Giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định được công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm, được sử dụng làm căn cứ để tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền
Trang 1KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THÀNH PHẦN SỐ 4 “CẢI TẠO KÊNH VÀ ĐƯỜNG DỌC KÊNH TÂN HÓA – LÒ GỐM” TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
SVTH MSSV LỚP KHOA NGÀNH
: : : : :
PHẠM THỊ TRÀ LY
08135048 DH08TB
2008 – 2012 Quản Lý Thị Trường Bất Động Sản
- TP Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2012 –
Trang 2BỘ MÔN CHÍNH SÁCH & PHÁP LUẬT
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Lê Mộng Triết
(Địa chỉ cơ quan: Trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh)
(Ký tên: ………)
- Tháng 7 năm 2012 -
Trang 3Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Đề tài : “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Thành Phần Số
4 Cải Tạo Kênh Và Đường Dọc Kênh Tân Hóa – Lò Gốm trên địa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh”
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Lê Mộng Triết, Bộ môn Chính sách & Pháp luật,
Khoa Quản lý Đất đai & Bất động sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, TP Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cữa ngõ quốc tế Nhằm duy trì và tăng cường vai trò của TP HCM, trước hết cần thực hiện các giải pháp về cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, giải quyết các vấn đề về môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Xuất phát
từ thực tiễn đó các dự án nâng cấp đô thị tại TP Hồ Chí Minh nói chung và các quận, huyện nói riêng ngày càng được quan tâm và đẩy mạnh Theo đó, dự án Thành phần số 4
“Cải Tạo Kênh Và Đường Dọc Kênh Tân Hóa – Lò Gốm” trên địa bàn Quận Tân Phú TP
Hồ Chí Minh là một trong những tiểu dự án nâng cấp đô thị, thuộc hạng mục 2 được triển khai trong giai đoạn 2010 - 2014 Việc thực hiện Dự án sẽ tạo ra một lộ trình thực hiện quy hoạch Chung cho thành phố, góp phần từng bước chỉnh trang đô thị, giải quyết các
vấn đề môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân nghèo đô thị
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện các dự án nâng cấp đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh nói chung và dự án thành phần số 4 “Cải Tạo Kênh Và Đường Dọc Kênh Tân Hóa – Lò Gốm” nói riêng thì công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có vị trí và vai trò quan
trọng trong việc đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi hợp pháp cho người dân, chủ đầu tư và Nhà nước, bên cạch đó còn quyết định sự thành công của dự án
Trên cơ sở đó, đề tài thực hiện nhằm nghiên cứu việc áp dụng các chính sách, phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn Quận Tân Phú Bằng các phương pháp là phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích tổng hợp đề tài sẽ tập trung nghiên cứu
về các chính sách của phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án Thành phần
số 4 “Cải Tạo Kênh Và Đường Dọc Kênh Tân Hóa – Lò Gốm” trên địa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh Qua đó nhận định tổng quan về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn nghiên cứu và đời sống của người dân trong vùng quy
hoạch Từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế, khắc phục trong dự án cũng như hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn nghiên cứu
Trang 4Để có được ngày hôm nay, đầu tiên con xin gửi đến mẹ cùng gia đình_ những người đã đã tạo điều kiện cho con đến ngày hôm nay_với tất cả lòng biết ơn và kính trọng
Em xin chân thành cảm ơn :
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, Quý thầy cô Khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản đã tận tình truyền đạt kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt với lòng biết ơn sâu sắc em xin gửi đến Th.S Lê Mộng Triết_Trưởng bộ môn Chính sách & Pháp luật, Khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp
Toàn thể các anh chị Phòng nghiệp vụ của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận Tân phú, TP HCM Đặc biệt em xin cảm ơn anh Phan Đình Hà_trưởng phòng nghiệp vụ, đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu, tạo mọi điều kiện tốt để em có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn toàn thể các bạn sinh viên lớp Quản lý thị trường Bất động sản khóa 34, những người bạn thân nhất của tôi, và các anh chị khóa trên đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như khi thực hiện luận văn tốt nghiệp
Dù đã cố gắng, nhưng do kiến thức còn hạn hẹp, thời gian thực tập có hạn Nên luận văn không thể tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo của quý thầy cô và sự đóng góp ý kiến quý báu của các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện Phạm Thị Trà Ly
Trang 5Bảng 1 Giá trị sản xuất công nghiệp 19
Bảng 2 Tốc độ phát triển và cơ cấu 6 ngành hàng chủ yếu có giá trị lớn 20 Bảng 3 Tính chung các loại hình DN, Công ty tháng 3/2012 21 Bảng 4 Tổng hợp dân số hiện trạng phân theo hình thức đăng ký 22 Bảng 5 Dân số và diện tích quận Tân Phú phân theo phường và cụm dân cư 23
Bảng 10 Dự toán kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 54
Bảng 12 Số hộ bị ảnh hưởng theo từng phường trên thực tế 55
Bảng 13 Tổng hợp ảnh hưởng đất ở trên địa bàn quận Tân Phú 56
Bảng 14 Tổng nhu cầu tái định cư trên địa bàn quận Tân Phú 60
DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1 Quy trình tổng thể tổ chức thực hiện bồi thường và tái định cư 34
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2 Hình ảnh kênh Tân Hóa – Lò Gốm Trên bản đồ 37 Hình 3 Hình ảnh kênh Tân Hóa – Lò Gốm Trên bản đồ vệ tinh 38 Hình 4 Kênh Tân Hóa – Lò Gốm trước khi được cải tạo 38
Trang 6Ban QLDA Ban quản lý dự án
BT – GPMB Bồi thường, giải phóng mặt bằng
BT – HT – TĐC Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.2 Cơ sở pháp lý 6
1.3 Cơ sở thực tiễn 10
2 Khái quát địa bàn nghiên cứu 16
2.1 Điều kiện tự nhiên - Tài nguyên thiên nhiên 16
2.2 Thực trạng Kinh tế - Xã hội 18
3 Sơ lược công tác BT - GPMB trên địa bàn quận Tân Phú 26
3.1 Tổng quan Ban BT - GPMB quận Tân Phú 26
3.2 Quy trình thực hiện công tác BT – GPMB trên địa bàn quận Tân Phú 31
4 Nội dung nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu và Trình tự thực hiện 35
4.1 Nội dung nghiên cứu 35
4.2 Phương pháp nghiên cứu 35
4.3 Trình tự thực hiện đề tài 35
PHẦN 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
1 Giới thiệu dự án 37
1.1 Quy mô t oàn dự án 37
1.2 Tiến độ thực hiện và thời gian hoàn thành của dự án 40
2 Hiện trạng khu vực dự án 40
2.1 Hiện trạng sử dụng đất 40
2.2 Hiện trạng dân cư 43
3 Phương án BT, HT và TĐC của dự án 44
3.1 Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ 44
3.2 Bồi thường, hỗ trợ về đất 45
3.3 Bồi thường, hỗ trợ về tài sản gắn liền với đất 48
3.4 Chính sách hỗ trợ 50
3.5 Chính sách tái định cư 52
3.6 Dự toán kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án 54
4 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án 55
4.1 Điều kiện và đối tượng bồi thường 55
4.2 Bồi thường về đất 56
4.3 Bồi thường tài sản trên đất 58
4.4 Chính sách hỗ trợ ổn định cuộc sống cho người dân 59
4.5 Chính sách tái định cư 59
4.6 Tình hình khiếu nại, tố cáo trong quá trình thực hiện 61
4.7 Tiến độ thực hiện dự án 61
5 Những thuận lợi khó khăn trong quá trình thực hiện và giải pháp hoàn thiện công tác bồi thường, giải tỏa và tái định cư 62
Trang 85.2 Khó khăn 63 5.3 Giải pháp hoàn thiện 63 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường Bất động sản (TT BĐS) là một trong những thị trường quan trọng của nền kinh tế thị trường vì thị trường này liên quan trực tiếp tới một lượng tài sản cực lớn cả về quy mô, tính chất cũng như giá trị của các mặt trong nền kinh
tế quốc dân TT BĐS phát triển thì một nguồn vốn lớn tại chỗ được huy động Vì vậy, Phát triển và quản lý tốt TT BĐS, đặc biệt là thị trường quyền sử dụng đất là điều kiện quan trọng để sử dụng có hiệu quả tài sản quý giá thuộc sở hữu toàn dân
mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, góp phần kích thích sản xuất phát triển, tăng nguồn thu cho Ngân sách Bên cạnh đó còn đáp ứng nhu cầu bức xúc ngày càng gia tăng về nhà ở cho nhân dân từ đô thị đến nông thôn
Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, TP Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cữa ngõ quốc tế Sau năm 1975, TP HCM được định hướng để phát triển thành trung tâm kinh tế, tài chính, văn hóa, khoa học kỹ thuật của cả nước nói chung và khu vực miền Nam nói riêng Nhằm duy trì và tăng cường vai trò của TP HCM, trước hết cần thực hiện các giải pháp về cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, giải quyết các vấn đề về môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Dự án Nâng cấp đô thị thành phố Hồ Chí Minh là một trong 5 Tiểu dự án thuộc Dự án Nâng cấp đô thị Việt Nam do Ngân hàng Thế Giới (NHTG) tài trợ, được triển khai thực hiện tại 4 thành phố: Hải Phòng, Nam Định, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh và một Tiểu dự án thuộc Bộ Xây dựng Mục tiêu dự án là góp phần giảm nghèo và cải thiện cuộc sống của người dân trong các khu dân cư thu nhập thấp, tạo điều kiện tiếp cận với các cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng như :
