1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 12 TP HCM TỪ 2007 ĐẾN 32012

76 187 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những khâu quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm cơ sở để Nhà nước quản lý đất đai có hiệu quả cũ

Trang 1

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ BẤT ĐỘNG SẢN

NGUYỄN THỊ HẠNH

CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN

QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN

QUẬN 12- TP HCM TỪ 2007 ĐẾN 3/2012

Giáo viên hướng dẫn: TS ĐÀO THỊ GỌN

(Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh)

Ký tên

TS ĐÀO THỊ GỌN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời cảm ơn đầu tiên con xin gửi tới cha mẹ, cảm ơn cha mẹ đã sinh con ra trong cuộc đời này và dành cho con những điều tốt đẹp nhất Em cảm ơn hai chị

đã luôn bên cạnh và động viên, giúp đỡ em

Em xin chân thành cảm ơn và biết ơn sâu sắc công lao của thầy cô đã dạy

dỗ cho em từ những bước chập chững đầu tiên đến trường và chắp cho em đôi cánh bước vào đời Cảm ơn các thầy cô trong Khoa Quản lý đất đai & BĐS trường Đại học Nông Lâm TP HCM đã truyền đạt cho em những tri thức chuyên ngành và những bài học cuộc sống quý báu làm hành trang giúp em vững vàng hơn khi ra trường làm việc

Để hoàn thành luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn tới cô Đào Thị Gọn -

giảng viên hướng dẫn em, cảm ơn cô đã rất nhiệt tình giúp đỡ và chỉ dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành Cảm ơn các cô chú, anh chị trong Văn Phòng đăng ký QSDĐ Quận 12 đã tạo điều kiện cho tôi được thực tập tại cơ quan và giúp đỡ tôi trong quá trình tiếp cận thực tế hoàn thành tốt nhất báo cáo tốt nghiệp

Xin cảm ơn bạn bè trong và ngoài lớp đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường

Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài báo cáo còn nhiều thiếu sót khuyết điểm, kính mong quý thầy cô cùng các bạn thông cảm và góp ý

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

TÓM TẮT

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hạnh, Khoa Quản lý Đất đai & Bất động sản,

Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Đề tài: “Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn

Quận 12- TP HCM từ 2007 đến 3/2012”

Giáo viên hướng dẫn: TS Đào Thị Gọn, Khoa Quản lý Đất đai & Bất động sản

Trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh

Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những khâu quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm cơ sở để Nhà nước quản lý đất đai có hiệu quả cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của người

sử dụng đất

Quận 12 là một trong những Quận mới được thành lập trên cơ sở chủ trương

đô thị hóa các quận ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, do vậy công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần được khắc phụ như sức ép về sử dụng đất đai của người dân ngày càng cao, sự chồng chéo của các Văn bản luật có liên quan đến cấp giấy, thiếu đội ngũ chuyên môn trong quản lý Nhà nước về đất đai đã ảnh hưởng trực tiếp công tác thẩm tra hồ sơ, cập nhật biến động của cán bộ quản lý về đất đai gặp nhiều khó khăn, tiến độ cấp giấy bị ảnh hưởng,

Từ thực tế đó, đề tài tài thực hiện nhằm mục đích hệ thống, đánh giá lại toàn bộ quá trình đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn Quận 12- TP HCM từ 2007 đến 3/2012 Từ đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện công tác đăng

ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn Quận, đưa công tác cấp giấy trên địa bàn Quận đạt hiệu quả cao trong thời gian tới

Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên, tình hình quản lý sử dụng đất trên địa bàn song song với việc đánh giá công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2007 đến tháng 3/2012 Bên cạnh đó là kết quả công tác đăng ký cấp GCN 03 tháng đầu năm 2012 và những vấn đề rút ra từ công tác đăng ký cấp GCN

Với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp chuyên gia, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, đề tài đã đạt được một số kết quả như sau: Bước đầu đã đánh giá được tình hình công tác đăng

ký cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất trên địa bàn quận, rút ra những ưu điểm và bất cập từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cấp GCN trong thời gian tới Qua nghiên cứu, kết quả công tác đăng ký cấp GCN toàn quận cho thấy: Diện tích đất nông nghiệp đã được cấp GCN đạt trên 97%, tổng số GCN đã cấp trên địa bàn

quận từ ngày 01 tháng 4 năm 1997 (ngày thành lập quận) đến nay là 98.376 GCN

Trong đó số lượng GCN cấp theo Nghị định số 88/2009/NĐ-CP (tính từ ngày 10 tháng

12 năm 2009 đến hết tháng 03/2012) là 26.522 GCN, hồ sơ có văn bản trả do không

đủ điều kiện cấp GCN và hồ sơ có đơn xin rút là: 7.388 hồ sơ, tỷ lệ giải quyết hồ sơ đạt: 77,69%

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ    1 

1. Tính cấp thiết của đề tài    1 

2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu.    2 

2.1.Mục đích nghiên cứu   2 

2.2.Phạm vi nghiên cứu.   2 

PHẦN I: TỔNG QUAN    3 

I.1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu    3 

I.1.1 Cơ sở khoa học   3 

I.1.2. Cơ sở pháp lý   4 

I.1.3. Cơ sở thực tiễn.   5 

I.2. Khái quát địa bàn nghiên cứu    9 

I.2.1.2.Địa hình ‐ địa chất.   10 

I.2.1.3. Khí hậu   10 

I.2.1.4. Thủy văn   11 

I.2.2. Các nguồn tài nguyên   11 

I.2.2.1. Tài nguyên đất   11 

I.2.2.2. Tài nguyên nước   11 

I.2.3. Kinh tế xã hội   13 

I.3. Tình hình phát triển kinh tế xã hội    13 

I.3.2. Đánh giá chung tình hình phát triển kinh tế‐ xã hội của Quận   15 

I.4. Nội dung, phương pháp nghiên cứu.    15 

I.4.1. Nội dung nghiên cứu:  15 

I.4.2. Phương pháp nghiên cứu   15 

I.4.3. Trình tự thực hiện đề tài   16 

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU    17 

II.1.  Tình hình quản lý nhà nước về đất đai tại Quận 12    17 

II.1.1.Các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai   17 

II.1.1.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và  tổ chức thực hiện   17 

II.1.1.2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập  bản đồ hành chính   17 

II.2.  Tình hình sử dụng đất của quận 12.    28 

II.2.1. Tình hình sử dụng đất theo mục đích   28 

II.2.1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp   29 

II.2.1.2. Tình hình sử dụng đất phi nông nghiệp   31 

II.2.2.  Tình hình sử dụng đất theo đối tượng sử dụng, đối tượng quản lý đất đai   33 

II.2.3. Tình hình biến động đất đai qua các giai đoạn   33 

II.2.4. Nhận xét chung về tình hình sử dụng đất và biến động đất đai.   36 

II.3. Đánh giá công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ trên địa bàn Quận 12qua các giai đoạn  37  II.3.1.  Sơ  lược  tình  hình  đăng  ký  cấp  GCNQSDĐ  trên  địa  bàn  quận  trước  ngày  01.04.1997 (Thời điểm tách quận):   37 

II.3.2.  Tình hình  cấp GCNQSDĐ từ khi thành lập quận (1997) đến trước thời điểm  thành lập VPĐKQSDĐ Quận 12 (trước 2005)   38 

III.3.3 Tình hình cấp GCNQSDĐ từ 2005‐ 2006   44 

Trang 6

II.5.1. Thuận lợi.   62 

II.5.2. Khó khăn.   62 

TÀI LIỆU THAM KHẢO    66  

PHỤ LỤC   68 

Trang 7

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 1: Phân loại và thống kê diện tích các đơn vị đất trên địa bàn quận 12   11 

Bảng 2: Diện tích đất tự nhiên các đơn vị hành chính Quận 12   18 

Bảng 3: Hiện trạng lưu trữ hồ sơ địa giới hành chính tại Quận   18 

Bảng 4: Bản đồ địa chính các phường phân theo tỷ lệ đo vẽ   19 

Bảng 5: Tình hình khiếu nại về đất đai trên địa bàn Quận 12   22 

Bảng 6: Quyết định lần đầu được giải quyết thành công   23 

Bảng 7: Hoạt động chuyển nhượng QSDĐ quận 12 năm 2011.   24 

Bảng 8: Hiện trạng sử dụng đất năm 2011   29 

Bảng 9: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp   30 

Bảng 10: Cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp   31 

Bảng 11: Cơ cấu sử dụng đất theo đối tượng năm 2011   33 

Bảng  12:Biến  động  diện  tích  đất  theo  mục  đích  sử  dụng(Năm  2011  so  với  năm  2010)   35 

Bảng 13:Kết quả cấp GCNQSDĐ từ 01.04.1997 về trước   37 

Bảng 14: Tình hình cấp GCN từ 2005‐ 2006   46 

Bảng 15 : Tình hình cấp GCNQSDĐ năm 2007   50 

Bảng 16 : Tình hình cấp GCNQSDĐ năm 2008   51 

Bảng  17 :Tình hình đăng ký cấp GCN năm 2009   57 

Bảng 18: Tình hình đăng ký cấp GCN năm 2010   58 

Bảng 19 : Tình hình đăng ký cấp GCN năm 2011   59 

Bảng 20: Bảng tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ trên địa bàn Quận 12   60 

Bảng 21: Tình hình cấp GCNQSDĐ 3 tháng đầu năm 2012   61 

Trang 8

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ

Sơ Đồ 1: Quy trình cấp giấy theo QĐ 90/2004/QĐ-UB 39

Sơ Đồ 2: Quy trình cấp GCNQSDĐ theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP 42

Sơ Đồ 3: Quy trình cấp GCNQSDĐ ở theo Nghị định 90/CP 45

Sơ đồ 4: Quy trình cấp GCN nội bộ theo Nghị định 88/2009/NĐ- CP 55

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Đóng góp của các ngành vào GDP toàn Quận   13 

Biểu đồ 2: Cơ cấu sử dụng đất năm 2011.   28 

Biểu đồ3 : Số lượng GCN được cấp từ 1998‐ 2004   44 

Biểu đồ 4: Tình hình cấp GCN từ 2007‐ 2011   60 

Biểu đồ 5: Tỷ lệ giải quyết hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ năm 2011 của Quận 12 và  một số quận   61 

Trang 9

11 Bộ Tài nguyên và Môi trường BTNMT

12 Phòng Tài nguyên và Môi trường PTNMT

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Mẹ Thiên Nhiên” đã ưu ái ban tặng cho loài người nhiều tài sản vô giá, trong đó phải kể đến là đất đai.Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất Mỗi quốc gia, mỗi khu vực có một quỹ đất đai nhất định được giới hạn bởi diện tích, ranh giới,

vị trí Việc sử dụng và quản lý quỹ đất đai này được thực hiện theo quy định của nhà nước, tuân thủ luật đất đai và những văn bản pháp lý có liên quan

