Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những khâu quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm cơ sở để Nhà nước quản lý đất đai có hiệu quả cũ
Trang 1BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ BẤT ĐỘNG SẢN
NGUYỄN THỊ HẠNH
CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN 12- TP HCM TỪ 2007 ĐẾN 3/2012
Giáo viên hướng dẫn: TS ĐÀO THỊ GỌN
(Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh)
Ký tên
TS ĐÀO THỊ GỌN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời cảm ơn đầu tiên con xin gửi tới cha mẹ, cảm ơn cha mẹ đã sinh con ra trong cuộc đời này và dành cho con những điều tốt đẹp nhất Em cảm ơn hai chị
đã luôn bên cạnh và động viên, giúp đỡ em
Em xin chân thành cảm ơn và biết ơn sâu sắc công lao của thầy cô đã dạy
dỗ cho em từ những bước chập chững đầu tiên đến trường và chắp cho em đôi cánh bước vào đời Cảm ơn các thầy cô trong Khoa Quản lý đất đai & BĐS trường Đại học Nông Lâm TP HCM đã truyền đạt cho em những tri thức chuyên ngành và những bài học cuộc sống quý báu làm hành trang giúp em vững vàng hơn khi ra trường làm việc
Để hoàn thành luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn tới cô Đào Thị Gọn -
giảng viên hướng dẫn em, cảm ơn cô đã rất nhiệt tình giúp đỡ và chỉ dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành Cảm ơn các cô chú, anh chị trong Văn Phòng đăng ký QSDĐ Quận 12 đã tạo điều kiện cho tôi được thực tập tại cơ quan và giúp đỡ tôi trong quá trình tiếp cận thực tế hoàn thành tốt nhất báo cáo tốt nghiệp
Xin cảm ơn bạn bè trong và ngoài lớp đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường
Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài báo cáo còn nhiều thiếu sót khuyết điểm, kính mong quý thầy cô cùng các bạn thông cảm và góp ý
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 4TÓM TẮT
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hạnh, Khoa Quản lý Đất đai & Bất động sản,
Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Đề tài: “Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn
Quận 12- TP HCM từ 2007 đến 3/2012”
Giáo viên hướng dẫn: TS Đào Thị Gọn, Khoa Quản lý Đất đai & Bất động sản
Trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những khâu quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm cơ sở để Nhà nước quản lý đất đai có hiệu quả cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của người
sử dụng đất
Quận 12 là một trong những Quận mới được thành lập trên cơ sở chủ trương
đô thị hóa các quận ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, do vậy công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần được khắc phụ như sức ép về sử dụng đất đai của người dân ngày càng cao, sự chồng chéo của các Văn bản luật có liên quan đến cấp giấy, thiếu đội ngũ chuyên môn trong quản lý Nhà nước về đất đai đã ảnh hưởng trực tiếp công tác thẩm tra hồ sơ, cập nhật biến động của cán bộ quản lý về đất đai gặp nhiều khó khăn, tiến độ cấp giấy bị ảnh hưởng,
Từ thực tế đó, đề tài tài thực hiện nhằm mục đích hệ thống, đánh giá lại toàn bộ quá trình đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn Quận 12- TP HCM từ 2007 đến 3/2012 Từ đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện công tác đăng
ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn Quận, đưa công tác cấp giấy trên địa bàn Quận đạt hiệu quả cao trong thời gian tới
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên, tình hình quản lý sử dụng đất trên địa bàn song song với việc đánh giá công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2007 đến tháng 3/2012 Bên cạnh đó là kết quả công tác đăng ký cấp GCN 03 tháng đầu năm 2012 và những vấn đề rút ra từ công tác đăng ký cấp GCN
Với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp chuyên gia, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, đề tài đã đạt được một số kết quả như sau: Bước đầu đã đánh giá được tình hình công tác đăng
ký cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất trên địa bàn quận, rút ra những ưu điểm và bất cập từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cấp GCN trong thời gian tới Qua nghiên cứu, kết quả công tác đăng ký cấp GCN toàn quận cho thấy: Diện tích đất nông nghiệp đã được cấp GCN đạt trên 97%, tổng số GCN đã cấp trên địa bàn
quận từ ngày 01 tháng 4 năm 1997 (ngày thành lập quận) đến nay là 98.376 GCN
Trong đó số lượng GCN cấp theo Nghị định số 88/2009/NĐ-CP (tính từ ngày 10 tháng
12 năm 2009 đến hết tháng 03/2012) là 26.522 GCN, hồ sơ có văn bản trả do không
đủ điều kiện cấp GCN và hồ sơ có đơn xin rút là: 7.388 hồ sơ, tỷ lệ giải quyết hồ sơ đạt: 77,69%
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu. 2
2.1.Mục đích nghiên cứu 2
2.2.Phạm vi nghiên cứu. 2
PHẦN I: TỔNG QUAN 3
I.1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu 3
I.1.1 Cơ sở khoa học 3
I.1.2. Cơ sở pháp lý 4
I.1.3. Cơ sở thực tiễn. 5
I.2. Khái quát địa bàn nghiên cứu 9
I.2.1.2.Địa hình ‐ địa chất. 10
I.2.1.3. Khí hậu 10
I.2.1.4. Thủy văn 11
I.2.2. Các nguồn tài nguyên 11
I.2.2.1. Tài nguyên đất 11
I.2.2.2. Tài nguyên nước 11
I.2.3. Kinh tế xã hội 13
I.3. Tình hình phát triển kinh tế xã hội 13
I.3.2. Đánh giá chung tình hình phát triển kinh tế‐ xã hội của Quận 15
I.4. Nội dung, phương pháp nghiên cứu. 15
I.4.1. Nội dung nghiên cứu: 15
I.4.2. Phương pháp nghiên cứu 15
I.4.3. Trình tự thực hiện đề tài 16
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17
II.1. Tình hình quản lý nhà nước về đất đai tại Quận 12 17
II.1.1.Các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai 17
II.1.1.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện 17
II.1.1.2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính 17
II.2. Tình hình sử dụng đất của quận 12. 28
II.2.1. Tình hình sử dụng đất theo mục đích 28
II.2.1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp 29
II.2.1.2. Tình hình sử dụng đất phi nông nghiệp 31
II.2.2. Tình hình sử dụng đất theo đối tượng sử dụng, đối tượng quản lý đất đai 33
II.2.3. Tình hình biến động đất đai qua các giai đoạn 33
II.2.4. Nhận xét chung về tình hình sử dụng đất và biến động đất đai. 36
II.3. Đánh giá công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ trên địa bàn Quận 12qua các giai đoạn 37 II.3.1. Sơ lược tình hình đăng ký cấp GCNQSDĐ trên địa bàn quận trước ngày 01.04.1997 (Thời điểm tách quận): 37
II.3.2. Tình hình cấp GCNQSDĐ từ khi thành lập quận (1997) đến trước thời điểm thành lập VPĐKQSDĐ Quận 12 (trước 2005) 38
III.3.3 Tình hình cấp GCNQSDĐ từ 2005‐ 2006 44
Trang 6II.5.1. Thuận lợi. 62
II.5.2. Khó khăn. 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 68
Trang 7DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1: Phân loại và thống kê diện tích các đơn vị đất trên địa bàn quận 12 11
Bảng 2: Diện tích đất tự nhiên các đơn vị hành chính Quận 12 18
Bảng 3: Hiện trạng lưu trữ hồ sơ địa giới hành chính tại Quận 18
Bảng 4: Bản đồ địa chính các phường phân theo tỷ lệ đo vẽ 19
Bảng 5: Tình hình khiếu nại về đất đai trên địa bàn Quận 12 22
Bảng 6: Quyết định lần đầu được giải quyết thành công 23
Bảng 7: Hoạt động chuyển nhượng QSDĐ quận 12 năm 2011. 24
Bảng 8: Hiện trạng sử dụng đất năm 2011 29
Bảng 9: Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp 30
Bảng 10: Cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp 31
Bảng 11: Cơ cấu sử dụng đất theo đối tượng năm 2011 33
Bảng 12:Biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng(Năm 2011 so với năm 2010) 35
Bảng 13:Kết quả cấp GCNQSDĐ từ 01.04.1997 về trước 37
Bảng 14: Tình hình cấp GCN từ 2005‐ 2006 46
Bảng 15 : Tình hình cấp GCNQSDĐ năm 2007 50
Bảng 16 : Tình hình cấp GCNQSDĐ năm 2008 51
Bảng 17 :Tình hình đăng ký cấp GCN năm 2009 57
Bảng 18: Tình hình đăng ký cấp GCN năm 2010 58