mở rộng hệ thống giao thông, thoát nước, cấp nước, cấp điện, chiếu sáng công cộng, cho vay để sửa chữa nhà ở, cải thiện kinh tế gia đình.… Việc thực hiện Dự
án sẽ tạo ra một lộ trình thực hiện quy hoạch chung cho thành phố, góp phần từng bước chỉnh trang đô thị, giải quyết các vấn đề môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân nghèo đô thị Theo đó, dự án Thành phần số 4 “Cải Tạo Kênh
Và Đường Dọc Kênh Tân Hóa – Lò Gốm” trên địa bàn Quận Tân Phú TP HCM là một trong những tiểu dự án nâng cấp đô thị, thuộc hạng mục 2 được triển khai trong giai đoạn 2010 - 2014 Dự án sẽ tiến hành cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa - Lò Gốm
Trang 10Vấn đề bồi thường, giải phóng mặt bằng là một trong những giai đoạn quan trọng trong việc thực hiện dự án nâng cấp đô thị TP HCM Đối với nhiều dự án thì tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng chậm ảnh hưởng lớn đến sự thành công của dự án, gây thiệt hại lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng đến
sự ổn định chính trị xã hội Vì vậy cần giải quyết tốt vấn đề này để củng cố lòng tin của người dân, đồng thời tạo trường thông thoáng cho sự phát triển kinh tế, thu hút đầu tư
Dự án thành phần này được NHTG (WB) ký hiệp định tài trợ bổ sung hơn
128 triệu USD sẽ cải tạo 7,4 km tuyến kênh, xây mới gần 12 km đường… góp
phần giảm ngập úng cho lưu vực Tân Hóa - Lò Gốm Tuy nhiên, vướng mắc lớn nhất ở dự án này là việc giải tỏa khoảng 200.000 hộ dân đang sinh sống trên kênh Được biết, dự án nâng cấp đô thị TP HCM nhằm góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông, cấp điện, chiếu sáng, cấp nước… cho khoảng 96 khu dân cư có thu nhập thấp thuộc 13 quận, huyện trong TP Dự án gồm 9 dự án thành phần có tổng mức đầu tư gần 593 triệu USD, trong đó vốn ODA gần 267 triệu USD và vốn đối ứng của TP gần 326 triệu USD (dùng cho việc bồi thường giải phóng mặt bằng và
bố trí tái định cư) sẽ được hoàn tất vào năm 2014 Theo các đại biểu Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND TP, mục đích của dự án là rất tốt nhưng các địa phương thực hiện chưa tốt nên việc giải phóng mặt bằng bị ách tắc Điều này sẽ làm đội vốn đầu tư của dự án
Tuy nhiên bên cạnh những tồn tại hạn chế còn có những mặt tích cực mà dự
án đã đạt được Vì vậy cần xem xét đánh giá lại, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai các dự án khác Bên cạnh đó sớm tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, kết hợp tối đa lợi ích Nhà nước, chủ đầu tư và người dân
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá
công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Thành Phần Số 4 Cải Tạo Kênh Và Đường Dọc Kênh Tân Hóa – Lò Gốm trên địa bàn quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh”
Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích thực trạng công tác bồi thường giải tỏa, hỗ trợ và tái định cư của
dự án Thành Phần Số 4 “Cải Tạo Kênh Và Đường Dọc Kênh Tân Hóa – Lò Gốm” đang triển khai trên địa bàn phường Hòa Thạnh, Phú Trung, Tân Thới Hòa, Quận
Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
Nghiên cứu việc áp dụng chính sách để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận Tân Phú
Trang 11Rút ra nhận xét cũng như ưu khuyết điểm của dự án từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác bồi thường giải toả, hỗ trợ và tái định cư
Đối tượng nghiên cứu
Những quy định của pháp luật hiện hành về công tác BT, HT và TĐC
Phương án BT, HT và TĐC của dự án thành Phần Số 4 “Cải Tạo Kênh Và Đường Dọc Kênh Tân Hóa – Lò Gốm” trên địa bàn Quận Tân Phú TP HCM Các đối tượng bị thu hồi đất nằm trong dự án
Giới hạn của đề tài : chỉ nghiên cứu tình hình BT, HT và TĐC của dự án trên địa bàn ba phường : Hòa Thạnh, Phú Trung, Tân Thới Hòa quận Tân Phú TP HCM
Trang 12PHẦN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Các khái niệm liên quan
- Đất đai : Luật Đất đai 1993 của nước CHXHCN Việt Nam có ghi : “Đất
đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng”
Đất đai giữ vị trí và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đất đai là điều kiện chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người
- Bất động sản : Theo điều 181 Bộ luật Dân sự quy định “ Bất động sản là
các tài sản không di dời được bao gồm :
+ Đất đai;
+ Nhà ở, các công trình xây dựng gắn liền với đất đai kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở, các công trình xây dựng đó;
+ Các tài sản khác gắn liền với đất
+ Các tài sản khác do pháp luật quy định
- Giá đất ( hay còn gọi là giá trị quyền sử dụng đất ) : Là số tiền tính trên
một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất
- Khung giá đất : Do chính phủ quy định, xác định mức tối đa và tối thiểu
của mỗi loại đất với mục đích sử dụng được xác định phụ thuộc vào tiềm năng của đất đai
- Bảng giá đất : Trên cơ sở khung giá đất đai do Chính phủ quy định, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh hàng năm xây dựng bảng giá cho các loại đất tại địa phương mình ứng với các mức độ tiềm năng khác nhau đảm bảo sự công bằng giữa những người sử dụng đất có các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau
Giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định được công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm, được sử dụng làm căn cứ để tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, tính tiền sử dụng đất và tiên thuê đất khi giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất, tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, bồi thường khi nhà nước thu hồi đất, tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước
Trang 13- Giá trị thị trường (giá mua bán, chuyển nhượng) : Là giá cả thỏa thuận
giữa người bán và người mua, giá này được xác định một cách khách quan, đây là giá thịnh hành trên thị trường
- Thu hồi đất : Thu hồi đất đang sử dụng là hình thức chuyển giao quyền
sử dụng diện tích đất đai nhất định từ chủ thể này sang chủ thể khác
Hay: Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật đất đai năm 2003 (Điều 4 LĐĐ 2003)
- Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất : Là việc Nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Đ4 LĐĐ 2003) Bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất là việc khôi phục lại giá trị tài sản, nguồn sinh sống, lợi ích vật chất và tinh thần theo nghĩa rộng cho người sử dụng đất bị ảnh hưởng do quá trình triển khai thực hiện dự án – là hình thức trách nhiệm dân sự để bù đắp những tổn thất về vật chất tinh thần cho bên thiệt hại nhưng thiệt hại này không phải do hành vi trái pháp luật (của nhà đầu tư hay của Nhà nước) gây ra, mà thực chất là kết quả của chu trình “phá hủy – tái tạo” trong quá trình phát triển đô thị và kinh tế – xã hội
- Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất : Là việc Nhà nước giúp đỡ người bị
thu hồi thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới
- Tái định cư : Tái định cư là một khái niệm mang nội hàm khá rộng, dùng
để chỉ những ảnh hưởng tác động đến đời sống của người dân do bị mất tài sản và nguồn thu nhập trong quá trình phát triển dự án gây ra, bất kể có phải di chuyển hay không và các chương trình nhằm khôi phục cuộc sống của họ Như vậy tái định cư bao hàm cả việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất Tái định cư theo nghĩa hẹp là quá trình di chuyển người dân đến nơi ở mới
Tái định cư là một vấn đề lớn của quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển trong những trường hợp điển hình như xây đập, làm đường, phát triển đô thị
1.1.2 Các trường hợp thực hiện tái định cư
Tại các quốc gia đang phát triển và tại Việt Nam, tái định cư thường để thực hiện các loại dự án :
- Các công trình thủy điện, xây đập, đào hồ thủy lợi Đây là dạng điển hình
về ảnh hưởng của phát triển dự án đến đời sống của người dân, do phạm vi di dời thường rất lớn
- Các công trình dạng tuyến : đường cao tốc, quốc lộ, làm mới hoặc mở rộng đường hiện hữu; phát triển kênh, rạnh; hành lang các tuyến tải điện; mở các tuyến cấp thoát nước v.v…
- Phát triển các hạ tầng đô thị và các công trình phúc lợi công cộng khác như công viên, khu vui chơi, trường học, bệnh viện, cơ sở văn hóa, thể thao, nghiên cứu khoa học v.v…
Trang 14- Phát triển các khu dân cư mới trong quá trình đô thị hóa; cải tạo các khu dân dân cư lụp xụp trong nội thành; xây dựng các công trình công ích của cộng đồng dân cư nông thôn
- Các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng các nhà máy, xí
nghiệp mới, các khu công nghiệp, các trung tâm thương mại
i Thu hồi đất - quyền định đoạt về đất của Nhà nước