Ngày nay, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ cùng với tốc độ gia tăng về dân số làm cho nhu cầu sử dụng đất đặc biệt là đất ở ngày càng lớn trong khi quỹ đất tự nhiên lại có hạn vấn đề quản lý Nhà nước về đất đai là vô cùng cần thiết Để đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp, Luật đất đai 2003 Điều 6 đã quy định cụ thể 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai, trong đó có nội dung “Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

và tài sản khác gắn liền với đất” Trong nội dung trên thì công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi chung là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất : “GCNQSDĐ”) làkhâu cuối cùng quan trọng không thể thiếu trong hệ thống nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Thông qua công tác cấp GCNQSDĐ , Nhà nước quản lý thống nhất nguồn tài nguyên đất trên phạm vi toàn quốc, là cơ sở phục vụ giải quyết mối quan hệ về mặt tự nhiên, kinh tế- xã hội đồng thời là cơ sở để Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt chẽ đất đai theo pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất

Cùng với xu thế chung của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế văn hóa sôi động bậc nhất cả nước, thu hút nhiều vốn đầu tư trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi thu hút dân từ các tỉnh khác, dẫn đến nhu cầu về nhà

ở, đất ở ngày càng tăng Nhằm giải quyết các vấn đề về nhà ở, đất ở, và các nhu cầu sử dụng đất khác cũng như giảm bớt gánh nặng cho khu vực trung tâm, nhiều năm gần đây TP Hồ Chí Minh đã có những chủ trương mở rộng vùng đô thị ra các Quận Quận ngoại thành Quận 12 là một trong những Quận ra đời theo chủ trương đó Theo Quy hoạch chung của thành phố, Quận 12 là “Trung tâm dịch vụ- thương mại- công nghiệp- văn hóa- Thể dục thể thao”

Trước mắt cùng với quá trình đô thị hóa, Quận 12 sẽ là khu vực thu hút đầu tư của nhiều ngành nghề, điều này dẫn tới một điều tất yếu: đất ở khu vực này sẽ tăng rất nhiều về giá trị, tình trạng mua bán, sang nhượng nhà đất diễn ra sôi động, trong đó có nhiều hoạt động trái phép gây không ít khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về đất đai

Nhiều năm trước đây, đặc biệt là khoảng thời gian trước Luật đất đai 2003 ra đời, tình trạng xây dựng tràn lan không theo quy hoạch chung, các chủ sử dụng tự ý chia cắt, sang nhượng theo hình thức tự thỏa thuận hoặc bằng giấy tay màkhông thông qua

cơ quan quản lý Điều này dẫn đến hàng loạt vụ tranh chấp, khiếu nại diễn ra phổ biến

và hết sức phức tạp không chỉ trong quá khứ mà còn ảnh hưởng đến cả tương lai, gâykhó khăn cho công tác đăng ký cấpGCNQSDĐ

Việc nghiên cứu đánh giá quá trình cấp GCNQSDĐ trên địa Quận nhằm rút ra những vấn đề mang tính chất bao quát, từ đó có những biện pháp giải quyết thích hợp,

Trang 11

đúc rút được những kinh nghiệm tạo tiền đề vững chắc cho công tác quản lý nhà nước

về đất đai

Từ những vấn đề nêu trên thực tiễn cùng những trăn trở của bản thân, được sự phân công của Bộ môn và được chấp thuận thực tập tại địa bàn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn quận 12- TPHCM từ năm 2007 đến 3/2012”

Mục tiêu của đề tài: Tiếp cận thực tiễn công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ, đánh giá những điều làm được và chưa làm được của địa phương; đề xuất ý kiến góp phần hoàn thiện công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ

2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

2.1.Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ trên địa bàn Quận 12, rút ra những ưu điểm và những vấn đề còn bất cập; từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ tại địa phương

2.2.Phạm vi nghiên cứu

 Đề tài nghiên cứu về công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên địa bàn Quận 12 TPHCM từ năm 2007 đến 3/2012

Trang 12

PHẦN I: TỔNG QUAN

I.1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

I.1.1 Cơ sở khoa học

a Khái quát về quyền sử dụng đất

Nói đến “Quyền sử dụng’’ nghĩa là nói đến quyền khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ một đối tượng tài sản Đối với đất đai là một loại hàng hóa đặt biệt, một tư liệu sản xuất đặt biệt bởi đặt tính của nó đó là (giới hạn về không gian, diện tích nhưng vô hạn về thời gian sử dụng và khả năng sinh lợi, nếu được quản lý và khai thác tốt) Quyền sử dụng đất đai nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội, phong tục tập quán, truyền thống pháp luật của mỗi quốc gia do đó có quy định khác nhau Luật Đất

đai Việt Nam năm 2003 qui định “Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu’’ và “Nhà nước thực hiện định đoạt đối với đất đai’’ (Điều 5), đồng thời khoản 4 Điều 5 qui định “ Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê quyền, công nhận quyền

sử dụng đất cho người sử dụng đất ổn định” khi trao quyền sử dụng đất

Tóm lại, Quyền sử dụng đất đai được hiểu lànhững quyền năng sử dụng đất cụ thể được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện đối với các chủ thể sử dụng đất trong quá trình khai thác và sử dụng

b Đăng ký đất đai

Đăng ký đất đai ở Việt Nam, là thủ tục đăng ký bắt buộc Điều 46 Luật Đất đai

2003 quy định “Việc đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện tại…trong các trường hợp người đang sử dụng đất chưa được cấp GCNQSDĐ ” Theo đó, đăng ký đất

được thực hiện trong trường hợp đang sử dụng đất chưa đăng ký, mới được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng chưa cấp GCNQSDĐ, được Nhà nước cho phép thay đổi mục đích sử dụng đất

Đăng ký đất (theo nghĩa rộng) thực chất là quá trình thực hiện công việc của cơ quan hành chính Nhà nước, nhằm thiết lập hồ sơ địa chính cho toàn bộ đất đai theo đúng pháp luật Tuy nhiên, đăng ký đất không chỉ dừng lại hoàn chỉnh hồ sơ địa chính

và cấp GCNQSDĐ ban đầu Quá trình phát triển của đời sống, kinh tế, xã hội tất yếu dẫn đến sự vận động đất đai ngày càng đa dạng dưới nhiều hình thức như: giao đất, cho thuê đất, hoặc thực hiện các quyền… vì vậy đăng ký đất đai phải được thực hiện thường xuyên, liên tục để kịp thời phản ánh hiện trạng pháp lý đất, đáp ứng mục tiêu đăng ký đất đã định Tùy theo giai đoạn thực hiện và cơ sở pháp lý thực hiện, đăng ký đất được chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn một: đăng ký ban đầu được tổ chức đăng ký lần đầu tiên thiết lập sổ

bộ theo chế độ quản lý mới, và cấp GCNQSDĐ cho tất cả chủ sử dụng đất khi đủ điều kiện

Giai đoạn hai:đăng ký biến động đất đai thực hiện ở những địa bàn đã hoàn

thành việc đăng ký ban đầu cho những trường hợp có nhu cầu thay đổi nội dung của

hồ sơ địa chính đã thiết lập

Tóm lại, đăng ký đất đai là thủ tục hành chính thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ

và cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng đất hợp pháp nhằm thiết lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà nước quản

Trang 13

lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng

c Hồ sơ địa chính

Hồ sơ địa chính là tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách chứa đựng những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên kinh tế – xã hội, pháp lý của đất đai được thiết lập trong quá trình đo đạc bản đồ địa chính, đăng ký ban đầu và đăng ký biến động đất đai cấp GCNQSDĐ

Tóm lại, Việc đăng ký, cấp GCNQSDĐ là một lĩnh vực tổng hợp đòi hỏi giải quyết bốn yêu cầu mang tính pháp lý, tính kỹ thuật, tính kinh tế và tính xã hội Và GCNQSDĐ là sản phẩm cuối cùng trong thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền

sử dụng đất, cấp GCNQSDĐ là nguồn cung cấp thông tin cơ bản quản lý nắm bắt tình hình biến động đất đai được chính xác

 Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 ban hành về quy định về GCNQSDĐ

 Quyết định số 25/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc ban hành kế hoạch về triển khai thi hành Luật Đất đai

 Nghị định số 84/2007/NĐ- CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;

 Nghị định 88/2009/NĐ- CP ngày 19/10/2009 về cấp GCNQSDĐ, QSHNỞ & tài sản khác gắn liền với đất;

 Nghị định 71/2010/NĐ- CP ngày 23/6/2010của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở;

Trang 14

 Thông tư 16/2011/TT- BTNMT ngày 20/5/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai;

 Thông tư số 17/2009/TT- BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

về GCNQSDĐ, QSHNỞ & tài sản khác gắn liền với đất;

 Thông tư 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về GCNQSDĐ, QSHNỞ & tài sản khác gắn liền với đất;

 Quyết định số 3492/QĐ- UBND ngày 21/7/2009 của UBND thành phố về việc công

bố bộ thủ tục hành chính chung áp dụng tại Uỷ ban nhân dân quận, Quận trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;

 Quyết định số 4949/QĐ- UBND ngày 5/11/20010 của UBND thành phố Hồ Chí Minh

về việc công bố cập nhật, sửa đổi, bổ sung và thay thế thủ tục hành chính trong bộ thủ tục hành chính chung áp dụng tại Uỷ ban nhân dân quận, Quận trên địa bàn thành phố

và các quy định hiện hành, thực hiện cái cách hành chính bảo đảm đơn giản, nhanh, thuận tiện, công khai, minh bạch;

I.1.3 Cơ sở thực tiễn

Sơ lược về công tác đăng ký đất đai và cấp Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất tại Việt Nam qua các thời kỳ

1) Giai đoạn trước năm 1945

Ở Việt Nam, công tác đạc điền và quản lý điền địa có lịch sử từ thế kỷ thứ VI trở lại đây Tuy nhiên, bộ hồ sơ đất đai lâu đời nhất mà ngày nay còn lưu giữ lại được tại một số nơi ở Bắc và Trung bộ là hệ thống sổ địa bạ thời Gia Long (năm 1806), ở Nam

bộ chỉ có hệ thống sổ địa bộ thời Minh Mạng

+ Sổ địa bạ thời Gia Long: được lập cho từng xã, phân biệt rõ đất công điền và

đất tư điền của mỗi xã; trong đó ghi rõ đất của ai, diện tích, tứ cận, đẳng hạng để tính thuế Sổ địa bạ được lập thành ba bản: bản giáp, bản bính và bản đinh Hệ thống sổ này không có bản đồ kèm theo và không dùng một đơn vị đo lường thống nhất ở các địa phương nên việc sử dụng sổ rất khó khăn và không được tu chỉnh theo định kỳ

+ Sổ địa bộ thời Minh Mạng: cũng được lập tới từng làng, xã nhưng có nhiều tiến

bộ so với sổ địa bạ thời Gia Long như: sổ được lập trên cơ sở đạc điền, có bản mô tả các thửa ruộng kèm theo sổ bộ Sổ địa bộ cũng được lập thành ba bản như sổ địa bạ

Dưới thời Pháp thuộc, do chính sách cai trị của bọn thực dân, trên lãnh thổ nước

ta đã tồn tại nhiều chế độ điền địa khác nhau:

+ Chế độ quản lý địa bộ tại Nam kỳ;

+ Chế độ bảo tồn điền trạch, sau đổi thành quản thủ địa chánh tại Trung kỳ;

+ Chế độ bảo thủ để áp (còn gọi là để đương) áp dụng đối với bất động sản của người Pháp và kiều dân kết ước theo luật lệ Pháp quốc;

+ Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 29/3/1939 áp dụng tại Bắc kỳ;

+ Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 21/7/1925 áp dụng tại Nam kỳ và các nhượng địa Pháp quốc ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng

2) Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1979

Trong giai đoạn này, Nhà nước vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào làm cơ sở nên công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ vẫn chưa được triển khai Hoạt động chủ yếu của ngành trong giai đoạn này là tổ chức các cuộc điều tra nhanh về đất để giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ diện tích để phục vụ yêu cầu xây

Trang 15

dựng kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất

Hệ thống tài liệu đất đai trong giai đoạn này chủ yếu gồm hai loại: bản đồ giải thửa, sổ mục kê kiêm thống kê ruộng đất Trong đó thông tin về người sử dụng đất trên

sổ sách chỉ phản ánh theo hiện trạng, không thể tra cứu đến cơ sở pháp lý và lịch sử sử dụng đất

3) Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1988

Từ sau năm 1980, công tác đăng ký đất đai mới bắt đầu được Nhà nước quan tâm thực hiện

Ngày 01/7/1980, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 201-CP Về việc thống nhất quản lý đất đai và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước

Ngày 10/11/1980, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 299/TTg

Thực hiện yêu cầu này, Tổng cục quản lý ruộng đất đã ban hành văn bản đầu tiên quy định thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất theo Quyết định số 56/ĐKTK ngày 05/11/1981 Theo quyết định này, việc đăng ký đất có một trình tự khá chặt chẽ Việc xét duyệt đăng ký đất phải do một Hội đồng đăng ký thống kê ruộng đất của xã thực hiện, kết quả xét đơn của xã phải được UBND Quận duyệt mới được đăng ký và cấp GCNQSDĐ, hệ thống hồ sơ đăng ký đất đai quy định khá đầy đủ và chi tiết

Việc triển khai Chỉ thị số 299/TTg kéo dài từ năm 1981 đến cuối năm 1988 mới thực hiện được khoảng 6.500 xã, kết quả đạt được còn rất nhiều hạn chế Các khu dân

cư hầu hết còn đo bao và để dân tự khai, không xác định được vị trí sử dụng cụ thể trên bản đồ, hồ sơ Việc xét duyệt xác định quyền sử dụng đất hợp pháp của người kê khai đăng ký gần như không được thực hiện Vì vậy hệ thống sổ sách đăng ký đất đai thiết lập ở giai đoạn này vẫn chỉ mang tính chất điều tra, phản ánh nguyên hiện trạng

sử dụng đất Việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa được thực hiện

4) Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1993

Kế thừa và phát huy kết quả điều tra đo đạc và đăng ký đất đai theo Chỉ thị số 299/TTg, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành Quyết định số 201/ĐKTK ngày 14/7/1989 Về việc ban hành quyết định cấp GCNQSDĐ và Thông tư số 302/ĐKTK ngày 28/10/1989 Hướng dẫn thi hành quyết định này Việc ban hành các văn bản này

đã tạo ra một sự chuyển biến lớn về chất trong việc thực hiện đăng ký đất đai và bắt đầu từ năm 1990 được triển khai đồng loạt trên phạm vi cả nước

Tuy nhiên, trong thực tiễn việc triển khai đăng ký đất đai vẫn còn một số vướng mắc cần giải quyết: do chất lượng hồ sơ thiết lập theo Chỉ thị số 299/TTg còn có quá nhiều tồn tại, hệ thống chính sách đất đai lại đang trong quá trình đổi mới Vì vậy công việc triển khai cấp GCNQSDĐ tại các địa phương, nhất là các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung thực hiện rất chậm Đặc biệt do chính sách chưa ổn định nhiều địa phương đã thực hiện cấp GCNQSDĐ tạm thời

5) Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003

Thành công của việc thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã tạo cơ sở vững chắc cho sự ra đời của Luật đất đai năm 1993 (được thông qua ngày 14/7/1993 và có hiệu lực thi hành ngày 15/9/1993) với những thay đổi lớn: ruộng đất được giao ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng; đất đai có giá trị; mở rộng quyền cho người

sử dụng đất (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế QSDĐ, thế chấp bằng QSDĐ) Với những thay đổi đó, yêu cầu hoàn thành cấp GCNQSDĐ ngày càng trở nên cấp bách Nhận thức được điều đó, chính quyền các cấp bắt đầu coi trọng và tập

Trang 16

trung chỉ đạo nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ trên phạm vi cả nước với mục tiêu hoàn thành cấp GCNQSDĐ vào năm 2000 (khu vực nông thôn) và năm 2001 (khu vực đô thị) theo các Chỉ thị số 10/1998/CT-TTg và Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Sự khẳng định đất đai có giá trị, người sử dụng đất được nới rộng các quyền đã tạo ra sự chuyển biến lớn về giá cả đất đai và vấn đề quản lý đô thị, quản lý đất đai phải gắn liền với quản lý Nhà nước Xuất phát từ tình hình đó, ngày 05/4/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 60/CP Nghị định này đã trở thành cột mốc quan trọng trong việc lập lại trật tự pháp lý cho lĩnh vực nhà đất tại đô thị Nghị định xác định rõ các vấn đề QSDĐ phải được xem xét từ nguồn gốc và tính hợp pháp của quá trình tạo lập Theo tinh thần Nghị định này thì người sử dụng đất ở tại đô thị phải được cấp GCNQSHNƠ và QSDĐƠ Việc đăng ký nhà ở và đất ở tại đô thị bắt đầu được thực hiện Tuy nhiên khi thực hiện thì số lượng GCN được cấp rất hạn chế vì trong quy định còn nhiều điểm chưa hợp lý, cần phải điều chỉnh

6) Giai đoạn từ năm 2003 đến nay

Trên cơ sở kế thừa và phát huy Luật Đất đai năm 1993; Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2001; Luật đất đai năm 2003 đã mở rộng hơn quyền của người

sử dụng đất (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế QSDĐ; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ) Đặc biệt, việc cho phép QSDĐ được tham gia thị trường bất động sản có sự quản lý của Nhà nước cũng đã góp phần làm tăng thêm nhu cầu cấp GCNQSDĐ Hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai được ban hành (như Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP…) Quy trình thực hiện đăng ký cấp GCNQSDĐ đơn giản và thông thoáng hơn, đã đáp ứng được phần nào nhu cầu cấp GCNQSDĐ của người sử dụng đất

Sơ lược về công tác đăng ký đất đai ở một số nước trên thế giới

Đăng ký nghĩa vụ: có mục đích bổ sung thông tin cần thiết cho đăng ký văn tự giao dịch Nếu Bất động sản không có sự đăng ký này thì người mua có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ sự đăng ký nghĩa vụ đó, ví dụ như quyền địa dịch của chủ sở hữu mảnh đất bên cạnh

Đăng ký quyền: do lịch sử lâu đời nên hầu như không thể tìm lại được chứng cứ

về chủ quyền gốc (chứng cứ đầu tiên chứng minh mảnh đất được phong cấp hay công nhận từ đất công cho một chủ thể cụ thể) Khi xem xét một hồ sơ đã có chủ quyền xin đăng ký ban đầu vào sổ phải xem xét hai khía cạch chủ quyền (nội dung quản lý) và ranh giới thửa đất (nội dung kỹ thuật)

 Hệ thống đăng ký ở Thái Lan

Cơ quan đăng ký đất đai và cấp GCN thuộc Cục đất đai và được phân cấp theo đơn vị hành chính gồm 78 tỉnh có 180 chi nhánh và 810 Quận

Hệ thống sử dụng, sử dụng hệ thống của TORRENS

Trang 17

Các loại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được sử dụng gồm năm loại:

NS4: loại GCNQSDĐ theo chủ sử dụng

NS3K: loại GCNQSDĐ dựa theo tài liệu ảnh chụp máy bay

NS3: loại GCNQSDĐ dựa trên cơ sở đo đạc đơn giản

NS2: loại GCNQSDĐ tạm thời

SPK4-01: loại giấy chứng nhận quyền chiếm dụng đất Nông nghiệp bị thoái hóa

 Hệ thống đăng ký đất đai của Tây Úc

Tây Úc là một bang của nước Úc có diện tích lớn nhất nước Úc (hơn 2.527.00

km2) Đăng ký đất đai của Tây Úc có những đặc điểm sau: bộ máy tổ chức đăng ký đất đai gồm 5 đơn vị chủ yếu là phòng dịch vụ khách hàng để cung cấp thông tin, lưu trữ

hồ sơ và hướng dẫn khách hàng kiêm nhiệm vụ quản cáo Phòng giao dịch tách và gộp thửa để chỉnh lý biến động đất đai Phòng đăng ký đất đai để đăng ký cấp giấy chứng nhận đất đai trong trường hợp chuyển nhượng, thừa kế, làm thủ tục thế chấp Phòng cấp giấy chứng nhận để kiểm tra tài liệu, thẩm tra hồ sơ cấp giấy và in giấy chứng nhận Phòng công nghệ thông tin chịu trách nhiệm về hệ thống thông tin quản lý đất

Cơ sở pháp lý của hệ thống đăng ký đất đai: chủ yếu và duy nhất dựa trên cơ sở Luật Đất đai của Nhà nước Liên bang Úc Luật này qui định cụ thể các vấn đề quyền

sở hữu đất

Hệ thống hồ sơ địa chính tuân theo hệ thống TORRENS Cho nên có nhiều loại giấy chứng nhận (giấy chứng nhận tư nhân, giấy chứng nhận của cơ quan tổ chức, giấy chứng nhận của thổ dân, giấy chứng nhận cho thuê của Nhà nước)

Tóm lại, tùy thuộc tình hình đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội, mỗi Quốc gia lựa chọn một phương án khác nhau cho hệ thống đăng ký đất của mình Hệ thống đăng ký đất ở các nước pháp triển (Anh, Úc…) có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, tích lũy được nhiều kinh nghiệm và thu được nhiều thành quả Hệ thống đăng ký ở các Nước này thường mang tính kế thừa và ngày càng hoàn thiện, việc xác lập quyền sở hữu “lần đầu” về cơ bản đã hoàn tất, hiện nay hầu hết các nước thường tập trung vào việc đăng ký biến động, thông qua việc đăng ký Hệ thống đăng ký đất ở các nước đang phát triển trong khu vực (Thái Lan, MaLaysia…) được hình thành trong khoảng thời gian gần đây theo kinh nghiệm của các nước phát triển, một số Nước còn đang trong quá trình hoàn thiện công tác đăng ký “lần đầu” song song đó thực hiện công tác đăng ký cập nhật biến động Nhìn chung, những quan điểm xử lý trong đăng ký của các nước không có sự khác biệt nhiều, ngay cả ở Việt Nam cũng có nhiều nét tương đồng Sự khác nhau có chăng là quy trình thực hiện, và cách sử dụng chúng, để phù hợp với hoàn cảnh của mỗi Quốc gia Hệ thống đăng ký đất của Việt Nam không dập khuôn, sao chép theo mô hình, lý thuyết của mỗi Quốc gia nào, mà chỉ kế thừa một số kinh nghiệm phù hợp với tình hình đặc điểm chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội ở Nước

ta Hệ thống đăng ký đất của Việt Nam có một số đặc điểm tương đồng với các nước khác như: Tổ chức hoạt động chuyên môn theo ngành dọc từ Trung ương đến Địa phương, công tác đăng ký đất dựa trên các Văn bản Pháp luật liên quan đến đất đai…

