1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình tranh chấp, khiếu nại và giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2005 2012

63 240 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có GCNQSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật đất đai thì thẩm quyền

Trang 1

KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

:: ::

Vũ Văn Dũng

DH08QL

2008 - 2012 Quản Lý Đất Đai

-TP Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2012-

Trang 2

        Trang  1 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là nguồn lực quan trọng của mỗi quốc gia, là bộ phận cấu thành nên giang

sơn đất nước Trong thực tế của mỗi giai đoạn lịch sử Cách mạng, đất đai đóng một vai

trò to lớn: là động lực đấu tranh, là mục tiêu của Cách mạng giải phóng dân tộc, của Cách

mạng dân chủ nhân dân, vừa là tư liệu sản xuất vừa là đối tượng sản xuất và cũng là nơi

xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế, dân sinh và an ninh quốc phòng Phù

hợp với mỗi giai đoạn lịch sử đó, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chủ trương, đường

lối, chính sách, pháp luật điều chỉnh các quan hệ đất đai phù hợp với chiến lược phát triển

Cách mạng chung Quản lý và sử dụng hiệu quả đất đai là mục tiêu cực kỳ quan trọng

trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Mặc dù vấn đề đất đai luôn được

Đảng và Nhà nước ta quan tâm Nhưng trong thực tế quá trình sử dụng cũng như quan hệ

đất đai có nhiều biến động, đặc biệt vấn đề giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai

ngày càng trở nên bức xúc và phức tạp

Huyện Xuân Lộc nằm ở phía Đông Nam tỉnh Đồng Nai, toàn huyện có 15 đơn vị

hành chính trong đó có một thị trấn và 14 xã Diện tích tự nhiên toàn Huyện: 72.719,65

ha, dân số: 228.353 người, chiếm 12,3% về diện tích và 9,6% về dân số toàn tỉnh Đồng

Nai Huyện Xuân Lộc đang từng ngày đổi mới, ngày 30/12/2011 cán bộ và nhân dân

huyện đã vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng lao động do Nhà Nước trao tặng Kinh tế

của huyện đang trên đà phát triển mạnh, thu hút nhiều người dân về sinh sống và đầu tư

Chính vì vậy mà nhu cầu về đất đai và nhà ở tăng cao kéo theo giá đất cũng tăng cao Giá

đất tăng dẫn đến lợi ích về đất đai của người sử dụng đất bị tác động dễ phát sinh tranh

chấp, khiếu nại Tranh chấp, khiếu nại về đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong

xã hội đặc biệt khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Tuy nhiên tranh chấp,

khiếu nại đất đai kéo dài với số lượng ngày càng đông người dân tham gia thì lại là vấn đề

rất đáng quan tâm Việc giải quyết dứt điểm, có hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất quan

trọng trong việc duy trì sự ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát

triển kinh tế trong cả nước và ở từng địa phương Trong những năm gần đây lượng đơn

tranh chấp, khiếu nại đất đai gửi lên UBND huyện Xuân Lộc tăng, nội dung đơn thư đa

dạng, tính chất phức tạp

Nhận thức rõ ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của công tác giải quyết tranh chấp,

khiếu nại đất đai, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Tình hình tranh chấp, khiếu

nại và giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh

Đồng Nai giai đoạn 2005 - 2012”

Trang 3

        Trang  2 

Mục tiêu nghiên cứu

 Khái quát thực trạng tranh chấp, khiếu nại về đất đai và những dạng tranh

chấp, khiếu nại về đất đai thường gặp trên địa bàn huyện Xuân Lộc

 Tìm ra những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh

chấp, khiếu nại về đất đai Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ

chế quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Xuân Lộc

Đối tượng nghiên cứu

 Những quy định pháp luật hiện hành về việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại

về đất đai của huyện

 TCĐĐ xảy ra trên xảy ra trên địa bàn Huyện

 KNĐĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND huyện

 Các dạng tranh chấp, khiếu nại đất đai của hộ gia đình, cá nhân với nhau trên

 Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng tranh chấp, khiếu nại về đất

đai và công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai xảy ra trên địa bàn

huyện từ năm 2005 đến tháng 6/2012

Trang 4

        Trang  3 

1.1 Khái quát về chủ trương, chính sách, pháp luật hiện hành về giải quyết tranh

chấp, khiếu nại về đất đai

1.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng về giải quyết tranh chấp, khiếu nại đất đai

Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, là

công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm, là biểu

hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Khiếu nại, tố cáo là một kênh thông tin khách

quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện

công vụ của cán bộ, công chức Do đó, công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo

không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ

giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Thông qua giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo,

Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp

luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và

hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước Vì vậy, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo của

công dân là một vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm Để việc

tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật,

góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà

nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và tạo cơ sở pháp lý đầy đủ,

vững chắc hơn trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, Nhà nước ta đã ban hành Luật Khiếu

nại, tố cáo năm 1998 Luật này đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004, 2005 Để

phát huy và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo của cả hệ

thống chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TW ngày

6-3-2002 về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

hiện nay

Tranh chấp, khiếu kiện đất đai đang là một thách thức đối với các cơ quan nhà

nước có thẩm quyền Việc giải quyết dứt điểm, có hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất

quan trọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cả nước và ở

từng địa phương Muốn vậy việc tìm hiểu nhận dạng các nguyên nhân phát sinh (trong đó

có những nguyên nhân có tính lịch sử) tranh chấp, khiếu kiện đất đai kéo dài là rất cần

thiết trong nỗ lực tìm kiếm, xác lập cơ chế thích hợp để giải quyết dứt điểm, triệt để loại

tranh chấp này

Đổi mới công tác giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất

đai Tiếp nhận ý kiến phản hồi từ tổ chức, cá nhân để hoàn thiện và xây dựng hệ thống

quản lý đất đai (thể chế, bộ máy tổ chức)

Trang 5

        Trang  4 

1.1.2 Các văn bản, quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước về giải quyết tranh

chấp, khiếu nại về đất đai

a) Văn bản do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành

 Luật Khiếu nại có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2012;

 Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2011;

 Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;

 Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 15 tháng 06 năm 2004 và Luật sửa đổi một số

điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 29 tháng 11 năm 2005

 Luật Tố tụng dân sự ngày 24 tháng 6 năm 2004;

 Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;

 Luật Thanh tra ngày 15 tháng 06 năm 2004;

 Luật Nhà ở ngày 09 tháng 12 năm 2005;

 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính của Ủy ban thường vụ Quốc hội

ngày 21 tháng 5 năm 1996;

 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án

hành chính năm 1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 05 tháng 4 năm 2006;

 Nghị quyết số 755/2008/NQ-UBTVQH ngày 02 tháng 04 năm 2005 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về

nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải

tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991;

 Nghị quyết số 30/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Quốc hội về công tác

giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước;

b) Văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành

 Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ hướng

dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo;

 Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 04 năm 2005 của Chính phủ Quy

định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm

1998, Luật sửa đổi, bổ sung mội số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 15 tháng

06 năm 2004;

 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy

định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo;

 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về việc

thi hành Luật Đất đai;

Trang 6

        Trang  5 

 Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về xử

phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi

thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

 Nghị định số 12/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ về hoạt

động đo đạc và bản đồ;

 Nghị định số 30/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 03 năm 2005 về xử phạt vi phạm

hành chính trong hoạt động đo đạc và bản đồ;

 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 05 năm 2007 của Chính phủ quy định

bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện

quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước

thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

 Chỉ thị số 36/2004/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ

về việc chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành

chính nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

c) Văn bản do Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành

 Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 7 năm 2007 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP

ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về trình tự thu hồi đất và thực hiện việc

bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;