Luật Đất đai khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Chủ sở hữu về đất đai có các quyền chiếm hữu, định đoạt và sử dụng đất đai Một trong các quyền định đoạt của Nhà nước đối với đất đai theo điều C Khoản 2 Điều 5 Luật Đất đai là giao đất, cho thuê, thu hồi đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng Quyền thu hồi đất của Nhà nước thực hiện với các trường hợp sau :
- Thu hồi đất để giao hoặc cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế Quỹ đất cả nước hiện nay (trừ quỹ đất chưa sử dụng) đều đã giao hoặc cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê để sử dụng vào các mục đích
cụ thể Do vậy, muốn có quỹ đất để giao hoặc cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê, Nhà nước phải thu hồi đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng như điều 32 Luật Đất đai đã quy định : “Việc quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ thực hiện khi có quyết định thu hồi đất đó ”
- Thu hồi đất đối với các trường hợp vi phạm về Luật Đất đai
+ Thứ nhất là sai phạm về sử dụng đất của người sử dụng đất bao gồm sử dụng đất sai mục đích hoặc không có hiệu quả, cố ý hủy hoại đất, thiếu trách nhiệm để người khác lấn chiếm đất, cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, không sử dụng đất được giao đúng thời hạn quy định (12 tháng liền đối với cây hàng năm; 18 tháng đối với cây lâu năm; 24 tháng đối với đất trồng rừng; đất dùng để thực hiện các dự án đầu tư không được sử dụng trong 12 tháng liền hoặc tiến độ đầu tư chậm 24 tháng, kể từ khi đất được giao)
+ Thứ hai là sai phạm về quản lý đất đai như giao đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, đất chưa sử dụng bị lấn chiếm
- Thu hồi đất của người sử dụng đất không còn nhu cầu sử dụng
+ Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc nộp tiền sử dụng đất bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước nay giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, không còn nhu cầu sử dụng đất;
Trang 15+ Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;
+ Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất
ii Thu hồi đất có BT, HT và TĐC
Theo các điều 39, 41 Luật Đất đai, Nhà nước chỉ thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người đang sử dụng đất bị thu hồi, khi Nhà nước thu hồi dùng vào các mục đích sau :
- Quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;
- Phát triển kinh tế
Nhà nước thực hiện bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư đối với người đang sử dụng đất, nếu họ có hoặc đủ điều kiện để cơ quan Nhà nước xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định điều 50 Luật Đất đai
iii Chính phủ ban hành chính sách BT, HT và TĐC
Từ những nguyên tắc cơ bản về thu hồi đất, thực hiện BT, HT và TĐC khi nhà nước thu hồi đất dùng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế quy định tại Luật Đất đai và theo thẩm quyền được Quốc hội giao, Chính phủ đã quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất dưới các hình thức sau :
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 7/12/2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
b Nguyên tắc chung của chính sách BT, HT và TĐC
- Đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư : Việc thực hiện BT, HT và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế gắn liền với lợi ích Nhà nước, lợi ích của người đang sử dụng đất bị thu hồi và lợi ích của nhà đầu tư, người được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất Các lợi ích này phải được giải quyết một cách hài hòa góp phần chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất có hiệu quả
- Đảm bảo công khai, dân chủ trong thực hiện
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất là quan hệ giao dịch về quyền sử dụng đất giữa người đang sử dụng đất với nhà đầu tư có sự can thiệp của Nhà nước, không phải giao dịch quyền sử dụng đất thông thường trên thị trường Tuy nhiên người bị thu hồi đất chỉ chấp nhận chuyển quyền sử dụng đất của mình
Trang 16khi chính sách BT, HT và TĐC phù hợp với Luật Đất đai và được thực hiện công khai, người dân được bàn bạc dân chủ
1.2.2 Các căn cứ pháp lý để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư của dự án
a Cơ sở pháp lý Trung ương
- Căn cứ Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003
- Căn cứ Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai và Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai
- Căn cứ Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Căn cứ Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Căn cứ Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất; các Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất; Thông tư số 70/2006/TT-BTC ngày 02/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất
- Căn cứ Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
- Căn cứ Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình
tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
- Căn cứ Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, Thông tư 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ
Trang 17b Cơ sở pháp lý địa phương
- Căn cứ Quyết định 64/2001/QĐ-UB ngày 30/07/2001 của Ủy ban nhân dân thành phố quy định hạn mức giao đất ở tại thành phố;
- Căn cứ Quyết định 225/2005/QĐ-UBND ngày 23/12/2005 của Ủy ban nhân dân thành phố về quy định hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở theo Luật Đất đai 2003;
- Căn cứ Quyết định 89/2010/QĐ-UBND ngày 22/12/2010 về ban hành quy định về giá các loại đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;
- Căn cứ Quyết định 45/2008/QĐ-UBND ngày 02/06/2008 của UBND thành phố ban hành quy định về trình tự, thủ tục và nội dung lập dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;
- Căn cứ Quyết định 35/2010/QĐ-UBND ngày 28/5/2010 của Ủy ban nhân dân thành phố về ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;
- Căn cứ Quyết định 12/2008/QĐ-UBND ngày 20/02/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc ban hành biểu giá chuẩn về suất vốn đầu tư xây dựng công trình trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định 64/2008/QĐ-UBND ngày 31/07/2008 điều chỉnh bổ sung một số nội dung tại quyết định 12/2008/QĐ-UBND ngày 20/02/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố; Quyết định 92/2008/QĐ-UBND ngày 26/12/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố về ban hành
hệ số điều chỉnh khi áp dụng Quyết định 12/2008/QĐ-UBND ngày 20/02/2008 và Quyết định 64/2008/QĐ-UBND ngày 31/07/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố;
- Căn cứ Quyết định 782/QĐ-UB ngày 27/02/2004 của Ủy ban nhân dân thành phố về duyệt dự án thành phần số 4 : Cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm, tiểu dự án Nâng cấp đô thị thành phố Hồ Chí Minh dự án Nâng cấp đô thị Việt Nam và Quyết định số 3449/QĐ-UBND ngày 17/07/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố về duyệt điều chỉnh dự án Thành phần số 4 “Cải tạo kênh
và đường dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm” thuộc tiểu dự án nâng cấp đô thị thành phố Hồ Chí Minh;
- Căn cứ Quyết định 118/2007/QĐ-UBND ngày 10/9/2007 của Ủy ban nhân dân về phương thức mua, bán căn hộ chung cư hoàn chỉnh và chuyển nhượng nền đất ở đã có hạ tầng kỹ thuật để bố trí tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố;
- Công văn 3557/SXD-QLKTXD ngày 28/05/2008 của Sở Xây Dựng thành phố về việc hướng dẫn thực hiện bồi thường, hỗ trợ phần nhà, công trình và các loại kiến trúc; Công văn 7546/SXD-QLKTXD ngày 27/10/2008 của Sở Xây Dựng thành phố về việc đề nghị hướng dẫn bổ sung đơn giá bồi thường theo Quyết định
số 12/QĐ-UBND ngày 20/02/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố; Công văn số 8045/SXD-QLKTXD ngày 13/11/2008 của Sở Xây Dựng thành phố về hướng dẫn đơn giá bồi thường phần diện tích ban công cốt thép; Công văn số 7165/SXD-
Trang 18QLKTXD ngày 28/08/2009 của Sở Xây Dựng thành phố về việc hướng dẫn bổ sung một số suất vốn đầu tư của Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 20/02/2008;
- Căn cứ Công văn 1513/CP-NN ngày 04/11/2003 của Thủ tướng chính Phủ
về việc khung chính sách bồi thường, tái định cư nâng cấp đô thị tỉnh và thành phố
Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ, Nam Định;
- Căn cứ Công văn 4949/UBND-ĐTMT ngày 05/10/2010 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc duyệt đơn giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ trong dự án Thành phần số 4 “Cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm” trên địa bàn Quận Tân Phú;
- Công văn 1006/UBND-ĐTMT ngày 11/03/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc giải quyết vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án Nâng cấp đô thị thành phố;
- Căn cứ Công văn 6312/UBND-ĐTMT ngày 25/09/2007 của ủy ban nhân dân thành phố về chủ trương lập dự án bồi thường giải phóng mặt bằng dự án Thành phần số 4 – Tiểu dự án Nâng cấp đô thị thành phố Hồ Chí Minh;