Trang 18

I.2 Khái quát địa bàn nghiên cứu

Thực hiện chủ trương của Trung ương và Thành phố, ngày 01/04/1997 Huyện Hóc Môn được tách thành Quận 12 và Huyện Hóc Môn mới theo Nghị định 03/CP, ngày 6 tháng 1 năm 1997của Chính, theo đó Quận 12 gồm toàn bộ diện tích các xã Thạnh Lộc, An Phú Đông, Tân Thới Hiệp, Đông Hưng Thuận, Tân Thới Nhất, một phần xã Tân Chánh Hiệp; một phần xã Trung Mỹ Tây thuộc Huyện Hóc Môn trước đây Tổng diện tích đất tự nhiên 5.274,89 ha, dân số 395.790 người (theo điều tra dân

 Phía Tây giáp Huyện Hóc Môn và Quận Bình Tân

 Phía Nam giáp Quận Bình Thạnh, Quận Gò Vấp, Quận Tân Bình, Quận Tân Phú, và Quận Bình Tân

 Phía Bắc giáp Huyện Hóc Môn

Là cửa ngõ phía Tây Bắc của thành phố nối liền với Tây Ninh và Campuchia bằng tuyến đường Xuyên á, trong tương lai Quận 12 sẽ trở thành đầu mối quan trọng của Thành phố trong việc giao thương với các nước ASEAN bằng đường bộ Điều này

Trang 19

tạo điều kiện cho Quận 12 phát triển mạnh mẽ về thương mại dịch vụ Bên cạnh đó, là quận ven vừa tiếp giáp với các Quận ngoại thành vừa tiếp giáp với các quận trung tâm Thành phố, Quận 12 trong tương lai sẽ trở thành vùng đệm quan trọng góp phần phát triển kinh tế xã hội khu vực Tây Bắc Thành phố

Đặc điểm vị trí địa lý tạo cho Quận 12 ba khu vực phát triển kinh tế xã hội tương đối rõ nét:

 Khu vực 1: Bao gồm các phường Đông Hưng Thuận, Tân Hưng Thuận, Trung Mỹ

Tây và Tân Thới Nhất là khu vực đang có tốc độ đô thị hoá nhanh

 Khu vực 2: Bao gồm các phường Tân Chánh Hiệp, Tân Thới Hiệp, Hiệp Thành và

một phần Thới An là khu vực đang từng bước đô thị hoá

 Khu vực 3: Bao gồm các phường An Phú Đông, Thạnh Lộc, Thạnh Xuân và một phần Thới An là khu vực nông nghiệp đang chuẩn bị các tiền đề cho quá trình đô thị hoá

I.2.1.2.Địa hình - địa chất

Quận 12 được chia làm 2 vùng địa hình - địa chất chính, do có những đặc trưng

cơ bản khác biệt nhau:

Vùng đất phía Tây Rạch Bến Cát:gồm các phường Tân Thới Nhất, Trung Mỹ

Tây, Đông Hưng Thuận, Tân Hưng Thuận, Tân Chánh Hiệp, Hiệp Thành, Tân Thới Hiệp và Thới An

Có cao độ trên 2m so với mặt nước biển, có cấu tạo nền đất là phù sa cổ, thành phần chủ yếu là cát, cát pha, thường có màu vàng nâu, đỏ nâu, thường xen lẫn sỏi, cuội laterite Sức chịu tải của nền đất khá tốt, lớn hơn 1,5 kg/cm2

Địa hình dạng gò triều, gãy khúc, hướng đổ dốc phức tạp nhưng nhìn chung có khuynh hướng đổ dốc về phía rạch Bến Cát (phía Đông) và kênh Tham Lương (phía Đông Nam) Độ dốc nền trung bình từ 3% xuống đến 0.1% Cao độ mặt đất ở khu vực này từ 9m xuống đến 2m (trừ các khu vực ven các sông rạch) so với Cao độ chuẩn Mũi Nai - Hà Tiên Nền đất chịu lực rất tốt và có nhiều thuận lợi cho san nền Đây là vùng có khả năng xây dựng nhà cao tầng và là khu vực có nhiều triển vọng cho xây dựng thành một khu đô thị hiện đại

Vùng đất phía Đông rạch Bến Cát và dọc theo kênh Tham Lương:gồm các

phường Thạnh Xuân, Thạnh Lộc và An Phú Đông

Cao độ mặt đất thấp dưới 2m Có cấu tạo nền đất là phù sa mới, thành phần chủ yếu là sét, bùn sét, trộn lẫn nhiều tạp chất hữu cơ, thường có màu đen, xám đen Địa hình thấp, bị chia cắt bởi nhiều sông rạch, hướng đổ dốc không rõ rệt Cao độ mặt đất thay đổi từ 0-0.07m Đất ở khu vực này có khả năng chịu lực thấp và là vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều, được bảo vệ khỏi ngập úng nhờ vào hệ thống mương liếp và bờ bao cống bọng do nhân dân xây dựng tự phát Đây là khu vực thích hợp cho xây dựng nhà vườn và khu du lịch sinh thái

I.2.1.3 Khí hậu

Quận 12 nằm trong khu vực khí hậu thành phố Hồ Chí Minh là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, mang tính chất chung là nóng, ẩm với nhiệt độ cao và mưa nhiều Trong năm có hai mùa rõ rệt:

 Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11

 Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

 Hướng gió chủ yếu là Đông Nam và Tây Nam

 Gió thịnh hành trong mùa khô là gió Đông Nam với tần suất 30-40%

Trang 20

 Gió thịnh hành vào mùa mưa là gió Tây Nam với tần suất 66%

 Tốc độ gió trung bình là 3 m/s, gió mạnh nhất là 22,6 m/s, đổi chiều theo

mùa

Nhìn chung khí hậu trên địa bàn quận tương đối ôn hòa, ít bị ảnh hưởng của gió bão, không có gió Nam khô nóng, mùa Đông không lạnh và không có sương muối, ánh sáng dồi dào trong năm, thuận lợi cho sản xuất Nông nghiệp, và là điều kiện thuận lợi

để phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của người dân

I.2.1.4 Thủy văn

Chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ bán nhật triều không đều trên sông Sài Gòn Sông Sài Gòn đi qua địa bàn có chiều rộng trung bình khoảng 150m, sâu 10-15m, lưu lượng kiệt nhất là tháng 4 (8m3/s) và cao nhất là tháng 10 (180m3/s)

Sông Sài Gòn, sông Vàm Thuật, rạch Bến Cát, kênh Tham Lương, kênh Trần Quang

Cơ và một số kênh rạch khác trên địa bàn quận tạo tiền đề cho việc hình thành một mạng lưới giao thông thủy quan trọng, thuận lợi lưu thông nối kết liên hoàn xuyên suốt với các nơi, đồng thời đảm nhiệm tiêu thoát nước cho cả địa bàn

I.2.2 Các nguồn tài nguyên

I.2.2.1 Tài nguyên đất

Theo kết quả của các chương trình điều tra thổ nhưỡng gần đây thì quận 12 có

Ký hiệu Tên đất

Ký hiệu Tên đất

1 F Đất vàng nâu feralit trên phù

5 X Đất xám điển hình ACh Haplic Acrisols 752,22

6 Xf Đất xám có tầng loang lổ ACp Plinthic Acrisols 999,35

(Nguồn:Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)

I.2.2.2 Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt:

Nguồn nước mặt trên địa bàn quận 12 khá phong phú do một hệ thống sông rạch cung cấp Các sông, kênh rạch chính: sông Sài Gòn, sông Vàm Thuật, rạch Bến Cát, Bến Thượng, Cầu Dừa, Trần Quang Cơ Ngoài ra còn nhiều kênh rạch phân bố

Trang 21

chủ yếu ở khu vực phía Đông rạch Bến Cát Tài nguyên nước mặt khá thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp và du lịch sinh thái

Trong những năm gần đây, nguồn nước bị ô nhiễm nặng cả về nước mặt lẫn nước ngầm do việc xả thải từ các nhà máy, xí nghiệp, nước thải sinh hoạt của người dân trên địa bàn cũng như các vùng lân cận Hầu hết các kênh, rạch xuyên qua quận 12 đều bị ô nhiễm, nhất là kênh Tham Lương Nhiều vùng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn quận bị ô nhiễm như Thạnh Xuân, Thạnh Lộc, An Phú Đông và một phần phường Thới An Đây là vấn đề khó khăn nhất hiện nay về nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, đây cũng là nguyên nhân gây ra bệnh dịch Ngoài ra, bãi rác của thành phố nằm trên địa bàn xã Đông Thạnh –Huyện Hóc Môn cũng là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng đến nguồn nước ngầm không chỉ trên địa bàn Huyện Hóc Môn

mà cả quận 12 và các khu vực lân cận

 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên

 Thuận lợi

- Quỹ đất khá lớn, trên 5000 ha, bằng 1/3 diện tích khu nội thành cũ

- Quận có 2 khu vực với địa hình khác biệt rõ rệt, yếu tố này thuận lợi cho quy hoạch tạo những nét đặc trưng riêng của đô thị mới Khu vực phía Tây của Quận địa hình gò triền, nền đất tốt, thuận lợi phát triển xây dựng các công trình công nghiệp, thương mại, nhà ở kiên cố cao tầng Khu vực phía Đông của Quận địa hình thấp, có nhiều sông rạch đan cắt nhau, nền đất yếu thích hợp xây dựng các công trình thấp tầng, mật độ xây dựng thưa thoáng, thuận lợi phát triển đô thị xanh phục vụ du lịch giải trí nghỉ ngơi

- Vị trí quan trọng là cửa ngõ phía Bắc của Thành phố - cầu nối luồng giao thông từ phía Campuchia về khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống giao thông đường bộ cấp quốc gia và khu vực đang từng bước phát triển, mở rộng và hiện đại hóa Đường xa lộ vành đai (Quốc lộ 1A), Quốc lộ 22 (đường Xuyên á) là cầu nối giao lưu giữa Thành phố Hồ Chí Minh với tỉnh Tây Ninh - nước Campuchia và nối kết Tỉnh Bình Dương, Tỉnh Bình Phước, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Về đường thủy có sông Sài Gòn nằm tiếp giáp chạy dài từ phía Bắc xuống Nam rất thuận lợi giao lưu hàng hóa với các tỉnh Nam Bộ

- Địa bàn Quận 12 có nhiều thế mạnh và tiềm năng cho việc phát triển đô thị, thu hút dân cư:

- Kinh tế đô thị và Công nghiệp hiện trên đà phát triển ngày càng nhanh, nhiều

cơ sở sản xuất công nghiệp đã đi vào hoạt động và những dự án công nghiệp lớn và nhỏ đang triển khai xây dựng Đặc biệt khu công nghiệp tập trung Tân Thới Hiệp là một trong số những khu công nghiệp tập trung lớn của Thành phố, đã có quy hoạch được duyệt, là nơi có khả năng thu hút nhiều lao động

- Quận có bề dày truyền thống lịch sử cách mạng, có di tích cách mạng nổi tiếng như chiến khu An Phú Đông - Thạnh Lộc, có thể kết hợp với cảnh quan thiên

Trang 22

nhiên phong phú trên sông Sài Gòn và vùng đất trù phú ven sông để khai thác du lịch, nghỉ ngơi v.v