 Thông tư số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03 tháng 01 năm

2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Tổng cục Địa

chính hướng dẫn về thẩm quyền của toà án nhân dân trong việc giải quyết các

tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất

1.2 Cơ sở của vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Cơ sở khoa học

1.2.1.1 Các khái niệm

 Tranh chấp đất đai: là sự tranh giành nhau về quyền quản lý, quyền sử dụng

trên một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó là đúng pháp

luật Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết mà yêu cầu cơ quan có thẩm quyền

giải quyết

Theo khoản 6 Điều Luật đất đai năm 2003 tranh chấp đất đai là tranh chấp về

quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai

 Giải quyết tranh chấp về đất đai: là việc tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở

pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức về

sự tranh giành về quyền lợi quản lý, quyền sử dụng trên một khu đất cụ thể mà mỗi bên

đều cho rằng mình phải được quyền đó là đúng pháp luật Trên cơ sở đó phục hồi các

Trang 7

        Trang  6 

quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm, đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi

vi phạm pháp luật

 Khiếu nại về đất đai: là việc người dân, cơ quan, tổ chức đề nghị cơ quan, tổ

chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính đó là

trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình

 Thanh tra đất đai: là xem xét, kiểm soát, kiểm tra thường xuyên, định kỳ

nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị cơ quan Nhà nước nhằm khắc

phục những nhược điểm, thiếu xót, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả quản

lý Nhà nước đối với đất đai

 Quyết định hành chính: là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan,

tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết

định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối

với một hoặc một số đối tượng cụ thể

 Hành vi hành chính: là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ

chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không

thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật

 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: là giấy chứng nhận do cơ quan nhà

nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của

người sử dụng đất

1.2.1.2 Phân biệt tranh chấp, khiếu nại về đất đai

Tranh chấp, khiếu nại về đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội đặc

biệt khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, tranh chấp khiếu nại

đất đai kéo dài với số lượng ngày càng đông người dân tham gia thì lại là vấn đề rất đáng

quan tâm, tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh để đề ra các biện pháp giải quyết phù hợp nhằm

“tháo ngòi nổ” xung đột không để phát sinh trở thành “điểm nóng” gây mất ổn định

chính trị, tình hình trật tự an toàn xã hội Giải quyết tranh chấp, khiếu nại là nghĩa vụ,

trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việc giải quyết tốt tranh chấp, khiếu nại về đất đai

góp phần ổn định tình hình chính trị xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển Tuy nhiên, tranh

chấp khiếu nại là hai mặt của một vấn đề xã hội, việc xác định đúng bản chất của các

trường hợp tranh chấp hay khiếu nại từ đó định ra một cơ chế giải quyết đúng đắn và hiệu

quả Do đó phải có mặt phân định về mặt lý thuyết:

Về tranh chấp đất đai: Điều 4 luật đất đai năm 2003 định nghĩa: “Tranh chấp đất

đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên

trong quan hệ đất đai” Theo định nghĩa nêu trên, có thể hiểu theo nghĩa thông thường

TCĐĐ là việc tranh giành nhau về một phần đất nào đó hoặc quyền và nghĩa vụ liên quan

liên quan đến phần đất đó mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó là đúng

Trang 8

        Trang  7 

pháp luật Vì vậy họ không thể cùng nhau tự giải quyết mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm

quyền giải quyết

Về thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp đất đai thì UBND cấp xã chỉ được

hòa giải, không ra quyết định giải quyết TCĐĐ Nếu tranh chấp đất đai trong trường hợp

các bên tranh chấp không có GCNQSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy

định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật đất đai thì thẩm quyền giải quyết lần đầu thuộc

về cơ quan hành chính cấp Huyện Nếu quyết định giải quyết lần đầu mà một trong các

bên không đồng ý có quyền gửi đơn lên các cơ quan hành chính cấp trên

Về khiếu nại về đất đai: Theo định nghĩa tại Khoản 1, Điều 2 của Luật khiếu nại,

tố cáo đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005 thì: “Khiếu nại là việc công dân, cơ

quan, tổ chức hoặc cán bộ công chức theo thủ tục do Luật khiếu nại, tố cáo quy định đề

nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi

hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định

hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi, lợi ích hợp pháp của người khác”

Từ định nghĩa trên có thể hiểu theo nghĩa đơn giản: Khiếu nại là việc đề nghị xem xét lại

các quyết định hành chính, hành vi hành chính mà người đề nghị cho rằng nó ảnh hưởng

trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của mình Nghĩa là, nếu bản thân mình không có

quyền và lợi ích chính đáng liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính thì

không có quyền khiếu nại

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai theo Luật khiếu nại tố cáo năm 1998

và Luật sửa đổi bổ sung Luật khiếu nại tố cáo năm 2004, 2005 thì Chủ tịch UBND xã có

thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của

mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý Nếu quyết định giải quyết khiếu nại lần

đầu mà một trong hai bên không đồng ý thì người có quyền và lợi ích liên quan được lựa

chọn một trong hai con đường sau: khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp cao hơn hoặc

gửi đơn khiếu nại tại Tòa án nhân dân

Từ các định nghĩa nêu trên tranh chấp, khiếu nại đất đai có những điểm giống và

khác nhau về tính chất và nội dung như sau:

Giống:

- Đối tượng: hộ gia đình, cá nhân, tổ chức

- Khách thể: quyền và lợi ích hợp pháp về đất đai khi bị xâm phạm

- Kết quả giải quyết: được giải quyết bằng quyết định hành chính của người có thẩm

quyền

Trang 9

- Cấp xã chỉ tiến hành hòa giải,

không ra quyết định giải quyết

- Khiếu nại đất đai: công dân, cơ quan,

tổ chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại QĐHC, HVHC về quản lý đất đai

- Không tổ chức hòa giải chỉ vận động, rút đơn

1.2.1.3 Vai trò của công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai

Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân

dân Mỗi công dân đều có quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và xã hội, sống

và làm việc theo pháp luật

Khiếu nại, tố cáo là trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong

Hiến pháp và cụ thể hóa trong Luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản khác của nhà nước

tạo cơ sở pháp lý cho công dân, cơ quan Nhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình

Đất đai luôn là vấn đề nhạy cảm về ba mặt: kinh tế, chính trị, xã hội Nhất là trong

điều kiện nước ta hiện nay, trước nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả các

ngành, nhu cầu về đất đai tăng lên, đất đai trở nên có giá trị Bản thân nó lại không phải

nguồn tài nguyên vô hạn vì thế đất đai ngày càng gắn chặt với lợi ích trực tiếp của mỗi

người Mối quan hệ xã hội xung quanh đất đai ngày càng đa dạng và phức tạp, những mâu

thuẫn tranh chấp cũng nảy sinh gay gắt hơn Việc xem xét giải quyết tranh chấp, khiếu nại

về đất đai là một nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về đất đai và là những biện

pháp để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội Thông qua công tác

giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai góp phần khôi phục những quyền và lợi ích

chính đáng của công dân, mặt khác kịp thời phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm

pháp luật nhằm góp phần ổn định tình hình chính trị xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển,

giữ gìn kỷ cương, trật tự tại cơ sở, tạo lòng tin cho người dân yên tâm sản xuất, động viên

nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, thúc đẩy mọi người hoàn thành tốt

các nghĩa vụ đối với Nhà nước

1.2.1.4 Những quy định hiện hành về công tác giải quyết tranh chấp đất đai

a Những nguyên tắc giải quyết TCĐĐ

 Nguyên tắc 1: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện sở hữu, nguyên

tắc này chi phối toàn bộ ngành luật đất đai

- Khi giải quyết TCĐĐ xác định chỉ giải quyết QSDĐ chứ không giải quyết tranh

chấp về quyền sở hữu về đất đai

- Việc giải quyết TCĐĐ làm thế nào để đảm bảo lợi ích chung của toàn dân, quan hệ

pháp luật đất đai cần phải được giữ ổn định tránh xáo trộn Kiên quyết bảo vệ những

thành quả cách mạng về ruộng đất, đồng thời sửa chữa đúng pháp luật những trường hợp

đã xử lý sai (Khoản 2 Điều 10 Luật đất đai 2003)