- Căn cứ Công văn 801/UBND-ĐTMT ngày 27/02/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố về dự án bồi thường và công tác giải phóng mặt bằng trong dự án Thành phần số 4 – Tiểu dự án Nâng cấp đô thị thành phố Hồ Chí Minh;
- Căn cứ Công văn 2964/SXD-TTBCĐ ngày 28/04/2009 của Sở Xây Dựng
về việc điều chỉnh quỹ nhà phục vụ tái định cư cho các hộ dân của Dự án Thành phần số 4 thuộc dự án Nâng cấp đô thị thành phố;
- Công văn 1758/SXD-TTBCĐ ngày 19/03/2009 của Sở Xây Dựng về việc chuẩn bị quỹ nhà tái định cư cho các hộ dân của dự án Thành phần số 4 thuộc dự
a Thời kỳ phong kiến
Đất đai thuộc sở hữu của vua chúa, việc ban phát hay tịch thu đất đai phụ thuộc hoàn toàn vào ý muốn của vua chúa Do đó công tác bồi thường, giải tỏa không xảy ra trong giai đoạn này
b Trước năm 1975
Giai đoạn này, nước ta bị chia cắt làm 2 miền Nam – Bắc, miền Nam nằm dưới sự thống trị của chính quyền Mỹ - Ngụy, ruộng đất chủ yếu nằm trong tay của các điền chủ, miền Bắc đã dành lại chủ quyền, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hòa, bước đầu thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Đảng
và Nhà nước rất quan tâm đến chính sách ruộng đất Ngay sau Cách mạng tháng 8
Trang 19tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân Ngày 04/12/1953, Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khóa III thông qua Luật Cải Cách Ruộng Đất Nhà nước tịch thu ruộng đất cảu địa chủ chia cho dân nghèo không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất
Ngày 31/12/1959 Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Công Hòa thông qua Hiến Pháp năm 1959 Tại điều 12 có quy định : “Các hầm mỏ, sông ngòi và những rừng cây, đất hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”
c Từ 1975 đến 1988
Từ khi đất nước thống nhất, cả nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế tập trung bao cấp nên đất đai chưa có giá trị cao, do đó chính sách pháp luật phục vụ cho công tác bồi thường giải tỏa chưa được chú trọng Tuy vậy vẫn có những chính sách về đền bù thiệt hại được ban hành để phục vụ cho việc lấy đất xây dựng công trình của Nhà nước, cụ thể : Nghị Định 151/CP ngày 14/01/1959 của Hội Đồng Chính Phủ quy định tam thời về trưng dụng đất; Quyết định số 188/CP năm 1976 về chính sách xóa bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất ở miền Bắc và hình thức bóc lột thực dân phong kiến ở miền Nam; Quyết định 201/CP ngày 01/07/1980 của Hội Đồng Chính Phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước quy định người
bị thu hồi đất chỉ được bồi thường tài sản trên đất, trường hợp cần phải có đất để
sử dụng thì được cấp đất khác Giai đoạn này hầu như khung pháp lý về giải tỏa đền bù không dặt ra mà do thương lượng, thỏa thuận, khi Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước giao đất khác hoặc đền bù theo thực tế đối với đất ở, còn đất nông nghiệp thì hoán đổi đất khác hoặc đền bù từ 3 – 5 lần giá trị sản lượng mảnh đất
đó Còn hầu hết đất xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, điện khí hóa
nông thôn thì Nhà nước dùng phương thức vận động tự nguyện theo phương thức
“Nhà nước và nhân dân cùng làm”
d Giai đoạn 1988 - 1993
Luật Đất đai lần đầu tiên ra đời có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai Vấn đề bồi thường thiệt hại về đất khi người sử dụng đất bị thu hồi được quy định rất chung tại điều 49 : “Khi đất đang sử dụng bị thu hồi vì nhu cầu của Nhà nước hoặc xã hội thì được đền bù thiệt hại thực tế và được giao đất khác” Người nhận đất phải đền bù thiệt hại thực tế cho người sử dụng đất bị thu hồi giao lại cho mình, phải bồi hoàn thành quả lao động những năm đầu tư làm gia tăng giá trị đất đó Đây chỉ là sự thỏa thuận giữa người được nhận đất và người có đất bị thu hồi mà Nhà nước không can thiệp Đối với đất nông nghiệp và đất rừng, Hội đồng Bộ trưởng có quyết định số 186 – HĐBT ngày 31/05/1990 về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác Tuy nhiên người có đất bị thu hồi chỉ được bồi thường tài sản trên đất Tiền bồi thường về đất được nộp vào ngân sách Nhà nước Điều
đó cho thấy quyền lợi của người sử dụng đất chưa được quan tâm đúng mức
Trang 20e Giai đoạn 1993 đến 2003
Luật Đất đai 1993 quy định : “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại” (điều 27)
Nghị định số 90/CP ngày 17/08/1994 của Chính Phủ quy định việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Nghị định này là cơ sở pháp lý quan trọng, là chính sách cơ bản cho việc đền bù trong giai đoạn từ 1994 – 1998 Tuy nhiên qua quá trình thực hiện cũng còn bộc lộ những tồn tại nhất định như : chưa bao quát, điều chỉnh đầy đủ phạm vi thu hồi đất; mức đền bù thiệt hại về đất đai, tài sản chưa tương xứng với mức thiệt hại thực tế; không có quy định về các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống sản xuất và xây dựng các khu tái định cư để phục vụ việc di dân giải phóng mặt bằng… Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ thay thế cho Ngị định số 90/CP Chính sách đền bù thiệt hại về đất đã điều chỉnh đầy đủ, cụ thể chi tiết về chính sách đền bù, hỗ trợ và tái định cư theo nguyên tắc đền bù, hỗ trợ về đất, về tài sản….phù hợp với mức thiệt hại thực tế, giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa người bị thu hồi đất với Nhà nước Với việc ban hành nghị định 22, Nhà nước đã thực hiện đổi mới một bước chính sách đền bù và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, tồn tại như :
Thứ nhất, việc đền bù đất ở đối với các trường hợp sử dụng đất trước Luật Đất đai 1993 còn chưa được quy định cụ thể, nên trong tổ chức thực hiện còn nhiều cách làm khác nhau dẫn đến khiếu kiện
Thứ hai, giá đất để tính đền bù thiệt hại theo quy định tại điều 8 Nghị định
số 22/1998/NĐ-CP là phù hợp với chế độ sở hữu về đất đai và tình hình thực tế ở nước ta Tuy nhiên quy định hiện hành còn có hai khí cạnh khó khăn và vướng mắc cho tổ chức thực hiện đó là việc xác định giá đất phù hợp với khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời với việc xác định hệ số k Không ít địa phương đền bù theo giá đất do UBND tỉnh quy định, giá đền bù đất quá thấp và thường thấp hơn nhiều so với giá đất thực tế hình thành qua chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở địa phương Với số tiền đền bù đó, người dân không
đủ để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng một thửa đất tương đương về cả diện tích và giá đất với mảnh đất bị thu hồi Chính vì vậy ảnh hưởng đến khả năng tạo lập lại tư liệu sản xuất hoặc chỗ ở mới của người bị thu hồi đất, từ đó dẫn đến tình trạng khiếu kiện, không nhận tiền đền bù, không di chuyển làm chậm tiến độ giải phóng mặt bằng, chậm thực hiện dự án đầu tư v v
Thứ ba, quy định điều kiện để được đền bù hoặc không được đền bù thiệt hại về đất tuy đã cụ thể, chi tiết và phù hợp với thực trạng quản lý, sử dụng đất đai, song còn chưa rõ ràng và chưa gắn kết với trường hợp không đủ điều kiện được
Trang 21đền bù thiệt hại dẫn đến cách hiểu, cách làm khác nhau sinh ra khiếu kiện ảnh hưởng đến thời gian thực hiện dự án
Thứ tư, chính sách đền bù thiệt hại về đất chưa gắn với chính sách thu tiền
sử dụng đất, nhất là thu tiền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất ở trước Luật Đất đai 1993 Nhiều trường hợp đủ điều kiện được đền bù thiệt hại về đất, nhưng theo quy định về thu tiền sử dụng đất thì người có đất muốn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải nộp 20% hoặc 40% tiền sử dụng đất Do đó khi thực hiện đền bù 100%, có địa phương thực hiện đền bù 80% hoặc 60% tùy theo thời điểm sử dụng đất hoặc khấu trừ tiền sử dụng đất còn thiếu vào tiền đền bù
Thứ năm, chưa có quy định chi tiết về vấn đề tái định cư như : tiêu chuẩn của khu tái định cư, phân định trách nhiệm của chue dự án, của chính quyền các cấp trong việc tạo lập và bố trí tái định cư, quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải di chuyển chổ ở, các biện pháp phải khôi phục sản xuất và đời sống tại các khu tái định cư
Thứ sáu, chưa quy định cụ thể về việc cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất, quyết định đền bù đối với các trường hợp cố tình không thực hiện đã dẫn đến một số đối tượng lợi dụng kẽ hở trong chính sách của Nhà nước cố tình không chịu cho Hội đồng đền bù tiến hành đo đạc, kiểm kê; không nhận tiền đền bù, không chịu di chuyển, lôi kéo người khác không thực hiện quyết định của Nhà nước, làm cho tình hình vốn đã phức tạp càng phức tạp hơn
Thứ bảy, các chủ dự án chưa tính đúng, tính đủ chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng vào tổng mức đầu tư của dự án, nên việc bố trí nguồn vốn để chi trả tiền đền bù cho người bị thu hồi đất không đầy đủ và kịp thời; nhiều dự án thiếu vốn, nên phương án đền bù đã được phê duyệt nhưng không đảm bảo tiền chi trả đền bù
để giải phóng mặt bằng; có dự án đã giải phóng mặt bằng xong, nhưng không có vốn để thi công để dân tái lấn chiếm dẫn đến kéo dài thời gian đền bù, giải phóng mặt bằng
f Từ khi có Luật Đất đai 2003 đến nay