 Khó khăn

- Đội ngũ lao động đông đảo là vốn quý báu, là nhân tố tích cực để phát triển sản xuất Song trong giai đoạn trước mắt Nguồn nhân lực dôi thừa và thiếu tay nghề trong nông nghiệp (do việc thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp) đã gây ra những rào cản nhất định cho quá trình phát triển của Quận Chính vì thế việc đào tạo nghề cho lực lượng lao động này là hết sức bức thiết

- Hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật còn yếu kém, không đảm bảo khả năng phục vụ, phân bố phân tán chưa đáp ứng yêu cầu phát triển dân cư theo lối sống

đô thị; nếu phát triển theo quy mô lớn cần có đầu tư mạnh là nguồn nước cho sinh hoạt

và sản xuất nông nghiệp

- Thiếu hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, đặc biệt là hệ thống thoát nước, chống úng đã gây ra ngập úng trên địa bàn rộng Điều này có tác động lớn đến các hoạt động kinh tế và dân sinh của Quận

- Tài nguyên sinh vật và khoáng sản của Quận rất nghèo nàn, hầu như không có

gì để khai thác, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội

I.2.3 Kinh tế xã hội

Quận 12 sau 13 năm hình thành với quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, mạnh

và đang phấn đấu để bắt nhịp cùng sự phát triển chung của thành phố Cơ cấu kinh tế

từ “công nghiệp - nông nghiệp - thương mại - dịch vụ” chuyển dịch sang “công nghiệp

- thương mại - dịch vụ - nông nghiệp” và đang hình thành phát triển theo hướng

“thương mại - dịch vụ - công nghiệp-nông nghiệp”

I.3 Tình hình phát triển kinh tế xã hội

Cơ chế chính sách đã có những bước đổi mới tích cực; GDP toàn quận ước đạt 4.253,410 tỉ đồng năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2005-

Năm

Tỷ đồng

Trang 23

Biểu đồ cho thấy GDP toàn quận tăng qua từng năm; trong mỗi năm thì tỷ lệ

ngành thương mại- dịch vụ đóng góp vào GPD là cao nhất, đứng thứ hai là ngành

Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp Năm 2010, GDP toàn quận đạt trên 4000 tỷ; mức

tăng trưởng tương đối cao trong giai đoạn kinh tế khó khăn hiện nay Quận 12 có lợi

thế về diện tích tự nhiên rộng, nằm trên đầu mối giao thông quan trọng- cửa ngõ giao

thông phía Tây Bắc của thành phố, là thị trường thích hợp cho việc thu hút các dự án

đầu tư với số vốn lớn của các công ty trong và ngoài nước

I.3.1 Thực trạng phát triển các ngành

a Nông - lâm - ngư nghiệp:

Do tiến trình đô thị hóa nhanh, diện tích đất nông nghiệp thu hẹp dần Trong đó, giảm mạnh nhất là đất trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày

Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2010 là 208,71 tỉ đồng, tăng so với cùng kỳ năm 2009 là 2,45%

b Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:

Giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là 1.590,37 tỉ đồng năm

2010 và tăng 15,24% so với năm 2009 Tập trung chủ yếu vào ngành là dệt, may, sản xuất thực phẩm, chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, sản xuất túi xách, da giầy, trong đó thế mạnh là dệt, may, da giầy

c Ngành thương mại - dịch vụ:

Tổng mức luân chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ là 2.495,18 tỉ đồng năm

2010 và tăng 21,28% so với năm 2009 Trong đó, ngành thương mại đạt 1.609,39 tỉ đồng, tăng 20,61% năm 2009, ngành dịch vụ đạt 554,790 tỷ đồng, tăng 24,02% năm

2009 Trong cơ cấu ngành thương mại - dịch vụ, thương mại-dịch vụ ngoài quốc doanh là chủ yếu, chiếm 99,3%, trong khi đó thương mại-dịch vụ quốc doanh (Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã) chiếm 0,7%

d Dân số - lao động, việc làm:

Dân số trung bình trên địa bàn quận 12 đến giữa năm 2010 là 427.083 người, với tổng số hộ là 77651 hộ, mật độ dân số trung bình là 8.096 người/km2 Do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, tình trạng phân bố dân cư không đều ở các phường, riêng tại phường Tân Hưng Thuận có mật độ dân cư cao nhất là 14.021 người/km2, phường Đông Hưng Thuận là 12.855 người/km2 và thấp nhất là phường Thạnh Xuân

là 2.153 người/km2, phường An Phú Đông là 2.035 người/km2

 Quận 12 có cơ cấu dân số trẻ, tháp tuổi có dạng hình cây thông, phình to dưới đáy tháp, thể hiện mức sinh cao, số người dưới tuổi lao động cao Năm 2010 tỷ lệ tăng dân số của quận là 1,2% Dân số của quận được dự báo theo xu hướng giảm dần

tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bằng cách mở rộng và nâng cao chất lượng chương trình kế hoạch hóa gia đình, nhưng với chủ trương thu hút dân số từ nội thành ra sinh sống theo chương trình giãn dân của thành phố nên dự báo dân số tăng cơ học trong thời gian tới tăng nhanh

 Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các ngành kinh tế, cơ cấu lao động đã có sự biến động đáng kể, các ngành công nghiệp và thương nghiệp thu hút ngày càng nhiều lao động từ ngành nông nghiệp chuyển qua

Nhìn chung đời sống nhân dân trong quận ngày càng được cải thiện với thu nhập bình quân đầu người hàng năm luôn tăng và số hộ nghèo chiếm tỷ lệ ngày càng giảm Được sự quan tâm của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương trong thời

Trang 24

gian qua công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn quận được thực hiện một cách hiệu

quả và thiết thực trong giai đoạn 2005-2010

I.3.2 Đánh giá chung tình hình phát triển kinh tế- xã hội của Quận

 Trong những năm qua sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội cụ thể là quá trình đô thị hóa đã tác động không nhỏ lên quỹ đất của quận, kéo theo áp lực về đất đai ngày càng gia tăng thể hiện ở các mặt sau:

+ Khi nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường, đất đai ngày càng có giá trị trở thành một tài sản lớn đối với bất cứ ai, nhất là ở khu vực đô thị, vì vậy theo lẽ tự nhiên đất đai trở thành đối tượng quan tâm của hầu hết mọi người

+ Khi phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng hạ tầng giao thông dẫn tới một diện tích lớn đất nông nghiệp của người nông dân bị thu hẹp, chuyển sang mục đích khác và việc người dân thực hiện chuyển nhượng trở nên thường xuyên hơn kéo theo công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

+ Việc đầu tư nâng cấp, xây dựng mới cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, các công trình trường học, trạm y tế, các khu vui chơi giải trí…) sẽ cần một quỹ đất tương đối lớn không chỉ gây sức ép về mặt quy mô diện tích, mà còn tạo áp lực trong việc bố trí vị trí các công trình hợp lý, phù hợp

+ Vấn đề tăng dân số kéo theo nhu cầu về đất sản xuất và đất ở ngày càng một tăng cao, bên cạnh đó việc giải quyết vấn đề này phải gắn liền với điều kiện cụ thể của từng phường trên địa bàn của quận

 Các ngành giáo dục, y tế, thể thao, thông tin văn hóa từng bước phát triển đáp ứng tốt yêu cầu của người dân, góp phần thực hiện thành công các nhiệm vụ chính trị xã hội của địa phương, nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật công tác đăng ký cấp GCN

I.4 Nội dung, phương pháp nghiên cứu

I.4.1 Nội dung nghiên cứu:

 Đánh giá về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội trên địa bàn quận

 Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác đăng ký cấp GCN

I.4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp chung nhất trong công tác nghiên cứu Đề tài vận dụng phương pháp này trong việc xem xét đánh giá thực trạng công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Quận12 trong những điều kiện cụ thể và các mối quan hệ khác Ngoài ra vận dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế khác như:

Phương pháp điều tra: Điều tra, thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên,

kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu và các số liệu có liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai, đặc biệt là công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết (nghiên cứu tài liệu): Nghiên cứu Luật đất

đai và các văn bản dưới Luật áp dụng cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai để làm

cơ sở cho việc nghiên cứu

Trang 25

Thu thập số liệu:

+ Thu thập từ tham khảo tài liệu: dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp thu được

từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ, chứng minh một số vấn đề trong quá trình thực hiện đề tài

+ Thu thập số liệu từ thực nghiệm: Số liệu được thực hiện bằng cách quan sát, theo dõi

diễn biến tình hình đăng ký cấp GCNQSDĐ tại địa bàn nghiên cứu

Xử lý thông tin:

+ Chọn lọc các số liệu, tài liệu, tư liệu thu nhận được: Nghiên cứu mối quan hệ giữa

chúng; so sánh đối chiếu, chọn lọc những tài liệu, tư liệu, số liệu quan trọng, thiết thực, có độ tin cậy cao liên quan đến công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ

+ Sắp xếp tài liệu, tư liệu, số liệu: Quy thành các nhóm; lập dàn ý, sắp xếp cụ thể từng

nội dung của đề tài theo mục đích

Thống kê:

+ Thống kê tương đối: Các số liệu thống kê hàng năm của các ngành kinh tế- xã hội

(dân số, y tế, giáo dục, kinh tế, )

+ Thống kê tuyệt đối: Số liệu kiểm kê 5 năm trong lĩnh vực đất đai

Phương pháp so sánh: So sánh số lượng GCNQSDĐ được cấp qua từng thời

kỳ (năm), trên địa bàn từng phường, từ đó nhận xét hiệu quả thực hiện công tác cấp GCNQSDĐ

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ nguồn tài liệu, số liệu thu thập được

tiến hành phân tích, đánh giá, tổng hợp vấn đề nghiên cứu; rút ra kết luận và đề xuất giải pháp khả thi cho công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn nghiên cứu

Phương pháp chuyên gia: có sự tham vấn của những người đi trước có kinh

nghiệm

I.4.3 Trình tự thực hiện đề tài

 Trực tiếp tham gia vào công tác đăng ký cấp GCN tại quận

 Thu thập các số liệu, tài liệu có liên quan đến công tác đăng ký cấp GCN tại địa phương

 Xử lý, phân tích các tài liệu, số liệu đã thu thập được

 Hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trang 26

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

II.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai tại Quận 12

 Thời kỳ trước Luật Đất đai 2003:

Thực hiện 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai theo Luật Đất đai 1993 và Luật sửa đổi bổ sung 1998, 2001, cùng với một số văn bản pháp luật về đất đai được ban hành nên công tác quản lý Nhà nước về đất đai của quận 12 từng bước đi vào nề nếp, hạn chế những tiêu cực phát sinh trên điạ bàn Tuy nhiên việc cập nhật chỉnh lý biến động đất đai chưa được quan tâm đúng mức nên dẫn đến hiện tượng lấn chiếm, tranh chấp, chuyển mục đích xảy ra thường xuyên gây khó khăn cho công tác quản lý

 Thời kỳ sau Luật Đất đai 2003:

Luật đất đai năm 2003 ra đời có hiệu lực ngày 01/07/2004 cùng với các văn bản liên quan đã góp phần làm cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai chặt chẽ hơn trên phạm vi cả nước

