới 15 tháng tuổi có 1 hay 2 tầng lá
Trang 23Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 03/2012 đến tháng 07/2012
Địa điểm: giai đoạn từ khi ươm cây đến ghép được thực hiện tại vườn ươm của đội 2 nông trường cao su K’dang thuộc công ty cao su Mang Yang; giai đoạn từ sau khi tháo băng và bấm đọt được thực hiện tại Phường Thống Nhất Tp Pleiku- Gia Lai
3.2 Điều kiện nghiên cứu
3.2.1 Điều kiện đất đai
- Cao trình: 450 m
- Đất đỏ Bazan
3.2.2 Điều kiện khí hậu - thời tiết
Các yếu tố khí hậu - thời tiết trong thời gian thực hiện đề tài được thu nhận từ Trạm khí tượng thủy văn tại Thành phố Pleiku – tỉnh Gia Lai
(Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn Pleiku – Gia Lai)
3.3 Vật liệu nghiên cứu
Dụng cụ cần thiết cho nghiên cứu: thước đo đường kính gốc ghép, thước đo độ dài, bút, sổ ghi chép, máy vi tính
Sử dụng các gốc ghép là giống GT1 của vườn ươm tum bầu 12 tháng tuổi với các kích thước đường kính từ 9 - 16 mm
Sử dụng dòng vô tính PB260 làm mắt ghép với ba loại mắt ghép là: mắt xanh vảy cá, mắt xanh nách lá và mắt nâu xanh nách lá được lấy từ vườn nhân chồi của nông trường
Bảng 3.1: Điều kiện khí hậu thời tiết 6 tháng đầu năm 2012 tại Tp Pleiku – Gia Lai
Trang 243.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 253.5 Tiến trình và chỉ tiêu theo dõi
Thời gian gieo hạt giống làm gốc ghép: Tháng 05/2011
Khoảng cách giữa hai hàng kép: 90 cm
Khoảng cách giữa hai hàng đơn: 30 cm
Cây cách cây: 10 – 15 cm
Thí nghiệm được ghép vào tháng 04/2012, chỉ tiêu được theo dõi đến tháng 06/2012
Tiến hành đo gốc ghép ở độ cao 10 cm cách mặt đất trước khi ghép
Tỷ lệ cây ghép sống được quan trắc vào thời điểm sau khi mở băng
Tỷ lệ nảy chồi và tỷ lệ chồi ghép ở các giai đoạn sinh trưởng được quan trắc 10 ngày một lần sau tháo băng
- Quan trắc tỷ lệ cây ghép nảy chồi và chưa nảy chồi
Trang 26- Quan trắc tỷ lệ hạt gạo, nhú chồi, chân chim, lá non và ổn định của chồi ghép
ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau và tỷ lệ cây ghép chưa nảy chồi 10 ngày một lần
+ Tỷ lệ sống (%) = (Số cây ghép sống / Số cây quan trắc) x 100
+ Tỷ lệ chết (%) = (Số cây ghép chết / Số cây quan trắc) x 100
+ Tỷ lệ nảy chồi (%) = (Số cây đã nảy chồi / Số cây ghép sống) x 100
+ Tỷ lệ chưa nảy chồi (%) = (Số cây chưa nảy chồi / Số cây ghép sống) x 100
+ Tỷ lệ hạt gạo (%) = ( Số cây đã nhú hạt gạo / Số cây quan trắc ) x 100
+ Tỷ lệ nhú chồi (%) = ( Số cây đã nhú chồi / Số cây quan trắc) x 100
+ Tỷ lệ chân chim (%) = ( Số cây đã ra lá chân chim / Số cây quan trắc ) x 100
+ Tỷ lệ lá non (%) = ( Số cây đã ra lá non / Số cây quan trắc) x 100
+ Tỷ lệ ổn định (%) = ( Số cây đã có bộ lá ổn định / Số cây quan trắc) x 100
Chiều cao chồi ghép (tính bằng cm) và đường kính chồi ghép (tính bằng mm) được quan trắc lần đầu vào thời điểm 35 ngày sau tháo băng, 10 ngày quan trắc 1 lần Tiến hành quan trắc chỉ tiêu chiều cao và đường kính đối với những chồi đã nhú chân chim
- Chiều cao chồi ghép được đo từ mối tháp đến đỉnh sinh trưởng của chồi