Trang 10

        Trang  9 

 Nguyên tắc 2: Khuyến khích sự việc tự thương lượng, hòa giải các TCĐĐ

- Đảm bảo tính khả thi của việc giải quyết TCĐĐ Đảm bảo mối quan hệ tốt đẹp

trong nội bộ nhân dân

- Việc hòa giải được thực hiện tại UBND cấp xã, phường trong thời hạn là 30 ngày

(Điều 135 Luật đất đai 2003)

 Nguyên tắc 3: Giải quyết TCĐĐ nhằm ổn định đời sống và sản xuất của người sử

dụng đất, kết hợp với chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước

b Thẩm quyền giải quyết TCĐĐ

 Thẩm quyền giải quyết của TAND

- Tranh chấp về quyền sử dụng đất khi người sử dụng đất có GCNQSDĐ hoặc có

một trong các loại giấy tờ hợp lệ quy định tại Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật đất đai năm

2003

- Tranh chấp về tài sản gắn liền với đất

- Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng

 Thẩm quyền giải quyết của UBND

 UBND cấp xã: chỉ được hòa giải, không ra quyết định giải quyết TCĐĐ Thời hạn

hòa giải là 30 ngày làm việc kể từ ngày UBND cấp xã nhận được đơn (Khoản 2 Điều 135

Luật đất đai năm 2003)

 UBND cấp huyện và cấp tỉnh: tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự

không có GCNQSDĐ hoặc không có một trong các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5

Điều 50 Luật đất đai năm 2003 được giải quyết như sau:

+ Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

giải quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì

có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

giải quyết hoặc khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính

+ Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải

quyết mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có

quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện theo quy

định của Luật tố tụng hành chính

c Hồ sơ xin giải quyết TCĐĐ bao gồm

- Đơn đề nghị giải quyết TCĐĐ

- Các giấy tờ về bằng chứng quyền sử dụng đất

Trang 11

        Trang  10 

d Trình tự thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai theo Thông tư liên tịch số

01/2005/TTLT-BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Nhà nước khuyến khích các bên TCĐĐ tự hòa giải hoặc giải quyết TCĐĐ thông

qua hòa giải ở cấp cơ sở

TCĐĐ mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND xã,

phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải

Thời hạn hòa giải là 30 ngày làm việc, kể từ ngày UBND cấp xã nhận được đơn

Hội đồng tư vấn hòa giải TCĐĐ của xã, phường, thị trấn gồm có:

- Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn là chủ tịch hội đồng

- Đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam của xã, phường, thị trấn

- Tổ trưởng tổ dân phố đối với các khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp, bản, buôn, sóc

đối với khu vực nông thôn

- Đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về

nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó

- Cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn

Việc hòa giải tranh chấp phải được lập thành hồ sơ Hồ sơ tranh chấp bao gồm:

- Đơn tranh chấp: phải thể hiện rõ họ tên, địa chỉ người tranh chấp, người bị tranh

chấp, diện tích, vị trí thửa đất tranh chấp

- Các loại giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất (Nếu có)

- Biên bản hòa giải cơ sở của khu phố, ấp (Nếu có)

- Sơ đồ bản vẽ hoặc hồ sơ kỹ thuật thể hiện diện tích, vị trí thửa đất tranh chấp với

sự xác nhận của các bên tranh chấp và UBND xã, phường, thị trấn

Kết quả hòa giải TCĐĐ phải được thành lập thành biên bản Biên bản hòa giải

phải ghi đầy đủ họ tên, chức vụ các thành viên tham gia hòa giải và có xác nhận hòa giải

thành hoặc không thành của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất Biên bản hòa giải

được gửi cho các bên tham gia tranh chấp và lưu tại UBND xã, phường, thị trấn

Trường hợp hòa giải thành mà có làm thay đổi hiện trạng, ranh giới thửa đất, thay

đổi chủ sử dụng đất thì biên bản hòa giải thành phải được gửi cho phòng TN-MT hoặc Sở

TN-MT để trình UBND cùng cấp quyết định công nhận quyền sử dụng đất theo nội dung

biên bản hòa giải thành và cấp mới GCNQSDĐ

Trường hợp hòa giải không thành, nếu đương sự có GCNQSDĐ hoặc có một

trong các loại giấy tờ hợp lệ quy định tại các khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật đất đai thì

nguyên đơn gửi biên bản hòa giải không thành kèm theo hồ sơ đến Tòa án nhân dân Nếu

đương sự không có GCNQSDĐ hoặc không có một trong các loại giấy tờ hợp lệ thì gửi

biên bản hòa giải không thành kèm theo hồ sơ đến Phòng TN-MT hoặc Sở TN-MT

Trang 12

        Trang  11 

Công tác hòa giải TCĐĐ ở cấp xã được thực hiện trên tinh thần vận động, giải

thích trên cơ sở tình làng nghĩa xóm, phong tục tập quán của địa phương và giải thích cho

người dân hiểu các quy định của pháp luật, đặc biệt là Luật đất đai để tránh những trường

hợp kiện tụng sau này

e Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp UBND huyện,

quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là cơ quan có thẩm quyền giải quyết lần đầu theo

Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-BTNMT ngày 13/4/2005

Trình tự giải quyết:

 Đơn thư TCĐĐ được nộp tại UBND cấp xã UBND cấp xã có trách nhiệm tổ

chức hòa giải, thời gian hòa giải tối đa là 30 ngày làm việc; nếu hòa giải không thành thì

hướng dẫn đương sự nộp đơn TCĐĐ tại UBND cấp huyện để giải quyết Sau khi UBND

cấp huyện nhận được đơn sẽ chuyển đơn cho Phòng TN-MT, Phòng TN-MT là cơ quan

tham mưu cho UBND huyện giải quyết tranh chấp lần đầu Phòng có trách nhiệm tiếp

nhận đơn vào sổ theo dõi nếu đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của đơn vị mình Nếu đơn

không thuộc thẩm quyền của Phòng thì mời đương sự đến để trả đơn và hướng dẫn đến

đúng cơ quan có thẩm quyền để giải quyết

 Sau khi nhận được hồ sơ TCĐĐ, Phòng TN-MT tiến hành tổ chức thẩm tra, xác

minh theo các bước sau:

- Làm việc với đương sự để làm rõ các nội dung tranh chấp và yêu cầu bổ sung

tài liệu liên quan đến nội dung tranh chấp

- Làm việc với UBND cấp xã nơi có đất đang tranh chấp tìm hiểu về nguồn gốc,

quá trình sử dụng đất, thu thập chứng cứ và hồ sơ địa chính của thửa đất

- Làm việc với các tổ chức, nhân chứng để thu thập tài liệu, chứng cứ có liên

quan đến nội dung tranh chấp

- Làm việc với UBND cấp xã để thống nhất kết quả kiểm tra, xác minh Trường

hợp phức tạp UBND cấp huyện thành lập hội đồng tư vấn pháp lý, hội đồng

này đề xuất cho UBND cấp huyện phương án giải quyết

- Làm báo cáo thẩm tra, xác minh và dự kiến giải quyết vụ việc, trình UBND cấp

huyện quyết định giải quyết lần đầu theo đúng quy định của pháp luật

 Sau khi nhận báo cáo của Trưởng phòng TN-MT, Tổ trưởng tổ tư vấn pháp lý

phải tổ chức họp thông qua và trình quyết định cho Chủ tịch UBND cấp huyện ký ban

hành Và quyết định này là quyết định giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu thuộc thẩm

quyền của UBND cấp huyện

Trong quá trình thẩm tra, xác minh và dự kiến giải quyết vụ việc, cán bộ Phòng

TN-MT vẫn tiếp tục vận động hòa giải và rút đơn tranh chấp

Thời gian giải quyết TCĐĐ đối với trường hợp UBND cấp huyện có thẩm quyền

giải quyết là 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn của các bên tranh chấp