Bảng 19 : Tình hình đăng ký cấp GCN năm 2011 59
Bảng 20: Bảng tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ trên địa bàn Quận 12 60
Bảng 21: Tình hình cấp GCNQSDĐ 3 tháng đầu năm 2012 61
Trang 8DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ
Sơ Đồ 1: Quy trình cấp giấy theo QĐ 90/2004/QĐ-UB 39
Sơ Đồ 2: Quy trình cấp GCNQSDĐ theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP 42
Sơ Đồ 3: Quy trình cấp GCNQSDĐ ở theo Nghị định 90/CP 45
Sơ đồ 4: Quy trình cấp GCN nội bộ theo Nghị định 88/2009/NĐ- CP 55
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Đóng góp của các ngành vào GDP toàn Quận 13
Biểu đồ 2: Cơ cấu sử dụng đất năm 2011. 28
Biểu đồ3 : Số lượng GCN được cấp từ 1998‐ 2004 44
Biểu đồ 4: Tình hình cấp GCN từ 2007‐ 2011 60
Biểu đồ 5: Tỷ lệ giải quyết hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ năm 2011 của Quận 12 và một số quận 61
Trang 911 Bộ Tài nguyên và Môi trường BTNMT
12 Phòng Tài nguyên và Môi trường PTNMT
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Mẹ Thiên Nhiên” đã ưu ái ban tặng cho loài người nhiều tài sản vô giá, trong đó phải kể đến là đất đai.Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất Mỗi quốc gia, mỗi khu vực có một quỹ đất đai nhất định được giới hạn bởi diện tích, ranh giới,
vị trí Việc sử dụng và quản lý quỹ đất đai này được thực hiện theo quy định của nhà nước, tuân thủ luật đất đai và những văn bản pháp lý có liên quan
Ngày nay, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ cùng với tốc độ gia tăng về dân số làm cho nhu cầu sử dụng đất đặc biệt là đất ở ngày càng lớn trong khi quỹ đất tự nhiên lại có hạn vấn đề quản lý Nhà nước về đất đai là vô cùng cần thiết Để đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp, Luật đất đai 2003 Điều 6 đã quy định cụ thể 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai, trong đó có nội dung “Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất” Trong nội dung trên thì công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi chung là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất : “GCNQSDĐ”) làkhâu cuối cùng quan trọng không thể thiếu trong hệ thống nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Thông qua công tác cấp GCNQSDĐ , Nhà nước quản lý thống nhất nguồn tài nguyên đất trên phạm vi toàn quốc, là cơ sở phục vụ giải quyết mối quan hệ về mặt tự nhiên, kinh tế- xã hội đồng thời là cơ sở để Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt chẽ đất đai theo pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất
Cùng với xu thế chung của cả nước, thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế văn hóa sôi động bậc nhất cả nước, thu hút nhiều vốn đầu tư trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi thu hút dân từ các tỉnh khác, dẫn đến nhu cầu về nhà
ở, đất ở ngày càng tăng Nhằm giải quyết các vấn đề về nhà ở, đất ở, và các nhu cầu sử dụng đất khác cũng như giảm bớt gánh nặng cho khu vực trung tâm, nhiều năm gần đây TP Hồ Chí Minh đã có những chủ trương mở rộng vùng đô thị ra các Quận Quận ngoại thành Quận 12 là một trong những Quận ra đời theo chủ trương đó Theo Quy hoạch chung của thành phố, Quận 12 là “Trung tâm dịch vụ- thương mại- công nghiệp- văn hóa- Thể dục thể thao”
Trước mắt cùng với quá trình đô thị hóa, Quận 12 sẽ là khu vực thu hút đầu tư của nhiều ngành nghề, điều này dẫn tới một điều tất yếu: đất ở khu vực này sẽ tăng rất nhiều về giá trị, tình trạng mua bán, sang nhượng nhà đất diễn ra sôi động, trong đó có nhiều hoạt động trái phép gây không ít khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về đất đai
Nhiều năm trước đây, đặc biệt là khoảng thời gian trước Luật đất đai 2003 ra đời, tình trạng xây dựng tràn lan không theo quy hoạch chung, các chủ sử dụng tự ý chia cắt, sang nhượng theo hình thức tự thỏa thuận hoặc bằng giấy tay màkhông thông qua
cơ quan quản lý Điều này dẫn đến hàng loạt vụ tranh chấp, khiếu nại diễn ra phổ biến
và hết sức phức tạp không chỉ trong quá khứ mà còn ảnh hưởng đến cả tương lai, gâykhó khăn cho công tác đăng ký cấpGCNQSDĐ
Việc nghiên cứu đánh giá quá trình cấp GCNQSDĐ trên địa Quận nhằm rút ra những vấn đề mang tính chất bao quát, từ đó có những biện pháp giải quyết thích hợp,
Trang 11đúc rút được những kinh nghiệm tạo tiền đề vững chắc cho công tác quản lý nhà nước
về đất đai
Từ những vấn đề nêu trên thực tiễn cùng những trăn trở của bản thân, được sự phân công của Bộ môn và được chấp thuận thực tập tại địa bàn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn quận 12- TPHCM từ năm 2007 đến 3/2012”
Mục tiêu của đề tài: Tiếp cận thực tiễn công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ, đánh giá những điều làm được và chưa làm được của địa phương; đề xuất ý kiến góp phần hoàn thiện công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
2.1.Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ trên địa bàn Quận 12, rút ra những ưu điểm và những vấn đề còn bất cập; từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ tại địa phương
2.2.Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên địa bàn Quận 12 TPHCM từ năm 2007 đến 3/2012
Trang 12PHẦN I: TỔNG QUAN
I.1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
I.1.1 Cơ sở khoa học
a Khái quát về quyền sử dụng đất
Nói đến “Quyền sử dụng’’ nghĩa là nói đến quyền khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ một đối tượng tài sản Đối với đất đai là một loại hàng hóa đặt biệt, một tư liệu sản xuất đặt biệt bởi đặt tính của nó đó là (giới hạn về không gian, diện tích nhưng vô hạn về thời gian sử dụng và khả năng sinh lợi, nếu được quản lý và khai thác tốt) Quyền sử dụng đất đai nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội, phong tục tập quán, truyền thống pháp luật của mỗi quốc gia do đó có quy định khác nhau Luật Đất
đai Việt Nam năm 2003 qui định “Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu’’ và “Nhà nước thực hiện định đoạt đối với đất đai’’ (Điều 5), đồng thời khoản 4 Điều 5 qui định “ Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê quyền, công nhận quyền
sử dụng đất cho người sử dụng đất ổn định” khi trao quyền sử dụng đất
Tóm lại, Quyền sử dụng đất đai được hiểu lànhững quyền năng sử dụng đất cụ thể được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện đối với các chủ thể sử dụng đất trong quá trình khai thác và sử dụng
b Đăng ký đất đai
Đăng ký đất đai ở Việt Nam, là thủ tục đăng ký bắt buộc Điều 46 Luật Đất đai
2003 quy định “Việc đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện tại…trong các trường hợp người đang sử dụng đất chưa được cấp GCNQSDĐ ” Theo đó, đăng ký đất
được thực hiện trong trường hợp đang sử dụng đất chưa đăng ký, mới được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng chưa cấp GCNQSDĐ, được Nhà nước cho phép thay đổi mục đích sử dụng đất
Đăng ký đất (theo nghĩa rộng) thực chất là quá trình thực hiện công việc của cơ quan hành chính Nhà nước, nhằm thiết lập hồ sơ địa chính cho toàn bộ đất đai theo đúng pháp luật Tuy nhiên, đăng ký đất không chỉ dừng lại hoàn chỉnh hồ sơ địa chính
và cấp GCNQSDĐ ban đầu Quá trình phát triển của đời sống, kinh tế, xã hội tất yếu dẫn đến sự vận động đất đai ngày càng đa dạng dưới nhiều hình thức như: giao đất, cho thuê đất, hoặc thực hiện các quyền… vì vậy đăng ký đất đai phải được thực hiện thường xuyên, liên tục để kịp thời phản ánh hiện trạng pháp lý đất, đáp ứng mục tiêu đăng ký đất đã định Tùy theo giai đoạn thực hiện và cơ sở pháp lý thực hiện, đăng ký đất được chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn một: đăng ký ban đầu được tổ chức đăng ký lần đầu tiên thiết lập sổ
bộ theo chế độ quản lý mới, và cấp GCNQSDĐ cho tất cả chủ sử dụng đất khi đủ điều kiện
