1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ CÂY LAI VỤ 2011 VÀ KẾT QUẢ VỤ LAI 2012 TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU CAO SU VIỆT NAM

78 188 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu: theo dõi kết quả đậu trái của chương trình lai hoa nhân tạo của Bộ môn Giống – Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam năm 2012 và theo dõi và đánh giá một số đặc tính về si

Trang 1

ĐÁNH GIÁ CÂY LAI VỤ 2011 VÀ KẾT QUẢ VỤ LAI 2012

TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU CAO SU VIỆT NAM

Tác giả ĐẶNG THỊ PHƯƠNG THẢO

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng kỹ sư ngành Nông học

Giáo viên hướng dẫn:

ThS LÊ MẬU TÚY ThS LÊ HOÀNG NGỌC ANH ThS TRẦN VĂN LỢT

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Chân thành cảm tạ:

Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Ban Chủ Nhiệm cùng toàn thể thầy cô Khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

ThS Trần Văn Lợt, giáo viên hướng dẫn đề tài, Bộ môn Cây Công Nghiệp - trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam, Bộ môn Giống và các cô chú

kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân viên kỹ thuật trong Bộ môn Giống đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đề tài

ThS Lê Mậu Túy, Trưởng Bộ môn Giống - Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam

đã tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn ThS Lê Hoàng Ngọc Anh đã trực tiếp theo dõi, hướng dẫn trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn này

Trang 3

Hội đồng hướng dẫn:

1 ThS Lê Mậu Túy

2 ThS Lê Hoàng Ngọc Anh

3 ThS Trần Văn Lợt

Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài được thực hiện trên các đối tượng: Các DVT bố mẹ được qui hoạch trong

vụ lai 2011 trên các vườn lai và sơ tuyển, 1.859 cây lai t do (chỉ kiểm soát được dòng mẹ) và 823 cây lai nhân tạo (17 tổ hợp lai của 12 mẹ và 9 bố) được bố trí trên thí nghiệm vườn ươm năm 2011

Nội dung nghiên cứu: theo dõi kết quả đậu trái của chương trình lai hoa nhân tạo của Bộ môn Giống – Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam năm 2012 và theo dõi và đánh giá một số đặc tính về sinh trưởng, màu sắc, kích thước lá và bệnh hại của cây lai

vụ 2011 để đánh giá tổng quát, chọn lọc những cây lai ưu tú đưa sang các bước tuyển chọn tiếp theo

Kết quả đạt được:

- Trong vụ lai 2012 đã tiến hành lai được 11.954 hoa, đậu 527 trái, đạt tỉ lệ đậu là 4,41 %

Trang 4

- Qua thời gian theo dõi đánh giá cây lai vụ 2011 thì từ 11 dòng mẹ đã chọn lọc được 107 cá thể ưu tú đưa vào vườn tuyển non 2012 Trong đó một số DVT làm mẹ

có cây lai được chọn với tỉ lệ cao là IAN 873, LH 97/653, LH 96/345

Trang 5

MỤC LỤC

TÓM TẮT iii

DANH SÁCH CÁC BẢNG vii

DANH SÁCH CÁC BẢNG vii

DANH SÁCH CÁC HÌNH viii

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix

Chương 1:MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích - yêu cầu và giới hạn của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.2.3 Giới hạn đề tài 2

Chương 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Giới thiệu chung về cây cao su 3

2.2 Đặc điểm di truyền học của cây cao su 4

2.3 Đặc điểm thực vật học và sinh thái học của cây cao su 5

2.3.1 Đặc tính thực vật học 5

2.3.2 Điều kiện sinh thái 8

2.4 Những cải tiến giống cao su 10

2.4.1 Mục tiêu và các phương pháp cải tiến giống cao su 10

2.4.2 Cải tiến giống cao su trên thế giới 11

2.4.3 Cải tiến giống cao su ở Việt Nam 12

2.5 Những nghiên cứu về lai hoa nhân tạo 14

2.5.1 Những nghiên cứu ngoài nước 14

2.5.1.1 Nghiên cứu một số hạn chế của phương pháp lai hoa nhân tạo 14

2.5.1.2 Nghiên cứu một số giải pháp khắc phục hạn chế của phương pháp lai hoa nhân tạo 16

2.5.2 Những nghiên cứu trong nước 18

2.6 Những nghiên cứu về lai hoa tự do 19

Chương 3:VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Thời gian và địa điểm 21

Trang 6

3.2 Vật liệu nghiên cứu 21

3.2.1 Vật liệu lai hoa vụ lai 2012 21

3.2.2 Vật liệu quan trắc cây lai vụ lai 2011 22

3.3 Phương pháp nghiên cứu 22

3.3.1 Phương pháp lai hoa nhân tạo 22

3.3.2 Phương pháp quan trắc cây lai vụ lai 2011 24

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 26

Chương 4:KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 27

4.1 Lai hoa nhân tạo 27

4.1.1 Tỉ lệ đậu trái của một số DVT cao su 27

4.1.2 Kết quả đậu trái theo dòng mẹ trên các vườn lai 28

4.1.3 Tỉ lệ đậu trái theo dòng bố 30

4.1.4 Tỉ lệ đậu trái theo tổ hợp lai 31

4.1.5 Khả năng đậu trái theo số hoa lai trên một cành lai 32

4.1.6 Tỉ lệ đậu trái theo thời điểm lai hoa 33

4.2 Đánh giá cây lai vụ 2011 34

4.2.1 Kết quả quan trắc đường kính 34

4.2.2 Kết quả quan trắc chiều cao 35

4.2.3 Kết quả quan trắc tỉ lệ dài / rộng lá 37

4.2.4 Kết quả quan trắc màu sắc lá 37

4.2.5 Bệnh hại 38

4.2.6 Kết quả chọn lọc cây lai của các DVT 40

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42

5.1 Kết luận 42

5.2 Đề nghị 43

Một số hình ảnh: 44

PHỤ LỤC 56

Trang 7

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Điều kiện khí hậu thủy văn 3 tháng đầu năm 2012 21

Bảng 3.2: Đặc điểm của các vườn thực hiện lai tạo giống năm 2012 22

Bảng 3.3: Phân cấp tỉ lệ dài / rộng lá 24

Bảng 3.4: Phân cấp màu sắc lá 24

Bảng 3.5: Qui ước phân cấp bệnh phấn trắng 25

Bảng 3.6: Qui ước phân cấp bệnh Corynespora 25

Bảng 4.1: Kết quả lai hoa nhân tạo vụ lai 2012 27

Bảng 4.2: Kết quả đậu trái theo dòng mẹ trên các vườn lai tại Lai Khê 30

Bảng 4.3: Kết quả lai hoa có kiểm soát theo dòng bố 31

Bảng 4.4: Kết quả lai hoa có kiểm soát của các tổ hợp lai 32

Bảng 4.5: Đường kính của cây lai theo DVT mẹ ở giai đoạn 8 tháng tuổi 35

Bảng 4.6: Chiều cao của cây lai theo DVT mẹ giai đoạn 8 tháng tuổi 36

Bảng 4.7: Đánh giá bệnh Corynespora theo dòng mẹ 39

Bảng 4.8: Bệnh phấn trắng và hiện tượng bạch tạng theo dòng mẹ 40

Bảng 4.9: Số lượng cá thể chọn lọc theo dòng mẹ 41

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 4.1: Tỉ lệ đậu trái theo số hoa lai trên một cành 33

Hình 4.2: Diễn biến số hoa lai và tỉ lệ đậu trái qua thời gian lai 34

Hình 4.3: Tỉ lệ (%) cây có hình dạng lá của từng DVT 37

Hình 4.4: Tỉ lệ (%) cây có màu sắc lá của từng DVT 38

Hình 1: Dụng cụ lai 44

Hình 2: Hoa cao su còn non 44

Hình 3: Hoa cao su lúc chín 45

Hình 4: Lấy phấn hoa đực 45

Hình 5: Tỉa hoa trên chùm hoa cái 46

Hình 6: Thao tác lấy hạt phấn hoa đực 46

Hình 7: Thao tác đưa hạt phấn vào hoa cái 47

Hình 8: Thao tác dán cánh hoa sau khi lai 47

Hình 9: Treo biển sau khi lai 48

Hình 10: Bao trái 4 tháng sau khi lai 48

Hình 11: Vườn ươm cây lai 49

Hình 12: Đo đường kính cây lai 49

Hình 13: Đo chiều cao cây lai 50

Hình 14: Đo chiều dài lá 50

Hình 15: Đo chiều rộng lá 51

Hình 16: Phân cấp màu sắc lá 51

Hình 17: Bệnh Corynespora 52

Hình 18: Bệnh phấn trắng 52

Hình 19: Hiện tượng bạch tạng 53

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AC, MT, RO Các kiểu gen cao su hoang dại sưu tập tại Amazon, Brazil

IAN, FX, GU Các dòng vô tính cao su chọn lọc tại Nam Mỹ

LH Lai hoa – Giống cao su lai tạo tại Việt Nam

LK Lai Khê, Trạm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam

PB Prang Besar, trạm Nghiên cứu cao su thuộc Golden Hope, Malaysia RRIC Rubber Research Institute of Sri Lanka, Viện Nghiên cứu Cao su

Trang 10

C hương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây cao su (Hevea brasiliensis) lần đầu tiên du nhập thành công vào Việt Nam

từ năm 1897, hiện nay được xác định là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, ổn định, góp phần cải thiện điều kiện kinh tế xã hội và môi trường