Trang 13

        Trang  12 

Trong thời hạn không quá 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định giải

quyết lần đầu của UBND cấp huyện, nếu không đồng ý thì các bên tranh chấp có quyền

gửi đơn đến UBND cấp tỉnh để được giải quyết Tranh chấp đất đai lần cuối, quá thời hạn

trên sẽ không được tiếp nhận đơn xin giải quyết tranh chấp

UBND xã tìm hiểu nguồn gốc

và quá trình sử dụng

Tổ chức, nhân chứng, chứng

cứ, thu thập tài liệu UBND xã thống nhất kết quả thẩm tra

Viết báo cáo thẩm tra xác minh

Sơ đồ 1 Quy trình giải quyết TCĐĐ lần đầu thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND

cấp Huyện theo Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-BTNMT

Hướng dẫn Đ/S

đến cơ quan có

thẩm quyền

Hòa giải không thànhĐơn TCĐĐ

Trang 14

        Trang  13 

1.2.1.5 Những quy định hiện hành về công tác giải quyết khiếu nại đất đai

a Nguyên tắc giải quyết khiếu nại về đất đai

- Mọi cá nhân, tổ chức sử dụng đất đều bình đẳng trước pháp luật

- Đảm bảo tính trung thực, khách quan trong quá trình giải quyết khiếu nại, nếu

xem xét thấy rằng việc ban hành quyết định hành chính đó là không đúng theo quy định

và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân thì phải kiên quyết sửa đổi

- Việc giải quyết phải được công khai, phải tôn trọng và lắng nghe ý kiến của

nhân dân, phải lấy dân làm gốc, đặt lợi ích của nhân dân lên trên

b Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai

Theo Điều 19 đến Điều 29 Mục 2 của Luật khiếu nại tố cáo năm 1998 và Luật sửa

đổi bổ sung Luật khiếu nại tố cáo năm 2004, Điều 264 của Luật tố tụng hành chính năm

2011, Điều 7 Luật khiếu nại có hiệu lực ngày 01/7/2012:

- Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), thủ trưởng cơ quan

thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu

nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách

+ Giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp xã, thủ trưởng cơ quan thuộc

UBND cấp huyện đã giải quyết nhưng còn khiếu nại

- Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương (gọi chung là cấp tỉnh)

có thẩm quyền giải quyết:

+ Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của

mình

+ Giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch UBND huyện đã giải quyết nhưng còn có

khiếu nại

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính

phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) có thẩm quyền giải quyết:

+ Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của

mình

+ Giải quyết khiếu nại mà Chủ tịch UBND tỉnh đã giải quyết nhưng còn có khiếu

nại

Trang 15

        Trang  14 

Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành

chính về quản lý đất đai Việc giải quyết khiếu nại được tiến hành như sau:

 Trường hợp khiếu nại về quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản

lý đất đai của Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không

đồng ý với quyết định giải quyết đó thì có quyền khởi kiện tại TAND hoặc có quyền

khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh Trong trường hợp đương sự không đồng ý với

quyết định giải quyết lần 2 của Chủ tịch UBND cấp tỉnh thì có quyền khởi kiện vụ án

hành chính tại Tòa án theo Luật tố tụng hành chính

 Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý

đất đai của Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý

với quyết định đó thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ TN – MT hoặc khởi kiện vụ

án hành chính tại Tòa án theo Luật tố tụng hành chính Trong trường hợp đương sự không

đồng ý với quyết định giải quyết của Bộ trưởng thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính

tại Tòa án theo Luật tố tụng hành chính

Thời hạn giải quyết lần đầu không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý giải quyết; đối

với vụ việc phức tạp thì thời hiệu có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày kể từ ngày

thụ lý giải quyết (Điều 138 Luật đất đai năm 2003)

Điều 264 Luật tố tụng hành chính có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2011 đã sửa

đổi, bổ sung Điều 138 Luật đất đai năm 2003 như sau:

- Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành

chính về quản lý đất đai

- Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về

đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại Trình tự, thủ tục giải quyết

khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định

của Luật tố tụng hành chính

c Các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 162 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính

phủ quy định thì các quyết định hành chính bị khiếu nại bao gồm:

 Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển

mục đích sử dụng đất

 Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư

 Cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

 Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất

Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công

chức Nhà nước khi giải quyết công việc thuộc phạm vi quy định tại Khoản 1 Điều 162

Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ

Trang 16

        Trang  15 

Theo quy định tại Điều 264 Luật tố tụng hành chính có hiệu lực ngày 01 tháng 7

năm 2011 các quyết định hành chính bị khiếu nại được mở rộng thêm, quy định như sau:

“Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành

chính về quản lý đất đai.”

d Thời hiệu khiếu nại và thời hạn giải quyết khiếu nại

Thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai

là 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được hành vi hành

chính đó

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà đơn

khiếu nại vẫn chưa được giải quyết hoặc trong vòng 45 ngày kể từ ngày nhận được quyết

định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định khiếu

nại trên thì có quyền khiếu nại đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để giải quyết khiếu

nại lần 2 hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án Đối với vùng sâu vùng xa đi lại khó

khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày

e Điều kiện thụ lý đơn khiếu nại

- Người khiếu nại phải là người có quyền và lợi ích hợp pháp, chịu tác động trực

tiếp bởi quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính mà mình khiếu nại

- Người khiếu nại phải có hành vi năng lực đầy đủ theo quy định của luật pháp

Trong trường hợp thông qua người đại diện để thực hiện việc khiếu nại thì người đại diện

phải tuân theo các quy định của pháp luật

- Người khiếu nại phải làm đơn khiếu nại và phải gửi đến đúng cơ quan có thẩm

quyền giải quyết trong thời hiệu, thời hạn theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo

- Việc khiếu nại chưa có quyết định giải quyết lần 2

- Việc khiếu nại chưa được Tòa án thụ lý giải quyết

f Trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành

chính của Chủ tịch UBND quận, huyện

Theo Luật khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi bổ sung năm 2004, 2005:

Trong thời hạn không quá 90 ngày kể từ ngày UBND huyện, quận, thị xã, thành

phố thuộc tỉnh có quyết định hành chính trong quản lý đất đai hoặc cán bộ công chức

thuộc UBND xã, phường, thị trấn, thuộc Phòng TN-MT, thuộc UBND huyện, quận, thị

xã, thành phố trực thuộc tỉnh có hành vi hành chính trong việc giải quyết công việc về

quản lý đất đai mà người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan không đồng ý với quyết

định hành chính, hành vi hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại lên UBND

huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh

Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh giải quyết khiếu nại

theo thời hạn quy định của Luật khiếu nại, tố cáo

Trang 17

        Trang  16 

Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố

trực thuộc tỉnh được công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền

và nghĩa vụ liên quan

Trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày có quyết định giải quyết của Chủ

tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh mà người khiếu nại không đồng ý

với quyết định giải quyết đó thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân hoặc UBND tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung Ương

Trường hợp khiếu nại đến UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì Chủ

tịch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm giải quyết theo thời hạn quy

định của Luật khiếu nại, tố cáo Quyết định giải quyết của Chủ tịch tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng, phải được công bố công khai và gửi

cho người khiếu nại, người khác có quyền và nghĩa vụ liên quan

Cơ quan nhận đơn khiếu nại có trách nhiệm ghi vào sổ theo dõi giải quyết khiếu nại

Theo Nghị định 84/2007/NĐ-CP, trình tự giải quyết khiếu nại đối với quyết

định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp huyện:

Trong thời hạn không quá 90 ngày kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện có quyết

định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai quy định tại Điều 162 Nghị

định 181/2004/NĐ-CP mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không đồng ý với

quyết định hành chính, hành vi hành chính đó thì có quyền nộp đơn khiếu nại đến UBND

cấp huyện

Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy

định của Luật khiếu nại, tố cáo

Quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND phải được công bố công khai và gửi cho

người khiếu nại, người khác có quyền và nghĩa vụ liên quan

Trong thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết của

Chủ tịch UBND cấp huyện mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết đó

thì có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân hoặc khiếu nại đến UBND cấp tỉnh