Giai đoạn hai:đăng ký biến động đất đai thực hiện ở những địa bàn đã hoàn
thành việc đăng ký ban đầu cho những trường hợp có nhu cầu thay đổi nội dung của
hồ sơ địa chính đã thiết lập
Tóm lại, đăng ký đất đai là thủ tục hành chính thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ
và cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng đất hợp pháp nhằm thiết lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà nước quản
Trang 13lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng
c Hồ sơ địa chính
Hồ sơ địa chính là tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách chứa đựng những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên kinh tế – xã hội, pháp lý của đất đai được thiết lập trong quá trình đo đạc bản đồ địa chính, đăng ký ban đầu và đăng ký biến động đất đai cấp GCNQSDĐ
Tóm lại, Việc đăng ký, cấp GCNQSDĐ là một lĩnh vực tổng hợp đòi hỏi giải quyết bốn yêu cầu mang tính pháp lý, tính kỹ thuật, tính kinh tế và tính xã hội Và GCNQSDĐ là sản phẩm cuối cùng trong thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền
sử dụng đất, cấp GCNQSDĐ là nguồn cung cấp thông tin cơ bản quản lý nắm bắt tình hình biến động đất đai được chính xác
Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 ban hành về quy định về GCNQSDĐ
Quyết định số 25/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc ban hành kế hoạch về triển khai thi hành Luật Đất đai
Nghị định số 84/2007/NĐ- CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Nghị định 88/2009/NĐ- CP ngày 19/10/2009 về cấp GCNQSDĐ, QSHNỞ & tài sản khác gắn liền với đất;
Nghị định 71/2010/NĐ- CP ngày 23/6/2010của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở;
Trang 14 Thông tư 16/2011/TT- BTNMT ngày 20/5/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai;
Thông tư số 17/2009/TT- BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
về GCNQSDĐ, QSHNỞ & tài sản khác gắn liền với đất;
Thông tư 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về GCNQSDĐ, QSHNỞ & tài sản khác gắn liền với đất;
Quyết định số 3492/QĐ- UBND ngày 21/7/2009 của UBND thành phố về việc công
bố bộ thủ tục hành chính chung áp dụng tại Uỷ ban nhân dân quận, Quận trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;
Quyết định số 4949/QĐ- UBND ngày 5/11/20010 của UBND thành phố Hồ Chí Minh
về việc công bố cập nhật, sửa đổi, bổ sung và thay thế thủ tục hành chính trong bộ thủ tục hành chính chung áp dụng tại Uỷ ban nhân dân quận, Quận trên địa bàn thành phố
và các quy định hiện hành, thực hiện cái cách hành chính bảo đảm đơn giản, nhanh, thuận tiện, công khai, minh bạch;
I.1.3 Cơ sở thực tiễn
Sơ lược về công tác đăng ký đất đai và cấp Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất tại Việt Nam qua các thời kỳ
1) Giai đoạn trước năm 1945
Ở Việt Nam, công tác đạc điền và quản lý điền địa có lịch sử từ thế kỷ thứ VI trở lại đây Tuy nhiên, bộ hồ sơ đất đai lâu đời nhất mà ngày nay còn lưu giữ lại được tại một số nơi ở Bắc và Trung bộ là hệ thống sổ địa bạ thời Gia Long (năm 1806), ở Nam
bộ chỉ có hệ thống sổ địa bộ thời Minh Mạng
+ Sổ địa bạ thời Gia Long: được lập cho từng xã, phân biệt rõ đất công điền và
đất tư điền của mỗi xã; trong đó ghi rõ đất của ai, diện tích, tứ cận, đẳng hạng để tính thuế Sổ địa bạ được lập thành ba bản: bản giáp, bản bính và bản đinh Hệ thống sổ này không có bản đồ kèm theo và không dùng một đơn vị đo lường thống nhất ở các địa phương nên việc sử dụng sổ rất khó khăn và không được tu chỉnh theo định kỳ
+ Sổ địa bộ thời Minh Mạng: cũng được lập tới từng làng, xã nhưng có nhiều tiến
bộ so với sổ địa bạ thời Gia Long như: sổ được lập trên cơ sở đạc điền, có bản mô tả các thửa ruộng kèm theo sổ bộ Sổ địa bộ cũng được lập thành ba bản như sổ địa bạ
Dưới thời Pháp thuộc, do chính sách cai trị của bọn thực dân, trên lãnh thổ nước
ta đã tồn tại nhiều chế độ điền địa khác nhau:
+ Chế độ quản lý địa bộ tại Nam kỳ;
+ Chế độ bảo tồn điền trạch, sau đổi thành quản thủ địa chánh tại Trung kỳ;
+ Chế độ bảo thủ để áp (còn gọi là để đương) áp dụng đối với bất động sản của người Pháp và kiều dân kết ước theo luật lệ Pháp quốc;
+ Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 29/3/1939 áp dụng tại Bắc kỳ;
+ Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 21/7/1925 áp dụng tại Nam kỳ và các nhượng địa Pháp quốc ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng
2) Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1979
Trong giai đoạn này, Nhà nước vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào làm cơ sở nên công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ vẫn chưa được triển khai Hoạt động chủ yếu của ngành trong giai đoạn này là tổ chức các cuộc điều tra nhanh về đất để giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ diện tích để phục vụ yêu cầu xây
Trang 15dựng kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất
Hệ thống tài liệu đất đai trong giai đoạn này chủ yếu gồm hai loại: bản đồ giải thửa, sổ mục kê kiêm thống kê ruộng đất Trong đó thông tin về người sử dụng đất trên
sổ sách chỉ phản ánh theo hiện trạng, không thể tra cứu đến cơ sở pháp lý và lịch sử sử dụng đất
3) Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1988
Từ sau năm 1980, công tác đăng ký đất đai mới bắt đầu được Nhà nước quan tâm thực hiện
Ngày 01/7/1980, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 201-CP Về việc thống nhất quản lý đất đai và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước
Ngày 10/11/1980, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 299/TTg
Thực hiện yêu cầu này, Tổng cục quản lý ruộng đất đã ban hành văn bản đầu tiên quy định thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất theo Quyết định số 56/ĐKTK ngày 05/11/1981 Theo quyết định này, việc đăng ký đất có một trình tự khá chặt chẽ Việc xét duyệt đăng ký đất phải do một Hội đồng đăng ký thống kê ruộng đất của xã thực hiện, kết quả xét đơn của xã phải được UBND Quận duyệt mới được đăng ký và cấp GCNQSDĐ, hệ thống hồ sơ đăng ký đất đai quy định khá đầy đủ và chi tiết
Việc triển khai Chỉ thị số 299/TTg kéo dài từ năm 1981 đến cuối năm 1988 mới thực hiện được khoảng 6.500 xã, kết quả đạt được còn rất nhiều hạn chế Các khu dân
cư hầu hết còn đo bao và để dân tự khai, không xác định được vị trí sử dụng cụ thể trên bản đồ, hồ sơ Việc xét duyệt xác định quyền sử dụng đất hợp pháp của người kê khai đăng ký gần như không được thực hiện Vì vậy hệ thống sổ sách đăng ký đất đai thiết lập ở giai đoạn này vẫn chỉ mang tính chất điều tra, phản ánh nguyên hiện trạng
sử dụng đất Việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa được thực hiện
4) Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1993
Kế thừa và phát huy kết quả điều tra đo đạc và đăng ký đất đai theo Chỉ thị số 299/TTg, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành Quyết định số 201/ĐKTK ngày 14/7/1989 Về việc ban hành quyết định cấp GCNQSDĐ và Thông tư số 302/ĐKTK ngày 28/10/1989 Hướng dẫn thi hành quyết định này Việc ban hành các văn bản này
đã tạo ra một sự chuyển biến lớn về chất trong việc thực hiện đăng ký đất đai và bắt đầu từ năm 1990 được triển khai đồng loạt trên phạm vi cả nước
Tuy nhiên, trong thực tiễn việc triển khai đăng ký đất đai vẫn còn một số vướng mắc cần giải quyết: do chất lượng hồ sơ thiết lập theo Chỉ thị số 299/TTg còn có quá nhiều tồn tại, hệ thống chính sách đất đai lại đang trong quá trình đổi mới Vì vậy công việc triển khai cấp GCNQSDĐ tại các địa phương, nhất là các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung thực hiện rất chậm Đặc biệt do chính sách chưa ổn định nhiều địa phương đã thực hiện cấp GCNQSDĐ tạm thời
5) Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003