Theo quy định cảu Luật Đất đai 2003 và Nghị định 97/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước chỉ thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với những trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế theo quy định tại điều 36 Nghị định 181/2004/NĐ-CP
Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 đã cụ thể hóa một số trường hợp thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và quy định trình tự, thủ tục thu hồi đất một cách rõ ràng, thống nhất và khoa học
Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư và Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và
Trang 22Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
Giá đất để bồi thường được thực hiện theo các quy định về giá đất mới nên người sử dụng đất sẽ thực hiện bàn giao mặt bằng nhanh hơn, tình trạng khiếu kiện giảm đi
Trường hợp Nhà nước thu hồi đất mà đã có dự án đầu tư để giao hoặc cho thuê thì việc tổ chức thực hiện thu hồi đất và bồi thường cho người có đất bị thu hồi theo quy định được giao cho UBND cấp huyện; trường hợp thu hồi đất mà chưa có dự án đầu tư thì việc tổ chức thực hiện thu hồi đất và bồi thường cho người có đất bị thu hồi theo quy định được giao cho Tổ chức phát triển quỹ đất Đối với các dự án sản xuất kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xem xét duyệt mà không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất để giao hoặc cho thuê thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất,
nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân Với các quy định mới này nhà đầu tư đã chủ động hơn trong việc lựa chọn địa bàn để đầu tư sản xuất kinh doanh
1.3.2 Vị trí và vai trò của công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư trong
hệ thống quản lý của Nhà nước về đất đai
- Thu hồi đất là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý Nhà nước về đất đai, sau khi có quyết định phải chi trả bồi thường thiệt hại cho người có đất bị thu hồi Vậy công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng hết sức quan trọng, công tác này có tốt hay không phụ thuộc vào công tác quản lý Nhà nước về đất đai
- Đối với việc ban hành các văn bản pháp luật thì Nhà nước ban hành khung giá các loại đất phải sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường, có các chính sách hỗ trợ và tái định cư cho người có đất bị thu hồi thật hợp lý, trình
tự, thủ tục thực hiện Phải đảm bảo công tác bồi thường thực hiện tốt, đảm bảo lợi ích hài hòa cho Nhà nước, lợi ích cho nhà đầu tư và lợi ích người có đất bị thu hồi Ngược lại nếu công tác bồi thường gặp khó khăn chứng tỏ các văn bản pháp luật
có liên quan chưa phù hợp cần phải bổ sung điều chỉnh để hoàn thiện
- Đối với công tác đo đạc, phân hạng, lập bản đồ địa chính phải thật chính xác vì khi tiến hành bồi thường dựa vào diện tích của từng thửa, từng hạng đất để tính bồi thường Nếu thực hiện tôt công tác này thì sẽ không xảy ra tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, còn ngược lại sẽ dẫn tới tình trạng khiếu kiện, tranh chấp làm cho việc BT, GPMB gặp khó khăn, tiến độ thục hiện dự án kéo dài
- Đăng ký, cấp GCNQSDĐ là công tác hết sức quan trọng Vì giấy chứng nhận là điều kiện cơ bản để bồi thường thiệt hại cho người có đất bị thu hồi Do
đó, cần phải đẩy nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ vừa đảm bảo quyền lợi cho người
sử dụng đất vừa giúp cho công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được diễn ra nhanh chóng
Trang 23- Việc quản lý hồ sơ địa chính cũng hết sức quan trọng, nhất là công tác chỉnh lý biến động đất đai cần phải cập nhật thường xuyên, giúp việc xác định nguồn gốc rõ ràng Khi đó công tác bồi thường cũng sẽ được dễ dàng thuận lợi
- Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo mà làm tốt giúp cho việc bồi thường diễn ra nhanh, đúng pháp luật còn ngược lại sẽ làm cho dự án kéo dài ảnh hưởng đến đời sống người dân và tiến độ thi công, ngoài ra còn gây nhiều tiêu cực khác như chủ đầu tư sẽ lợi dụng khe hở đó mà làm trái pháp luật chẳng hạn sư dụng đất không đúng mục đích, xây dựng nhà trái phép, đầu cơ đất…
- Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, GPMB Các dự án đầu tư phải phù hợp với quy hoạch tránh tình trạng các dự án không đúng quy hoạch ảnh hưởng đến việc sử dụng đất cũng như lợi ích kinh kế, xã hội Quy hoạch và công tác BT, GPMB sẽ thực hiện thuận lợi Ngược lại, việc bồi thường gặp khó khăn lúc đó cần phải xem xét lại quy hoạch có phù hợp chưa, có cần phải điều chỉnh, bổ sung không….Như vậy mối quan hệ giữa quy hoạch chi tiết khu dự án phù hợp với quy hoạch và công tác BT, GPMB được hiểu như sau : sau khi lập dự án và có quy hoạch chi tiết khu vực dự án phù hợp với quy hoạch tổng thể và phát triển kinh tế, xã hội, nhà đầu tư sẽ trình lên UBND tỉnh thông qua Hội Đồng Thẩm Định dự án và quyết định phương án của nhà đầu
tư đưa ra có phù hợp không, UBND tỉnh phê duyệt và ra quyết định thu hồi đất, giao đất cho nhà đầu tư xin đất xây dựng dự án Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đóng vai trò chuyển giao quyền sử dụng từ chủ thể là hộ gia đình cá nhân sang chủ thể là tổ chức, đồng thời chuyển đổi mục đích sử dụng đất chuyên dùng (theo Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai quy định : “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” và chỉ có Nhà nước mới có quyền “quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất”,
“Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất” )
1.3.3 Kinh nghiệm giải phóng mặt bằng ở một số nước trên Thế giới
Cách mà các nước công nghiệp phát triển đang làm là nhà đầu tư tự thỏa thuận với người dân để mua lại đất, tức là một cơ chế thị trường hoàn toàn Để làm theo cách này thì quy hoạch phải thực hiện rất nghiêm, khi đã có quy hoạch được Nhà nước duyệt thì người dân buộc bán đất cho chủ đầu tư theo giá hai bên thỏa thuận Trong một thời gian nhất định mà không thỏa thuận được thì chuyển sang cho tòa án phán quyết trên cơ sở trưng cầu giá thẩm định hợp với giá thị trường và người dân phải bán đất theo quy định của tòa án
Trung Quốc : Một cách khác mà Trung Quốc đang áp dụng mang tính
bao cấp : Nhà nước xác định giá, bố trí nơi ở mới theo quy hoạch mới gắn với giải quyết việc làm và dứt khoát người sử dụng đất phải chấp hành để giải phóng mặt bằng Trung Quốc thực hiện cách này rất hiệu quả vì đất nông nghiệp ở đó có chế
độ sở hữu tập thể nên việc thu hồi đất không làm cho ai mất đất hoàn toàn
Đối với Singapore : sau khi có quy hoạch chi tiết và có dự án cụ thể, Nhà nước tiến hành thu hồi đất để triển khai thực hiện Nhà nước toàn quyền quyết
Trang 24định trong vấn đề thu hồi đất, người dân có nghĩa vụ phải tuân thủ Công tác thu hồi đất dựa trên nguyên tắc :
+ Thu hồi bắt buộc để phục vụ cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội và chỉnh trang đô thị
+ Hạn chế thu hồi đất tư nhân, chỉ thu hồi thật sự khi cần thiết
+ Công tác thu hồi đất phải được sự cho phép bởi Chính phủ và các thành viên trong Nội các chính phủ, sau khi đã thảo luận và tham khảo ý kiến cộng đồng
+ Việc thu hồi đất được tiến hành theo từng bước chặt chẽ và có thông báo trước cho người dân 2 – 3 năm, nếu người dân không chịu đi để Nhà nước thu hồi
sẽ áp dụng cưỡng chế hoặc phạt theo luật xâm chiếm đất công
Vùng lãnh thổ Đài loan : ở Đài loan mặc dù là vùng lãnh thổ nhưng xét
về mặt Nhà nước, có thể coi Đài loan là một nước có chế độ chính trị độc lập Đài loan tồn tại 2 chế độ sở hữu Nhà nước về đất đai gồm sở hữu của Nhà nước chiếm 69% so với tổng diện tích tự nhiên, sở hữu tư nhân chiếm 31% Đối với đất đai thuộc sở hữu tư nhân, pháp luật đất đai Đài loan quy định cụ thể các trường hợp tự triệt tiêu quyền sở hữu Khi trưng thu Nhà nước sẽ trả tiền đất cho chủ sở hữu theo giá trị thực tế của đất và cộng them 40 – 45% tổng giá trị bồi thường chi trả cho người bị thu hồi đất đai, nhà ở để đảm bảo cho người bị ảnh hưởng có nơi ở và cuộc sống tốt hơn trước đó Đối với đất đai thuộc công hữu, khi Nhà nước muốn
mở rộng diện tích đất thuộc sở hữu của mình thì chính Nhà nước phải bỏ tiền ra mua đất của các chủ sở hữu khác, chỉ khi nào dân không đồng ý bán thì lúc đó Nhà nước mới trưng thu và đảm bảo nguyên tắc nếu phải di chuyển đi nơi khác người dân vẫn phải mua được đất và xây dựng được nhà ở
2 Khái quát địa bàn nghiên cứu
2.1 Điều kiện tự nhiên - Tài nguyên thiên nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Quận Tân Phú thành lập ngày 02 tháng 12 năm 2003 theo Nghị định số 130/2003/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ, trên cơ sở tách ra từ quận Tân Bình Tại thời điểm thành lập, quận Tân Phú có 1.606,98 ha diện tích tự nhiên và 310.876 nhân khẩu
- Toạ độ địa lý : Từ 10°47'29" vĩ Bắc đến 106°37'39" kinh Đông
- Địa giới hành chính quận Tân Phú:
+ Đông giáp quận Tân Bình;
+ Tây giáp quận Bình Tân;
+ Nam giáp các Quận 6, Quận 11;
+ Bắc giáp Quận 12
Trang 25Hình 1 Bản đồ quận Tân Phú
- Dân số của quận Tân Phú tính đến ngày 31/12/2011 là 429.141 người Quận Tân Phú phân chia thành 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Tân Sơn Nhì, Tây Thạnh, Sơn Kỳ, Tân Quý, Tân Thành, Phú Thọ Hòa, Phú Thạnh, Phú Trung, Hòa Thạnh, Hiệp Tân, Tân Thới Hòa