Trường hợp khiếu nại đến UBND cấp tỉnh thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách

nhiệm giải quyết khiếu nại theo thời hạn quy định của Luật khiếu nại, tố cáo Quyết định

giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là quyết định giải quyết lần 2, phải được

công bố công khai và gửi cho người khiếu nại, người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên

quan Cơ quan nhận đơn khiếu nại có trách nhiệm ghi vào sổ theo dõi giải quyết khiếu

nại

Theo Luật Khiếu nại do Quốc hội ban hành có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm

2012:

1 Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp

luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu

nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành

Trang 18

        Trang  17 

chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành

chính

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc

quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai

đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu

hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần

hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện

vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính

2 Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng

cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng)

thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án

theo quy định của Luật tố tụng hành chính

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của

Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền

khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính

3 Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân

dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu

nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành

chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần

đầu của Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được

giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi

kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ

trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi

kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính

Trang 19

        Trang  18 

Đơn không đủ điều kiện

Đơn đủ điều kiện

Sơ đồ 2 Quy trình giải quyết khiếu nại đất đai tại UBND Huyện

1.2.2 Cơ sở pháp lý của vấn đề nghiên cứu

 Luật tố tụng hành chính được Quốc hội thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010 có

hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2011

 Luật Khiếu nại được Quốc hội thông qua có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2012

 Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2003 có hiệu lực thi

hành ngày 01/7/2004

 Luật khiếu nại được Quốc hội ban hành có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2012

 Luật khiếu nại, tố cáo ngày 02/12/1998, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật

khiếu nại, tố cáo ngày 15/6/2004 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật

khiếu nại, tố cáo ngày 29/11/2005

Đơn khiếu nại

UBND Huyện

Quyết định giải quyết lần đầu

Không đồng ý

UBND tỉnh, thành phố Tòa án nhân dân

Thực hiện

Trang 20

        Trang  19 

 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính Phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi bổ

sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo

 Nghị định số: 181/2004/NĐ-CP (29/10/2003) của Chính Phủ quy định về thi hành

Luật đất đai năm 2003

 Nghị định 105/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai do

Chính Phủ quy định

 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính Phủ quy định bổ sung về

cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi

thường hỗ trợ tái định cư, giải quyết khiếu nại về đất đai

 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về việc cấp GCNQSDĐ, quyền sở

hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

 Quyết định số 43/2009/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đồng Nai ban hành quy định

về trình tự, thủ tục tiếp công dân; xử lý đơn thư; giải quyết khiếu nại, tố cáo; giải

quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Trang 21

        Trang  20 

1.3 Khái quát địa bàn huyện Xuân Lộc

1.3.1 Điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên

1.3.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Sơ đồ 3 Bản đồ ranh giới hành chính huyện Xuân Lộc

Huyện Xuân Lộc nằm ở phía Đông Nam tỉnh Đồng Nai Địa giới hành chính của

huyện được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Định Quán

- Phía Nam giáp huyện Cẩm Mỹ và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

- Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận

- Phía Tây giáp thị xã Long Khánh

Trang 22

        Trang  21 

Toàn huyện Xuân Lộc có 15 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thị trấn và 14 xã

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 72.719,65 ha, dân số 228.353 người, chiếm 12,3%

về diện tích và 9,6% về dân số toàn tỉnh Đồng Nai, mật độ dân số 294 người/km2 Huyện

có Quốc lộ 1A và đường sắt chạy qua, trung tâm huyện đóng tại ngã 3 Ông Đồn là đầu

mối của các tuyến giao thông quan trọng trong khu vực, tạo cho Xuân Lộc có lợi thế về

phát triển kinh tế hướng ngoại với các thế mạnh về nông nghiệp, dịch vụ, công nghiệp,

đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp tỉnh Đồng Nai và mở rộng mối giao

lưu giữa Đồng Nai với các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ và Bà Rịa -Vũng Tàu Theo

định hướng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2006 -

2020, thì huyện Xuân Lộc nằm trong Tiểu vùng II gồm: huyện Trảng Bom, Thống Nhất,

Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Tx Long Khánh, đồng thời nằm trong hành lang kinh tế Trảng Bom

- Long Khánh - Xuân Lộc, với quy hoạch phát triển mạnh các KCN, CCN mới của tỉnh

trong giai đoạn sau 2010 Vì vậy, dự kiến sau năm 2010 huyện Xuân Lộc sẽ có nhiều tiềm

năng và cơ hội đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH để trở thành huyện nông - công nghiệp

theo hướng hiện đại

b Địa hình

Có 2 dạng địa hình chính là: địa hình núi, đồi thoải lượn sóng:

- Địa hình núi: Phân bố rải rác thành các ngọn núi độc lập có độ dốc lớn, chiếm

khoảng 6-7% tổng diện tích toàn huyện, trong đó nổi tiếng nhất là Núi Chứa Chan, với độ

cao 844 m, tuy không thích hợp với sản xuất nông nghiệp nhưng lại chứa đựng tiềm năng

về phát triển du lịch Ngoài Núi Chứa Chan còn có các núi nhỏ khác như: Núi Mây Tào,

Núi Sa Bi, Núi Bà Sót, Núi Hok, Núi Hòa Hưng,

- Địa hình đồi thoải lượn sóng: Là dạng địa hình chính, hiện chiếm 85% tổng diện

tích toàn huyện Độ dốc phổ biến từ 3o đến 8o, khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

với các loại hình cây lâu năm Tuy nhiên, trên các khu vực có độ dốc trên 80 cần chú trọng

biện pháp xây dựng đồng ruộng để hạn chế tình trạng xói mòn đất trong mùa mưa

1.3.1.2 Các nguồn tài nguyên

a Đất đai

Diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 72.719,56 ha, bao gồm 6 nhóm đất và 15 loại

đất chính, mà sự phân bố và diện tích không đồng đều trên địa bàn huyện

Đất đai của huyện khá bằng phẳng: có tới 82,87% diện tích có độ dốc <80, khá

thuận lợi cho sử dụng vào mục đích nông - công nghiệp, cũng như xây dựng các điểm dân

cư và cơ sở hạ tầng Yếu tố hạn chế là tầng dày: có tới 13,44% diện tích thuộc tầng rất

mỏng (<30cm) và 28,1% thuộc tầng mỏng và trung bình

b Tài nguyên nước và chế độ thuỷ văn

(1) Nước mặt

Phần lớn sông suối trong địa phận Xuân Lộc thường ngắn và dốc, nên khả năng

giữ nước rất kém, nghèo kiệt vào mùa khô Việc xây dựng các hồ chứa kết hợp với

Trang 23

        Trang  22 

chuyển tải nước từ ngoài vùng vào là rất cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội, mà đặc

biệt là cho phát triển sản xuất nông-công nghiệp của huyện Trong phạm vi huyện có 3 hệ

thống sông suối chính: Sông La Ngà, Sông Ray, các nhánh suối của Sông Dinh

(2) Nước ngầm

Theo bản đồ địa chất - thủy văn tỉnh Đồng Nai tỉ lệ 1/100.000, huyện Xuân Lộc

nằm trong khu vực nghèo nước ngầm Trên đất đỏ vàng được phong hóa từ đá bazan nước

ngầm thường xuất hiện ở độ sâu từ 25-30 m Các khu vực khác nước ngầm thường xuất

hiện ở độ sâu từ 80-120m, lưu lượng trung bình từ 0,5 đến 12 l/s, chất lượng tốt Hiện nay

nước ngầm đang được khai thác cho sinh hoạt và tưới cho cây trồng

1.3.2 Thực trạng phát triển và biến động kinh tế - xã hội huyện Xuân Lộc

31.80%

26.70%

41.70%

Nông ‐ Lâm Thương mạ

CN ‐ TTCN

Biểu đồ 1 Cơ cấu kinh tế huyện Xuân Lộc năm 2012

1.3.2.1 Sản xuất nông – lâm nghiệp và thủy sản

Ngành nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao, riêng lâm nghiệp, thủy sản do ít có

lợi thế phát triển nên tăng trưởng chậm Tỷ trọng của lâm nghiệp và thủy sản rất khiêm

tốn trong tổng giá trị sản xuất của khu vực nông lâm thủy sản Tuy nhiên, việc phát triển

của hai ngành này cũng đã đóng góp vào việc nâng cao thu nhập cho nông hộ, cung cấp

nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, bảo vệ môi trường và cung cấp một phần cho nhu

cầu thực phẩm trong Huyện

Mặc dù điều kiện sản xuất ít thuận lợi hơn các huyện khác ở khu vực Nam Bộ, cơ

sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp mà nhất là thủy lợi còn hạn chế, nhưng do làm

tốt công tác chỉ đạo sản xuất nên nông nghiệp của Xuân Lộc trong những năm qua liên

tục tăng trưởng với GTSX toàn ngành nông nghiệp luôn đạt tốc độ tăng trưởng từ 1,5 –