Thành công của việc thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã tạo cơ sở vững chắc cho sự ra đời của Luật đất đai năm 1993 (được thông qua ngày 14/7/1993 và có hiệu lực thi hành ngày 15/9/1993) với những thay đổi lớn: ruộng đất được giao ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng; đất đai có giá trị; mở rộng quyền cho người
sử dụng đất (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế QSDĐ, thế chấp bằng QSDĐ) Với những thay đổi đó, yêu cầu hoàn thành cấp GCNQSDĐ ngày càng trở nên cấp bách Nhận thức được điều đó, chính quyền các cấp bắt đầu coi trọng và tập
Trang 16trung chỉ đạo nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ trên phạm vi cả nước với mục tiêu hoàn thành cấp GCNQSDĐ vào năm 2000 (khu vực nông thôn) và năm 2001 (khu vực đô thị) theo các Chỉ thị số 10/1998/CT-TTg và Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Sự khẳng định đất đai có giá trị, người sử dụng đất được nới rộng các quyền đã tạo ra sự chuyển biến lớn về giá cả đất đai và vấn đề quản lý đô thị, quản lý đất đai phải gắn liền với quản lý Nhà nước Xuất phát từ tình hình đó, ngày 05/4/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 60/CP Nghị định này đã trở thành cột mốc quan trọng trong việc lập lại trật tự pháp lý cho lĩnh vực nhà đất tại đô thị Nghị định xác định rõ các vấn đề QSDĐ phải được xem xét từ nguồn gốc và tính hợp pháp của quá trình tạo lập Theo tinh thần Nghị định này thì người sử dụng đất ở tại đô thị phải được cấp GCNQSHNƠ và QSDĐƠ Việc đăng ký nhà ở và đất ở tại đô thị bắt đầu được thực hiện Tuy nhiên khi thực hiện thì số lượng GCN được cấp rất hạn chế vì trong quy định còn nhiều điểm chưa hợp lý, cần phải điều chỉnh
6) Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
Trên cơ sở kế thừa và phát huy Luật Đất đai năm 1993; Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2001; Luật đất đai năm 2003 đã mở rộng hơn quyền của người
sử dụng đất (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế QSDĐ; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ) Đặc biệt, việc cho phép QSDĐ được tham gia thị trường bất động sản có sự quản lý của Nhà nước cũng đã góp phần làm tăng thêm nhu cầu cấp GCNQSDĐ Hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai được ban hành (như Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP…) Quy trình thực hiện đăng ký cấp GCNQSDĐ đơn giản và thông thoáng hơn, đã đáp ứng được phần nào nhu cầu cấp GCNQSDĐ của người sử dụng đất
Sơ lược về công tác đăng ký đất đai ở một số nước trên thế giới
Đăng ký nghĩa vụ: có mục đích bổ sung thông tin cần thiết cho đăng ký văn tự giao dịch Nếu Bất động sản không có sự đăng ký này thì người mua có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ sự đăng ký nghĩa vụ đó, ví dụ như quyền địa dịch của chủ sở hữu mảnh đất bên cạnh
Đăng ký quyền: do lịch sử lâu đời nên hầu như không thể tìm lại được chứng cứ
về chủ quyền gốc (chứng cứ đầu tiên chứng minh mảnh đất được phong cấp hay công nhận từ đất công cho một chủ thể cụ thể) Khi xem xét một hồ sơ đã có chủ quyền xin đăng ký ban đầu vào sổ phải xem xét hai khía cạch chủ quyền (nội dung quản lý) và ranh giới thửa đất (nội dung kỹ thuật)
Hệ thống đăng ký ở Thái Lan
Cơ quan đăng ký đất đai và cấp GCN thuộc Cục đất đai và được phân cấp theo đơn vị hành chính gồm 78 tỉnh có 180 chi nhánh và 810 Quận
Hệ thống sử dụng, sử dụng hệ thống của TORRENS
Trang 17Các loại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được sử dụng gồm năm loại:
NS4: loại GCNQSDĐ theo chủ sử dụng
NS3K: loại GCNQSDĐ dựa theo tài liệu ảnh chụp máy bay
NS3: loại GCNQSDĐ dựa trên cơ sở đo đạc đơn giản
NS2: loại GCNQSDĐ tạm thời
SPK4-01: loại giấy chứng nhận quyền chiếm dụng đất Nông nghiệp bị thoái hóa
Hệ thống đăng ký đất đai của Tây Úc
Tây Úc là một bang của nước Úc có diện tích lớn nhất nước Úc (hơn 2.527.00
km2) Đăng ký đất đai của Tây Úc có những đặc điểm sau: bộ máy tổ chức đăng ký đất đai gồm 5 đơn vị chủ yếu là phòng dịch vụ khách hàng để cung cấp thông tin, lưu trữ
hồ sơ và hướng dẫn khách hàng kiêm nhiệm vụ quản cáo Phòng giao dịch tách và gộp thửa để chỉnh lý biến động đất đai Phòng đăng ký đất đai để đăng ký cấp giấy chứng nhận đất đai trong trường hợp chuyển nhượng, thừa kế, làm thủ tục thế chấp Phòng cấp giấy chứng nhận để kiểm tra tài liệu, thẩm tra hồ sơ cấp giấy và in giấy chứng nhận Phòng công nghệ thông tin chịu trách nhiệm về hệ thống thông tin quản lý đất
Cơ sở pháp lý của hệ thống đăng ký đất đai: chủ yếu và duy nhất dựa trên cơ sở Luật Đất đai của Nhà nước Liên bang Úc Luật này qui định cụ thể các vấn đề quyền
sở hữu đất
Hệ thống hồ sơ địa chính tuân theo hệ thống TORRENS Cho nên có nhiều loại giấy chứng nhận (giấy chứng nhận tư nhân, giấy chứng nhận của cơ quan tổ chức, giấy chứng nhận của thổ dân, giấy chứng nhận cho thuê của Nhà nước)
Tóm lại, tùy thuộc tình hình đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội, mỗi Quốc gia lựa chọn một phương án khác nhau cho hệ thống đăng ký đất của mình Hệ thống đăng ký đất ở các nước pháp triển (Anh, Úc…) có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, tích lũy được nhiều kinh nghiệm và thu được nhiều thành quả Hệ thống đăng ký ở các Nước này thường mang tính kế thừa và ngày càng hoàn thiện, việc xác lập quyền sở hữu “lần đầu” về cơ bản đã hoàn tất, hiện nay hầu hết các nước thường tập trung vào việc đăng ký biến động, thông qua việc đăng ký Hệ thống đăng ký đất ở các nước đang phát triển trong khu vực (Thái Lan, MaLaysia…) được hình thành trong khoảng thời gian gần đây theo kinh nghiệm của các nước phát triển, một số Nước còn đang trong quá trình hoàn thiện công tác đăng ký “lần đầu” song song đó thực hiện công tác đăng ký cập nhật biến động Nhìn chung, những quan điểm xử lý trong đăng ký của các nước không có sự khác biệt nhiều, ngay cả ở Việt Nam cũng có nhiều nét tương đồng Sự khác nhau có chăng là quy trình thực hiện, và cách sử dụng chúng, để phù hợp với hoàn cảnh của mỗi Quốc gia Hệ thống đăng ký đất của Việt Nam không dập khuôn, sao chép theo mô hình, lý thuyết của mỗi Quốc gia nào, mà chỉ kế thừa một số kinh nghiệm phù hợp với tình hình đặc điểm chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội ở Nước
ta Hệ thống đăng ký đất của Việt Nam có một số đặc điểm tương đồng với các nước khác như: Tổ chức hoạt động chuyên môn theo ngành dọc từ Trung ương đến Địa phương, công tác đăng ký đất dựa trên các Văn bản Pháp luật liên quan đến đất đai…
Trang 18I.2 Khái quát địa bàn nghiên cứu
Thực hiện chủ trương của Trung ương và Thành phố, ngày 01/04/1997 Huyện Hóc Môn được tách thành Quận 12 và Huyện Hóc Môn mới theo Nghị định 03/CP, ngày 6 tháng 1 năm 1997của Chính, theo đó Quận 12 gồm toàn bộ diện tích các xã Thạnh Lộc, An Phú Đông, Tân Thới Hiệp, Đông Hưng Thuận, Tân Thới Nhất, một phần xã Tân Chánh Hiệp; một phần xã Trung Mỹ Tây thuộc Huyện Hóc Môn trước đây Tổng diện tích đất tự nhiên 5.274,89 ha, dân số 395.790 người (theo điều tra dân
Phía Tây giáp Huyện Hóc Môn và Quận Bình Tân
Phía Nam giáp Quận Bình Thạnh, Quận Gò Vấp, Quận Tân Bình, Quận Tân Phú, và Quận Bình Tân
Phía Bắc giáp Huyện Hóc Môn
Là cửa ngõ phía Tây Bắc của thành phố nối liền với Tây Ninh và Campuchia bằng tuyến đường Xuyên á, trong tương lai Quận 12 sẽ trở thành đầu mối quan trọng của Thành phố trong việc giao thương với các nước ASEAN bằng đường bộ Điều này
Trang 19tạo điều kiện cho Quận 12 phát triển mạnh mẽ về thương mại dịch vụ Bên cạnh đó, là quận ven vừa tiếp giáp với các Quận ngoại thành vừa tiếp giáp với các quận trung tâm Thành phố, Quận 12 trong tương lai sẽ trở thành vùng đệm quan trọng góp phần phát triển kinh tế xã hội khu vực Tây Bắc Thành phố