Nhận thức được giống là yếu tố có tính chất quyết định trong hệ thống kỹ thuật tác động đến năng suất và hiệu quả kinh tế của vườn cao su nhưng là một công tác dài

hạn, tốn kém đối với cây lâu năm, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam đã tập trung đầu

tư cho chương trình cải tiến giống (Trần Thị Thúy Hoa và cs, 2005)

Hiện nay phương pháp gieo phấn có kiểm soát (thụ phấn nhân tạo) có kết quả cao nhất để tạo giống cao su mới, kế đến là thụ phấn tự do Các phương pháp gây đột biến, đa bội hóa nhiễm sắc thể, chuyển gen không được chú trọng, ít hiệu quả và chưa chủ động

Trong bất kỳ chương trình lai hoa được hoạch định tốt nào thì các cha mẹ cũng được chọn lựa trên cơ sở các thuộc tính mong muốn của nó và tiềm năng di truyền của chúng để truyền các thuộc tính đó cho hậu duệ Việc đánh giá khả năng phối hợp giúp các nhà tạo giống cao su xác định các dòng vô tính cha mẹ thích hợp Nhưng một số dòng vô tính không có sự đồng bộ tốt về thời gian ra hoa Sự bất đồng bộ trong ra hoa này đã hạn chế các chương trình lai và nhà tạo giống buộc lòng phải bỏ một số tổ hợp

Tuy nhiên phương pháp lai hoa nhân tạo ở cây cao su thường cho tỉ lệ đậu trái thấp, do phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện nội tại và ngoại cảnh, điều này đã gây ra không ít khó khăn cho các nhà lai tạo giống, sự ra hoa không đồng bộ giữa các dòng

vô tính đã ngăn cản một số tổ hợp lai không thực hiện được Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng để cải thiện tỉ lệ đậu trái là rất cần thiết

Đề tài: “ĐÁNH GIÁ CÂY LAI VỤ 2011 VÀ KẾT QUẢ VỤ LAI 2012 TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU CAO SU VIỆT NAM” được thực hiện trên cơ sở tiếp nối chương trình lai tạo giống mới của Viện, đồng thời theo dõi những đặc tính nông học của cây lai vụ 2011 và tỉ lệ đậu trái của vụ lai 2012

Trang 11

1.2 Mục đích - yêu cầu và giới hạn của đề tài

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá đặc tính cây lai từ kết quả vụ 2011 để xác định những dòng mẹ cho cây lai ưu tú

- Chọn ra những cây lai có đặc tính tốt đưa vào vườn tuyển non năm 2012

- Tìm ra các dòng vô tính làm bố mẹ có khả năng tổ hợp cho cây lai để cơ cấu cho những vụ lai tiếp theo

1.2.2 Yêu cầu

- Theo dõi và đánh giá một số đặc tính về sinh trưởng, màu sắc, kích thước lá và bệnh hại của cây lai vụ 2011

- Trong thời gian thực hiện đề tài, thực hiện lai hoa nhân tạo trên các DVT cao su

đã được quy hoạch trước Tổng hợp số liệu và đánh giá khả năng đậu trái của các dòng

vô tính cây cao su sử dụng trong vụ lai 2012

1.2.3 Giới hạn đề tài

Vì thời gian thực hiện đề tài có giới hạn nên đề tài chỉ tiến hành theo dõi và đánh giá một số đặc tính của cây lai và đánh giá khả năng đậu trái của một số dòng vô tính

Trang 12

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu chung về cây cao su

Cây cao su có tên khoa học là Hevea brasiliensis Muell Arg., là loài thuộc chi

benthamiana, H camarganoa, H camporum, H guianensis, H nitida, H microphylla,

chứa mủ cao su nhưng chỉ có loài Hevea brasiliensis là có ý nghĩa về kinh tế và được

trồng rộng rãi nhất (Webster và Paardekooper, 1989)

Tất cả các loài trong chi Hevea là loài đặc hữu bản địa của vùng Amazon, Nam Mỹ; phân bố từ 15 vĩ độ Nam đến 6 vĩ độ Bắc và từ 46 đến 77 kinh độ Tây, bao gồm các nước: Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuador, Venezuela, French, Guiana, Surinam và Guyana Ngoài vùng bản địa trên người ta không tìm thấy cây cao su trong

tự nhiên ở các nơi khác trên thế giới (Wycherley, 1978) Vùng sinh thái tự nhiên của cây cao su thuộc khí hậu nhiệt đới ẩm, khá đa dạng với lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm/năm, không có mùa khô hoặc mùa khô từ tháng 1 đến 5 tháng, nhiệt độ trung bình 280C

Sau khi được các nhà khoa học khám phá ra khả năng ứng dụng rất lớn của mủ cao su vào cuộc sống, cây cao su đã được nhân trồng ra nhiều nơi trên thế giới và trở thành một trong những cây công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao Người ta không thấy có nguyên liệu thực vật nào được sử dụng rộng rãi như cao su với hơn 50.000 sản phẩm được tạo ra từ cao su (vỏ xe, dụng cụ y tế, thảm nệm) (Lê Mậu Túy và cs, 2001)

Cây cao su trở thành cây trồng từ khi Henri Wickham, nhà thực vật học Anh, đã thu 70.000 hạt cao su năm 1876 từ vùng quanh sông Tapojos, hữu ngạn sông Amazone

và chuyển về công viên hoàng gia Anh ở Kiew Chỉ 4 % hạt nảy mầm, được khoảng

2700 cây Sau 2 tháng, 1919 cây được chuyển sang Sri Lanka và sống khoảng 90 %,

18 cây chuyển sang Indonesia chỉ sống được 2 cây, 50 cây chuyển sang Singapore nhưng không sống Năm 1877 một đợt chuyển 22 cây từ Kiew sang Singapore đã thành công và sau đó phát triển rộng khắp Mã Lai Từ năm 1833, cây cao su ở Sri

Trang 13

Lanka và Mã Lai có hạt và làm nguồn giống cung cấp cho nhiều nước ở Châu Á và Châu Phi Nguồn vật liệu do Wickham sưu tập được xem là thủy tổ của hầu hết diện tích cao su ở Châu Á và Châu Phi (Trần Thị Thúy Hoa, 1998)

Năm 1878 cây cao su được Jean Louis Pierre mang vào Việt Nam và trồng ở vườn Bách Thảo Sài Gòn nhưng không thành công Đến năm 1897, được bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dầu và thành công, đánh dấu sự có mặt của cây cao su ở Việt Nam

Từ đó diện tích cây cao su không ngừng được mở rộng cho đến nay (Trần Thị Thúy Hoa, 1998)

Hiện nay, cao su được trồng tập trung chủ yếu ở các nước châu Á (93 %), kế đến là các nước châu Phi (5 %) và một ít ở châu Mỹ (2 %) (Nguyễn Thị Thảo, 2008)

Theo số liệu của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn năm 2011, diện tích trồng cao su của cả nước là 834,2 ngàn ha với sản lượng đạt 811.600 tấn Dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng cho rằng, sản lượng cao su xuất khẩu trong 2012 của Việt Nam có thể đạt con số gần 830.000 tấn

Với tốc độ tăng trưởng cao các năm tới, khu vực Châu Á dự báo tiếp tục dẫn đầu tăng trưởng ngành, đặc biệt là dòng sản phẩm lốp ô tô do nhu cầu sử dụng ô tô sẽ còn tăng nhanh Theo thống kê, dự báo tình hình tiêu thụ lốp xe sẽ tăng trưởng đều đặn

ở mức 3,5 % - 4 % / năm đến năm 2012, việc này đã hứa hẹn nhiều triển vọng cho cây cao su trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời gian sắp tới

2.2 Đặc điểm di truyền học của cây cao su

Nghiên cứu tế bào học đã xác định cây cao su (Hevea brasiliensis) và các loài khác thuộc chi Hevea đều có bộ nhiễm sắc thể 2n = 36 Một số tác giả cho rằng cao su là tứ bội

vì số nhiễm sắc thể gấp đôi các loài khác thuộc họ Euphorbiaceae Các nghiên cứu điện di enzyme cho thấy cao su không phải đồng tứ bội thể, mà có lẽ là dị tứ bội thể có tính thích ứng gần giống dạng nhị bội (Trần Thị Thúy Hoa, 1998) Các đặc tính quan trọng như sinh trưởng, sản lượng khả năng kháng bệnh đều do những tính trạng đa gen quy định, di truyền theo phương thức cộng hợp và khả năng phối hợp chung GCA (General combining ability) quan trọng hơn khả năng phối hợp riêng SCA (Specific combining ability) Hệ số

di truyền theo nghĩa hẹp biến thiên từ 11 % đến 56 % cho năng suất và từ 9 % - 56 % cho

Trang 14

sinh trưởng Cho đến nay, chưa có bằng chứng về sự bất tương hợp ở cây cao su, mặc dù

tỉ lệ đậu trái do giao phấn thường cao hơn so với tự thụ Tương tự, người ta cũng không

thấy có trở ngại nào trong việc lai giữa các loài Hevea Trong thực tế người ta đã tạo ra

nhiều tổ hợp lai liên loài cho mục đích nghiên cứu cũng như tìm thấy nhiều dạng lai liên

loài Hevea trong tự nhiên (Vũ Văn Trường, 2004)