Ủy ban nhân dân quận Tân Phú có 13 cơ quan chuyên môn (Văn phòng
Ủy ban nhân dân quận, Phòng Nội vụ, Phòng Tư pháp, Thanh tra, Phòng Tài chính – Kế hoạch , Phòng Kinh tế , Phòng Giáo dục và Đào tạo , Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Y tế, Phòng Quản lý
đô thị, Phòng Tài nguyên và Môi trường , Thanh tra xây dựng ) và 09 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc (Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình , Ban Bồi thường - giải phóng mặt bằng, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Đội quản lý nhà, Trung tâm dạy nghề , Bệnh viện quận , Trung tâm Y tế dự phòng , Trung tâm
Kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp, Trung tâm Văn hóa – Thể dục thể thao)
2.1.2 Khí hậu
Quận Tân Phú là quận nội thành của thành phố Hồ Chí Minh Lãnh thổ của quận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Đặc trưng chính của khí hậu là nóng ẩm có nhiệt độ trung bình khoảng 28,10 độ C có hai mùa mưa
Trang 26nắng rõ rệt Mùa mưa từ khảng tháng 4 đến tháng 10 Mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
2.1.3 Địa hình
Địa hình của quận Tân phú tương đối bằng phẳng Hướng dốc từ khu vực trung tâm về 3 phía Tây – Nam và Tây – Bắc Độ dốc trung bình là 0,5% Cao độ mặt đất so với mực nước biển từ 7,5m xuống 1,6m
- Diện tích đất nông nghiệp: 52,2252 ha Gồm có:
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 10,2790 ha
+ Đất lâm nghiệp: 0,00 ha
+ Đất nuôi trồng thủy sản: 9,7125 ha
+ Đất làm muối: 0,00 ha
+ Đất nông nghiệp khác: 32,2337 ha
- Diện tích đất phi nông nghiệp là: 1548,7478 ha, Gồm có:
+ Đất ở: 849,6921 ha, chiếm 54,86 % so với diện tích đất phi nông nghiệp
và chiếm 53,07 % so với tổng diện tích tự nhiên
+ Đất chuyên dùng: 593,6363 ha, chiếm 38,33 % so với diện tích đất phi nông nghiệp và 37,08 % so với tổng diện tích tự nhiên
+ Đất tôn giáo, tín ngưỡng có diện tích 10,6394 ha, chiếm tỷ lệ 0,69 % so với diện tích đất phi nông nghiệp
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa có diện tích là 12,5131 ha, chiếm tỷ lệ 0,81 %
so với diện tích đất phi nông nghiệp
+ Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng có diện tích 1,8279 ha, chiếm
0,12 % so với diện tích đất phi nông nghiệp
+ Đất phi nông nghiệp khác có diện tích 80,4390 ha, chiếm 5,19% so với diện tích đất phi nông nghiệp
Trong năm qua quận Tân Phú có biến động lớn về diện tích các loại đất Diện tích đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp là 65,9450 ha chiếm tỷ lệ 4,12 % so với tổng diện tích tự nhiên toàn quận Sự chuyển dịch từ đất nông nghiệp sang đất ở, đất chuyên dùng là phù hợp với quá trình đô thị hoá và phát triển của quận Tân Phú
2.2 Thực trạng Kinh tế - Xã hội
2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế
Trang 27Giá trị sản xuất Công nghiệp toàn quận thực hiện 4.404,31 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm 2006 tăng 25,58% Doanh thu Thương mại - Dịch vụ đạt 9.946,11 tỷ đồng, tăng 29,04% so cùng kỳ năm 2006 (chưa loại trừ yếu tố biến động giá) Thuế công thương nghiệp : 210,4 tỷ đạt 91,48% kế hoạch tăng 31,17% so với cùng
kỳ
Đến nay trên địa bàn quận đã hình thành đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại – siêu thị Co.op Mart Thắng Lợi, Co.op Mart Vikamex, trung tâm thương mại Hồng Bảo Minh phường Phú Thạnh và đang triển khai xây dựng 5 chung cư cao tầng kết hợp với kinh doanh Thương mại – Dịch vụ
Quận đã hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết một số cụm kinh tế trọng điểm như tam giác Lũy Bán Bích, tam giác Hiệp Tân, khu phức hợp Sơn Kỳ, khu cao ốc kết hợp Thương mại - Dịch vụ Tân Thới Hòa, các quy hoạch này đang chờ thành phố phê duyệt để triển khai thực hiện Quận cũng đã hoàn thành việc quy hoạch tuyến
đường chuyên doanh tại phường Phú Thọ Hoà
a Công nghiệp
Bảng 1 Giá trị sản xuất công nghiệp
Chính thức T2-
2012
Ước tháng 3-
(Nguồn : Chi cục Thống kê quận Tân Phú)
- Giá trị sản xuất Công nghiệp : Toàn quận Tân Phú thực hiện tháng 2/2011
là 675,503 tỷ đồng, ước tính tháng 3 là 711,358 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng
14,98% (thấp hơn so với mức tăng cùng kỳ 2011 là 15,11%), so tháng trước tăng 5,31% Nhìn chung trong 3 tháng đầu năm 2012 các doanh nghiệp sản xuất vẫn còn gặp nhiều khó khăn (nhất là hộ sản xuất nhỏ) như giá điện, xăng dầu, nguyên vật liệu đầu vào tăng, thiếu vốn để mở rộng sản xuất, khó tiếp cận ngồn vốn vay từ ngân hàng, tâm lý hạn chế chi tiêu của người tiêu dùng
- Về ngành hàng :
+ Trong 19 ngành hàng sản xuất của khu vực dân doanh : có 5 ngành có mức giảm là ngành sản xuất kim loại (-59,40%); sản xuất chế biến gỗ & sản phẩm
từ gỗ (-8,19%); sản xuất phương tiện vân tải khác (-11,78%); sản xuất phụ tùng xe
có động cơ (-16,72%); sản xuất giường tủ bàn ghế và sản phẩm khác (-7,64%)
Trang 28Bảng 2 Tốc độ phát triển và cơ cấu 6 ngành hàng chủ yếu có giá trị lớn
Giá trị SXCN (tỷ)
Tỷ trọng (%)
So cùng
kỳ (%)
So cùng kỳ 2011/2010 (%)
(Nguồn : Chi cục Thống kê quận Tân Phú)
6 ngành hàng sản xuất chủ yếu so cùng kỳ năm 2011 tăng 15,31%, chiếm tỉ trọng 79,64% (cùng kỳ 2011 6 ngành này có mức tăng 18,50% chiếm tỉ trọng 7910%) giá trị sản xuất của quận, trong đó ngành sản xuất cao su, plastic vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất (26,88%); có 3 ngành có tốc độ tăng lớn hơn tốc độ tăng cùng kỳ năm 2011 là : sản xuất sản phẩm từ kim loại; chế biến thực phẩm và may mặc
- Hoạt động khu công nghiệp : tính đến 10/03/2012 khu Công nghiệp Tân Bình có 133 giấy phép đầu tư (tăng 0% so với cùng kỳ) với diện tích 74,6 ha, tổng
số vốn đầu tư là 1640,14 tỷ đồng và 63,84 triệu USD), giải quyết trên 20.000 lao động, 100% doanh nghiệp được cấp phép đã đi vào hoạt động Đến nay đã thu hồi đền bù 114 ha đất Tổng diện tích quy hoạch : 171,81 ha (trong đó : khu dân cư : 52,11 ha; khu công nghiệp : 109,7 ha)
b Thương nghiệp – dịch vụ
- Thương nghiệp khối Doanh nghiệp Dân doanh : Tổng mức bán ra và doanh thu dịch vụ tháng 02/2012 đạt 3275,4 tỷ đồng, ước tính tháng 03/2012 đạt 10810,1 tỷ đồng, tăng 35,13% so cùng kỳ năm 2011 (chưa loại trừ yếu tố biến động giá)
Trang 29- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu :
Bảng 3 Tính chung các loại hình DN, Công ty tháng 3/2012
Đơn vị tính : 1.000 USD
Chính thức tháng 2
Ước tính tháng 3/2012
Cộng dồn 3 tháng
So tháng trước (%)
So cùng
kỳ (%)
KIM NGẠCH XUẤT KHẨU 21403 20891 63579 97,61 115,27
DN Dân doanh 21403 20891 63579 97,61 115,27
DN Dân doanh 19025 18672 56654 98,14 117,26
DN Dân doanh 44486 43550 141191 97,90 94,39
DN Dân doanh 14812 13589 43029 91,74 99,73
DN Dân doanh 29674 29961 98162 100,97 92,22
(Nguồn : Chi cục Thống kê quận Tân Phú)
+ Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp trên địa bàn quận ước tính 3 tháng năm 2012 đạt 63,58 triệu USD, tăng 15,27% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu công nghiệp là 56,65% triệu USD, xuất khẩu thương mại là 6,93 triệu USD
+ Tổng kim ngạch nhập khẩu ước tính 3 tháng năm 2012 là 141,19 triệu USD, giảm 5,61% so với cùng kỳ, trong đó nhập khẩu công nghiệp là 43,03 triệu USD, nhập khẩu thương nghiệp là 98,16 triệu USD
+ Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu ước tính thực hiện 3/2012 như sau : hàng may mặc đạt 20,11 triệu USD, chiếm tỷ trọng 31,63% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 38,10% so với so cùng kỳ; hàng nông sản đạt 21,17 triệu USD, chiếm tỷ trọng 33,30%, tăng 23,54% so cùng kỳ Các doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu đáng kể như Công ty CP Long Sơn Xuất 13,68 triệu USD, HTX SX TM Tấn
Trang 30Thành 4,48 triệu USD, Cơng ty CP Kỹ Nghệ Thực Phẩm Việt Nam xuất 2,40 triệu
USD
+ Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu ước tính thực hiện 3 tháng năm 2012 như
sau : hàng nguyên phụ liệu ngành may ước tính đạt 13,02 triệu USD, chiếm tỷ
trọng 9,22%, giảm 6,73% so cùng kỳ; hàng máy mĩc thiết bị phục vụ sản xuất ước
tính đạt 14,95 triệu USD, chiếm tỷ trọng 10,59%, tăng 36,36 so cùng kỳ; hàng hĩa
chất ước tính đạt 12,39 triệu USD, chiếm tỷ trọng 9,16%, tăng 15,43% so cùng kỳ
2.2.2 Văn hĩa – Xã hội
a Dân số
Quận Tân Phú cĩ 1600,9 ha diện tích đất tự nhiên với 310876 nhân khẩu,
dân số đến năm 2010 là 385.000 người, năm 2020 là 465.000 người
Việc phân bố dân cư trên địa bàn quận Tân Phú chia thành 4 cụm tập trung:
+ Cụm dân cư 1 (gồm phường Tây Thạnh và Sơn Kỳ, diện tích 568,73 ha)
+ Cụm dân cư 2 (phường Tân Sơn Nhì, Tân Quý và Tân Thành, diện tích
390,8 ha)
+ Cụm dân cư 3 (phường Phú Thọ Hịa và Phú Thạnh, diện tích 237,32 ha)
+ Cụm dân cư 4 (phường Hịa Thạnh, Phú Trung, Hiệp Tân và Tân Thới
Hịa, diện tích 410,3 ha)
Dân số quận Tân Phú cĩ cơ cấu động Trong đĩ lượng dân nhập cư là rất cao Tỷ
lệ lao động trên dân số tương đối cao và dân số cĩ cơ cấu trẻ Đây là những yếu tố
rất thuận lợi cho phát triển
Bảng 4 Tổng hợp dân số hiện trạng phân theo hình thức đăng ký