- Đường kính chồi ghép được đo ở độ cao 5 cm cách mối tháp
3.6 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để ghi nhận, tính toán số liệu
Sử dụng phần mềm MSTATC để phân tích ANOVA và trắc nghiệm phân hạng các chỉ tiêu theo dõi (nếu có sự khác biệt giữa các nghiệm thức)
Trang 27Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tỷ lệ cây ghép sống
4.1.1 Tỷ lệ cây ghép sống sau tháo băng
Tỷ lệ cây ghép sống cao thì cây ghép được cắt đọt và trồng sớm, đồng thời giảm được chi phí cho công lao động cho việc ghép lại đợt 2, đợt 3, giảm chi phí sản xuất Ngoài ra còn tạo được độ đồng đều cho vườn
Bảng 4.1: Tỷ lệ cây ghép sống sau tháo băng (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
- Các số liệu có cùng ký tự theo sau thì không có sự khác biệt
Kết quả thống kê tỷ lệ cây ghép sống ở mục 2.1 phụ lục 2 cho thấy sự khác biệt giữa các nghiệm thức của yếu tố B và tương tác AB không có ý nghĩa, chỉ có yếu tố A
là có ý nghĩa với Prob = 0,0217
Như vậy, nếu sử dụng gốc ghép có đường kính từ 9-11,9 mm (A1) thì cho tỷ lệ ghép sống thấp hơn các tổ hợp còn lại mặc dù đạt được > 80% Tuy nhiên, trong cùng mức đường kính thì tổ hợp A1B1 và A1B3 cho kết quả tốt nhất và sự khác biệt không
có ý nghĩa thống kê Nhưng sự khác biệt lại có ý nghĩa về mặt thống kê (ở mức 0.05) với tổ hợp ở mức đường kính khác
Nếu sử dụng gốc ghép có đường kính 12 – 13,9 mm (A2) thì cho tỷ lệ ghép sống cao (> 86%) hơn các tổ hợp A1 nhưng lại thấp hơn các tổ hợp A3 (> 91%) Và trong cùng mức đường kính A2 thì các tổ hợp không có sự khác biệt
Trang 28Nếu sử dụng gốc ghép có đường kính 14 – 15,9 mm (A3) thì cho tỷ lệ ghép sống cao (91,11% ở A3B1) Và trong cùng mức đường kính thì tổ hợp A3B3 cho kết quả tốt nhất ( 95,55%) và có ý nghĩa thống kê so với các tổ hợp còn lại
Nếu chọn mắt ghép nâu xanh (B1) thì các tổ hợp vẫn cho tỷ lệ ghép sống cao (>84%) Trong cùng loại mắt ghép thì tổ hợp A1B1 cho kết quả thấp nhất và có ý nghĩa thống kê với hai tổ hợp còn lại Nếu chọn mắt ghép xanh vảy cá (B2) thì tổ hợp A3B2 cho kết quả tốt nhất và có ý nghĩa thống kê với hai tổ hợp còn lại (A1B2, A2B2)
Ghi chú: Các số liệu có cùng ký tự theo sau thì không có sự khác biệt
Dựa vào bảng 4.2 và mục 2.1 phụ lục 2 cho thấy, trong cùng mức đường kính thì các tổ hợp nghiệm thức không có sự khác biệt trong thống kê
Các tổ hợp A3B2 và A3B3 cho kết quả cao nhất (91,11% và 95,56%) không có
sự khác biệt ý nghĩa với những nghiệm thức còn lại nhưng có sự khác biệt rất lớn với các tổ hợp A1B1, A1B2
Theo số liệu đã được ghi nhận và trình bày ở bảng 4.2 thì trong cùng một điều kiện thời tiết và chế độ chăm sóc, nếu sử dụng cùng một loại mắt ghép như nhau thì tỷ
lệ cây ghép sống cao hơn ở các nghiệm thức có đường kính lớn hơn Điều này cho thấy kích thước đường kính gốc ghép có ảnh hưởng đến tỷ lệ ghép sống Cây có đường