II.1.1.Các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai

Quận 12 là một quận mới, được hình thành trên cơ sở tách phần đất của Huyện Hóc Môn tiếp giáp khu vực nội thành cũ theo Nghị định số 03/CP ngày 06/01/1997 của Chính phủ với tổng diện tích tự nhiên 5.274,9045 ha Quận 12 chia thành 11 phường là: An Phú Đông, Thạnh Lộc, Thạnh Xuân, Thới An, Hiệp Thành, Trung Mỹ Tây, Tân Chánh Hiệp, Đông Hưng Thuận, Tân Hưng Thuận, Tân Thới Hiệp, Tân Thới Nhất

Tình hình và kết quả hoạt động của công tác quản lý đất đai trên địa bàn quận

có thể tóm tắt thành những nét chính theo các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai quy định tại Khoản 2, Điều 6, Luật Đất đai 2003 như sau:

II.1.1.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai

và tổ chức thực hiện

Trong thời gian qua, để đảm bảo công tác quản lý và sử dụng đất đai đi vào nề nếp, Uỷ ban Nhân dân Quận 12 đã tổ chức và chỉ đạo thực hiện các văn bản pháp luật của Chính phủ và UBND TP, cụ thể: Luật đất đai 2003, Nghị định 181, Thông tư 28, Thông tư 30, Quyết định 138, Chỉ thị 26,…

II.1.1.2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

 Phía Tây giáp HuyệnHóc Môn và Bình Tân

 Phía Nam giáp quận Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú và quận Bình Tân

 Phía Bắc giáp Huyện Hóc Môn

Ranh giới hành chính của địa phương được tổ chức thực hiện, xác lập, điều chỉnh trên bản đồ và ngoài thực địa theo Chỉ thị 364/CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) Ranh giới sử dụng đất trên địa bàn nhìn chung ổn định, không xảy ra tranh chấp với các địa phương khác

Trang 27

Bảng 2: Diện tích đất tự nhiên các đơn vị hành chính Quận 12

STT Đơn vị hành chính Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)

Lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

Nhằm thực hiện theo kế hoạch số 3609/UB-ĐT ngày 23/6/2004 của UBND

Thành phố về việc rà soát, củng cố công tác quản lý nhà nước về địa giới hành chính

trên địa bàn TPHCM, Quận 12 đã cho rà soát lại việc quản lý Hồ sơ địa giới hành

chính ở các phường Kết quả kiểm tra và rà soát công tác lưu trữ hồ sơ địa giới hành

chính của Quận thể hiện theo bảng sau:

Bảng 3: Hiện trạng lưu trữ hồ sơ địa giới hành chính tại Quận

8 Thống kê tài liệu về ĐGHC của phường X

(Nguồn: Phòng Tài nguyên&Môi trường Quận 12)

Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ

hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất

Trên địa bàn Quận đã thực hiện công tác đo đạc và thành lập bản đồ giải thửa

theo Chỉ thị 299/TTG của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 10/11/1980; thực hiện

công tác đo đạc, chụp không ảnh và thiết lập các bản đồ địa chính theo Chỉ thị 02/CT

ngày 18/01/1992 của UBND Thành phố

Trang 28

Năm 2003, toàn quận được tiến hành đo đạc lại và lập bộ bản đồ địa chính mới,

sản phẩm được bàn giao vào cuối năm 2004 và được sử dụng làm tài liệu để thực hiện

công tác kiểm kê đất đai năm 2005, đây là cơ sở cho công tác quản lý đất đai và thành

lập hệ thống bản đồ chuyên đề

Hệ thống bản đồ địa chính trên địa bàn Quận 12 được đo đạc mới theo hệ tọa độ

Quốc gia VN 2000, tổng cộng gồm có 549 tờ, trong đó có 391 tờ tỷ lệ 1/500, 153 tờ tỷ

lệ 1/1000 và 5 tờ tỷ lệ 1/2000 được nghiệm thu vào cuối năm 2004 và đầu năm 2005

Hệ thống bản đồ địa chính này vừa được đo đạc mới cho nên loại hình sử dụng đất trên

bản đồ không có sự khác biệt so với thực tế Tuy nhiên nội dung của các tờ bản đồ vẫn

còn sai khác khá nhiều về ranh thửa, diện tích so với thực tế

Bảng 4: Bản đồ địa chính các phường phân theo tỷ lệ đo vẽ

(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)

Từ năm 2011 đến nay, phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12 đã tiến hành

đo đạc bản đồ và kiểm tra nội nghiệp bản đồ để phục vụ cho công tác cấp GCN, bồi

thường giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư, quản lý quỹ đất công,… góp phần quản

lý bản đồ địa chính, chỉnh lý biến động đất đai

Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:

Vì là Quận mới thành lập và đang trong giai đoạn chỉnh trang đô thị cho nên

công tác lập quy hoạch đặc biệt được quan tâm Hiện nay trên địa bàn Quận đã thực

hiện một số quy hoạch như sau:

- Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Quận 12 đến năm 2010 được thực hiện

theo công văn 3849/UB-KT và thông báo số 88/TB-UB-KT của UBND TP ngày

14/11/1997 về việc Quy hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội của các quận, Quận mới đến

năm 2010

- Quy hoạch chung xây dựng Quận 12 Hiện nay, đồ án điều chỉnh quy hoạch

chung xây dựng Quận 12, tỷ lệ 1/5.000 đã được Hội đồng Nhân dân Quận thông qua,

đang trình UBND TP phê duyệt

- Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2.000 của ngành xây dựng Cụ thể là từ năm 1999

đến nay trên 11 phường của Quận có 23 đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ

1/2.000 được phê duyệt với diện tích là 4.856,62 ha, chiếm 92% diện tích đất tự nhiên

của Quận Như vậy về cơ bản Quận 12 đã phủ kín quy hoạch chi tiết xây dựng

Trang 29

1/2.000, phần diện tích còn lại là khu công viên cây xanh 250 ha thuộc phường Thạnh Xuân theo Đồ án Quy hoạch chung xây dựng của Quận

- Về tiến độ điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2.000: Hiện nay Quận đang lập 11 đồ án điều chỉnh QHCTXD 1/2.000, Sở QH - KT chủ trì lập đồ án điều chỉnh 02 đồ án với tổng số diện tích được điều chỉnh quy hoạch chi tiết là 2.857,7

ha, chiếm 60% diện tích đã quy hoạch chi tiết

- Công tác xây dựng Kế hoạch Sử dụng đất hàng năm đã được Quận thực hiện nghiêm túc, đã góp phần đưa công tác quản lý và sử dụng đất của Quận để vào nề nếp

và đúng định hướng

Nhìn chung, công tác quản lý quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất trong thời gian qua chủ yếu triển khai lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm, dựa trên cơ sở quy hoạch chung và quy hoạch xây dựng Tuy nhiên, một số phường quy hoạch chi tiết xây dựng được thiết kế trên nền bản đồ địa chính 02, đã gây khó khăn cho công tác giao ranh đất

để thực hiện các dự án

Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Trong thời gian qua, phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với phòng Quản

lý đô thị quận đã cố gắng thực hiện theo đúng quy trình, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở - quyền sử dụng đất ở theo đúng luật định, đồng thời thực hiện thu hồi và giao đất cho các tổ chức, đơn vị, cá nhân trên địa bàn theo đúng đối tượng, đúng mục đích sử dụng

Do công tác giao - thuê đất đối với các tổ chức sử dụng đất thuộc thẩm quyền của

sở Tài nguyên và Môi trường cho nên việc quản lý hồ sơ tài liệu trên địa bàn quận gặp nhiều khó khăn, thiếu cập nhật và bỏ sót nhiều trường hợp

Thực trạng công tác giao dịch quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất trên địa bàn quận diễn ra rất phức tạp Số lượng giao dịch kiểm soát được (hợp pháp) chiếm tỷ lệ rất cao so với thực tế Do phần đông người dân đã quan tâm tìm hiểu pháp luật và hiểu được tầm quan trọng của nó trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trong các giao dịch Song giao dịch không hợp pháp vẫn còn tồn tại Nguyên nhân là do nhu cầu về nhà ở của người dân là rất lớn, thường là người dân ở các địa phương khác đến, nhưng không đủ điều kiện về pháp lý để thực hiện việc chuyển nhượng nhà ở, đất đai hợp pháp Số giao dịch này chủ yếu bằng giấy tay tự lập, viết tay giao dịch trực tiếp giữa hai bên

Công tác cập nhật chỉnh lý, biến động đất đai được cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường theo dõi, cập nhật thường xuyên trên sổ sách, bản đồ địa chính Hình thức biến động chủ yếu là chuyển quyền và thế chấp quyền sử dụng đất

Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ)

Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính trên địa bàn quận đến nay cơ bản đã hoàn thành 11/11 phường để làm cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trong những năm qua thực hiện Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003, Nghị định 60/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận QSHNƠ-QSDĐƠ, Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Thông tư số 17/2009/TT-TNMT ngày 21/10/2009 của bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Quyết định 29/2011/QĐ-UBND ngày 19/05/2011 hủy bỏ một phần Quyết định 54/2007/QĐ-UBND quy định về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng

Trang 30

đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thành phố Hồ Chí Minh do UBND thành phố Hồ Chí Minh ban hành Việc lập và quản

lý hồ sơ địa chính được thực hiện tốt làm cơ sở cho việc hợp thức hóa, cấp GCN QSDĐ Công tác cấp GCN QSDĐ có ảnh hưởng lớn đến thực trạng khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai Kết quả cấp giấy càng cao, chính xác thì càng đảm bảo quyền sử dụng đất hợp pháp của người dân, Nhà nước càng dễ dàng quản lý việc sử dụng đất của các đối tượng sử dụng đất và người sử dụng đất không thể xâm phạm lợi ích của người khác, từ đó làm giảm lượng đơn tranh chấp, khiếu nại về đất đai của quận 12 Mặt khác, nếu công tác đo đạc bản đồ, công tác cấp GCN QSDĐ không chính xác sẽ gây phát sinh khiếu nại sau này

 Thống kê, kiểm kê đất đai

Công tác thống kê - kiểm kê đất đai là một công tác định kỳ của ngành Địa chính Kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần nhằm kiểm kê về số lượng diện tích đến từng loại đất, theo các nhóm đối tượng sử dụng và theo nhóm đối tượng quản lý trong từng đơn vị hành chính đến ngày 01/01/2010 Trong đó, cấp phường là đơn vị hành chính cơ bản để tiến hành việc kiểm kê Ngoài ra, việc kiểm kê đất đai năm 2010 còn nhằm thống kê tình hình đo đạc địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến 01/01/2010 và tình hình sử dụng đất của các tổ chức trong cả nước