STT Tên phường Số dân Thường trú ở nơi khác KT-2 KT-3 KT-4
Trang 31Bảng 5 Dân số và diện tích quận Tân Phú phân theo phường và cụm dân cư
STT Cụm dân cư Số dân (người) Diện tích đất (ha)
1 Phường Tây Thạnh 4.705 91,15
3 Khu công nghiệp TB 28.875 305,2
4 Phường Tân Sơn Nhì 27.872 112,82
5 Phường Tân Quý 48.155 178,49
6 Phường Tân Thành 32.398 99,49
7 Phường Phú Thọ Hòa 33.556 123,22
8 Phường Phú Thạnh 31.641 114
9 Phường Hòa Thành 22.327 93,08
10 Phường Phú Trung 42.615 89,65
11 Phường Hiệp Tân 24.778 112,9
12 Phường Tân Thới Hòa 25.52 114,6
(Nguồn : Viện Quy hoạch Xây dựng TP HCM)
b Văn hĩa thơng tin – TDTT
- Tổng số hộ ĐKKD trên địa bàn quận Tân Phú thuộc lĩnh vực văn hĩa hiện nay là : 3036 hộ với tổng vốn kinh doanh là 60,72 tỷ đồng
- Cơng tác quản lý và kiểm tra xử lý : trong quý đồn kiểm tra liên ngành văn hĩa cấp quận đã kiểm tra và lập biên bản 30 vụ; phịng Văn hĩa Thơng tin (VHTT) kiểm tra và lập biên bản 3 vụ đồng thời tiếp nhận 22 vụ do các đơn vị chuyển đến Tham mưu UBND quận ban hành 55 quyết định xử phạt văn bản hành chính với tổng số tiền phạt là 336 triệu đồng
- Cơng tác quản lý quảng cáo : tiếp tục thực hiện kế hoạch số 30/KH-VHTT ngày 26/12/2011 của phịng Văn hĩa và thơng tin về kiểm tra, chấn chỉnh, hoạt động quảng cáo, viết, đặt bàn hiệu trên địa bàn quận Kiến nghị Sở thơng tin và Truyền thơng TP Hồ Chí Minh hỗ trợ cắt thơng tin thuê bao số điện thoại quảng cáo rao vặt trái phép
- Cơng tác xây dựng đời sống văn hĩa cơ sở :
Trang 32+ Tổ chức hội nghị sơ kết phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, tuyên dương “Người tốt việc tốt” năm 2011 và trao tặng huân chương, huy chương kháng chiến
+ Tham mưu thường trực UBND quận tờ trình về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” quận
+ Tham mưu thường trực UBND quận tờ trình về việc đề xuất khen thưởng các danh hiệu văn hóa năm 2011
+ Phát hành công văn gửi UBND 11 phường về việc thực hiện chỉnh trang cổng khu phố
- Công tác thông tin tuyên truyền : hầu hết các phường đều ra bản tin hàng tháng với số lượng bình quân 63000 tờ/tháng, phát miễn phí đến từng hộ dân Vận động doanh nghiệp treo hơn 130 băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền “Năm an toàn giao thông 2012”, hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” Phát hành đến 11 phường khẩu hiểu tuyên truyền, bài phát thanh tuyên truyền cổ động : TP Hồ Chí Minh tích cực thực hiện “Năm an toàn giao thông 2012”; TP Hồ Chí Minh hân hoan đón chào xuân Nhâm Thình 2012; chào mừng
kỷ niệm 223 năm chiến thắng Đống Đa lịch sử (1789 – 2012)
c Hoạt động ngành Y tế
- Tính đến năm 2007, trên địa bàn quận có 02 bệnh viện (trong đó có 01 bệnh viện tư), 09 phòng khám đa khoa, 03 nhà hộ sinh và 614 cơ sở hành nghề y dược tư nhân khác Đến tháng 12-2007 đã có 10/11 trung tâm y tế phường đạt chuẩn quốc gia phường xã, được thành phố công nhận Trung tâm Y tế dự phòng của quận đã thực hiện trang bị các máy móc cần thiết cho công tác chống dịch bệnh, xây dựng đội cơ động phòng chống dịch gồm 6 thành viên sẵn sàng trong các hoạt động chống dịch, hóa chất chống dịch và đã tập huấn các phương án, kỹ thật xử lý dịch trong các trường hợp khẩn cấp và thường xuyên
- Mục tiêu 2012 là tiếp tục giám sát chặt chẽ, sớm phát hiện, bao vây và xử
lý triệt để ngay từ đầu các điểm có yếu tố gây dịch, không để dịch lan rộng; chủ động vệ sinh môi trường khu dân cư Trong 2 tháng đầu năm đã có 59 ca sốt xuất huyết (giảm 9,2% so cùng kỳ 2011), không có trường hợp tử vong; 22 ca mắc bệnh tay chân miệng (tăng 90,9% so cùng kỳ 2011) Ngành y tế thường xuyên cập nhật thông tin liên quan đến sức khỏe của người dân và các hoạt động của ngành
Y tế trên Website Tổ chức thành công lễ phát động “Tháng hành động vì chất lượng VSATTP” năm 2012 Qua đó, tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn cho các đối tượng hiểu đúng, thực hiện đúng Luật an toàn thực phẩm (có hơn 147 người tham dự bao gồm lãnh đạo chính quyền, ban hành đoàn thể các cấp, đại diện các cơ sở sản xuất, chế biến, các đơn vị cung cấp suất ăn, ban quản lý chợ và nhân dân trên địa bàn quận)
Trang 33- Công tác tiêm chủng mở rộng : trong quý số lượt tiêm chủng là 13977 lượt người, trong đó tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi 4745 lượt, tiêm ngừa dại 1794 lượt
- Công tác khám chữa bệnh : khám điều trị, chăm sóc sức khỏe cho 203994 lượt người, trong đó khám bảo hiểm y tế cho 55206 lượt bệnh nhân, khám chữa bệnh cho 20591 lượt trẻ dưới 6 tuổi
- Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm : trong 2 tháng ngành Y tế đã thẩm định và cấp giấy chứng nhận
đủ điều kiện VSATTP cho 27 cơ sở, tổ chức kiểm tra liên ngành VSATTP 501 cơ
sở, có 10 cơ sở vi phạm; tổ chức 11 lớp tập huấn VSATTP cho 558 người
- Tình hình quản lý hành nghề Y dược tư nhân : trong 2 tháng đã tiếp nhận giải quyết 8 lượt hồ sơ hành nghề Y dược tư nhân Tính đến nay tổng số hộ cá thể đăng ký kinh doanh trên lĩnh vực y tế là 315 hộ với tổng số vốn đăng ký 6,3 tỷ
- Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình :
+ Trong qúy I đã tổ chức họp mặt tuyên truyền kỷ niệm 50 năm ngày Dân
số Việt Nam 26/12 và tổng kết công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình năm 2011;
tổ chức cuộc thi tìm hiểu về kiến thức sức khỏe sinh sản tiền hôn nhân; hội thi kiến thức dân số - kế hoạch hóa gia đình cho thanh niên nam, nữ chuẩn bị kết hôn, vị thành niên, thanh niên và cộng tác viên ở 11 phường Kết quả, trong quý I có 790 người mới sử dụng các biện pháp tránh thai
d Giáo dục – Đào tạo
- Theo báo cáo tổng kết năm học 2007 - 2008 của Phòng Giáo dục và Đào tạo quận, toàn quận có 52 trường, 02 trung tâm và 97 nhóm trẻ gia đình với 1.463 lớp, 58.623 học sinh các cấp học Trong năm học này, tỉ lệ huy động trẻ vào lớp 1 đạt 100% (kể cả tạm trú), số học sinh các cấp học đều tăng nhanh Hệ thống trường lớp đa dạng theo hướng xã hội hóa, nhất là ở cấp mầm non; chất lượng đào tạo ngày càng tăng, 100% đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên có trình độ đạt chuẩn
và vượt chuẩn Tuy nhiên, một vài chỉ tiêu còn đạt thấp như: tỉ lệ huy động trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo, tỉ lệ học sinh học bán trú và 2 buổi/ngày, trường đạt chuẩn quốc gia ở cấp tiểu học và trung học cơ sở
- Phòng GD & ĐT và các trường tổ chức các hình thức và nội dung thiết thực, phong phú như tham gia các di tích lịch sử cách mạng, đi thăm các gia đình chính sách, họp mặt truyền thống; hội thao, hội diễn văn nghệ, trò chơi dân gian…Tổ chức sinh hoạt chính trị trong cán bộ, giáo viên và học sinh Dự học tập, quán triệt và triển khai thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” một cách thiết thực, có hiệu quả Thực hiện tháng hoạt động cao điểm hưởng ứng “Năm An toàn giao thông 2012” Tập huấn thi đua, khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 34- Các cấp học tổ chức sơ kết học kỳ I và đề ra kế hoạch thực hiện trong học
kỳ II Tổng kết kiểm tra công tác CMC – PCGD Tiến hành điều tra lập danh sách trẻ từ 0 đến 6 tuổi; cập nhật đối tượng CMC – PCGD chuyển đến, chuyển đi
e An ninh – Quốc phòng
- Tăng cường công tác tấn công, trấn áp các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và giữ gìn an toàn trật tự giao thông đô thị, giữ gìn an toàn trật tự giao thông đô thị, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trước, trong và sau các ngày Tết,
- Tai nạn giao thông : xảy ra 7 vụ làm chết người , tăng 2 vụ, 2 người chết
so với cùng kỳ; 99 vụ va chạm giao thông (giảm 73 vụ so với cùng kỳ), làm bị thương nhẹ 149 người, hư hỏng 175 phương tiện Công an quận và phường đã kiểm tra lập biên bản xử phạt 10821 vụ (so với cùng kỳ giảm 1611 vụ) với tổng số tiền 2,051 tỷ đồng (so với kỳ giảm 1,082 tỷ đồng) Đồng thời, tổ chức thực hiện Quyết định số 37/2009/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố, quận đã tập trung kiểm tra, xử lý 87 trường hợp xe thô sơ, ba gác
- Tổ chức phòng chống tội phạm về đêm, chống đua xe gây rối trên các tuyến đường trọng điểm chốt, đã kiểm tra tạm giữ 269 xe có hành vi phóng nhanh, lạng lách đánh võng, thay đổi cấu hình xe, người điều khiển không có giấy tờ xe, giấy tờ tùy thân
- Công tác phòng chống ma túy : đã khám phá tiếp nhận 18 vụ, bắt 44 đối tượng tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy; thu giữ 50,33 gram heroin, 24 xe gắn máy, 27 điện thoại di động; đề xuất khởi tố 13 vụ, 19 đối tượng
3 Sơ lược công tác BT - GPMB trên địa bàn quận Tân Phú
3.1 Tổng quan Ban BT - GPMB quận Tân Phú
3.1.1 Sơ lược đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của Ban
a Đặc điểm, tình hình
- Quá trình thành lập đơn vị:
+ Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận Tân Phú được thành lập theo Quyết định số 11/QĐ-UB ngày 24/12/2003 của Ủy ban nhân dân quận Tân Phú Do yêu cầu kiện toàn tổ chức Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng theo Quyết định số 80/2008/QĐ-UBND ngày 11/11/2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố Uỷ ban nhân dân quận Tân Phú ban hành Quyết định số 3648/QĐ-UBND ngày 18/12/2008