1,8 lần mức tăng bình quân của ngành nông nghiệp cả nước

Trang 24

        Trang  23 

Trong nông nghiệp, cả trồng trọt và chăn nuôi đều có tốc độ tăng trưởng cao, trình

độ sản xuất luôn được nâng cao theo hướng công nghiệp hóa và tập trung đầu tư theo

chiều sâu Riêng chăn nuôi, đạt tốc độ tăng trưởng rất cao, nên tỷ trọng GTSX ngành chăn

nuôi trong tổng GTSX nông nghiệp tăng khá nhanh, từ 22,8% năm 2000 lên 34% năm

2005 và chiếm khoảng 43% năm 2010, cao hơn nhiều so với tỷ trọng bình quân của ngành

chăn nuôi cả nước ( khoảng 25% ) và của Tỉnh ( khoảng 33% ) Để tạo điều kiện cho chăn

nuôi phát triển bền vững và dần trở thành ngành sản xuất chính trong lĩnh vực nông

nghiệp, Huyện đã tiến hành xây dựng quy hoạch phát triển chăn nuôi và xây dựng các

vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi, các cơ sở giết mổ tập trung đã được tiến hành và

được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt tại Quyết định số 3082/QĐ-UBND ngày

22/10/2009 Kết quả xác định 25 vùng khuyến khích phát triển chăn nuôi giai đoạn I với

tổng diện tích 3,982ha trên địa bàn 14 xã thuộc Huyện Trong giai đoạn từ nay đến năm

2015 sẽ triển khai các dự án ưu tiên, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở những vùng trọng

điểm di dời và phát triển Bên cạnh đó, cũng đã quy hoạch 6 cơ sở giết mổ tập trung, phân

bố trên địa bàn các xã: Xuân Định, Xuân Phú, Xuân Bắc, Xuân Hiệp, Xuân Hưng, Xuân

Thành, Suối Cao, với quy mô về diện tích khoảng 2ha/ 1 cơ sở giết mổ

1.3.2.2 Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và khoa học công nghệ

Giá trị sản lượng ngành CN - TTCN ước đạt 1.573,8 tỷ đồng (giá cố định) - đạt

102,6% KH, tăng 21% so với cùng kỳ Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp khu vực

nhà nước ước đạt 21,8 tỷ đồng, công nghiệp ngoài quốc doanh ước đạt 1.552 tỷ đồng Xác

định CN - TTCN, mũi nhọn là công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, may mặc, trong

năm đã mời gọi 02 dự án đầu tư may mặc tại Xuân Tâm và Xuân Hưng và kho chứa nông

sản, phân bón tại xã Bảo Hòa và Xuân Định góp phần bao tiêu sản phẩm cho nông dân

Vận động các cơ sở sản xuất tham gia cuộc thi sáng tạo kiểu dáng công nghệ năm

2011 do Sở Công thương Đồng Nai phát động; Triển khai thực hiện Quyết định

2727/QĐ-UBND ngày 15/10/2010 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc phê duyệt Đề án

phát triển gỗ mỹ nghệ trên địa bàn huyện Xuân Lộc giai đoạn 2011 - 2015; Triển khai

Quyết định 04/2008/QĐ-UBND ngày 14/01/2008 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc ban

hành Quy định tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục xét tặng danh hiệu nghệ nhân, thợ giỏi,

người có công đưa nghề mới về địa phương Kết quả có 13 hồ sơ đề nghị xét thợ giỏi và

05 hồ sơ đề nghị xét nghệ nhân gửi Hội đồng cấp tỉnh

Triển khai hoạt động của 05 trạm cân đối chứng tại chợ Bảo Hòa, Suối Cát, Xuân Đà, Xuân

Hòa, Bảo Định Số lượt cân được kiểm tra trên 6.000 lượt Kiểm tra chất lượng, hạn kiểm

định đối với 06 trạm kinh doanh xăng dầu trên địa bàn huyện, qua kiểm tra không phát hiện

trường hợp nào vi phạm Đưa trang thông tin điện tử của huyện đi vào hoạt động, đáp ứng

nhu cầu truy cập, tìm hiểu thông tin của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn

1.3.2.3 Thương mại, dịch vụ và du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ ước đạt 4.108 tỷ đồng - đạt 104,4% KH, tăng

34,6% so với cùng kỳ Giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ năm 2011 là 785,9 tỷ đồng - đạt

100,1%KH, tăng 25,3% so với cùng kỳ Tổng số đơn vị kinh doanh thương mại dịch vụ là

Trang 25

        Trang  24 

6.805 đơn vị, tăng 128 đơn vị so với cùng kỳ UBND huyện đã chỉ đạo phòng chuyên môn

làm việc với UBND các xã và Ban quản lý các chợ thường xuyên theo dõi tình hình giá cả,

vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, công tác phòng cháy chữa cháy và đảm bảo

an ninh trật tự trên địa bàn huyện

Công tác quản lý thị trường được thực hiện tốt, thường xuyên kiểm tra, phát hiện xử lý

hàng cấm, hàng giả, hàng hết hạn sử dụng; thực hiện các quy định về nhãn hàng hóa, chất

lượng hàng hóa, niêm yết giá, chống buôn lậu

Ngoài ra, UBND huyện chỉ đạo nâng cấp các chợ như Xuân Định, Bình Hòa, Xuân

Thành, Xuân Thọ, Lang Minh đảm bảo điều kiện kinh doanh mua bán phục vụ nhu cầu của

nhân dân địa phương

1.3.3 Cơ sở hạ tầng

1.3.3.1 Giao thông

a Đường bộ

Mạng lưới đường bộ với tổng chiều dài: 1.285,6 km, bao gồm:

- Quốc lộ: 46,2 km, đường bê tông nhựa, đạt cấp III đồng bằng

- Tỉnh lộ: 41,4 km, hầu hết là đường nhựa

- Huyện lộ: 16 tuyến, dài 136,10 km, trên 35% là đường nhựa

- Hệ thống đường xã: 348 km, mặt trải nhựa đạt 18%, còn lại mặt được cấp phối và đất

- Đường thôn, ấp: Tổng chiều dài 678 km, hầu hết mặt đường bằng đất

b Đường sắt

Đoạn đường sắt quốc gia chạy qua huyện dài: 35,8 km, với 3 nhà ga là Trảng Táo,

Gia Ray, Bảo Chánh

1.3.3.2 Mạng lưới điện

Mạng lưới điện Quốc gia đã xuống tới tất cả các xã, trong đó các xã nằm ven quốc

lộ có trên 87% số hộ đã dùng điện, các xã vùng sâu tỉ lệ hộ có điện còn thấp do dân cư ở

phân tán và cơ sở hạ tầng còn có nhiều khó khăn

1.3.3.3 Thủy lợi

Thủy lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội đối với

huyện Xuân Lộc.Trên địa bàn huyện đã xây dựng được các hồ chứa nước:

- Hồ Gia Ui: Trữ lượng 10,8 triệu m3, tổng chiều dài kênh mương 38,64 km, năng lực

tưới thực tế 1.504ha, ngoài ra còn cung cấp nước phục vụ sinh hoạt với công suất

5.000 m3/ngày.đêm

- Hồ Núi Le: Trữ lượng nước 4 triệu m3, hiện tưới cho 309ha cây lâu năm và phục vụ

nước sinh hoạt cho các xã Xuân Hiệp, TT Gia Ray, Suối Cát với công suất

3.000m3/ngày đêm

Trang 26

        Trang  25 

- Đập Gia Liêu: Hiện tưới cho 300ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có 3,55km

kênh được kiên cố hoá, tuy nhiên suối Gia Liêu chỉ có nước vào mùa mưa từ tháng 6

đến tháng 1 năm sau, vì vậy cần tăng tích trữ lượng nước đầu nguồn

- Đập suối Nước Trong: Năng lực tưới thực tế được 1.021ha, trong đó tưới tự chảy 303

ha, tưới tạo nguồn 477ha, ảnh hưởng mạch nước ngầm 241 ha, tổng chiều dài kênh

mương 18,9 km

- Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có các công trình thuỷ lợi như: đập Lang Minh tưới

cho 197ha, đập Suối Khỉ Xuân Thành, tưới cho 60ha, đập Sóc Ba Buôn (Xuân Hòa):

tưới 40ha, cung cấp nước sinh hoạt cho 25 hộ, đập Suối Học tưới 20ha,…

1.3.4 Tình hình văn hóa – xã hội

1.3.4.1 Dân số

Trước đây, Xuân Lộc là một trong những huyện tiếp nhận nhiều dân di cư từ ngoài

tỉnh vào nên tốc độ tăng dân số trong thời kì từ 1991 – 1995 khá nhanh (trung bình

3%/năm), giai đoạn 1996 – 2000 có chiều hướng chậm lại (2-2,3%/năm) và từ năm 2000

– 2005 chỉ còn 1,61%, gần cân bằng với tốc độ tự nhiên Nhưng giai đoạn 2006 – 2012,

tốc độ phát triển dân số thấp hơn tốc độ tăng tự nhiên Như vậy, trong giai đoạn 2001

-2012 mà đặc biệt từ năm 2005 đến nay đã có sự chuyển dịch dân số của Huyện sang các

huyện khác mà chủ yếu là sang các khu công nghiệp ngoài huyện

Dân số toàn huyện tăng từ 197.087 người năm 2000 lên 228.857 người năm 2012,

tăng 31.770 người, tương đương với dân số trung bình của 1,5 xã của Xuân Lộc Như

vậy trong tương lai, ngoài việc tăng cường kiểm soát về tăng dân số tự nhiên, cần chủ

động chuyển dịch lao động nông thôn đến làm việc tại các khu công nghiệp trong Tỉnh

để chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng quy mô sản xuất và làm tiền đề cho đẩy mạnh cơ

giới hóa nông nghiệp

1.3.4.2 Lao động, việc làm và thu nhập

Trong năm đã giải quyết việc làm cho 8.305 lao động, đạt 103,8%KH; trong đó

giới thiệu việc làm tại Cty donastandar - KCN huyện 1.542 lao động (nâng tổng số lao

động hiện có của công ty lên 12.850 lao động); Các công ty, doanh nghiệp, cơ sở SXKD

trong và ngoài huyện 4.325 lao động; Cho vay vốn để tạo việc làm tại chỗ 2.538 lao động

Đầu năm 2011, toàn huyện có 3.064 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 6,59%; Dự kiến có

1.002 hộ vượt nghèo, số hộ hộ nghèo cuối năm còn 2.062 hộ, chiếm tỷ lệ 4,38% Huy

động nguồn lực thực hiện chương trình giảm nghèo trong là 72 tỷ đồng, đạt 100%KH

Trong đó, chính sách tín dụng cho vay mới 740 hộ, doanh số cho vay 10,46 tỷ đồng, đạt

100%KH; Cấp 13.893 thẻ BHYT cho người nghèo, mệnh giá mỗi thẻ 351.000 đồng/1

năm (cấp thời hạn 3 năm); Miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho 9.800 lượt học

sinh, thuộc thành viên gia đình hộ nghèo, kinh phí 6,5 tỷ đồng; Xây dựng 213 căn nhà

tình thương, kinh phí 5.576 triệu đồng, đạt 213%KH; Trợ cấp tết cho 3.518 hộ, kinh phí

trợ cấp 1.759 triệu đồng; Hỗ trợ giá điện theo Quyết định 268/QĐ-TTg ngày 23/02/2011

của Thủ tướng Chính phủ cho 3.552 hộ nghèo, kinh phí 959 triệu đồng

Trang 27

        Trang  26 

Xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo nghề lao động nông thôn giai đoạn 2011

Năm 2011, tổ chức đào tạo 47 lớp, với 1.435 học viên, đạt 119,6% KH; Phối hợp với

trường Cao đẳng nghề số 8 tuyển sinh 55 học sinh con em đồng bào các dân tộc vào học

nghề năm học 2011-2012 Với kết quả trên, năm 2011 tỷ lệ qua đào tạo toàn huyện đạt

54,08% (trong đó tỷ lệ qua đào tạo nghề đạt 43,262%)

1.3.4.3 Giáo dục

Được sự quan tâm của toàn xã hội nên giáo dục ngày càng phát triển, công tác xã

hội hóa giáo dục được thực hiện có hiệu quả Cơ sở vật chất ngành giáo dục tiếp tục được

xây dựng theo hướng kiên cố Giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, THCS, thực

hiện đạt mục tiêu về phổ cập giáo dục phổ thông Tỷ lệ học sinh ra lớp: mẫu giáo 5 tuổi

đạt 71,1%, 6 tuổi vào lớp một đạt 100%, số vào lớp 6 đạt 100%, học sinh tốt nghiệp

THCS vào lớp 10 đạt 72% Chất lượng giáo dục có tiến bộ, số học sinh đạt khá, giỏi và

hạnh kiểm tốt hàng năm đều tăng Đội ngũ giáo viên phần lớn có phẩm chất tốt, đạo đức,

yêu nghề, trình độ chuyên môn được chuẩn hóa 95,4%, trong đó đạt trên chuẩn 40,2%

Mạng lưới trường lớp được quan tâm xây dựng theo hướng chuẩn hóa, hiện có

50% trường đạt chuẩn quốc gia Tổng số trường học trên địa bàn Huyện hiện có 75

trường, tăng 09 trường so với 2005 Phân bố đều theo các xã và khu vực

Hoạt động giáo dục thường xuyên được duy trì, tổ chức các lớp dạy nghề và hướng

nghiệp cho học sinh, thanh niên Các Trung tâm học tập cộng đồng tiếp tục được đầu tư,

trang bị về cơ sở vật chất và duy trì hoạt động ngày càng có hiệu quả Từng bước xây

dựng xã hội học tập; chú trọng công tác khuyến học, khuyến tài; hoạt động của hội

khuyến học Hội phụ huynh học sinh có nhiều tích cực, góp phần phát huy tốt mối quan

hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong chăm lo sự nghiệp giáo dục

 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội và môi trường

1 Thuận lợi

- Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Xuân Lộc có vị trí thuận lợi cho

phát triển kinh tế với các thế mạnh về nông nghiệp – dịch vụ – công nghiệp

- Các yếu tố đất đai, khí hậu thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp và xây

dựng cơ sở hạ tầng

- Nhiều cảnh quan có thể phát triển du lịch: núi Chứa Chan, hồ Núi Le…

- Đất đai rộng lớn, tiềm năng chuyển đổi từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp còn

nhiều nên rất thuận lợi cho chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và thu hút đầu tư