Trang 29kính gốc ghép lớn sẽ có sức khỏe tốt, sự trao đổi dinh dưỡng trong cây mạnh giúp mắt ghép dễ dàng tiếp nhận được dinh dưỡng và được nuôi sống Và cùng mức độ đường kính thì các loại mắt ghép có tỷ lệ sống tương đương nhau
Mặc dù việc sử dụng mắt ghép PB260 thường cho tỷ lệ ghép sống thấp hơn các dòng vô tính khác nhưng tỷ lệ ghép sống quan trắc sau bấm đọt của các NT đều đạt
>75%, NT1, NT2 có tỷ lệ ghép sống thấp nhất cũng đạt 75,56% Kết quả này cho thấy, có thể tiến hành ghép đối với những gốc ghép có đường kính từ 9 mm trở lên trong điều kiện thiếu giống và nhân lực ghép tốt
Tuy nhiên tỷ lệ ghép sống còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan như: kỹ thuật ghép, thời điểm và thời tiết khi ghép, chế độ chăm sóc vườn ươm
4.2 Sự sinh trưởng của chồi ghép qua các giai đoạn sau cắt ngọn
4.2.1 Tỷ lệ nảy chồi và chưa nảy chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 15 ngày (%)
Sau khi cắt ngọn, theo cơ chế sinh trưởng các mầm sẽ bắt đầu nảy chồi, trong
đó mắt ghép chứa mầm ghép đang ngủ sẽ nảy chồi để đáp ứng nhu cầu sinh trưởng của cây Quá trình theo dõi cho thấy, sau 15 ngày cắt ngọn, một số mắt ghép bắt đầu nhú hạt gạo ở các NT
Bảng 4.3: Tỷ lệ nảy chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 15 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A) A1 (9-11,9 mm) 14,65 e 20,46 e 36,28 bc 23,79 b A2 (12-13,9 mm) 28,63 d 35,26 cd 49,13 a 37,67 a A3 (14-15,9 mm) 43,56 ab 38,63 bc 39,84 bc 40,68 a
Ghi chú: Các số liệu có cùng ký tự theo sau thì không có sự khác biệt
Bảng 4.3 cho thấy: sau 15 ngày cắt ngọn, tỷ lệ nảy chồi của NT1 (A1B1) đạt 14,65% thấp nhất trong các tổ hợp NT6 (A2B3) có tỷ lệ nảy chồi cao nhất trong chín
NT (49,39%) Các nghiệm thức có đường kính gốc ghép lớn có tỷ lệ nảy chồi cao hơn gốc ghép có đường kính nhỏ Các NT có mắt ghép xanh nảy chồi nhanh hơn mắt ghép
Trang 30nâu NT2, 3, 4 và 7 có tỷ lệ nảy chồi thấp hơn tỷ lệ nảy chồi trung bình của toàn thí nghiệm Qua kết quả phân tích thống kê, ở mục 2.4 mục lục 2 sự khác biệt về tỷ lệ nảy chồi giữa các NT không có ý nghĩa thống kê (Fns
)
Mặc dù các NT có đường kính gốc ghép khác nhau nhưng giữa các NT không
có sự khác biệt lớn về tỷ lệ nảy chồi Trong giai đoạn 15 ngày sau bấm đọt, đường kính gốc ghép chưa có biểu hiện ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của chồi ghép, thời gian và tỷ lệ nảy chồi là do mắt ghép quyết định Những mắt ghép cùng loại thì có cùng những đặc điểm và tính chất về mặt sinh lý, vì vậy gần như tương đương với nhau về thời gian và tỷ lệ nảy chồi
4.2.2 Tỷ lệ nảy chồi và chưa nảy chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 25 ngày
Sau 25 ngày cắt ngọn các mầm ghép bắt đầu nảy chồi mạnh ở tấ t cả các NT và được theo dõi và ghi nhận
Bảng 4.4: Tỷ lệ nảy chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 25 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
Ghi chú: Các số liệu có cùng ký tự theo sau thì không có sự khác biệt
Dựa vào bảng 4.4 và mục 2.4 phụ lục 2 cho thấy được tỷ lệ nảy chồi ở các nghệm thức vẫn thấp, cao nhất chỉ đạt 83,81% ở NT9 (A3B3)