Đặc điểm vị trí địa lý tạo cho Quận 12 ba khu vực phát triển kinh tế xã hội tương đối rõ nét:
Khu vực 1: Bao gồm các phường Đông Hưng Thuận, Tân Hưng Thuận, Trung Mỹ
Tây và Tân Thới Nhất là khu vực đang có tốc độ đô thị hoá nhanh
Khu vực 2: Bao gồm các phường Tân Chánh Hiệp, Tân Thới Hiệp, Hiệp Thành và
một phần Thới An là khu vực đang từng bước đô thị hoá
Khu vực 3: Bao gồm các phường An Phú Đông, Thạnh Lộc, Thạnh Xuân và một phần Thới An là khu vực nông nghiệp đang chuẩn bị các tiền đề cho quá trình đô thị hoá
I.2.1.2.Địa hình - địa chất
Quận 12 được chia làm 2 vùng địa hình - địa chất chính, do có những đặc trưng
cơ bản khác biệt nhau:
Vùng đất phía Tây Rạch Bến Cát:gồm các phường Tân Thới Nhất, Trung Mỹ
Tây, Đông Hưng Thuận, Tân Hưng Thuận, Tân Chánh Hiệp, Hiệp Thành, Tân Thới Hiệp và Thới An
Có cao độ trên 2m so với mặt nước biển, có cấu tạo nền đất là phù sa cổ, thành phần chủ yếu là cát, cát pha, thường có màu vàng nâu, đỏ nâu, thường xen lẫn sỏi, cuội laterite Sức chịu tải của nền đất khá tốt, lớn hơn 1,5 kg/cm2
Địa hình dạng gò triều, gãy khúc, hướng đổ dốc phức tạp nhưng nhìn chung có khuynh hướng đổ dốc về phía rạch Bến Cát (phía Đông) và kênh Tham Lương (phía Đông Nam) Độ dốc nền trung bình từ 3% xuống đến 0.1% Cao độ mặt đất ở khu vực này từ 9m xuống đến 2m (trừ các khu vực ven các sông rạch) so với Cao độ chuẩn Mũi Nai - Hà Tiên Nền đất chịu lực rất tốt và có nhiều thuận lợi cho san nền Đây là vùng có khả năng xây dựng nhà cao tầng và là khu vực có nhiều triển vọng cho xây dựng thành một khu đô thị hiện đại
Vùng đất phía Đông rạch Bến Cát và dọc theo kênh Tham Lương:gồm các
phường Thạnh Xuân, Thạnh Lộc và An Phú Đông
Cao độ mặt đất thấp dưới 2m Có cấu tạo nền đất là phù sa mới, thành phần chủ yếu là sét, bùn sét, trộn lẫn nhiều tạp chất hữu cơ, thường có màu đen, xám đen Địa hình thấp, bị chia cắt bởi nhiều sông rạch, hướng đổ dốc không rõ rệt Cao độ mặt đất thay đổi từ 0-0.07m Đất ở khu vực này có khả năng chịu lực thấp và là vùng chịu ảnh hưởng của thủy triều, được bảo vệ khỏi ngập úng nhờ vào hệ thống mương liếp và bờ bao cống bọng do nhân dân xây dựng tự phát Đây là khu vực thích hợp cho xây dựng nhà vườn và khu du lịch sinh thái
I.2.1.3 Khí hậu
Quận 12 nằm trong khu vực khí hậu thành phố Hồ Chí Minh là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, mang tính chất chung là nóng, ẩm với nhiệt độ cao và mưa nhiều Trong năm có hai mùa rõ rệt:
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Hướng gió chủ yếu là Đông Nam và Tây Nam
Gió thịnh hành trong mùa khô là gió Đông Nam với tần suất 30-40%
Trang 20 Gió thịnh hành vào mùa mưa là gió Tây Nam với tần suất 66%
Tốc độ gió trung bình là 3 m/s, gió mạnh nhất là 22,6 m/s, đổi chiều theo
mùa
Nhìn chung khí hậu trên địa bàn quận tương đối ôn hòa, ít bị ảnh hưởng của gió bão, không có gió Nam khô nóng, mùa Đông không lạnh và không có sương muối, ánh sáng dồi dào trong năm, thuận lợi cho sản xuất Nông nghiệp, và là điều kiện thuận lợi
để phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của người dân
I.2.1.4 Thủy văn
Chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ bán nhật triều không đều trên sông Sài Gòn Sông Sài Gòn đi qua địa bàn có chiều rộng trung bình khoảng 150m, sâu 10-15m, lưu lượng kiệt nhất là tháng 4 (8m3/s) và cao nhất là tháng 10 (180m3/s)
Sông Sài Gòn, sông Vàm Thuật, rạch Bến Cát, kênh Tham Lương, kênh Trần Quang
Cơ và một số kênh rạch khác trên địa bàn quận tạo tiền đề cho việc hình thành một mạng lưới giao thông thủy quan trọng, thuận lợi lưu thông nối kết liên hoàn xuyên suốt với các nơi, đồng thời đảm nhiệm tiêu thoát nước cho cả địa bàn
I.2.2 Các nguồn tài nguyên
I.2.2.1 Tài nguyên đất
Theo kết quả của các chương trình điều tra thổ nhưỡng gần đây thì quận 12 có
Ký hiệu Tên đất
Ký hiệu Tên đất
1 F Đất vàng nâu feralit trên phù
5 X Đất xám điển hình ACh Haplic Acrisols 752,22
6 Xf Đất xám có tầng loang lổ ACp Plinthic Acrisols 999,35
(Nguồn:Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)
I.2.2.2 Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt:
Nguồn nước mặt trên địa bàn quận 12 khá phong phú do một hệ thống sông rạch cung cấp Các sông, kênh rạch chính: sông Sài Gòn, sông Vàm Thuật, rạch Bến Cát, Bến Thượng, Cầu Dừa, Trần Quang Cơ Ngoài ra còn nhiều kênh rạch phân bố
Trang 21chủ yếu ở khu vực phía Đông rạch Bến Cát Tài nguyên nước mặt khá thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp và du lịch sinh thái
Trong những năm gần đây, nguồn nước bị ô nhiễm nặng cả về nước mặt lẫn nước ngầm do việc xả thải từ các nhà máy, xí nghiệp, nước thải sinh hoạt của người dân trên địa bàn cũng như các vùng lân cận Hầu hết các kênh, rạch xuyên qua quận 12 đều bị ô nhiễm, nhất là kênh Tham Lương Nhiều vùng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn quận bị ô nhiễm như Thạnh Xuân, Thạnh Lộc, An Phú Đông và một phần phường Thới An Đây là vấn đề khó khăn nhất hiện nay về nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, đây cũng là nguyên nhân gây ra bệnh dịch Ngoài ra, bãi rác của thành phố nằm trên địa bàn xã Đông Thạnh –Huyện Hóc Môn cũng là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng đến nguồn nước ngầm không chỉ trên địa bàn Huyện Hóc Môn
mà cả quận 12 và các khu vực lân cận
Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên
Thuận lợi
- Quỹ đất khá lớn, trên 5000 ha, bằng 1/3 diện tích khu nội thành cũ
- Quận có 2 khu vực với địa hình khác biệt rõ rệt, yếu tố này thuận lợi cho quy hoạch tạo những nét đặc trưng riêng của đô thị mới Khu vực phía Tây của Quận địa hình gò triền, nền đất tốt, thuận lợi phát triển xây dựng các công trình công nghiệp, thương mại, nhà ở kiên cố cao tầng Khu vực phía Đông của Quận địa hình thấp, có nhiều sông rạch đan cắt nhau, nền đất yếu thích hợp xây dựng các công trình thấp tầng, mật độ xây dựng thưa thoáng, thuận lợi phát triển đô thị xanh phục vụ du lịch giải trí nghỉ ngơi
- Vị trí quan trọng là cửa ngõ phía Bắc của Thành phố - cầu nối luồng giao thông từ phía Campuchia về khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống giao thông đường bộ cấp quốc gia và khu vực đang từng bước phát triển, mở rộng và hiện đại hóa Đường xa lộ vành đai (Quốc lộ 1A), Quốc lộ 22 (đường Xuyên á) là cầu nối giao lưu giữa Thành phố Hồ Chí Minh với tỉnh Tây Ninh - nước Campuchia và nối kết Tỉnh Bình Dương, Tỉnh Bình Phước, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Về đường thủy có sông Sài Gòn nằm tiếp giáp chạy dài từ phía Bắc xuống Nam rất thuận lợi giao lưu hàng hóa với các tỉnh Nam Bộ
- Địa bàn Quận 12 có nhiều thế mạnh và tiềm năng cho việc phát triển đô thị, thu hút dân cư:
- Kinh tế đô thị và Công nghiệp hiện trên đà phát triển ngày càng nhanh, nhiều
cơ sở sản xuất công nghiệp đã đi vào hoạt động và những dự án công nghiệp lớn và nhỏ đang triển khai xây dựng Đặc biệt khu công nghiệp tập trung Tân Thới Hiệp là một trong số những khu công nghiệp tập trung lớn của Thành phố, đã có quy hoạch được duyệt, là nơi có khả năng thu hút nhiều lao động
- Quận có bề dày truyền thống lịch sử cách mạng, có di tích cách mạng nổi tiếng như chiến khu An Phú Đông - Thạnh Lộc, có thể kết hợp với cảnh quan thiên
Trang 22nhiên phong phú trên sông Sài Gòn và vùng đất trù phú ven sông để khai thác du lịch, nghỉ ngơi v.v
Khó khăn
- Đội ngũ lao động đông đảo là vốn quý báu, là nhân tố tích cực để phát triển sản xuất Song trong giai đoạn trước mắt Nguồn nhân lực dôi thừa và thiếu tay nghề trong nông nghiệp (do việc thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp) đã gây ra những rào cản nhất định cho quá trình phát triển của Quận Chính vì thế việc đào tạo nghề cho lực lượng lao động này là hết sức bức thiết
- Hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật còn yếu kém, không đảm bảo khả năng phục vụ, phân bố phân tán chưa đáp ứng yêu cầu phát triển dân cư theo lối sống
đô thị; nếu phát triển theo quy mô lớn cần có đầu tư mạnh là nguồn nước cho sinh hoạt
và sản xuất nông nghiệp
- Thiếu hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, đặc biệt là hệ thống thoát nước, chống úng đã gây ra ngập úng trên địa bàn rộng Điều này có tác động lớn đến các hoạt động kinh tế và dân sinh của Quận
- Tài nguyên sinh vật và khoáng sản của Quận rất nghèo nàn, hầu như không có
gì để khai thác, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội
I.2.3 Kinh tế xã hội
Quận 12 sau 13 năm hình thành với quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, mạnh
và đang phấn đấu để bắt nhịp cùng sự phát triển chung của thành phố Cơ cấu kinh tế
từ “công nghiệp - nông nghiệp - thương mại - dịch vụ” chuyển dịch sang “công nghiệp
- thương mại - dịch vụ - nông nghiệp” và đang hình thành phát triển theo hướng
“thương mại - dịch vụ - công nghiệp-nông nghiệp”
I.3 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
Cơ chế chính sách đã có những bước đổi mới tích cực; GDP toàn quận ước đạt 4.253,410 tỉ đồng năm 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2005-
Năm
Tỷ đồng
Trang 23Biểu đồ cho thấy GDP toàn quận tăng qua từng năm; trong mỗi năm thì tỷ lệ
ngành thương mại- dịch vụ đóng góp vào GPD là cao nhất, đứng thứ hai là ngành
Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp Năm 2010, GDP toàn quận đạt trên 4000 tỷ; mức
tăng trưởng tương đối cao trong giai đoạn kinh tế khó khăn hiện nay Quận 12 có lợi
thế về diện tích tự nhiên rộng, nằm trên đầu mối giao thông quan trọng- cửa ngõ giao
thông phía Tây Bắc của thành phố, là thị trường thích hợp cho việc thu hút các dự án
đầu tư với số vốn lớn của các công ty trong và ngoài nước
I.3.1 Thực trạng phát triển các ngành
a Nông - lâm - ngư nghiệp:
Do tiến trình đô thị hóa nhanh, diện tích đất nông nghiệp thu hẹp dần Trong đó, giảm mạnh nhất là đất trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày
Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2010 là 208,71 tỉ đồng, tăng so với cùng kỳ năm 2009 là 2,45%
b Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là 1.590,37 tỉ đồng năm
2010 và tăng 15,24% so với năm 2009 Tập trung chủ yếu vào ngành là dệt, may, sản xuất thực phẩm, chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, sản xuất túi xách, da giầy, trong đó thế mạnh là dệt, may, da giầy
c Ngành thương mại - dịch vụ:
Tổng mức luân chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ là 2.495,18 tỉ đồng năm
2010 và tăng 21,28% so với năm 2009 Trong đó, ngành thương mại đạt 1.609,39 tỉ đồng, tăng 20,61% năm 2009, ngành dịch vụ đạt 554,790 tỷ đồng, tăng 24,02% năm
2009 Trong cơ cấu ngành thương mại - dịch vụ, thương mại-dịch vụ ngoài quốc doanh là chủ yếu, chiếm 99,3%, trong khi đó thương mại-dịch vụ quốc doanh (Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã) chiếm 0,7%
d Dân số - lao động, việc làm:
Dân số trung bình trên địa bàn quận 12 đến giữa năm 2010 là 427.083 người, với tổng số hộ là 77651 hộ, mật độ dân số trung bình là 8.096 người/km2 Do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, tình trạng phân bố dân cư không đều ở các phường, riêng tại phường Tân Hưng Thuận có mật độ dân cư cao nhất là 14.021 người/km2, phường Đông Hưng Thuận là 12.855 người/km2 và thấp nhất là phường Thạnh Xuân
là 2.153 người/km2, phường An Phú Đông là 2.035 người/km2
Quận 12 có cơ cấu dân số trẻ, tháp tuổi có dạng hình cây thông, phình to dưới đáy tháp, thể hiện mức sinh cao, số người dưới tuổi lao động cao Năm 2010 tỷ lệ tăng dân số của quận là 1,2% Dân số của quận được dự báo theo xu hướng giảm dần
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bằng cách mở rộng và nâng cao chất lượng chương trình kế hoạch hóa gia đình, nhưng với chủ trương thu hút dân số từ nội thành ra sinh sống theo chương trình giãn dân của thành phố nên dự báo dân số tăng cơ học trong thời gian tới tăng nhanh
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các ngành kinh tế, cơ cấu lao động đã có sự biến động đáng kể, các ngành công nghiệp và thương nghiệp thu hút ngày càng nhiều lao động từ ngành nông nghiệp chuyển qua
Nhìn chung đời sống nhân dân trong quận ngày càng được cải thiện với thu nhập bình quân đầu người hàng năm luôn tăng và số hộ nghèo chiếm tỷ lệ ngày càng giảm Được sự quan tâm của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương trong thời
Trang 24gian qua công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn quận được thực hiện một cách hiệu
quả và thiết thực trong giai đoạn 2005-2010
I.3.2 Đánh giá chung tình hình phát triển kinh tế- xã hội của Quận
Trong những năm qua sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội cụ thể là quá trình đô thị hóa đã tác động không nhỏ lên quỹ đất của quận, kéo theo áp lực về đất đai ngày càng gia tăng thể hiện ở các mặt sau:
+ Khi nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường, đất đai ngày càng có giá trị trở thành một tài sản lớn đối với bất cứ ai, nhất là ở khu vực đô thị, vì vậy theo lẽ tự nhiên đất đai trở thành đối tượng quan tâm của hầu hết mọi người
+ Khi phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng hạ tầng giao thông dẫn tới một diện tích lớn đất nông nghiệp của người nông dân bị thu hẹp, chuyển sang mục đích khác và việc người dân thực hiện chuyển nhượng trở nên thường xuyên hơn kéo theo công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
+ Việc đầu tư nâng cấp, xây dựng mới cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, các công trình trường học, trạm y tế, các khu vui chơi giải trí…) sẽ cần một quỹ đất tương đối lớn không chỉ gây sức ép về mặt quy mô diện tích, mà còn tạo áp lực trong việc bố trí vị trí các công trình hợp lý, phù hợp
+ Vấn đề tăng dân số kéo theo nhu cầu về đất sản xuất và đất ở ngày càng một tăng cao, bên cạnh đó việc giải quyết vấn đề này phải gắn liền với điều kiện cụ thể của từng phường trên địa bàn của quận
Các ngành giáo dục, y tế, thể thao, thông tin văn hóa từng bước phát triển đáp ứng tốt yêu cầu của người dân, góp phần thực hiện thành công các nhiệm vụ chính trị xã hội của địa phương, nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật công tác đăng ký cấp GCN
I.4 Nội dung, phương pháp nghiên cứu
I.4.1 Nội dung nghiên cứu:
Đánh giá về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội trên địa bàn quận
Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác đăng ký cấp GCN
I.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp chung nhất trong công tác nghiên cứu Đề tài vận dụng phương pháp này trong việc xem xét đánh giá thực trạng công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở Quận12 trong những điều kiện cụ thể và các mối quan hệ khác Ngoài ra vận dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế khác như:
Phương pháp điều tra: Điều tra, thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên,
kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu và các số liệu có liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai, đặc biệt là công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết (nghiên cứu tài liệu): Nghiên cứu Luật đất
đai và các văn bản dưới Luật áp dụng cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai để làm
cơ sở cho việc nghiên cứu
Trang 25 Thu thập số liệu:
+ Thu thập từ tham khảo tài liệu: dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp thu được
từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ, chứng minh một số vấn đề trong quá trình thực hiện đề tài
+ Thu thập số liệu từ thực nghiệm: Số liệu được thực hiện bằng cách quan sát, theo dõi
diễn biến tình hình đăng ký cấp GCNQSDĐ tại địa bàn nghiên cứu