Từ khi thành lập đến nay, quận 12 đã tiến hành 3 đợt tổng kiểm kê đất đai (năm

2000 và năm 2005 và năm 2010) Vì tài liệu để thực hiện kiểm kê ở 2 đợt đầu khác nhau (tài liệu bản đồ 02/CT-UB và nền bản đồ địa chính chính quy) nên diện tích của quận qua 2 kỳ cũng có sự chênh lệch (năm 2005 tổng diện tích tự nhiên là 5.274,5 ha, giảm 2,1074 ha so với năm 2000) Trong đợt 3 thì tài liệu kiểm kê đã ổn định nên diện tích của quận trong đợt 2 và đợt 3 không có chênh lệch nhiều (năm 2010 tổng diện tích

tự nhiên là 5.274,90 ha không thay đổi so với năm 2005, chỉ có sự thay đổi diện tích của các loại đất trong cơ cấu sử dụng đất: Diện tích đất phi nông nghiệp ngày càng tăng cụ thể là 3424,35 ha năm 2010 tăng 134,85 ha so với năm 2005, do dân số đông nên nhu cầu sử dụng đất ở ngày càng tăng Vì vậy, người dân đã chuyển mục đích sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sang đất ở làm cho diện tích đất nông nghiệp giảm dần thay vào đó thì diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên) Ngoài ra sự khác biệt về tiêu chí phân loại đất theo loại đất cũ (Thông tư 30/2004/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên

và Môi trường về quy định chi tiết lập, điều chỉnh, thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất) và loại đất mới theo (Thông tư 19/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định chi tiết lập, điều chỉnh, thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất) đã gây không ít khó khăn cho công tác kiểm kê đất đai năm 2010

Ngoài ra, công tác thống kê được phòng Tài nguyên và Môi trường tiến hành hàng năm, làm cơ sở cho việc xác định biến động đất đai hàng năm, xây dựng kế hoạch sử dụng đất theo đúng luật định nhằm phục tốt công tác quản lý nhà nước về đất

đai trên địa bàn của quận

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai

và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Ủy ban nhân dân quận tiến hành kiểm tra định kỳ vào tháng 10, 11 hàng năm và đôi khi tổ chức các đợt kiểm tra đột xuất việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và việc xử lý vi phạm hằng năm Công tác thanh tra giúp UBND quận 12 phát hiện những sai sót khách quan hoặc chủ quan trong công tác quản lý đất đai của cán bộ

Trang 31

Tài nguyên và Môi trường, quá trình sử dụng đất của người dân Gián tiếp làm trong sạch hóa, lành mạnh hóa đội ngũ cán bộ địa phương trong lĩnh vực quản lý đất đai

Trong thời gian qua, quận đã phối hợp cùng đoàn Thanh tra liên ngành của Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện kiểm tra việc sử dụng đất, tiến độ triển khai dự án của tổ chức, đơn vị được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn quận, thanh tra việc giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa cho các hộ dân có đất nằm trong khu vực quy hoạch Bên cạnh đó, cũng đã tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra và xử lý các trường hợp san lấp, lấn chiếm sông rạch của các hộ gia đình, cá nhân Thực hiện thanh tra thủ tục hành chính trong lĩnh vực nhà đất theo cơ chế một cửa, phát hiện nguyên nhân giải quyết hồ sơ hành chính cho dân chậm so với yêu cầu và đề xuất biện pháp chấn chỉnh

Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất

Để đảm bảo quyền lợi và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, công tác giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai trên địa bàn được quan tâm đặc biệt, chú ý công tác hòa giải tranh chấp, cũng như tham mưu cho cấp có thẩm quyền giải quyết Tuy nhiên vẫn còn tình trạng không đảm bảo đúng thời hạn giải quyết, số hồ sơ tồn đọng chuyển sang năm sau vẫn còn nhiều, cụ thể số đơn thư tồn đọng theo báo cáo về việc thực hiện Luật khiếu nại, tố cáo năm 2009 số đơn tồn là 52 đơn (tranh chấp đất đai 8 trường hợp, khiếu nại đất đai 3 trường hợp, 41 trường hợp), năm 2010 số đơn tồn là 90 đơn (tranh chấp đất đai 11 trường hợp, khiếu nại đất đai 5 trường hợp, đơn dân nguyện 64 trường hợp)

Công tác thu hồi đất để triển khai thực hiện dự án, tiến hành hiệp thương đền bù nhà cửa, đất đai, tái định cư cho các hộ dân trong khu vực giải tỏa là công tác có ảnh hưởng đến việc phát sinh nhiều khiếu nại, khiếu nại kéo dài trên địa bàn quận

Đây là công tác được Ủy ban nhân dân quận hết sức quan tâm đã chỉ đạo Thanh tra quận 12 và phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân các phường tập trung thực hiện

Bảng 5: Tình hình khiếu nại về đất đai trên địa bàn Quận 12

(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)

ST

T Phường 200 4 200 5 200 6 200 7 200 8 200 9 201 0 2011

Tổng lượng đơn

Trung bình/nă

Tổng đơn 34 34 40 46 53 69 73 58 407 50,8 7

Năm

Trang 32

Bảng 6: Quyết định lần đầu được giải quyết thành công

(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)

Công tác giải quyết khiếu nại ngày càng được chú trọng, quan tâm do khiếu nại

về đất đai là vấn đề nhạy cảm cần giải quyết đảm bảo quyền và lợi ích của người dân cũng như thể hiệntình hình quản lý của địa phương Tỷ lệ giải quyết thành công hồ sơ khiếu nại lần đầu ngày càng tăng, cụ thể năm gần đây nhất- 2011- tỷ lệ đạt 90,06%- tỷ lệ khá cao thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo cũng như kinh nghiệm giải quyết của cán bộ nhân viên

Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản

Hiện nay, Quận 12 cũng như một số quận Quận khác trên cả nước chưa thực sự bắt tay vào thực hiện nội dung này trong việc quản lý nhà nước về đất đai Đến cuối năm 2005, địa phương mới có định hướng về việc thực hiện nội dung này

Quản lý và giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Phòng Tài nguyên - Môi trường Quận 12 luôn phối hợp với Phòng Quản lý Đô thị và UBND các phường, cử cán bộ chuyên trách thực hiện quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm của người sử dụng đất

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai

Trong thời gian qua, Quận đã phối hợp cùng Đoàn Thanh tra liên ngành của Sở Tài nguyên & Môi trường thực hiện kiểm tra việc sử dụng đất, tiến độ triển khai dự án

Năm

Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu

Quyết định giải quyết được triển khai, thực hiện

Tỷ lệ (%)

Trang 33

của tổ chức, đơn vị được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn Quận, thanh tra

việc giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa cho các hộ dân có đất nằm trong khu vực

quy hoạch Bên cạnh đó, cũng đã tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra và xử lý các

trường hợp san lấp, lấn chiếm sông rạch của các hộ gia đình, cá nhân Thực hiện nhằm

thanh tra thủ tục hành chính lĩnh vực nhà đất theo cơ chế một cửa một dấu, phát hiện

nguyên nhân giải quyết hồ sơ hành chính cho dân chậm so với yêu cầu và đề xuất biện

pháp chấn chỉnh

Tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa phương

Bảng 7: Hoạt động chuyển nhượng QSDĐ quận 12 năm 2011

(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)

Hoạt động chuyển nhượng và công tác cấp GCNQSDĐ có mối liên hệ qua lại với

nhau Khi một hợp đồng chuyển nhượng thành công kéo theo việc người dân tiến hành

đăng ký cấp GCN (cấp đổi hoặc mới) Nếu hoạt động chuyển nhượng QSDĐ diễn ra

càng sôi động thì số hồ sơ xin cấp GCN cũng tăng theo

Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai

Thực hiện Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 181/CP của Chính phủ về thi

hành Luật Đất đai, Quận đã sớm thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực

thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường vào tháng 3/2005 Đây là cơ quan dịch vụ

Trang 34

công có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký sử dụng đất và biến động về sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính và giúp cơ quan Tài nguyên và Môi trường trong việc thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng đất

Qúa trình ứng dụng công nghệ thông tin- áp dụng chương trình Vilis-trong xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu đất đai tại UBND Quận12

Quận 12 là một quận có tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ, dữ liệu đất đai có nhiều biến động, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý sử dụng đất, quản lý xây dựng Chính sách Pháp luật đất đai luôn có sự thay đổi và điều chỉnh mới, trong khi điều kiện hạ tầng giao thông, quy hoạch đô thị của quận phát triển chưa đồng bộ là một trong những nguyên nhân chính khiến cho công tác quản lý nhà nước về đất đai gặp nhiều khó khăn Đứng trước tình hình đó, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải xây dựng được hệ thống đất đai hoàn chỉnh, đồng bộ; tạo điều kiện cho việc quản lý đất đai được dễ dàng và thuận lợi

Trước đây, việc đăng ký và quản lý biến động đất đai không theo một phần mềm nhất định, áp dụng nhiều chương trình khác nhau để quản lý sử dụng: GM-Landreg, Word, Excel, Access Hệ thống lưu trữ dữ liệu không thống nhất, thiếu sự tập trung, không đảm bảo các yêu cầu về an toàn và bảo mật dữ liệu

Nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý đất đai trên địa bàn đảm bảo tính thống nhất, hiện đại, hiệu quả và phục vụ người dân được tốt hơn, UBND quận 12 đã đưa chương trình ViLIS vào ứng dụng tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận

Chương trình ViLIS (tại khu vực thành phố HCM gọi là chương trình HCM Land’s MDP) là phần mềm hệ thống thông tin đất đai đa mục tiêu, dùng để xây dựng

và quản lý cơ sở dữ liệu đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý biến động trên nền tảng dữ liệu số đồng bộ và thống nhất

 Trước khi áp dụng ViLIS:

Việc quản lý dữ liệu đất đai còn thủ công, quy trình thực hiện có nhiều bất cập,

dữ liệu chưa đồng bộ, dẫn đến việc quản lý chưa hiệu quả:

- Nhập và lưu trữ biến động liên quan ranh giới thửa đất, thông tin về chủ sử dụng bằng phần mềm AutoCAD, MicroStations

- In GCN và quản lý dữ liệu cấp GCN bằng các phần mềm AutoCAD, Word, Excel, Access Qui trình thực hiện qua nhiều bước, mất nhiều thời gian, gây khó khăn trong công tác quản lý do dữ liệu không đồng bộ, thiếu nhất quán

- Quản lý và lưu trữ dữ liệu biến động đất đai, dữ liệu đăng ký giao dịch đảm bảo bằng phần mềm Word, Excel

 Quá trình áp dụng ViLIS:

Căn cứ Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCN), Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009, Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về việc cấp GCN, UBND quận 12 đã tiến hành áp dụng chương trình ViLIS trong việc giải quyết hồ sơ hành chính liên quan lĩnh vực đất đai tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận

Chương trình ViLIS bao gồm hệ thống máy chủ và các máy con có kết nối mạng nội bộ LAN, trong đó các máy con tương tác và truy xuất đến dữ liệu có trên máy chủ:

+ Máy chủ: đóng vai trò quản lý, lưu trữ dữ liệu hệ thống (dữ liệu thuộc tính và

dữ liệu bản đồ); được cài đặt các chương trình: ViLIS Server, SQL Server 2005, ArcGIS, ArcSDE

Trang 35

+ Các máy con: dành cho người sử dụng để thực hiện các thao tác chương trình ViLIS, được cài đặt các phần mềm: ViLIS Client (HCM Land’s MDP), Microsoft NET framework, AutoCAD

Khi áp dụng chương trình ViLIS, các mục tiêu được đề ra như sau:

- Xây dựng hệ thống quy trình nội bộ để quản lý tiến độ cho từng loại hồ sơ

- Giải quyết hồ sơ giao dịch đảm bảo, hồ sơ đăng bộ cập nhật (không cấp mới GCN) thực hiện trên chương trình ViLIS