Kết quả cho thấy mắt ghép nâu xanh (B1) và xanh vảy cá (B2) ở trong cùng mức đường kính có tỷ lệ nảy chồi tương đương nhau Mắt ghép xanh nách lá có tỷ lệ nảy chồi mạnh hơn hai loại mắt ghép còn lại đạt 83,81% so với 64,65% ở NT2 (A1B2)
Trong cùng mức đường kính cây ghép có xu hướng nảy chồi theo hướng mắt ghép từ nâu đến xanh nách lá nhưng chưa rõ ràng Trong cùng loại mắt ghép thì tỷ lệ
Trang 31nảy chồi của cây ghép tương đương nhau, điều này cho thấy tỷ lệ nảy chồi phụ thuộc nhiều vào loại mắt ghép
Dựa vào bảng mục 2.4 phụ lục 2 ta thấy sự khác biệt giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa thống kê (Fns), tuy nhiên tổ hợp cho kết quả tốt nhất là NT9 (A3B3)
vì kết hợp được sự khỏe mạnh của gốc ghép có đường kính lớn đầy đủ dưỡng chất tạo nhanh điều kiện cho mầm ghép nhanh phát triển Đồng thời với mắt ghép xanh vảy cá,
là loại mắt ghép có mô phân sinh mạnh, mầm ghép dể nảy chồi
4.2.3 Sự sinh trưởng của chồi ghép sau cắt ngọn 25 ngày
Các mầm ghép sau khi nảy chồi sẽ phát triển nhanh qua các giai đoạn như hạt gạo, nhú chồi, chân chim, ra lá non, ổn định tầng lá thứ nhất
Sau 25 ngày bấm đọt, hầu hết các NT đều có các cây ghép ở các giai đoạn từ chưa nảy chồi đến chân chim Kết quả được theo dõi như sau:
Bảng 4.5: Tỷ lệ hạt gạo của chồi ghép sau cắt ngọn 25 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
lệ hạt gạo thấp nhất là NT5 với 29,49% và tổ hợp có tỷ lệ hạt gạo cao nhất là NT9 với 53,49%
Theo kết quả của bảng 4.5 thì đường kính gốc ghép cũng ảnh hưởng đế n tỷ lệ nhú hạt gạo ở các NT mặc dù tăng rất ít Tỷ lệ nhú hạt gạo trung bình của mức đường kính A1 (9-11,9 mm) là 70,08% tăng lên 73,58% ở mức A3 (14-15,9 mm)
Trang 32Ở giai đoạn này, tỷ lệ ở các tổ hợp NT tương đương nhau ở một mức độ đường kính và sự khác biệt không có ý nghĩa trong thống kê trong cùng loại mắt ghép và với đường kính khác nhau Sự khác biệt ở tương tác hai yếu tố cũng không rõ ràng và cũng không cho ý nghĩa trong thống kê
Bảng 4.6: Tỷ lệ nhú chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 25 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
Mặc dù không có ý nghĩa trong thống kê nhưng tỷ lệ này tăng từ mắt ghép nâu xanh đến mắt ghép xanh vảy cá Tỷ lệ trung bình đạt từ 21,61% đến 26,34% Đường kính gốc ghép cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nhú chồi ở các NT, và tỷ lệ nhú chồi giảm dần theo chiều tăng của đường kính gốc ghép nhưng sự chênh lệch không quá lớn giảm 5,63 đơn vị
Bảng 4.7: Tỷ lệ chân chim của chồi ghép sau cắt ngọn 25 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
Trang 33Theo kết quả ở bảng 4.7 và mục 2.7 phụ lục 2 thì sau cắt ngọn 25 ngày, số cây nhú chân chim chiếm một tỷ lệ nhỏ (cao nhất chỉ đạt 10,68%) và tại thời điểm này, chưa có chồi ghép nào ở giai đoạn lá non và ổn định về bộ lá
Tỷ lệ chồi ghép ở giai đoạn nhú chân chim giữa các NT chênh lệch ít Kết quả phân tích ở mục 2.7 phụ lục 2 cho thấy sự khác biệt của tỷ lệ nhú chân chim ở giai đoạn này giữa các tổ hợp NT không có ý nghĩa thống kê (Fns