2.3 Đặc điểm thực vật học và sinh thái học của cây cao su

Cây cao su là loại cây đại mộc Trong tình trạng hoang dại ở vùng nguyên quán Amazone (Nam Mỹ) mật độ thưa thớt (một cây cho một hoặc vài hecta) có thể cao 30 -

50 m, vanh thân đạt 5 – 7 m, tán lá rộng và tuổi thọ đến 100 năm Trong các đại điền

và tiểu điền do sự cân nhắc kỹ lưỡng hiệu quả kinh tế nên cao su được trồng với mật

độ 400 – 550 cây/ha Chu kỳ sống giới hạn còn 30 - 40 năm, chiều cao 25 – 30 m, vanh thân vào khoảng 1 m vào cuối thời kỳ kinh doanh Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng có nhiều giống mới năng suất cao, thời kỳ kiến thiết

cơ bản ngắn, kỹ thuật khai thác mủ tiến bộ thu được nhiều mủ Do đó, tuổi thọ cây rút ngắn chỉ còn 20 – 25 năm

Đối với cây trồng nói chung và cây cao su nói riêng, bên cạnh việc tìm hiểu những ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên bên ngoài thì những hiểu biết cơ bản về đặc tính thực vật học của cây cao su rất cần thiết, để có những tác động hợp lý giúp cây cao su sinh trưởng phát triển thuận lợi, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 15

2.3.1.2 Thân và vỏ cây

Thân cao su thuộc loại thân gỗ trong điều kiện tự nhiên có thể cao từ 30 – 50 m, vòng thân 3 – 5 m Trên các vườn sản xuất do mật độ dày lại bị khai thác mủ liên tục, sinh trưởng của cây cao su bị hạn chế, ít khi cao hơn 25 m, vòng thân chỉ khoảng 1 – 1,2 m

Bộ phận quan trọng về mặt sản xuất của cây cao su là vỏ cây Cắt ngang qua thân cây, có thể phân biệt được ba phần rõ rệt, phần trong cùng là gỗ kế đến là lớp tượng tầng và ngoài cùng là lớp vỏ Vỏ cây cao su trưởng thành gồm có lớp vỏ mềm trong cùng, kế đến là lớp vỏ cứng gồm nhiều tế bào đá và ngoài cùng là các ống mủ, chúng bị đứt quãng và không hoạt động Lớp vỏ mềm chứa hầu hết các bộ phận chức năng của vỏ gồm các ống mủ, mạch rây, mạch libe và nhu mô trục Ống mủ được hình thành từ các tế bào do tượng tầng mạch tạo ra, sắp thành các vòng đồng tâm theo trục thân cây, thông thường các ống mủ không chạy dọc thẳng theo thân mà có góc nghiêng từ 20

– 70 Ống mủ có cấu tạo là một ống rỗng, có đường kính 20-50μ do nhiều

tế bào không có vách nhăn xếp nối tiếp nhau

2.3.1.3 Lá

Lá cao su là lá kép gồm 3 lá chét với phiến lá nguyên, mọc cách Các mạch mủ trong lá nằm trong lớp libe và khi lá ở mức độ trưởng thành tối đa, các mạch mủ tập trung ở phần cuối của lá chét làm ngăn chặn việc vận chuyển mủ nước và các chất quang hợp từ lá xuống thân cây

Khi trưởng thành lá có màu xanh đậm ở mặt trên và màu xanh nhạt ở mặt dưới

lá Kích thước, màu sắc của phiến lá có thể thay đối theo môi trường nhưng hình dạng

là đặc tính di truyền có thể dùng để phân biệt giống Lá cao su tập trung thành từng tầng Để hình thành một tầng lá, trong điều kiện khí hậu Việt Nam vào mùa mưa cần

25 – 35 ngày, mùa nắng cần 40 – 50 ngày Cây cao su từ 3 tuổi trở lên vào một thời điểm nhất định có hiện tượng rụng lá qua đông Ở những nơi có mùa khô rõ rệt, hiện tượng rụng lá qua đông xảy ra nhanh và tiếp diễn trong một thời gian ngắn

Trang 16

2.3.1.4 Hoa

Hoa cao su bắt đầu xuất hiện khi cây trên 4 – 6 tuổi, sau khi ra lá non Hoa cao

su thuộc loại đơn tính đồng chu, hoa cái và hoa đực mọc trên cùng một nhánh, mỗi nhánh có 10 – 12 chùm, mỗi chùm có khoảng 15 – 20 hoa cái, hoa cái ở đầu chùm và hoa đực đều khắp trong chùm với tỉ lệ gấp 60 lần hoa cái Hoa cao su màu vàng, hình chuông nhỏ, có 5 cánh đài, không cánh tràng, hương nhẹ Hoa cái thường to hơn hoa đực, dài khoảng 8 mm, bầu noãn có 3 tâm bì, thỉnh thoảng có 4 – 5 tâm bì, ghép liền nhau, mỗi tâm bì là một buồng nhỏ kín chứa 1 noãn Khi hoa cái chín, cánh đài mở ra (thường vào lúc 12 – 13 giờ), nuốm hoa có màu trắng ngà, trở nên ẩm ướt và dễ dính phấn Sau 3 – 5 ngày, nuốm khô dần, có màu nâu và cánh hoa tàn Noãn sẽ phồng to dần nếu đã được thụ phấn Hoa đực dài khoảng 4 mm, có 10 nhị đực nhỏ không cuống, xếp thành 2 vòng 5 nhị đực

Mỗi hoa có từ 200 – 2000 hạt phấn Hạt phấn hình tam giác, 30 – 40 micromet,

tỷ lệ nảy mầm khá cao 50 – 90 %, nhưng dễ bị hư hỏng do môi trường ẩm ướt và sau bảo quản Hoa đực thường nở trước, sau vài ngày hoa cái mới nở Ở ngày hoa đực nở, cánh hoa nở vào lúc 12 – 14 giờ Tỉ lệ hạt phấn nảy mầm tốt từ 9 giờ 30 đến 11 giờ 30 phút, nhưng cao nhất là lúc 13 giờ 30 đến 14 giờ 30 phút Thời gian 9 giờ 30 đến 11 giờ 30 phút rất thích hợp để thực hiện thụ phấn nhân tạo vì hoa chưa mở cánh và phấn

có sức sống tốt

Trong tự nhiên cây cao su thụ phấn nhờ gió và côn trùng Tỷ lệ đậu quả trong tự nhiên ở cao su chỉ khoảng 1-2%, khi giao phấn chéo nhân tạo, có thể đậu quả khoảng 2-5% và chịu ảnh hưởng của giống mẹ Tỷ lệ đậu quả do tự thụ thường thấp hơn do thụ phấn chéo, nhưng vẫn có kết quả cao ở một số giống dễ đậu quả như PB 5/51 Quả

ít đậu có thể do cạnh tranh dinh dưỡng, nước, bệnh làm quả non rụng nhiều sau khi thụ phấn

2.3.1.5 Quả và hạt

Quả cao su hình tròn hơi dẹp có đường kính từ 3 – 5 cm, quả nang gồm 3 ngăn, mỗi ngăn chứa một hạt và trong thực tế hiếm thấy có quả cao su chứa ít hơn 3 hạt và

Trang 17

nhiều hơn 4 hạt Quả cao su sau khi hình thành và phát triển được 12 tuần thì đạt được kích thước lớn nhất, 16 tuần sau vỏ quả đã hóa gỗ và 19 – 20 tuần thì quả chín

Hạt cao su hình tròn hoặc hình bầu dục có kích thước thay đổi từ 2,0 – 3,5 cm, trọng lượng hạt từ 3,5 – 6,0 g Hạt có 2 mặt rõ rệt: mặt bụng phẳng, mặt lưng cong lồi lên Lớp vỏ ngoài hạt láng, màu nâu đậm hay nhạt hoặc màu vàng đậm trên có các vân đậm màu hơn Kích thước, hình dáng, màu sắc thay đổi nhiều giữa các giống cây và là một trong những đặc điểm để nhận dạng giống cao su Vỏ hạt cứng, đầu hạt có lỗ nẩy mầm

2.3.2 Điều kiện sinh thái

Từ những đặc điểm thực vật học trên nên cây cao su cần có điều kiện sinh thái thích hợp

2.3.2.1 Nhiệt độ

Cây cao su phát triển thích hợp ở nhiệt độ trung bình từ 25 – 280C, đều qua các tháng trong năm Nếu nhiệt độ thấp hơn sẽ làm cây chậm sinh trưởng dẫn đến kéo dài thời gian kiến thiết cơ bản Khi nhiệt độ xuống đến 4 – 50

C cây bắt đầu bị tổn hại vì lạnh, khô lá, chết chồi non, trong trường hợp nghiêm trọng có thể gây chết cây thậm chí cả bộ rễ

2.3.2.2 Lượng mưa

Lượng mưa tối thiểu cho cây sinh trưởng và phát triển bình thường là 1.500 mm/năm, phân bố đều quanh năm càng tốt Số ngày mưa tốt là 100 – 150 ngày/năm Cây cao su trưởng thành có thể chịu hạn tốt, tuy nhiên cây cao su non, đặc biệt khi cây mới trồng gặp khô hạn cây sẽ bị hại trầm trọng Phân bố mưa không đều trong năm sẽ ảnh hưởng lớn đến sản lượng Ở vùng Đông Nam Bộ Việt Nam với hai mùa mưa nắng

rõ rệt nên sản lượng mùa khô rất thấp và đầu mùa mưa vẫn thấp

2.3.2.3 Ánh sáng

Giờ chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp tới cường độ quang hợp của cây Ánh sáng đầy đủ giúp cây ít bệnh, tăng trưởng nhanh và sản lượng cao Cây cao su phát triển