- Hồ sơ cấp mới GCN (cấp GCN ban đầu, tách hợp thửa, đăng bộ cấp mới GCN) thực hiện bằng chức năng kê khai đăng ký trên chương trình ViLIS: nhanh chóng, thuận lợi, dễ thao tác, người sử dụng chỉ phải nhập thông tin một lần không phải nhập lại nhiều lần Các nội dung về chủ sử dụng đất, thửa đất, diện tích, mục đích sử dụng,

sơ đồ thửa, nhà ở, công trình, được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của máy chủ, khi cần

sử dụng sẽ truy xuất dễ dàng

- Thực hiện việc ngăn chặn, xóa ngăn chặn bằng chức năng quản lý ngăn chặn trên chương trình ViLIS: chương trình sẽ tự động phát hiện và thông báo việc ngăn chặn nếu thửa đất có liên quan hiện đang bị ngăn chặn của các cơ quan chức năng như Tòa án, Thi hành án, Cơ quan điều tra

- Cập nhật và lưu trữ thông tin biến động của thửa đất trên chương trình ViLIS

- Xây dựng được quy trình nội bộ đối với các dạng hồ sơ (08 dạng), cụ thể: Quy trình cấp mới GCN hồ sơ nộp từ UBND phường, Đăng bộ cấp mới GCN, Cấp đổi cấp lại GCN, Hoàn công cấp mới GCN, Tách thửa hợp thửa, chuyển mục đích sử dụng đất, Chỉnh lý thông tin sau khi cấp GCN và quy trình cấp GCN hồ sơ nộp tại UBND quận

- Trong công tác cấp GCN (cấp mới, tách hợp thửa, cấp đổi, đăng bộ cấp mới GCN): tính từ ngày 01/01/2011 đến ngày 30/09/2011 đã cấp được 7.976 GCN (cả đất trống và nhà)

Trung bình 1 tháng, UBND quận 12 đã cấp được khoảng 886 GCN khi áp dụng bằng chương trình ViLIS, so với trước đây khoảng 530 GCN khi chưa áp dụng chương trình Qua đó, nhận thấy tiến độ cấp GCN được tăng lên 25,2 %

- Trong công tác đăng ký giao dịch đảm bảo: tính từ ngày 01/01/2011 đến ngày 30/09/2011 đã giải quyết được 7852 hồ sơ, tỉ lệ hồ sơ đúng hẹn đạt: 97,6 %

- Trong công tác đăng bộ cập nhật (không cấp mới GCN): tính từ ngày 01/01/2011 đến ngày 30/09/2011 đã giải quyết được 1193 hồ sơ, tỉ lệ hồ sơ đúng hẹn đạt: 78,4 %

Như vậy, qua quá trình thực hiện chương trình ViLIS, dữ liệu đất đai được quản

lý đồng bộ, thống nhất, dễ dàng quản lý, lấy thông tin nhanh chóng, chính xác, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ; từ đó tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền bạc cho Nhà nước và nhân dân

- Bên cạnh các kết quả đạt được, còn tồn tại một số mặt hạn chế như sau:

+ Chưa cập nhật ranh giới của các thửa đất biến động khi cấp mới GCN lên dữ liệu bản đồ của máy chủ, dẫn đến chưa liên kết được dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính của thửa đất

Trang 36

+ Chưa cập nhật được ranh quy hoạch xây dựng, ranh quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, ranh thu hồi ngăn chặn làm căn cứ pháp lý trong quá trình giải quyết hồ sơ

+ Chưa áp dụng Hệ thống hồ sơ quét (scan chụp) trong chương trình ViLIS để lưu trữ dữ liệu (dạng số) đối với các loại GCN đã cấp trước đây (GCN theo Luật Đất đai 1993, Giấy hồng 60, Giấy hồng 90, )

- Phương hướng phát triển trong thời gian tới:

Khắc phục, tháo gỡ các mặt hạn chế còn tồn tại, từng bước xây dựng và hoàn thiện dữ liệu quản lý đất đai; tiến tới việc đưa quy trình tiến độ giải quyết hồ sơ lên mạng Internet để người dân dễ cập nhật, theo dõi

Việc áp dụng chương trình ViLIS để giải quyết hồ sơ hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai tại UBND quận 12 đã đạt được những kết quả khả quan, góp phần rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho Nhà nước và nhân dân Đây là ưu điểm lớn nhất chương trình ViLIS mang lại và nó là cơ sở để tiến tới thực hiện theo hệ thống ISO và cải cách thủ tục hành chính liên quan lĩnh vực đất đai tại UBND quận 12 nói riêng và cả nước nói chung

 Hiện trạng xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai:

Bước đầu xây dựng được hệ thống quản lý dữ liệu đất đai đáp ứng đúng yêu cầu của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Trong đó, công tác xây dựng dữ liệu đất đai bao gồm:

- Xây dựng được hệ thống quản lý đất đai hoàn chỉnh, đồng bộ và thống nhất; vận hành và khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ cấp GCN và các giao dịch đất đai khác

- Hoàn thành công tác quét (scan chụp) hồ sơ gốc của 11 phường và đang cập nhật, bổ sung thông tin liên quan các GCN đã cấp vào dữ liệu của hệ thống

- Áp dụng phần mềm VILIS trong công tác giải quyết hồ sơ nhà đất: Xây dựng được các quy trình cấp giấy mới GCN, quy trình quản lý biến động đất đai và quy trình xử lý các giao dịch đất đai, theo dõi quá trình luân chuyển hồ sơ, thống kê báo cáo kết quả xử lý hồ sơ

- Từng bước hoàn thiện chương trình xây dựng cơ sở dữ liệu có các chức năng phù hợp với công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, có độ tin cậy và ổn định

- Đào tạo được hệ thống nhân lực có thể chủ động vận hành và sử dụng chương trình

- Hỗ trợ trực tiếp và hiện đại hóa các tác nghiệp trong công tác quản lý đất đai

 Hiện trạng về lưu trữ hồ sơ và chỉnh lý hồ sơ lưu trữ:

- Hồ sơ liên quan lĩnh vực đất đai hiện nay được lưu trữ tại 3 kho:

+ Kho A: lưu trữ hồ sơ cấp GCN theo Luật Đất đai năm 1993 do Ủy ban nhân dân Quận Hóc Môn bàn giao cho quận 12 (hồ sơ giấy + file excel khoảng 15.000 hồ sơ), GCN cấp theo Nghị định 60 (29.079 hồ sơ), Công văn, Sổ bộ địa chính

+ Kho B: lưu trữ hồ sơ GCN cấp theo Nghị định 90, Nghị định 181 (24.023 hồ sơ), Nghị định 88 (26.400 hồ sơ), Sổ theo dõi biến động đất đai từ năm 2005 đến năm

2009

+ Kho C: lưu trữ hồ sơ liên quan lĩnh vực Pháp chế, môi trường, hồ sơ đăng ký

Kê khai nhà đất năm 1999

- Tuy nhiên, công tác lưu trữ hồ sơ còn gặp nhiều khó khăn do thiếu thốn về: nhân sự, trang thiết bị, kinh phí… Hiện nay kho lưu trữ đã hết không gian, Ủy ban

Trang 37

nhân dân quận chưa có kinh phí để xây dựng thêm kho lưu trữ mới nhằm bố trí, sắp xếp hồ sơ cho khoa học, tránh tình trạng mất mát, thất lạc hồ sơ

c) Đánh giá chung:

Thông qua phân tích đánh giá tình hình quản lý đất đai trong thời gian qua đã cho thấy công tác quản lý đất đai trên địa bàn Quận 12 có những thuận lợi và khó khăn sau:

 Lợi thế

- Hệ thống bản đồ địa chính số được phủ trùm toàn Quận tạo thuận lợi cho công tác quản lý

- Đội ngũ cán bộ quản lý đa phần là người dân địa phương, nắm rõ địa bàn, trình

độ chuyên môn cao và tâm huyết

- Quy hoạch xây dựng phủ trùm toàn quận, là cơ sở quan trọng trong công tác quản lý

- Việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ vào công tác quản lý đất đai trên địa bàn quận đã góp phần hoàn thiện theo hướng hiện đại, giúp quản lý đồng

bộ, giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác

 Hạn chế

- Diện tích tự nhiên của Quận khá lớn, thành phần dân cư phức tạp

- Mang các đặc điểm của một quận mới phát triển: tốc độ đô thị hóa cao, số vụ tranh chấp khiếu nại lớn… gây rất nhiều khó khăn trong quản lý

- Thị trường bất động sản, đặc biệt là thị trường quyền sử dụng đất diễn ra sôi động, tuy nhiên phần lớn các giao dịch phi pháp (thông qua các hợp đồng viết tay) đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý đất đai trên địa bàn Quận

- Phương tiện, trang thiết bị, kỹ thuật hỗ trợ tác nghiệp còn thiếu

II.2 Tình hình sử dụng đất của quận 12

II.2.1 Tình hình sử dụng đất theo mục đích

Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2011 toàn bộ diện tích đất tự nhiên của quận

là 5.274,90 ha chiếm 2,5% diện tích tự nhiên của thành phố Hồ Chí Minh, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người là 177,27m2/người Toàn bộ diện tích đất tự nhiên của quận đã được đưa vào sử dụng theo cơ cấu như sau:

Biểu đồ 2: Cơ cấu sử dụng đất năm 2011

33.56%

66.44%

0%

ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP ĐẤT CHƯA SỬ DỤNG

Trang 38

Hiện nay quỹ đất tự nhiên của quận đã được đưa vào sử dụng triệt để và không

1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 1.733,5293 32,86

1.2 Đất mặt nước nuôi trồng thủy sản NTS 36,6458 0,69

2 Nhóm đất phi nông nghiệp PNN 3.504,7294 66,44

2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 23,4875 0,45

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 33,6010 0,64

2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên

2.6 Đất phi nông nghiệp khác PNK 16,6087 0,31

(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường quận 12, 2011)

Qua bảng trên cho thấy diện tích đất nông nghiệp chiếm diện tích là 1.770,1751

ha, chiếm 33,56% diện tích đất tự nhiên của quận So với các quận trong thành phố thì

quận 12 là quận có diện tích nông nghiệp tương đối lớn cụ thể như:

 Đất sản xuất nông nghiệp: 1.733,5293 ha, chiếm 32,86% diện tích đất tự

nhiên

Đất nuôi trồng thủy sản có diện tích là 36,6458 ha, chiếm 0,69% diện tích tự

nhiên

Chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu sử dụng đất của quận là nhóm đất phi nông nghiệp

với 3.504,7294 ha, chiếm 66,44% diện tích tự nhiên Trong đó:

 Đất ở là 1.663,78 ha chiếm 31,54% diện tích tự nhiên

 Đất chuyên dùng là 1.335,9785 ha, chiếm 25,33 % diện tích đất tự nhiên So

với tốc độ phát triển, tỷ lệ gia tăng dân số của quận và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội

thì tỷ lệ này chưa đáp ứng được nhu cầu

 Diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên dùng khá lớn với 358,31 ha,

chiếm 6,79% diện tích tự nhiên

II.2.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp

Quận 12 có diện tích đất nông nghiệp là 1.850,55 ha, chiếm 35,08% diện tích

đất tự nhiên (tập trung nhiều nhất ở các phường như Thạnh Xuân (550,74 ha), An Phú

Ngày đăng: 29/05/2018, 17:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w