)
Ở thời điểm sau cắt ngọn 25 ngày, bộ rễ cây đang trong quá trình tiếp nhận dinh dưỡng từ đất, vì chưa phát triển mạnh mẽ nên cây ghép và mắt ghép chủ yếu sống nhờ vào chất dinh dưỡng dự trữ có sẵn, quá trình trao đổi chất trong cây diễn ra tối thiểu – chỉ để duy trì sự sống của cây (quá trình theo dõi cho thấy trong thời gian này, không
có sự gia tăng về đường kính gốc ghép) Vì vậy, đường kính gốc ghép đã có ảnh hưởng đến tỷ lệ chồi ghép ở các giai đoạn sinh trưởng, sự sinh trưởng của chồi ghép là
do các nhân tố nội tại trong mắt ghép kết hợp với nhân tố nội tại trong gốc ghép
Ở giai đoạn nhú chân chim, các tổ hợp NT thể hiện sự khác biệt nhưng không
có ý nghĩa Các NT có tỷ lệ nhú chân chim không ổn định Có thể giai đoạn này, các chồi nhú chân chim ở các NT đều ít, sự biến thiên lớn, từ đó dẫn đến kết quả độ chính xác của tỷ lệ chân chim ở giai đoạn này là không cao
4.2.4 Sự sinh trưởng của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày
Bảng 4.8: Tỷ lệ chưa nảy chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
A2 (12-13,9 mm) 7,90 c 8,12 c 10,97 b 9,00 a A3 (14-15,9 mm) 7,72 c 7,35 c 6,98 c 7,35 b
Trang 34Đối với tỷ lệ chưa nảy chồi sau 35 ngày cắt ngọn thì qua kết quả phân tích ở mục 2.8 phụ lục 2 cho thấy kết quả sự khác biệt có ý nghĩa Tỷ lệ nảy chồi tại thời điểm này của các NT phụ thuộc vào cả đường kính gốc ghép và loại mắt ghép Gốc ghép càng lớn và mắt ghép càng non thì tỷ lệ chưa nảy chồi thấp, đồng nghĩa với tỷ lệ nảy chồi lớn
Dựa vào kết quả trắc nghiệm phân hạng ở mục 2.9 phụ lục 2 cho thấy tương tác giữa hai yếu tố cũng có sự khác biệt rất có ý nghĩa, 9 NT được chia làm ba nhóm có sự khác biệt với nhau, nhóm gồm các tổ hợp NT1 và NT2, nhóm NT6 và nhóm gồm các
NT còn lại Ba nhóm này có sự khác biệt rõ ràng và rất có ý nghĩa thống kê (F**
) Trong cùng loại mắt ghép thì tỷ lệ chưa nảy chồi giảm theo chiều tăng đường kính gốc ghép Trong cùng loại đường kính thì tỷ lệ chưa nảy chồi tăng từ mắt ghép nâu xanh đến mắt ghép xanh vảy cá
Bảng 4.9: Tỷ lệ hạt gạo của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
Ghi chú: Các số liệu có cùng ký tự theo sau thì không có sự khác biệt
Đối với tỷ lệ hạt gạo thì kết quả ở bảng 4.9 và mục 2.8 phụ lục 2 cho thấy sự khác biệt giữa đường kính gốc ghép và loại mắt ghép đều không có ý nghĩa trong thống kê Tương tác giữa hai yếu tố cũng không có sự khác biệt (Fns) Trong cùng mức đường kính thì tỷ lệ hạt gạo không phụ thuộc vào loại mắt ghép sử dụng Tại thời điểm này mắt ghép cho hiệu quả tốt nhất là mắt nâu xanh (28,84%) ở NT4 so với tổ hợp thấp nhất là (19,02%) ở NT5
Đường kính gốc ghép và loại mắt ghép đều ảnh hưởng tới tỷ lệ hạt gạo ở giai đoạn này, nó tăng theo chiều non của mắt ghép và chiều tăng của đường kính gốc ghép
Trang 35Bảng 4.10: Tỷ lệ nhú chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
Bảng 4.11: Tỷ lệ chân chim của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