Trang 18

bình thường ở nơi tối thiểu có 1.600 giờ nắng/năm Sương mù nhiều tạo cơ hội cho

nấm bệnh phát triển như bệnh phấn trắng (Oidium)

2.3.2.4 Gió

Gió nhẹ 1 – 2 m/s có lợi cho cây giúp cho vườn cây thông thoáng, hạn chế nấm bệnh, vỏ cây mau khô sau khi mưa Nếu gió lớn hơn 17 m/s cây cao su bắt đầu gãy thân cành, gió lớn hơn 25 m/s cây sẽ bị gãy thân trốc gốc Mức độ thiệt hại vì gió của cây cao su phụ thuộc vào đặc điểm của từng giống Yêu cầu hóa tính đất cho việc trồng cao su rất khắt khe và lý tính đòi hỏi phải tốt, tầng canh tác dày, không ngập úng, địa hình ít dốc Đất có kết cấu tốt, tỉ lệ sét cao (khoảng 50 %), pH = 4,5 – 5,5

2.3.2.5 Cao độ

Cao trình 200 m thích hợp trồng cao su Theo kết quả nghiên cứu tại Malaysia cho thấy cứ lên cao 200 m thời gian kiến thiết cơ bản dài hơn từ 3 – 6 tháng (Webster, 1989) và sản lượng cũng bị ảnh hưởng Tuy nhiên, nhờ những thành công trong công tác tuyển chọn giống và các biện pháp nông học, ngày nay

đã có thể phát triển cây cao su ngoài vùng truyền thống với cao trình 600 – 700 m

và đến vĩ tuyến 290 Bắc (Vũ Văn Trường, 2004)

Bệnh Corynespora do nấm Corynespora cassiicola ( Berk & Curt) Wei gây

nên Mặc dù mới xuất hiện nhưng bệnh Corynespora đã gây ra những thiệt hại rất nặng

nề và hiện nay đó là loại bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng nhất ở các nước trồng cao su

Trang 19

Đông Nam Á, gây tác hại lớn cho cây cao su Nấm bệnh tấn công ở nhiều bộ phận của cây như: lá, cuống, thân, cành và cả chồi non trên tất cả các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây từ vườn ương, vườn KTCB cho đến vườn cây khai thác Bệnh hại làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất của vườn cây, đôi khi làm chết toàn bộ cây (Phan Thành Dũng, 2004).

Bệnh phấn trắng do nấm Oidium hevea gây hại trên lá chưa ổn định Hiện nay,

bệnh đã xuất hiện và gây tác hại nặng ở hầu hết tất cả các nước trồng cao su trên thế giới Cho đến bây giờ, việc trị bệnh phấn trắng bằng hóa chất vẫn chưa đem lại hiệu quả đáng kể nên cần phun phòng sớm là biện pháp chính Bệnh thường xuất hiện trên diện rộng sau thời kỳ cao su rụng lá qua đông (tháng 1 - 2 dương lịch), nhiệt độ thấp, đêm lạnh, đặc biệt là có sương mù gây ẩm độ cao và kéo dài là điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh phát triển Mức độ gây hại của nấm bệnh thay đổi tùy theo kiểu rụng lá qua đông, tuổi lá, tuổi cây, vùng, cao trình, các yếu tố môi trường và tính mẫn cảm của từng DVT (Phan Thành Dũng, 2004)

Hiện tượng bạch tạng cho đến nay vẫn chưa có nhiều kết quả nghiên cứu Hiện tượng này thường xuất hiện trong vườn ương cây con Nguyên nhân thường do giống gây ra, triệu chứng làm thân lá biến vàng, cây sinh trưởng yếu, làm giảm tỉ lệ hữu hiệu của cây con trên vườn ươm

2.4 Những cải tiến giống cao su

2.4 1 Mục tiêu và các phương pháp cải tiến giống cao su

Năng suất mủ cao luôn là mục tiêu quan trọng nhất của bất kỳ chương trình cải tiến giống cao su nào (Trần Thị Thúy Hoa và cs, 2005) Ngày nay, bên cạnh mục tiêu tạo tuyển giống năng suất mủ cao, chống chịu bệnh hại và thích nghi môi trường, năng suất gỗ đã trở thành mục tiêu chọn giống cao su quan trọng thứ hai sau mủ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về gỗ cao su thay cho gỗ rừng trong điều kiện rừng nhiệt đới bị tàn phá nặng nề và cho mục đích bảo vệ môi trường

Phương pháp cơ bản được áp dụng rộng rãi trong cải tiến giống cây cao su ở các nước là con đường lai hữu tính nhân tạo với bố mẹ đã được chọn lọc, tuyển chọn cây lai ở giai đoạn non, tuyển chọn ở giai đoạn trưởng thành và sau đó khuyến cáo trồng

Trang 20

sản xuất ở các quy mô khác nhau Bên cạnh đó, nguồn vật liệu di truyền ban đầu cho quá trình tuyển chọn giống cao su cũng có thể được tạo ra bằng kỹ thuật lai hữu tính tự

do trong điều kiện có hoặc không có cách ly, nhưng thường chỉ được áp dụng rất hạn chế (Lại Văn Lâm, 2011)

2.4.2 Cải tiến giống cao su trên thế giới

Cải tiến giống cao su ở Indonesia được thực hiện đầu tiên do những công ty Hà Lan PR (Proefstation voor Rubber), AVROS ( Alg Verening Rubber Oost Sumatra) Năm 1919, Indonesia đã bắt đầu áp dụng phương pháp thụ phấn nhân tạo để tạo giống mới Từ năm 1929 – 1951, Indonesia nhập thêm giống làm nguồn vật liệu lai tạo: 29 dòng vô tính từ Malaysia, 20 dòng Sri Lanka và 2 dòng Việt Nam Indonesia đã đạt được một số kết quả ban đầu khá tốt trong chương trình lai tạo giống Một số giống ưu

tú nổi tiếng trong thời kỳ này: PR 255, PR 261, AVROS 2037, BPM 24

Ở Malaysia, chương trình cải tiến giống cao su chủ yếu được thực hiện do Viện Nghiên cứu Cao su Malasia RRIM và Công Ty cao su Prang Besar Sau một thời gian lai tạo thì Malaysia tạo ra được nhiều DVT xuất sắc: PB 235, PB 225,

PB 311, PB 330, PB 350 và PB 355 Kết quả cải tiến giống ở Malaysia được đánh dấu bằng sự tiến bộ năng suất của những giống sản xuất diện rộng qua từng giai đoạn

từ 1950 đến nay

Tuy là nơi trồng cao su đầu tiên có số lượng lớn, nhưng chương trình cải tiến giống cao su ở Sri Lanka bắt đầu muộn hơn so với Indonesia và Malaysia Đợt lai đầu tiên vào năm 1939 từ khi Viện Nghiên cứu Cao su Ceylon thành lập Những dòng vô tính xuất sắc từ các đợt lai tạo là: RRIC 100, RRIC 101, RRIC 110, RRIC 121, RRIC 130, RRIC 132, hiện nay đang được phổ biến trồng sản xuất và trao đổi quốc tế

Ngoài ra ở Ấn Độ cũng thực hiện chương trình lai tạo giống từ năm 1954 nhằm mục tiêu là chọn giống cao sản và kháng hạn, kháng bệnh lá Ở Thái Lan thì chương trình tạo tuyển tập trung vào giống kháng bệnh rụng lá mùa mưa và các chế độ có thuốc kích thích phù hợp theo từng giống Tại Trung Quốc đã tạo tuyển một số dòng

vô tính chịu lạnh đạt năng suất cao

Trang 21

Năm 1945, Schultes nhà thực vật học người Mỹ đã sưu tập nhiều loại cao su, phần lớn ở vùng Calima và Palmira của Colombia, để mô tả và lưu giữ ở Belem, Brazil Trong giai đoạn này, cải tiến giống cao su đã đạt được những thành tựu đáng

kể, chủ yếu dựa vào các chương trình lai tạo giống bằng lai hoa nhân tạo và một phần lai tự do, theo phương thức cổ truyền, các giống tốt ở thế hệ này sẽ được chọn làm cha

mẹ cho chu kì tạo tuyển tiếp theo Năng suất mủ cao su đã gia tăng gấp 3 – 5 lần, nhưng tiến bộ chậm dần sau 2 – 3 thế hệ lai tạo Theo các nhà chọn giống, do nguồn Wickham hạn hẹp vì xuất phát chỉ từ một vùng nhỏ nguyên quán, không đại diện được nguồn gen cây cao su, mặt khác từ số lượng khiêm tốn 2.000 cây ban đầu, chỉ chọn một số ít đầu dòng làm cha mẹ (Tjir 1, Pil A 44, Pil B 84, PB 24, PB 49, PB 56,

PB 86), nên phần lớn các con lai có quan hệ họ hàng với nhau, khó tiếp tục lai vì sẽ bị cận huyết thống (Trần Thị Thúy Hoa, 1998)