Xử lý thông tin:
+ Chọn lọc các số liệu, tài liệu, tư liệu thu nhận được: Nghiên cứu mối quan hệ giữa
chúng; so sánh đối chiếu, chọn lọc những tài liệu, tư liệu, số liệu quan trọng, thiết thực, có độ tin cậy cao liên quan đến công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ
+ Sắp xếp tài liệu, tư liệu, số liệu: Quy thành các nhóm; lập dàn ý, sắp xếp cụ thể từng
nội dung của đề tài theo mục đích
Thống kê:
+ Thống kê tương đối: Các số liệu thống kê hàng năm của các ngành kinh tế- xã hội
(dân số, y tế, giáo dục, kinh tế, )
+ Thống kê tuyệt đối: Số liệu kiểm kê 5 năm trong lĩnh vực đất đai
Phương pháp so sánh: So sánh số lượng GCNQSDĐ được cấp qua từng thời
kỳ (năm), trên địa bàn từng phường, từ đó nhận xét hiệu quả thực hiện công tác cấp GCNQSDĐ
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ nguồn tài liệu, số liệu thu thập được
tiến hành phân tích, đánh giá, tổng hợp vấn đề nghiên cứu; rút ra kết luận và đề xuất giải pháp khả thi cho công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn nghiên cứu
Phương pháp chuyên gia: có sự tham vấn của những người đi trước có kinh
nghiệm
I.4.3 Trình tự thực hiện đề tài
Trực tiếp tham gia vào công tác đăng ký cấp GCN tại quận
Thu thập các số liệu, tài liệu có liên quan đến công tác đăng ký cấp GCN tại địa phương
Xử lý, phân tích các tài liệu, số liệu đã thu thập được
Hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Trang 26PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
II.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai tại Quận 12
Thời kỳ trước Luật Đất đai 2003:
Thực hiện 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai theo Luật Đất đai 1993 và Luật sửa đổi bổ sung 1998, 2001, cùng với một số văn bản pháp luật về đất đai được ban hành nên công tác quản lý Nhà nước về đất đai của quận 12 từng bước đi vào nề nếp, hạn chế những tiêu cực phát sinh trên điạ bàn Tuy nhiên việc cập nhật chỉnh lý biến động đất đai chưa được quan tâm đúng mức nên dẫn đến hiện tượng lấn chiếm, tranh chấp, chuyển mục đích xảy ra thường xuyên gây khó khăn cho công tác quản lý
Thời kỳ sau Luật Đất đai 2003:
Luật đất đai năm 2003 ra đời có hiệu lực ngày 01/07/2004 cùng với các văn bản liên quan đã góp phần làm cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai chặt chẽ hơn trên phạm vi cả nước
II.1.1.Các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
Quận 12 là một quận mới, được hình thành trên cơ sở tách phần đất của Huyện Hóc Môn tiếp giáp khu vực nội thành cũ theo Nghị định số 03/CP ngày 06/01/1997 của Chính phủ với tổng diện tích tự nhiên 5.274,9045 ha Quận 12 chia thành 11 phường là: An Phú Đông, Thạnh Lộc, Thạnh Xuân, Thới An, Hiệp Thành, Trung Mỹ Tây, Tân Chánh Hiệp, Đông Hưng Thuận, Tân Hưng Thuận, Tân Thới Hiệp, Tân Thới Nhất
Tình hình và kết quả hoạt động của công tác quản lý đất đai trên địa bàn quận
có thể tóm tắt thành những nét chính theo các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai quy định tại Khoản 2, Điều 6, Luật Đất đai 2003 như sau:
II.1.1.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện
Trong thời gian qua, để đảm bảo công tác quản lý và sử dụng đất đai đi vào nề nếp, Uỷ ban Nhân dân Quận 12 đã tổ chức và chỉ đạo thực hiện các văn bản pháp luật của Chính phủ và UBND TP, cụ thể: Luật đất đai 2003, Nghị định 181, Thông tư 28, Thông tư 30, Quyết định 138, Chỉ thị 26,…
II.1.1.2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
Phía Tây giáp HuyệnHóc Môn và Bình Tân
Phía Nam giáp quận Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Tân Phú và quận Bình Tân
Phía Bắc giáp Huyện Hóc Môn
Ranh giới hành chính của địa phương được tổ chức thực hiện, xác lập, điều chỉnh trên bản đồ và ngoài thực địa theo Chỉ thị 364/CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) Ranh giới sử dụng đất trên địa bàn nhìn chung ổn định, không xảy ra tranh chấp với các địa phương khác
Trang 27Bảng 2: Diện tích đất tự nhiên các đơn vị hành chính Quận 12
STT Đơn vị hành chính Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)
Lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
Nhằm thực hiện theo kế hoạch số 3609/UB-ĐT ngày 23/6/2004 của UBND
Thành phố về việc rà soát, củng cố công tác quản lý nhà nước về địa giới hành chính
trên địa bàn TPHCM, Quận 12 đã cho rà soát lại việc quản lý Hồ sơ địa giới hành
chính ở các phường Kết quả kiểm tra và rà soát công tác lưu trữ hồ sơ địa giới hành
chính của Quận thể hiện theo bảng sau:
Bảng 3: Hiện trạng lưu trữ hồ sơ địa giới hành chính tại Quận
8 Thống kê tài liệu về ĐGHC của phường X
(Nguồn: Phòng Tài nguyên&Môi trường Quận 12)
Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ
hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
Trên địa bàn Quận đã thực hiện công tác đo đạc và thành lập bản đồ giải thửa
theo Chỉ thị 299/TTG của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 10/11/1980; thực hiện
công tác đo đạc, chụp không ảnh và thiết lập các bản đồ địa chính theo Chỉ thị 02/CT
ngày 18/01/1992 của UBND Thành phố
Trang 28Năm 2003, toàn quận được tiến hành đo đạc lại và lập bộ bản đồ địa chính mới,
sản phẩm được bàn giao vào cuối năm 2004 và được sử dụng làm tài liệu để thực hiện
công tác kiểm kê đất đai năm 2005, đây là cơ sở cho công tác quản lý đất đai và thành
lập hệ thống bản đồ chuyên đề
Hệ thống bản đồ địa chính trên địa bàn Quận 12 được đo đạc mới theo hệ tọa độ
Quốc gia VN 2000, tổng cộng gồm có 549 tờ, trong đó có 391 tờ tỷ lệ 1/500, 153 tờ tỷ
lệ 1/1000 và 5 tờ tỷ lệ 1/2000 được nghiệm thu vào cuối năm 2004 và đầu năm 2005
Hệ thống bản đồ địa chính này vừa được đo đạc mới cho nên loại hình sử dụng đất trên
bản đồ không có sự khác biệt so với thực tế Tuy nhiên nội dung của các tờ bản đồ vẫn
còn sai khác khá nhiều về ranh thửa, diện tích so với thực tế
Bảng 4: Bản đồ địa chính các phường phân theo tỷ lệ đo vẽ
(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)
Từ năm 2011 đến nay, phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12 đã tiến hành
đo đạc bản đồ và kiểm tra nội nghiệp bản đồ để phục vụ cho công tác cấp GCN, bồi
thường giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư, quản lý quỹ đất công,… góp phần quản
lý bản đồ địa chính, chỉnh lý biến động đất đai
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Vì là Quận mới thành lập và đang trong giai đoạn chỉnh trang đô thị cho nên
công tác lập quy hoạch đặc biệt được quan tâm Hiện nay trên địa bàn Quận đã thực
hiện một số quy hoạch như sau:
- Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Quận 12 đến năm 2010 được thực hiện
theo công văn 3849/UB-KT và thông báo số 88/TB-UB-KT của UBND TP ngày
14/11/1997 về việc Quy hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội của các quận, Quận mới đến
năm 2010
- Quy hoạch chung xây dựng Quận 12 Hiện nay, đồ án điều chỉnh quy hoạch
chung xây dựng Quận 12, tỷ lệ 1/5.000 đã được Hội đồng Nhân dân Quận thông qua,
đang trình UBND TP phê duyệt
- Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2.000 của ngành xây dựng Cụ thể là từ năm 1999
đến nay trên 11 phường của Quận có 23 đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ
1/2.000 được phê duyệt với diện tích là 4.856,62 ha, chiếm 92% diện tích đất tự nhiên
của Quận Như vậy về cơ bản Quận 12 đã phủ kín quy hoạch chi tiết xây dựng
Trang 291/2.000, phần diện tích còn lại là khu công viên cây xanh 250 ha thuộc phường Thạnh Xuân theo Đồ án Quy hoạch chung xây dựng của Quận
- Về tiến độ điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2.000: Hiện nay Quận đang lập 11 đồ án điều chỉnh QHCTXD 1/2.000, Sở QH - KT chủ trì lập đồ án điều chỉnh 02 đồ án với tổng số diện tích được điều chỉnh quy hoạch chi tiết là 2.857,7
ha, chiếm 60% diện tích đã quy hoạch chi tiết