- Nền kinh tế xã hội phát triển khá, cơ cấu kinh tế đang chuyển đổi theo xu hướng

tích cực, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện

- Cơ sở hạ tầng đã được chú trọng phát triển

- Môi trường được bảo vệ khá tốt

Trang 28

        Trang  27 

2 Khó khăn

- Nguồn nước mặt bị hạn chế trong mùa khô, gây khó khăn cho sản xuất công nông

nghiệp và cung cấp cho sinh hoạt

- Đất có tầng mỏng chiếm tỷ lệ lớn, độ phì không cao dễ bị rửa trôi

- Khả năng thu hút đầu tư ngành công nghiệp – dịch vụ bị hạn chế so với các huyện

trọng điểm phát triển công nghiệp của Tỉnh

- Thiếu lao động có kỹ thuật cao

- Mặc dù tăng trưởng kinh tế khá nhanh trong những năm gần đây nhưng quy mô

nền kinh tế nhỏ Công nghiệp còn nhỏ lẻ, lạm dụng nhân công

- Cơ sở hạ tầng, văn hóa – xã hội ở các vùng sâu, vùng xa còn thiếu và yếu Sự quan

tâm đầu tư từ cấp trên trong những năm qua trên địa bàn Xuân Lộc còn nhỏ

1.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Nội dung nghiên cứu

- Một số nội dung quản lý Nhà nước về đất đai có liên quan đến công tác giải quyết

tranh chấp, khiếu nại đất đai

- Tình hình và kết quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại đất đai trên địa bàn huyện

Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai từ năm 2005 đến tháng 6 năm 2012

- Đánh giá tình hình tranh chấp, khiếu nại về đất đai trên địa bàn huyện Xuân Lộc từ

đó rút ra những thuận lợi và khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp,

khiếu nại đất đai

- Các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, khiếu nại đất đai

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp điều tra thực địa: sử dụng trong quá trình đối soát thực địa thu thập

số liệu, xác minh nguồn gốc sử dụng đất, xác minh hiện trạng tài sản trên đất, lấy

lời khai của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan

 Phương pháp so sánh: trên cơ sở tài liệu, số liệu thu thập được so sánh hồ sơ tranh

chấp, khiếu nại đất đai và công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại qua từng năm

 Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích chi tiết từng vấn đề có liên quan đến

nội dung nghiên cứu và tổng hợp đưa ra lời nhận xét đánh giá về tình hình tranh

chấp, khiếu nại và giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai trên địa bàn Huyện

 Phương pháp thống kê: số liệu, tài liệu sau khi đã tổng hợp xong, tiến hành thống

kê mô tả các đặc điểm về tranh chấp, khiếu nại đất đai cũng như các văn bản giải

quyết tranh chấp, khiếu nại đất đai trên địa bàn huyện Xuân Lộc

 Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của những người đi trước liên quan

đến lĩnh vực tranh chấp, khiếu nại đất đai nhằm học tập những kinh nghiệm

Trang 29

        Trang  28 

PHẦN 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 Khái quát tình hình sử dụng và quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện

Xuân Lộc

2.1.1 Hiện trạng sử dụng đất 2012

Căn cứ theo kết quả thống kê đất đai 2012 do ngành Tài nguyên và Môi trường thực

hiện, tổng diện tích tự nhiên huyện Xuân Lộc là 72.719,65 ha

Căn cứ Thông tư 19/2009/TT-BTNMT (02/11/2009) Quy định chi tiết về việc lập,

điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thì quy hoạch sử dụng đất cấp

huyện bao gồm 26 chỉ tiêu sử dụng đất và được tổng hợp thành 02 nhóm sử dụng đất

chính: nông nghiệp, phi nông nghiệp và 04 chỉ tiêu trung gian: Đất đô thị, đất khu bảo tồn

thiên nhiên, đất khu du lịch, đất khu dân cư nông thôn

Biểu đồ 2 Cơ cấu sử dụng đất của huyện Xuân Lộc 2.1.1.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp hiện chiếm tỷ lệ khá lớn (79,03%) trong tổng diện tích tự nhiên,

nên tiềm năng chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp là còn khá lớn Trong

đất nông nghiệp thì QHSDĐ cấp huyện quản lý 07 chỉ tiêu: Đất trồng lúa, đất cây lâu

năm, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản và đất làm

muối (trên địa bàn Xuân Lộc không có 02 chỉ tiêu: Rừng đặc dụng và đất làm muối) Hiện

trạng sử dụng đất từng chỉ tiêu như sau:

Trang 30

        Trang  29 

- Đất lúa nước: Có xu thế giảm, do chuyển đổi sang các loại hình có giá trị kinh tế

cao hơn Đến năm 2010 toàn Huyện chỉ còn 6.500ha, do nguồn nước tưới bị hạn chế,

trong khi các công trình thủy lợi chưa được quan tâm đầu tư đúng mức nên diện tích đất

chuyên trồng lúa nước (đất 2 vụ lúa) chỉ có 2.644ha (chiếm 41%) và đất lúa nước còn lại

(đất 01 vụ lúa) 3.856ha (chiếm 59%) Xã còn nhiều đất lúa nước nhất là xã Xuân Phú,

chiếm đến 25,1% đất lúa toàn Huyện, kế đến là xã Xuân Thọ (15,8%), xã Xuân Tâm

(11%), xã Xuân Bắc (10,4%), Xuân Hưng (9,3%), các xã , thị trấn còn lại có diện tích đất

lúa nhỏ

- Đất trồng cây lâu năm: Chiếm diện tích khá lớn trong đất nông nghiệp và tổng diện

tích tự nhiên toàn Huyện Đất trồng cây lâu năm hiện chiếm đến 60,7% đất nông nghiệp

và chiếm 48% DTTN toàn Huyện Trong đất trồng cây lâu năm thì cây công nghiệp lâu

năm chiếm đến 65,4% với các loại cây chủ lực như: Điều 13.923ha, Cao su 2.953ha, Cà

phê 1.154ha, Tiêu 1.279ha; cây ăn quả chiếm khoảng 14,1% với các loại cây chính gồm:

Chôm chôm 2.154ha, Sầu riêng 308ha, Cam 180ha, Chuối 561ha, Xoài 1.645ha, Nhãn

95ha và mãng cầu 263ha; còn lại là đất cây lâu năm khác chiếm khoảng 20,6% đất cây lâu

năm

- Đất rừng phòng hộ: Hiện còn 4.994ha phân bố chủ yếu ở 02 khu vực là núi Chứa

Chan do UBND huyện Xuân Lộc quản lý và khu vực rừng phòng hộ thuộc địa bàn các xã:

Xuân Thành, Xuân Tâm, Xuân Hưng, Xuân Hòa do Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc

quản lý So với quy hoạch 03 loại rừng đã được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt tại quyết

định số 4505/QĐ-UBND ngày 29/12/2008 thì diện tích cần phải tiếp tục trồng rừng phòng

hộ trong đất lâm nghiệp là 2.201ha, để giữ diện tích đất rừng phòng hộ ở Xuân Lộc đạt

7.194ha

- Đất rừng sản xuất: Hiện có 4.389ha, chủ yếu do Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân

Lộc quản lý, phân bố trên địa bàn các xã: Xuân Hòa, Xuân Hưng, Xuân Tâm, Xuân

Thành và Xuân Trường

- Đất nuôi trồng thủy sản: Có diện tích nhỏ, khoảng 414ha Chủ yếu là đất người

dân chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi cá nước ngọt Phân bố

rải rác trên khắp 15 xã, thị trấn

Trang 31

        Trang  30 

Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2012

Đơn vị: Ha

Số Tổng Đất nông nghiệp Trong đó:

thứ Đơn vị hành diện tích D tích % so với Đất lúa Cây lâu Rừng Rừng sản Đất

tự chính tự nhiên (ha) DTTN nước năm phòng hộ xuất NTTS

(Nguồn: Thống kê đất đai năm 2012 - Phòng TN&MT Xuân Lộc)

2.1.1.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp

Đất phi nông nghiệp có diện tích là 14.542ha, chiếm 20% tổng diện tích tự nhiên

toàn Huyện, trong đó cấp huyện quản lý 13 chỉ tiêu Riêng trên địa bàn Xuân Lộc không

có 02 chỉ tiêu: Đất cho hoạt động khoáng sản và đất xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại nên

còn 11 chỉ tiêu, được thể hiện chi tiết theo từng xã ở bảng sau

Ngày đăng: 29/05/2018, 17:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w