Nhằm giải quyết vấn đề này, nhiều Viện Nghiên cứu Cao su trên thế giới đã di nhập nguồn gen cao su mới từ vùng nguyên sản Amazon Trong đó, đợt sưu tập với qui mô lớn các nguồn gen cao su hoang dại từ Brazil do Hiệp hội Nghiên cứu và Phát triển Cao su Thế giới (IRRDB) và chính phủ Brazil khởi xướng năm 1981 là có ý nghĩa nhất Nguồn gen sưu tập ở Đông Nam Á được lưu trữ ở trung tâm Châu Á (Malaysia) và Châu Phi (Ivory Coast) (Lại Văn Lâm và cs, 2009) Từ năm 1981, nguồn gen cây cao su được mở rộng đáng kể, tạo cơ sở cho các mục tiêu đa dạng mà nhà chọn giống sẽ phải thực hiện: đa dạng hóa sản phẩm (mủ, gỗ và trồng rừng), mở rộng địa bàn phát triển ngoài vùng truyền thống Nguồn gen hoang dại Amazon đang được tích cực nghiên cứu, đánh giá và từng bước đưa vào chương trình lai tạo giống mới Những tiến bộ của ngành khoa học khác cũng trở thành công cụ giúp chương trình cải tiến giống cao su có thể đạt kết quả nhanh và hiệu quả hơn những giai đoạn trước (Trần Thị Thúy Hoa, 1998)

2.4.3 Cải tiến giống cao su ở Việt Nam

Công tác cải tiến giống cao su ở Việt Nam đã được tái thực hiện vào năm 1976 với các đợt nhập nội giống cao su từ các nước Châu Á và tiếp theo là chương trình lai hữu tính nhân tạo đã được bắt đầu từ 1982 (Lại Văn Lâm, 2011) Phương pháp tạo tuyển giống ở Việt Nam được vận dụng từ kinh nghiệm của Viện RRIM ở Malaysia và

Trang 22

Viện IRCA ở Côte d’Ivoire, nhưng có những cải tiến do mục tiêu đặc thù và điều kiện khả thi (Trần Thị Thúy Hoa, 1998):

- Phương pháp lai tạo giống: chủ yếu là lai hoa hữu tính từ cha mẹ chọn lọc

- Phương pháp tuyển giống gồm các bước cơ bản: tuyển non, sơ tuyển, chung tuyển, sản xuất thử:

+ Tuyển non: Mỗi cây lai thực sinh (phát triển từ hạt lai) được nhân thành dòng vô tính Gốc cây lai và dòng vô tính (3 cây x 2 nhắc hoặc 2 cây x 3 nhắc) được đưa vào vườn tuyển non có mật độ cao (5.550 cây/ha) và áp dụng phương pháp cạo nhỏ Hamaker - Morris - Mann trên cây 28 - 34 tháng tuổi để đánh giá tiềm năng sản lượng Các đặc tính khác được quan trắc là sinh trưởng, độ dày vỏ, bệnh, đặc tính hình thái,

và tính đáp ứng chất kích thích Những giống đối chứng được sử dụng là giống đang phổ biến trong sản xuất và giống cha mẹ (Lê Mậu Túy và cs, 2002)

+ Sơ tuyển: những dòng vô tính xuất sắc từ tuyển non được bố trí trong các thí nghiệm so sánh giống quy mô nhỏ, có kiểu bố trí khối đầy đủ ngẫu nhiên, 5 – 10 cây x

2 – 3 nhắc đối với mỗi nghiệm thức và được gạn lọc ở hai đợt Đợt một khi cây 2 – 3 tuổi, áp dụng phương pháp tuyển non để gạn lọc dòng vô tính cao sản sớm Đợt hai, tuyển chọn giống khi cây 9 – 10 tuổi và được cạo mủ 3 – 5 năm Các chỉ tiêu chọn giống là sinh trưởng, sản lượng, độ dày vỏ, tính kháng bệnh Những dòng vô tính xuất sắc sẽ được khảo nghiệm bổ sung tính đáp ứng với chất kích thích mủ, cấu trúc hình thái, trữ lượng gỗ, đặc tính sinh lý mủ và đặc tính mủ Những giống đối chứng được sử dụng là những giống đang phổ biến trong sản xuất (Lê Mậu Túy và cs, 2002)

+ Chung tuyển: những dòng vô tính được gạn lọc từ vườn sơ tuyển được tiếp tục khảo nghiệm ở quy mô lớn hơn, có kiểu bố trí khối đầy đủ ngẫu nhiên, 60 – 100 cây x 3 – 4 nhắc đối với mỗi nghiệm thức Giống đối chứng và các chỉ tiêu nghiên cứu tương tự như ở vườn

sơ tuyển nhưng bổ sung các đặc tính tùy vùng sinh thái như kháng gió, kháng lạnh, chóng chịu khô hạn thời gian khảo nghiệm từ 15 – 20 năm (Lê Mậu Túy và cs, 2002)

+ Sản xuất thử: những giống chọn lọc từ vườn chung tuyển hoặc giống xuất sắc từ vườn sơ tuyển được trồng thử với quy mô 1 – 5 ha/giống và 1 – 2 ô mỗi điểm Giống

Trang 23

đối chứng, các chỉ tiêu nghiên cứu và thời gian khảo nghiệm tương tự như ở vườn chung tuyển (Lê Mậu Túy và cs, 2002)

Các giống đối chứng là giống được trồng phổ biến trong nước (GT 1, PB 235)

và giống trồng phổ biến ở nước ngoài (RRIM 600, PB 260)

- Khuyến cáo giống: theo quan điểm khuyến cáo giống theo điều kiện của từng vùng sinh thái để tối ưu hóa tiềm năng của môi trường và đưa giống mới ra sản xuất từng bước từ qui mô nhỏ đến vừa và diện rộng

2.5 Những nghiên cứu về lai hoa nhân tạo

Đến nay phương pháp lai hoa nhân tạo vẫn là phương pháp có hiệu quả nhất, được hầu hết các nước trồng cao su trên thế giới áp dụng Nguyên tắc chính của phương pháp lai hoa nhân tạo là phối hợp bố mẹ có những đặc tính tốt mong muốn để tạo ra nhiều cá thể cây lai, tiếp đến các cây lai được nhân thành các dòng vô tính qua nhiều bước chọn lọc

để chọn lọc ra các dòng vô tính xuất sắc (Trần Thị Thúy Hoa, 1998)

2.5 1 Những nghiên cứu ngoài nước

Phương pháp lai hoa nhân tạo được bắt đầu nghiên cứu từ năm 1919 do Mass ở Indonesia (Dijkman, 1951) Sau đó, được áp dụng vào chương trình lai tạo giống ở Mã Lai từ năm 1928, Việt Nam (1933), Sri Lanka (1939), Ấn Độ (1954), Côte d’Ivoire (1974) (Trần Thị Thúy Hoa, 1998)

Lai hoa nhân tạo vẫn là phương pháp truyền thống để sản sinh những tư liệu giống mới, những nguyên liệu của một chương trình cải tiến giống (Ngô Văn Hoàng

và Trần Thị Thúy Hoa, 1990) Các nhà tạo giống cao su phải đối đầu với ba vấn đề chính: Bản chất ra hoa theo mùa vụ, không có sự đồng bộ ra hoa giữa các dòng vô tính, tỉ lệ đậu trái thấp Trong đó, tỉ lệ đậu trái thấp là yếu tố hạn chế nghiêm trọng nhất đối với sự thành công của các chương trình lai hoa nhân tạo, mặt dù đã có rất nhiều nổ lực để khắc phục hạn chế này (Kavitha và cs, 1990)

2.5 1.1 Nghiên cứu một số hạn chế của phương pháp lai hoa nhân tạo

Đến nay phương pháp lai hoa (thụ phấn nhân tạo) vẫn hiệu quả nhất để tạo giống cao su mới, kế đến là phương pháp lai tự do (thụ phấn tự do) Tuy nhiên có nhiều trở ngại

Trang 24

cho sự thành công của các chương trình lai hoa Theo Tan (1987) và Trần Thị Thúy Hoa (1998) thì các nhà tạo giống cao su phải đối đầu với 3 vấn đề chính:

a) Bản chất ra hoa theo mùa vụ

Cây cao su không ra hoa quanh năm Điều này hạn chế chương trình lai tạo giống phải phụ thuộc vào mùa hoa Cây cao su trưởng thành ra hoa 2 lần một năm Ở Malaysia

ra hoa từ tháng 3 – 4 và tháng 8 – 9, ở Việt Nam từ tháng 2 – 3 và tháng 6 – 7, ở Ấn Độ hầu hết các dòng vô tính cao su chỉ ra hoa một lần trong năm và giới hạn trong vòng 1 – 2 tháng từ tháng 1 – 3 Bên cạnh đó mùa vụ ra hoa ngắn là một hạn chế làm cản trở các bước tiến của chương trình lai hoa Thường thì không thể đạt đủ số hoa lai để có được các dòng hữu tính đủ lớn để tiến hành chọn lọc hiệu quả (Tống Thị Hòa, 2004)

b) Sự ra hoa không đồng thời giữa các dòng vô tính

Trong bất kỳ chương trình lai hoa nào được hoạch định tốt thì các cha mẹ cũng được chọn lựa trên cơ sở các thuộc tính mong muốn và tiềm năng di truyền của chúng

để chuyển các thuộc tính đó cho hậu duệ Việc đánh giá các khả năng phối hợp giúp các nhà tạo giống cao su xác định các dòng vô tính thích hợp Một số dòng vô tính

không có sự ra hoa đồng thời, điều này đã hạn chế các chương trình lai hoa vì một số

tổ hợp lai không thực hiện được (Tống Thị Hòa, 2004)