về việc thành lập Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng; được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối
Trang 35của Chính phủ Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng quận có tư cách pháp nhân,
có con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng theo quy định
+ Địa điểm trụ sở : 45A Dương Khuê, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú
- Cơ cấu tổ chức:
+ Cán bộ lãnh đạo : Ban BT – GPMB quận do Trưởng ban phụ trách có 03
Phó Trưởng ban giúp việc do Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận bổ nhiệm, miễn nhiệm và làm việc theo chế độ của thủ trưởng đơn vị
+ Cơ cấu các phòng chức năng : Ban Bồi thường được thành lập với 4
phòng chức năng do Ủy ban nhân dân quận Tân Phú quy định tại Quyết định số
3648/QĐ-UBND ngày 18/12/2008 gồm phòng Tổ chức - Hành chính quản trị ; Phòng Kế toán - Tài vụ; Phòng Nghiệp vụ ; Phòng Tái định cư - Tiếp công dân
Các phòng chức năng có Trưởng phòng và có từ 1 đến 2 Phó phòng do Trưởng ban bổ nhiệm, miễn nhiệm, riêng Kế toán trưởng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận bổ nhiệm
- Cơ sở vật chất : Đơn vị có trụ sở riêng nằm ngoài Trung tâm Hành chính quận Tân Phú
thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định của pháp luật
- Hướng dẫn, giải đáp thắc mắc của người sử dụng đất về những vấn đề liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư; Xác định mức bồi thường, hỗ trợ
cho từng đối tượng, lưu trữ hồ sơ bồi thường, hỗ trợ của dự án theo quy định
- Tổng hợp các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, báo cáo,
đề xuất Hội đồng Bồi thường của dự án hoặc Ủy ban nhân dân quận xem xét giải quyết
- Thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và phối hợp với các đơn vị có
liên quan để bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất chính xác, đúng đối tượng
- Phối hợp với các đơn vị có liên quan lập Dự án hoặc Phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư báo cáo thẩm định và trình duyệt theo quy định
- Tổng hợp nhu cầu tái định cư của các dự án công ích trên địa bàn quận cho từng giai đoạn và kế hoạch giải quyết tái định cư cho các dự án sau này
- Tham mưu cho Ủy ban nhân dân quận thực hiện việc rao mua quỹ nhà,
đất tái định cư theo quy định của Ủy ban nhân dân thành phố
Trang 36- Phối hợp với các cơ quan chuyên môn liên quan thuộc Ủy ban nhân dân
quận rà soát quỹ đất do Nhà nước trực tiếp quản lý, quỹ đất dôi dư sau khi xử lý thu hồi từ các doanh nghiệp, tổ chức; các dự án phát triển nhà thương mại có sử
dụng quỹ đất công để xác định quỹ nhà, đất có thể sử dụng bố trí tái định cư
- Kiểm tra, đôn đốc tiến độ thi công các dự án tái định cư trên địa bàn, báo
cáo các khó khăn, vướng mắc và đề xuất hướng tháo gỡ
- Phối hợp các cơ quan chuyên môn liên quan, Ủy ban nhân dân phường thuộc Ủy ban nhân dân quận và sở - ngành, để theo dõi, hỗ trợ các hộ dân ổn định cuộc sống sau khi di dời theo Quyết định số 156/2006/QĐ-UBND ngày 27 tháng
10 năm 2006 của Ủy ban nhân dân thành phố về thành lập Quỹ hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người có đất bị thu hồi để thực hiện các dự án đầu tư trên
đã phát huy được vai trò , chức năng, nhiệm vụ được phân công , đã thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu giú p việc cho Hội đồng Bồi thường và UBND quận trong công tác quản lý , chỉ đạo công tác bồi thường , hỗ trợ thiệt hại , tái định cư giải phóng mặt bằng theo qui định của nhà nước
Đặc biệt, thực hiện chỉ đạo của Thường trực Ủy ban nhân dân quận về chủ trương vận động nhân dân tự giải tỏa vật kiến trúc và hiến đất làm đường Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng phối hợp với các Ban ngành đoàn thể và UBND các phường tiếp xúc với các hộ dân để cùng quyết định quy mô công trình, mức huy động đóng góp và phần giải tỏa của từng hộ dân Bên cạnh đó, đối với những hộ dân hiến đất làm đường còn khó khăn, đơn vị đề xuất với Thường trực UBND quận mức hỗ trợ cụ thể theo quy định để giúp cho các hộ chỉnh trang lại nhà cửa,
ổn định cuộc sống Với chức năng, nhiệm vụ là tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách của nhà nước Ban Bồi thường GPMB đã có nhiều nỗ lực trong công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Nhà nước, phát huy lòng yêu nước để tham gia đóng góp Mặc khác, trong việc thực hiện công tác, đơn vị luôn quan tâm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân Chính vì thế, đã tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân ủng
hộ cho đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Trang 37Cụ thể trong 5 năm qua Ban Bồi thường GPMB đã phối hợp với các Ban ngành của quận và UBND các phường tổ chức thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng với kết quả thực hiện công tác như sau :
Bảng 6 Các dự án đã bồi thường từ năm 2007 đến 2011
- Dự án Nhà máy xử lý nước thải lưu vực Tây Sài Gòn (thành phần số 5) : UBND quận Tân Phú đã có văn bản gửi Sở kế hoạch đầu tư đề nghị ghi vốn kế hoạch cho dự án
- Dự án xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 kết hợp mở rộng đường Trường Chinh: đơn vị đã tiếp nhận bình đồ tuyến và nhận bàn giao các cọc ranh kỹ thuật giải phóng mặt bằng Hiện nay Ban Bồi thường phối hợp với đơn vị tư vấn khảo sát đo vẽ kỹ thuật thửa đất xác định đo vẽ bản bồi tỷ lệ 1/500 và lập bản vẽ hiện trạng vật kiến trúc trên đất làm cơ sở cho việc lập dự án, phương án bồi thường theo quy định
- Dự án Xây dựng Chung cư phục vụ tái định cư tại phường Tân Thới Hòa :
đã thực hiện việc bồi thường hỗ trợ và nhận bàn giao mặt bằng cho 02/06 hộ Sẽ tiếp tục thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại đố với 04 hộ còn lại trong năm
2012
- Dự án thu hồi đất Công ty Tân Thuận : Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố đang tham mưu UBND Thành phố xem xét và giao Sở Tài chính thành lập Hội đồng xác định chi phí đầu tư vào đất để hoàn trả cho Công ty Tân Thuận
Trang 38- Dự án mặt bằng 176/26 Hòa Bình, phường Tân Thới Hòa : đang thực hiện việc thẩm định giá để tính bồi thường, hỗ trợ di dời DNTN Phúc An theo quy định
để tạo thêm quỹ đất cho việc xây dựng trường Trung học cơ sở Hoàng Diệu
- Dự án Xây dựng Trạm ép rác kín tại phường Phú Thọ Hòa : đã triển khai việc ký hợp đồng đo đạc, thẩm định giá đất, nghiệm thu chứng thư thẩm gia và đang chờ UBND thành phố phê duyệt để làm cơ sở lập dự án bồi thường
- Dự án thu hồi đất của Công ty Cổ phần nước ngầm II phường Sơn Kỳ : Chờ kết quả thẩm định giá trị còn lại của công trình, vật kiến trúc trên đất để có cơ
sở lập dự án bồi thường Dự kiến thực hiện việc bồi thường trong quý 1/2012
- Dự án nâng cấp mở rộng đường Phan Anh – Bình Long : đang triển khai theo công văn số 12337/SGTVT-XD ngày 14/12/2011 của Sở Giao thông vận tải
Các dự án của thành phố có liên quan đến việc xử lý nước thải và vệ sinh môi trường :
- Dự án quy hoạch tổng thể hệ thốngthoát nước và xử lý nước thải TP Hồ Chí Minh : Theo quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước bẩn TP HCM đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 6/2011, khu vực quận Tân Phú nằm trong 2 lưu vực thoát nước bẩn, đó là lưu vực Tân Hóa – Lò Gốm và lưu vực Tây Sài Gòn Do khu vực quận Tân Phú hiện nay đã có hệ thống cống thoát nước chung với mật độ dày đặc nên phương hướng thoát nước bẩn cho khu vực quy hoạch là sử dụng hệ thống cống thoát nước chung cho nước mưa và nước thải bẩn
- Dự án cải thiện vệ sinh và nâng cấp đô thị lưu vực kênh Tân Hóa – Lò Gốm : Dự án cải thiện vệ sinh và nâng cấp đô thị lưu vực Tân Hóa – Lò Gốm đã hoàn chỉnh xong phần nghiên cứu khả thi, trong đó có đề xuất tuyến cống bao xây dựng dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm và một nhà máy xử lý nước bẩn dự kiến đặt tại
xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh với công suất trên 200.000 m3
/ngày
b Nguyên nhân đạt được thành tích :
Ban Bồi thường GPMB đã đạt được một số kết quả nhất định nêu trên là nhờ có sự chỉ đạo, lãnh đạo của Quận Ủy - Ủy ban nhân dân quận và sự giúp đỡ của các Sở - ngành Thành phố Đồng thời có sự phối hợp tốt của các ban ngành - đoàn thể quận, Ủy ban nhân dân các phường cùng với sự nỗ lực tích cực và tinh thần đoàn kết nội bộ của tất các cán bộ công chức cơ quan
Thực hiện tốt công tác vận động nhân dân chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước như : tham gia tốt phong trào hiến đất làm đường theo Phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”; chấp hành tốt các chủ trương về bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án …
Trong quá trình thực hiện, Cấp ủy Chi bộ cùng với Lãnh đạo Ban Bồi thường GPMB luôn quan tâm đến công tác vận động quần chúng Thường xuyên quán triệt các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao nhận thức trong việc đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, nhân rộng các điển hình tiên tiến, nhất là phong trào “ Dân