Trang 36Bảng 4.12: Tỷ lệ lá non của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
Ghi chú: Các số liệu có cùng ký tự theo sau thì không có sự khác biệt
Dựa vào bảng 4.12 và mục 2.8 phụ lục 2 cho thấy kết quả là sự khác biệt rất có
ý nghĩa giữa các nghiệm thức Kết quả cho thấy ảnh hưởng của đường kính gốc ghép
và loại mắt ghép đến tỷ lệ lá non của các nghiệm thức là rất lớn
Tuy ở giai đoạn này hầu hết tỷ lệ lá non của các nghiệm thức ch iếm tỷ lệ nhỏ hơn 30%, NT đạt tỷ lệ cao nhất đạt 25,56% là NT9, nghiệm thức có tỷ lệ nhỏ nhất là NT4 đạt 7,90%
Dựa vào kết quả trắc nghiệm phân hạng ở mục 2.11 phụ lục 2 cho kết quả là 9 nghiệm thức được chia làm ba nhóm Nhóm gồm các nghiệm thức NT 9, nhóm chỉ có nghiệm thức NT3 và nhóm gồm các nghiệm thúc còn lại Các nghiệm thức trong cùng nhóm không có sự khác biệt ý nghĩa và sự khác biệt rất có ý nghĩa đố i với các nghiệm thức nhóm khác
Bảng 4.13: Tỷ lệ ổn định của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB
Trang 37Vào thời điểm 35 ngày sau cắt ngọn, đã có những chồi ghép ổn định về bộ lá tuy chiếm tỷ lệ rất nhỏ (<15%) và sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (F**) theo mục 2.8 phụ lục 2
Tổ hợp NT có cây ghép ổn định nhanh nhất là A1B3 (NT3) Điều này cho thấy
sự tiếp hợp giữa gốc ghép và mắt ghép đạt hiệu quả tốt Nguyên nhân là bộ rễ của các cây ghép ở NT3 đã phát triển đến độ có khả năng tác động lên sự sinh trưởng của chồi ghép Vì đường kính gốc ghép lớn hơn đường kính cây ghép các NT còn lại của thí nghiệm nên dự trữ được nhiều dinh dưỡng hơn, kích thích được bộ rễ hình thành và phát triển sớm hơn và bước đầu có ảnh hưởng tích cực đến sự sinh trưởng của chồi ghép
Dựa vào bảng 4.13 và mục 2.8 phụ lục 2 cho thấy tỷ lệ ổn định cao nhất ở thời điểm này là ở NT3 đạt 11,15%, NT có tỷ lệ thấp nhất là NT1 và NT2 chưa có cây ghép
ổn định Tỷ lệ ổn định tăng dần theo mức tăng của đường kính và mức già của loại mắt ghép
Kết quả trắc nghiệm phân hạng ở mục 2.12 phụ lục 2 cho thấy các tổ hợp nghiệm thức được chia làm bốn nhóm Nhóm gồm các nghiệm thức NT 1, NT2, nhóm NT3, nhóm NT7 và nhóm gồm tất cả các nghiệm thức còn lại , các NT t rong cùng nhóm không có sự khác biệt ý nghĩa , chỉ có sự khác biệt rất ý nghĩa với các nghiệm
thức nhóm khác
4.2.5 Sự sinh trưởng của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày
Bảng 4.14 Tỷ lệ hạt gạo của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
Trang 38Các nghiệm thức có tỷ lệ tương đương nhau do đó sự khác biệt của tỷ lệ hạt gạo
ở giai đoạn này không có ý nghĩa thống kê
Bảng 4.15: Tỷ lệ nhú chồi của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
Tổ hợp đạt kết quả nhú chồi tốt nhất là A1B1 (NT1) đạt 17,6%, tổ hợp có tỷ lệ nhú chồi thấp nhất là A 3B2 (NT8) với 7,35% Tỷ lệ nhú chồi tăng theo sự tăng của đường kính gốc ghép và độ non của loại mắt ghép
Bảng 4.16: Tỷ lệ chân chim của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