Ở RRII (Viện nghiên cứu cao su Ấn Độ) đã thực hiện những quan trắc về thời

kỳ cao điểm chín của hoa cái trên 20 dòng vô tính trong ba năm liền cho thấy cao điểm

ra hoa biến thiên từ tuần lễ thứ hai của tháng 1 đến tuần lễ cuối của tháng 3, mặc dù đa

số các dòng vô tính ra hoa trong tháng hai Khoảng thời gian rộng giữa thời kỳ hoa cái chín của các dòng vô tính ra hoa sớm và các dòng vô tính ra hoa muộn làm cho cơ hội thực hiện các tổ hợp lai giữa chúng trở nên xa vời (Kavitha và cs, 1990)

c) Tỷ lệ đậu trái thấp

Một nhân tố hạn chế chính khác trong kết quả lai tạo giống bằng con đường lai hoa nhân tạo là tỷ lệ đậu trái thấp Tỷ lệ đậu trái thấp làm mất mát nhiều tổ hợp lai có tiềm năng tốt Do đó, hạn chế sự tiến bộ của công tác cải tiến di truyền của loài Tỷ lệ đậu trái thấp làm giảm kích thước của các dòng hữu tính vốn sẽ được chọn lọc để tạo

ra các dòng vô tính mới có tính trạng mong muốn Các nổ lực nhằm khắc phục vấn đề

Trang 25

này đều vô hiệu và ở RRII (Viện Nghiên cứu Cao su Ấn Độ), tỷ lệ đậu trái không nâng lên 5 % được (Kavitha và cs, 1989) Ở Mã Lai tỷ lệ đậu trái trung bình trong các vụ lai

từ 1928 – 1980 là 4,5 % Ở Côte d’ Ivoire tỷ lệ đậu trái trung bình vụ lai 1974 – 1989

là 3,95 % Ở Việt Nam tỷ lệ này bình quân các năm từ 1982 – 2006 là 4,53 % (Phạm Hồng Giáp, 2007)

Ngoài ba hạn chế nêu trên, vì cây cao su là cây lâu năm thường ra hoa từ năm thứ 4 – 6, đây là một hạn chế trong việc cải tiến giống và rút ngắn thời gian giữa hai thế hệ Bên cạnh đó với độ cao 6 – 10 m của cây cao su so với mặt đất đã gây không ít khó khăn cho công tác lai tạo giống (Phạm Hồng Giáp, 2007)

2.5 1.2 Nghiên cứu một số giải pháp khắc phục hạn chế của phương pháp lai hoa nhân tạo

Một số công trình nghiên cứu biện pháp kích thích ra hoa trái vụ ở cây cao su

đã được thực hiện Premakumari và Nair (1976) đã tiến hành khoanh vỏ và xử lý các hóa chất khác nhau trên lá hoặc riêng lẻ Kết quả cho thấy nếu xử lý riêng lẻ thì biện pháp khoanh vỏ giúp cây ra hoa trái vụ tốt hơn xử lý hóa chất Tuy nhiên, khoanh vỏ phối hợp xử lý hóa chất như IBA 600 ppm hoặc Gibbellate Kali 20 ppm sẽ có tác động cộng và ra hoa sau 2 – 3 tháng xử lý Sau khi xử lý vào tháng 8, hơn 50 % số cành ra hoa vào tháng 11

Kích thích cơ học ra hoa trái vụ giúp tránh xâm nhiễm của bệnh phấn trắng vốn làm rụng rất nhiều hoa trong mùa hoa thông thường Ra hoa trái vụ cũng đem lại sự

chín sớm của quả và tránh được bệnh thối quả do nấm Phytophthora spp vốn là nguồn

bệnh ảnh hưởng đến sự thành công của chương trình lai hoa Việc kích thích ra hoa trái vụ cũng giúp các nhà tạo giống thực hiện lai hoa nhân tạo quanh năm và phân tán khối lượng công việc (Kavitha và cs, 1990)

Paranjothy (1980) cũng chỉ ra rằng biện pháp khoanh vỏ có thể kích thích cây ra hoa vào năm thứ ba sau trồng Tạo tán thấp, uốn cong cành kết hợp với khoanh vỏ, kích thích cây ra hoa vào 28 tháng tuổi ở độ cao 1 – 1,5 m giúp thuận tiện cho thao tác lai hoa, tăng năng suất lao động

Trang 26

Sự mất cân bằng hormone được khảo sát với tính cách là một nguyên nhân có thể có của tỷ lệ đậu trái quá thấp Theo Parajothy (1980), các cố gắng nhằm tăng sự đậu trái bằng cách xử lý chất điều hòa sinh trưởng thường không hiệu quả Tuy nhiên, Leconte và cộng sự (1984) lại đạt được kết quả khích lệ khi sử dụng NAA và GA3 Các nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy việc xử lý GA3 20 ppm có triển vọng tuy nó không cải thiện tỷ lệ đậu trái một cách có ý nghĩa so với không xử lý (Kavitha và cs, 1989)

Sự ra hoa và phát triển trái ở cây cao su xảy ra đồng thời với sự ra lá mạnh mẽ

Do đó, có một sự cạnh tranh gay gắt về chất đồng hóa Theo Haines (1946) bón các loại phân hỗn hợp bổ sung và bón vào đất liên tục Sunphat amon nhằm nâng cao tỷ lệ C/N của lá làm tăng sản lượng hạt cây cao su có ý nghĩa Một số kết quả nghiên cứu sơ

bộ tại RRII cho thấy bón phosphorus bằng cách phun lên lá đóng vai trò đáng kể trong việc ngăn ngừa sự rụng trái non ở cây cao su (Kavitha và cs, 1990)

Xét về sự cạnh tranh chất dinh dưỡng trên các cành mang trái, người ta đã xem xét đến việc giảm số lượng trái để giảm sự rụng trái Djikman (1951) đã khuyến cáo lai 6 – 8 hoa trên mỗi phát hoa Sedgley và Attanayake (1986) nghiên cứu mối quan hệ giữa số hoa lai trên mỗi phát hoa và số lượng trái ban đầu với số trái chín thu hoạch được Mặc dù số hoa lai không ảnh hưởng đến số trái chín được thu hoạch, nhưng tỉ lệ đậu trái lúc đầu cao nhất được thấy là kết quả của việc lai 1 – 4 hoa trên mỗi phát hoa

để bảo đảm sự đậu trái cao (Kavitha và cs, 1990)

Yeang và Gandhimathi (1984), cho rằng biện pháp cụ thể nhằm cải thiện sự đậu trái là tăng lượng phấn đưa vào nhụy trong một lúc lai hoa

Kavitha và cộng sự (1989), cho rằng sự tổn thương các bộ phận của hoa có thể

là một nguyên nhân làm giảm tỉ lệ đậu trái ở lai hoa nhân tạo Do đó, trong thao tác lai hoa phải tiến hành nhẹ nhàng không ấn mạnh cột nhị xuống đầu nhụy, tránh làm tổn thương đầu nhụy Việc bảo vệ cụm hoa đã lai được cải tiến bằng cách bọc bằng giấy gói bơ thay vì gắn từng hoa bằng nút gòn và mủ đã giảm được sự tổn thương các bộ phận của hoa đến mức thấp nhất

Sedgley và Attanayake (1986) đã đề xuất thiết lập một vườn lai ở đấy cây không được khai thác mủ và nhà tạo giống có toàn quyền quản lý các cây Đây là một bước tiến trong việc khắc phục các vấn đề thực tiễn gắn liền với công tác lai hoa nhân

Trang 27

tạo Cây có thể được trồng với khoảng cách rộng hơn, để giúp tán phát triển tốt cũng như thuận lợi cho cành hướng ánh sáng và cây cũng có thể được tạo hình cho cành thấp để các nhà tạo giống giám sát chặt chẽ hơn chương trình lai hoa Tạo cành thấp ngoài việc dễ dàng với tới cành mang hoa còn giúp loại trừ chi phí và mối hiểm nguy trong việc dựng các dàn giáo lớn để lai hoa hàng năm

Sự ra hoa không đồng bộ giữa các dòng vô tính đã ngăn cản một số tổ hợp lai không thực hiện được Việc trữ phấn có thể được tiến hành như là một biện pháp nhằm giải quyết vấn đề nêu trên Các nổ lực theo hướng này đã được bắt đầu ở Ấn Độ Djikman (1938) đã báo cáo rằng phấn của nhiều dòng vô tính có thể giữ nguyên tình trạng tốt khả dĩ đến 19 ngày khi nhị đực được giữ trên axít sunphuric 27 – 35 % trong

tủ lạnh 60

C và ẩm độ tương đối 80 % Tuy nhiên phương pháp này khá tốn kém

2.5 2 Những nghiên cứu trong nước

Chương trình cải tiến giống bằng phương pháp lai hoa nhân tạo ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1935 do công ty Pháp SPTR (Sociétés des Plantation en Terres Rouges) thực hiện Các hạt lai được trồng trực tiếp trên vườn sản xuất làm vật liệu để tuyển chọn cây mẹ đầu dòng (Trần Thị Thúy Hoa, 1998)

Từ năm 1982 đến nay, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam đã tiếp tục nghiên cứu, theo dõi, đánh giá và tổng kết hàng năm về đặc tính ra hoa đậu trái của cây cao

su, các hạn chế trong lai hoa và biện pháp khắc phục Đến nay đã tạo được một số giống lai ưu tú về sinh trưởng và sản lượng đã được Bộ Nông Nghiệp công nhận cho đưa vào sản xuất (Trần Thị Thúy Hoa, 1998)

Hướng đề xuất cho chương trình lai hữu tính nhân tạo giống cao su Việt nam hiện nay là thực hiện các kiểu tổ hợp lai giữa nguồn di truyền Wickham (W) đã được thuần hóa ở châu Á và nguồn gen hoang dại Nam Mỹ (A), nhằm kế thừa các thành tựu cải tiến năng suất ở cây cao su và khai thác tiềm năng di truyền phong phú của các nguồn gen mới, đặc biệt khả năng sinh trưởng khỏe, ít bệnh và thích nghi cao Trong các kiểu lai cùng nhóm tránh sử dụng các dòng vô tính cùng xuất xứ hoặc cận thân (Trần Thị Thúy Hoa và cs, 2002)

Trang 28

Khi quy hoạch tổ hợp lai cần chú ý các bố mẹ trong cùng một tổ hợp lai phải thỏa mãn điều kiện: Không cận huyết thống ít nhất là bốn đời (sử dụng chương trình vi

tính GENEX để hỗ trợ cho việc quy hoạch tổ hợp lai) và bố mẹ phải ra hoa đồng thời (Trần Thị Thúy Hoa, 1998)

2.6 Những nghiên cứu về lai hoa tự do

Vườn hạt lai tự do đầu tiên được xây dụng ở Java, Indonesia năm 1920 do Van

de Hoop Ở Malaysia, vườn lai tự do được công ty Prang Besar thành lập năm 1928 (Prang Besar Isolated Garden – PBIG) đã tạo nhiều quần thể đa giao (PBIG), kết quả chọn lọc bước đầu rất khả quan (Lê Hoàng Ngọc Anh, 2006) Theo Shepherd (1969),

từ những sản phẩm thu được ở vườn hạt giống cách ly PBIG đã chọn lọc ra được hàng loạt cây tiến bộ hơn cả những cây tiến bộ đã được phát triển trong 50 năm qua

Nguyên tắc chính của phương pháp lai hoa tự do là các dòng vô tính bố mẹ được trồng trong các vườn cách ly xa các vườn cao su khác, bố trí sao cho tỉ lệ tự phối hoặc giao phối cận thân ít xảy ra Hạt lai sẽ được sử dụng làm vật liệu tuyển chọn cây

mẹ đầu dòng hoặc đưa ra trồng trực tiếp trên vườn sản xuất

Ưu điểm của phương pháp lai hoa tự do là có thể tạo ra khối lượng lớn các con lai, tuy nhiên tổ hợp bố mẹ của chúng không được kiểm soát chặt chẽ Bên cạnh đó, đặc tính di truyền của quần thể hạt đa phối tự do chưa được nghiên cứu sâu mặc dù theo tính toán trên lý thuyết của Simmonds (1986) cho thấy có thể có đến 22 % là tự thụ (Lê Hoàng Ngọc Anh, 2006)

Cho đến nay đã có hai ứng dụng của lai tự do vào việc chọn giống đó là chọn lọc cây đầu dòng và chọn lọc quần thể cây thực sinh:

- Việc chọn lọc cây đầu dòng được tiến hành tốt và được áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới Kết quả thí nghiệm sớm có vẻ hấp dẫn (Ho và cs, 1980)

Ở Mã lai, năm 1972 đã nghiên cứu chọc lọc 1,5 triệu cây thực sinh thu thập trên các vườn sản xuất kinh doanh Qua chọn lọc bước đầu đã chọn được 2.000 cây và đã

vô tính hóa để đưa vào thí nghiệm sơ tuyển Kết quả sản lượng thu được từ 2 mùa cạo đầu tiên rất triển vọng: 33% có sản lượng bằng hoặc cao hơn RRIM 600, 14% có sản lượng bằng hoặc cao hơn dòng vô tính đối chứng PR 255 (Simmonds, 1989)

Trang 29

Ở Indonesia, năm 1930 đã đưa 6 triệu cây thực sinh vào thí nghiệm chọn lọc, kết quả chỉ có 260 cây được chọn để vô tính hóa và đưa vào thí nghiệm tiếp theo, cuối cùng chỉ có 3 dòng vô tính nổi bật về các đặc tính tốt (Ferwerda, 1969)

Cramer (1938), đã cho thấy một số kết quả dự đoán sản lượng các cá thể cây thực sinh, bằng cách dùng dao Testatex có bốn lưỡi hình chữ V gắn cách nhau 2 cm trên một bảng sắt để cắt trên vỏ cây 1 – 2 tuổi và xác định sản lượng bằng cách phân cấp dựa trên chiều dài giọt mủ chảy (5 cấp) Nhưng theo Dijkman (1951), phương pháp này chỉ hữu hiệu để loại trừ cây có sản lượng kém và khó phân biệt được giống sản lượng cao và trung bình

Clement – Demange và cộng sự (1995), đã đánh giá các thông số di truyền dựa trên kết quả tuyển non cây cao su ở Côte d’Ivoire Thí nghiệm tuyển non được tiến hành qua hai bước: Tuyển non trên cây thực sinh và sau đó tuyển non lại những giống

đã chọn dưới dạng cây ghép (dòng vô tính) Kết quả tuyển chọn cho thấy đối với cây thực sinh thì tuyển non sản lượng có hiệu quả hơn tuyển non về sinh trưởng (Lê Hoàng Ngọc Anh, 2006)

- Việc nghiên cứu cây lai tự do theo hướng thành lập các vườn hạt giống cách

ly có cấu trúc đặc biệt sau đó chọn lọc quần thể cây thực sinh thu được từ những vườn hạt giống này đã được thực hiện ở một số nơi trên thế giới:

Tại Indonesia, Vande Hoop đã thành lập vườn hạt giống đầu tiên và đã sản xuất

ra được những hạt giống Tjikadoe nổi tiếng vào những năm 1920 (Ho, 1979)

Ở Côte d’Ivoire, 3 vườn hạt giống cách ly tại trạm thực nghiệm IDEFOR_DCC được thành lập năm 1992 và đến tháng 10/1998 sẽ thu thập mùa hạt đầu tiên trên các vườn này Hiện nay phương pháp này được CIRAD hợp tác với Côte d’Ivoire để cải

tiến quần thể hoang dại Amazon (Lê Hoàng Ngọc Anh, 2006)

Theo Trần Thị Thúy Hoa (1988), cho rằng phương pháp lai tự do sẽ được sử dụng để hỗ trợ cho phương pháp lai hoa nhân tạo Quần thể hoang dại Amazon với số lượng giống lớn sẽ có thể được cải tiến nhanh với thụ phấn tự do và có nhiều khả năng tạo số lượng lớn các kiểu lai A x A Những giống xuất sắc A x A sau mỗi đợt cải tiến

sẽ được thụ phấn nhân tạo trong các kiểu lai W x AA, WA x AA, WW x AA

Trang 30

C hương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm

Đề tài được thực hiện từ tháng 02/2012 đến tháng 06/2012, trên vườn ươm cây lai, vườn cao su thiết lập cho việc lai tạo giống (LH) và vườn sơ tuyển (ST) thuộc Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam tại Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương

Điều kiện khí hậu thời tiết:

Bảng 3.1: Điều kiện khí hậu thủy văn 3 tháng đầu năm 2012

Tháng Nhiệt độ

trung bình (0C)

Ẩm độ không khí(%)

Số giờ nắng (giờ)

Lượng mưa trong tháng (mm/tháng) 01/2012

02/2012

03/2012

27,3 28,0 29,3

79,0 79,0 75,0

154

146

209

55,1 70,5 101,9 (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Bình Dương, 2012)

3.2 Vật liệu nghiên cứu

3.2.1 Vật liệu lai hoa vụ lai 2012

+ Thang chữ A để lai trên những cành hoa cao

+ Biển có ghi số (sử dụng vật liệu không bị phai chữ và hư hại ở điều kiện ngoài vườn lai trong thời gian 7 tháng)

Trang 31

+ Dây để cố định chùm hoa trong khi lai, dài 1,5 m

+ Sổ và viết để ghi chép

Thực hiện lai hoa nhân tạo trên các dòng bố mẹ trên các vườn lai:

Bảng 3.2: Đặc điểm của các vườn thực hiện lai tạo giống năm 2012

Tên vườn Mật độ cây / ha Năm trồng Số DVT

(Nguồn: Bộ môn giống – Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam)

3.2.2 Vật liệu quan trắc cây lai vụ lai 2011

- Vườn ươm cây lai: gồm có 1.859 cây lai t do (chỉ kiểm soát được dòng mẹ) và

823 cây lai nhân tạo (17 tổ hợp lai của 12 mẹ và 9 bố) thu được từ vụ lai 2011

- Dụng cụ quan trắc: thước kẹp, thước cây

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp lai hoa nhân tạo

Lai hoa nhân tạo là phương pháp chủ yếu được sử dụng ở Việt Nam và các Viện Nghiên cứu Cao su trên thế giới để tạo giống mới trong chương trình tạo tuyển giống cao su

Kỹ thuật lai hoa

- Dùng kéo cắt tỉa toàn bộ hoa đực và những hoa cái bị bệnh hoặc chưa chín, để lại trên mỗi chùm hoa 6 – 8 hoa cái tốt chưa mở cánh