Tỷ lệ chân chim của các nghiệm thức ở giai đoạn này đang tăng dần, tăng hơn
so với giai đoạn trước Các nghiệm thức có mức phát triển như nhau và đồng đều, do
đó sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Trang 39Bảng 4.17 Tỷ lệ lá non của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB
Ghi chú: Các số liệu có cùng ký tự theo sau thì không có sự khác biệt
Dựa vào bảng 4.17 và mục 2.12 phụ lục 2 cho thấy kết quả phân tích cho chỉ tiêu lá non của các tổ hợp NT mang sự khác biệt rất không có ý nghĩa thống kê
Tỷ lệ lá non của các nghiệ m thức ở giai đoạn này tăng theo chiều từ mắt ghép xanh vảy cá đến mắt ghép nâu xanh Nghiệm thức có tỷ lệ cao nhất là NT8 đạt 24,62%
và nghiệm thức có tỷ lệ thấp nhất là NT4 với 18,38%
Bảng 4.18 Tỷ lệ lá ổn định của chồi ghép sau cắt ngọn 45 ngày (%)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB (A)
Ghi chú: Các số liệu có cùng ký tự theo sau thì không có sự khác biệt
Đối với chỉ tiêu ổn định tầng lá thứ nhất thì với yếu tố mắt ghép mang sự khác biệt không có ý nghĩa trong thống kê Điều này cho thấy khi cây bắt đầu ổn định lá thì loại mắt ghép không còn ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây ghép Kết quả phân tích thống kê ở mục 2.12 phụ lục 2 cho thấy trong cùng loại mắt ghép thì đường kính gốc ghép có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng chồi ghép Sự khác biệt rất có ý nghĩa thể hiện rõ giữa các cây ghép có đường kính nhỏ và lớn hơn 12 mm
Trang 40Đến thời điểm 45 ngày sau bấm cắt ngọn, tỷ lệ ổn định tầng lá thứ nhất của các
tổ hợp NT tăng cao Và đạt hiệu quả cao nhất ở tổ hợp A3B1 với 48,90% Điều này cho thấy các mắt ghép xanh nâu tuy nảy chồi muộn nhưng khi phát triển thì đạt tốc độ
nhanh hơn các loại mắt ghép khác
4.3 Sự tăng trưởng về chiều cao và đường kính của chồi ghép
4.3 1 Chiều cao và đường kính chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày
Bảng 4.19: Trung bình chiều cao của chồi ghép sau cắt ngọn 35 ngày (cm)
B1 (nâu xanh) B2 (xanh NL) B3 (xanh VC) TB
Ghi chú: Các số liệu có cùng ký tự theo sau thì không có sự khác biệt
Kết quả theo dõi cho thấy đến giai đoạn 35 ngày thì các tổ hợp NT phát triển mạnh về chiều cao Các NT lúc đầu có tỷ lệ nảy chồi thấp thì giai đoạn này lại đạt chiều cao nhanh nhất Ở giai đoạn này sự khác biệt được thể hiện rõ ở cả hai yếu tố A
và B và rất có ý nghĩa trong thống kê
Đối với cùng mức đường kính thì chiều cao cây tăng từ mắt ghép xanh vảy cá đến mắt xanh nâu Cụ thể, NT1 đạt chiều cao trung bình là 19,80 cm so với NT2 là 16,92 cm và NT3 là 13,95 cm ở cùng mức đường kính A1 NT4 đạt chiều cao trung bình 21,79 cm cao hơn các tổ hợp NT1, 2 và 3 và cao hơn các nghiệm thức trong cùng mức độ đường kính là A2 là 20,03 cm ở NT5 và 16,23 cm ở NT6
Với mức đường kính A3 thì tổ hợp NT đạt kết quả tốt nhất là 25,12 cm ở NT7 Dựa vào kết quả phân tích ở mục 2.16 phụ lục 2 cho thấy sự khác biệt rất có ý nghĩa giữa các tổ hợp NT mang yếu tố A1 với các tổ hợp NT mang yếu tố A3