- Dùng mũi nhíp banh tách nhẹ cánh hoa cái rồi lấy nhị của hoa đực đặt lên nuốm bầu nhụy của hoa cái, sau đó các cánh hoa được khép lại và được bọc kín bằng giọt mủ cao su tươi

Trang 32

- Sau đó mỗi cành của chùm hoa lai sẽ được gắn biển tên, trên biển tên ghi rõ số thứ tự biển theo dõi, ngày lai và tên người lai Đồng thời sổ theo dõi lai phải ghi đầy

đủ thông tin: thứ tự biển theo dõi, vị trí cây mẹ, tên mẹ, vị trí cây bố, tên cây bố, ngày lai, người lai và số hoa đã lai trên chùm đó

Bảo quản trái lai

- Sau khi lai từ 3 – 5 ngày cánh hoa sẽ khô dần và noãn sẽ phình to hình thành trái Trong giai đoạn trái non thường bị rụng nhiều do cạnh tranh chất dinh dưỡng và thiếu cân bằng auxin nội sinh Mặt khác mùa trái thường trùng với mùa phấn trắng là nguyên nhân gây rụng trái nhiều và đặc biệt là phấn trắng thường xuất hiện vào lúc lá cao su vừa nhú chân chim vì vậy cần phun thuốc phòng ngừa bệnh phấn trắng, đặc biệt

là giai đoạn này

- Bốn tháng sau lai, khi trái đạt kích thước tối đa sẽ được bọc trong túi vải lưới để bảo vệ trái và hạt, tránh thất thoát hạt lai

Các chỉ tiêu nghiên cứu

Tỉ lệ đậu trái

- Đánh giá tỉ lệ đậu trái của các DVT có số lượng hoa lai lớn hơn 30 hoa (để có độ tin cậy nhất định) vào thời điểm hai tháng sau khi lai

- Đánh giá tỉ lệ đậu trái theo dòng mẹ, theo dòng bố và theo tổ hợp lai

+ Tỷ lệ đậu (%) = Số trái đậu * 100 / số hoa lai

Hoa lai

Đánh giá tỉ lệ đậu trái theo số hoa lai trên cành:

- Số hoa lai trên cành ≤ 5 hoa

- Số hoa lai trên cành trong khoảng 6 – 8 hoa

- Số hoa lai trên cành > 8 hoa

Thời điểm lai:

Đánh giá tỉ lệ đậu trái ở hai giai đoạn: giai đoạn vụ sớm (tháng 2) và vụ trễ (tháng 3 – 4)

Trang 33

3.3.2 Phương pháp quan trắc cây lai vụ lai 2011

- Đường kính cây (mm)

Đo đường kính cây 8 tháng tuổi của tất cả các cây lai bằng cách dùng thước kẹp

đo cách gốc 10 cm

Đường kính trung bình = Tổng đường kính cây / số cây quan trắc

- Chiều cao cây (cm)

Đo lúc 8 tháng tuổi của tất cả các cây lai bằng cách dùng thước cây đo từ gốc đến đỉnh sinh trưởng

Chiều cao trung bình = Tổng chiều cao cây / số cây quan trắc

- Tỉ lệ dài / rộng lá: đo chiều dài, rộng của lá đã phát triển ổn định, đo 1 lá/cây

trên tất cả các cây lai theo dõi

- Màu sắc lá: quan trắc màu sắc của lá đã phát triển ổn định, quan trắc 1 lá/cây

trên tất cả các cây lai theo dõi

Trang 34

- Trên 3/4 vết bệnh chiếm trên lá > 75 %

(Nguồn: Bộ Môn BVTV – Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam)

+ Bệnh Corynespora: Quan trắc vào tháng 06/2012

Bảng 3.6: Qui ước phân cấp bệnh Corynespora

- Trên 3/4 vết bệnh chiếm trên lá > 75 %

(Nguồn: Bộ Môn BVTV – Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam)

Trang 35

3.4 Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu được nhập và tính toán theo chương trình Microsoft Exel 2003

- Quy hoạch tổ hợp lai bằng chương trình GENEX

- So sánh trung bình chiều cao và đường kính cây lai giữa các DVT bằng Z test (Two sample for mean trong mục Tool / data analysis của chương trình Excel 2003)

Trang 36

Ch ương 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

4.1 Lai hoa nhân tạo

4.1.1 Tỉ lệ đậu trái của một số DVT cao su

Vụ lai 2012 đã thực hiện lai 11.954 hoa có kiểm soát cha mẹ trên 26 tổ hợp lai của 16 DVT làm mẹ và 13 DVT làm bố, kết quả hai tháng sau khi lai có số trái đậu là

527 trái với tỉ lệ đậu 4,41 %

Từ kết quả trên cho thấy vụ lai năm nay do điều kiện thời tiết không thuận lợi dẫn đến số lượng hoa lai rất nhiều nhưng số trái đậu thấp nên tỉ lệ đậu năm nay tương đối thấp so với những vụ lai năm trước Trong vụ lai năm nay cũng thấy sự đa dạng phổ hệ trong các tổ hợp lai có tới 26 tổ hợp lai nhưng chỉ có 15 tổ hợp lai hữu hiệu

Trong vụ lai 2012 thì tỉ lệ DVT làm bố hữu hiệu rất cao 13 DVT làm bố thì có

12 DVT hữu hiệu nhưng ngược lại thì tỉ lệ DVT làm mẹ lại thấp hơn rất nhiều chỉ có

8 DVT làm mẹ hữu hiệu trong 16 DVT làm mẹ

Bảng 4.1: Kết quả lai hoa nhân tạo vụ lai 2012

Trang 37

4.1.2 Kết quả đậu trái theo dòng mẹ trên các vườn lai

4.1.2.2 Vườn lai LHLK 08

Trong vụ lai 2012 vườn lai LHLK 08 đã được sử dụng tới 9 DVT làm mẹ nhưng số lượng hoa lai không nhiều chỉ có 1.507 hoa, số trái đậu là 20 trái, đạt tỉ lệ đậu là 1,33 %

Bảng 4.2 là kết quả lai của 9 DVT làm mẹ với số lượng hoa lai từ 2 – 511 hoa Trong 9 DVT thì chỉ có ba DVT có trái đậu là LH 95/208, RRIM 725, GU 1479 với tỉ

lệ đậu lần lượt là 3,82 %, 1,16 %, 0,29 % còn các DVT còn lại thì không có trái đậu Dòng vô tính LH 90/90 có số hoa lai cao nhất là 511 hoa nhưng lại không có trái nào đậu qua đó ta có thể thấy rằng DVT này có khả năng làm mẹ kém, khó có khả năng thu được con lai Những dòng vô tính IRCA 621, LH 87/202, LH 88/251, LH 90/276 thì có số lượng hoa lai chưa đủ lớn để có thể đánh giá khả năng làm mẹ của các DVT này một cách chính xác, vì vậy cần tiếp tục theo dõi ở những vụ lai sau để có những đánh giá đầy đủ và chính xác hơn

4.1.2.3 Vườn lai hoa LHLK 93

Trong vụ lai 2012 trong vườn lai LHLK 93 chỉ sử dụng dòng vô tính PB 260 làm vật liệu lai tạo nhưng số lượng hoa lai rất cao 5.311 hoa với số trái đậu là 447 trái đạt tỉ lệ đậu là 8,42 % (bảng 4.2) Vườn lai LHLK 93 có tỉ lệ đậu cao nhất trong tất cả các vườn lai là nhờ đã sử dụng dòng vô tính PB 260 làm mẹ Dòng vô tính PB 260 có khả năng làm mẹ tốt, cho tỉ lệ đậu trái cao, và do có đề tài hợp tác với CIRAD nên PB

260 được sử dụng làm mẹ để lai tạo trong nhiều năm qua

Trang 38

4.1.2.4 Vườn sản xuất/ Trạm

Trong vụ lai 2012, để tận dụng những vị trí ở ngoài bìa lô của vườn sản xuất / Trạm nên dòng vô tính RRIC 121 đã được sử dụng để làm mẹ lai tạo và đã lai với số lượng hoa rất lớn là 3.576 hoa nhưng chỉ đậu 48 trái, tỉ lệ đậu là 1,34 % (bảng 4.2)

4.1.2.5 Vườn STLK 99

Qua bảng 4.2 ta thấy vườn STLK 99 đã sử dụng 2 dòng vô tính là LK 206 và LK

207 để làm mẹ, lai được 343 hoa với số trái đậu là 1 trái và tỉ lệ đậu khá thấp là 0,29 %

Dòng vô tính LK 206 đã lai với số lượng hoa khá lớn là 322 hoa nhưng lại cho

tỉ lệ đậu trái khá thấp là 0,31 % Từ đó ta có thế thấy được dòng vô tính LK 206 có khả năng làm mẹ kém Bên cạnh đó thì dòng vô tính LK 207 có số lượng hoa lai khá ít nên chưa có thể đánh giá chính xác khả năng làm mẹ của DVT này, cần tiếp tục theo dõi ở những vụ lai sau để có thể đánh giá chính xác hơn

Trang 39

Bảng 4.2: Kết quả đậu trái theo dòng mẹ trên các vườn lai tại Lai Khê

4.1.3 Tỉ lệ đậu trái theo dòng bố

Ngoài yếu tố dòng mẹ thì dòng bố cũng rất được chú trọng trong phương pháp lai hoa Dòng bố cho hạt phấn tốt, sức sinh trưởng khỏe thì tỉ lệ đậu trái cao hơn

Ngày đăng: 29/05/2018, 18:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w