- Công tác xây dựng Kế hoạch Sử dụng đất hàng năm đã được Quận thực hiện nghiêm túc, đã góp phần đưa công tác quản lý và sử dụng đất của Quận để vào nề nếp
và đúng định hướng
Nhìn chung, công tác quản lý quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất trong thời gian qua chủ yếu triển khai lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm, dựa trên cơ sở quy hoạch chung và quy hoạch xây dựng Tuy nhiên, một số phường quy hoạch chi tiết xây dựng được thiết kế trên nền bản đồ địa chính 02, đã gây khó khăn cho công tác giao ranh đất
để thực hiện các dự án
Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Trong thời gian qua, phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với phòng Quản
lý đô thị quận đã cố gắng thực hiện theo đúng quy trình, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở - quyền sử dụng đất ở theo đúng luật định, đồng thời thực hiện thu hồi và giao đất cho các tổ chức, đơn vị, cá nhân trên địa bàn theo đúng đối tượng, đúng mục đích sử dụng
Do công tác giao - thuê đất đối với các tổ chức sử dụng đất thuộc thẩm quyền của
sở Tài nguyên và Môi trường cho nên việc quản lý hồ sơ tài liệu trên địa bàn quận gặp nhiều khó khăn, thiếu cập nhật và bỏ sót nhiều trường hợp
Thực trạng công tác giao dịch quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất trên địa bàn quận diễn ra rất phức tạp Số lượng giao dịch kiểm soát được (hợp pháp) chiếm tỷ lệ rất cao so với thực tế Do phần đông người dân đã quan tâm tìm hiểu pháp luật và hiểu được tầm quan trọng của nó trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trong các giao dịch Song giao dịch không hợp pháp vẫn còn tồn tại Nguyên nhân là do nhu cầu về nhà ở của người dân là rất lớn, thường là người dân ở các địa phương khác đến, nhưng không đủ điều kiện về pháp lý để thực hiện việc chuyển nhượng nhà ở, đất đai hợp pháp Số giao dịch này chủ yếu bằng giấy tay tự lập, viết tay giao dịch trực tiếp giữa hai bên
Công tác cập nhật chỉnh lý, biến động đất đai được cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường theo dõi, cập nhật thường xuyên trên sổ sách, bản đồ địa chính Hình thức biến động chủ yếu là chuyển quyền và thế chấp quyền sử dụng đất
Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ)
Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính trên địa bàn quận đến nay cơ bản đã hoàn thành 11/11 phường để làm cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trong những năm qua thực hiện Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003, Nghị định 60/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận QSHNƠ-QSDĐƠ, Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Thông tư số 17/2009/TT-TNMT ngày 21/10/2009 của bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Quyết định 29/2011/QĐ-UBND ngày 19/05/2011 hủy bỏ một phần Quyết định 54/2007/QĐ-UBND quy định về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
Trang 30đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thành phố Hồ Chí Minh do UBND thành phố Hồ Chí Minh ban hành Việc lập và quản
lý hồ sơ địa chính được thực hiện tốt làm cơ sở cho việc hợp thức hóa, cấp GCN QSDĐ Công tác cấp GCN QSDĐ có ảnh hưởng lớn đến thực trạng khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai Kết quả cấp giấy càng cao, chính xác thì càng đảm bảo quyền sử dụng đất hợp pháp của người dân, Nhà nước càng dễ dàng quản lý việc sử dụng đất của các đối tượng sử dụng đất và người sử dụng đất không thể xâm phạm lợi ích của người khác, từ đó làm giảm lượng đơn tranh chấp, khiếu nại về đất đai của quận 12 Mặt khác, nếu công tác đo đạc bản đồ, công tác cấp GCN QSDĐ không chính xác sẽ gây phát sinh khiếu nại sau này
Thống kê, kiểm kê đất đai
Công tác thống kê - kiểm kê đất đai là một công tác định kỳ của ngành Địa chính Kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần nhằm kiểm kê về số lượng diện tích đến từng loại đất, theo các nhóm đối tượng sử dụng và theo nhóm đối tượng quản lý trong từng đơn vị hành chính đến ngày 01/01/2010 Trong đó, cấp phường là đơn vị hành chính cơ bản để tiến hành việc kiểm kê Ngoài ra, việc kiểm kê đất đai năm 2010 còn nhằm thống kê tình hình đo đạc địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến 01/01/2010 và tình hình sử dụng đất của các tổ chức trong cả nước
Từ khi thành lập đến nay, quận 12 đã tiến hành 3 đợt tổng kiểm kê đất đai (năm
2000 và năm 2005 và năm 2010) Vì tài liệu để thực hiện kiểm kê ở 2 đợt đầu khác nhau (tài liệu bản đồ 02/CT-UB và nền bản đồ địa chính chính quy) nên diện tích của quận qua 2 kỳ cũng có sự chênh lệch (năm 2005 tổng diện tích tự nhiên là 5.274,5 ha, giảm 2,1074 ha so với năm 2000) Trong đợt 3 thì tài liệu kiểm kê đã ổn định nên diện tích của quận trong đợt 2 và đợt 3 không có chênh lệch nhiều (năm 2010 tổng diện tích
tự nhiên là 5.274,90 ha không thay đổi so với năm 2005, chỉ có sự thay đổi diện tích của các loại đất trong cơ cấu sử dụng đất: Diện tích đất phi nông nghiệp ngày càng tăng cụ thể là 3424,35 ha năm 2010 tăng 134,85 ha so với năm 2005, do dân số đông nên nhu cầu sử dụng đất ở ngày càng tăng Vì vậy, người dân đã chuyển mục đích sử dụng đất sản xuất nông nghiệp sang đất ở làm cho diện tích đất nông nghiệp giảm dần thay vào đó thì diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên) Ngoài ra sự khác biệt về tiêu chí phân loại đất theo loại đất cũ (Thông tư 30/2004/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về quy định chi tiết lập, điều chỉnh, thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất) và loại đất mới theo (Thông tư 19/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định chi tiết lập, điều chỉnh, thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất) đã gây không ít khó khăn cho công tác kiểm kê đất đai năm 2010
Ngoài ra, công tác thống kê được phòng Tài nguyên và Môi trường tiến hành hàng năm, làm cơ sở cho việc xác định biến động đất đai hàng năm, xây dựng kế hoạch sử dụng đất theo đúng luật định nhằm phục tốt công tác quản lý nhà nước về đất
đai trên địa bàn của quận
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai
và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Ủy ban nhân dân quận tiến hành kiểm tra định kỳ vào tháng 10, 11 hàng năm và đôi khi tổ chức các đợt kiểm tra đột xuất việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và việc xử lý vi phạm hằng năm Công tác thanh tra giúp UBND quận 12 phát hiện những sai sót khách quan hoặc chủ quan trong công tác quản lý đất đai của cán bộ
Trang 31Tài nguyên và Môi trường, quá trình sử dụng đất của người dân Gián tiếp làm trong sạch hóa, lành mạnh hóa đội ngũ cán bộ địa phương trong lĩnh vực quản lý đất đai
Trong thời gian qua, quận đã phối hợp cùng đoàn Thanh tra liên ngành của Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện kiểm tra việc sử dụng đất, tiến độ triển khai dự án của tổ chức, đơn vị được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn quận, thanh tra việc giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa cho các hộ dân có đất nằm trong khu vực quy hoạch Bên cạnh đó, cũng đã tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra và xử lý các trường hợp san lấp, lấn chiếm sông rạch của các hộ gia đình, cá nhân Thực hiện thanh tra thủ tục hành chính trong lĩnh vực nhà đất theo cơ chế một cửa, phát hiện nguyên nhân giải quyết hồ sơ hành chính cho dân chậm so với yêu cầu và đề xuất biện pháp chấn chỉnh
Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất
Để đảm bảo quyền lợi và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, công tác giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai trên địa bàn được quan tâm đặc biệt, chú ý công tác hòa giải tranh chấp, cũng như tham mưu cho cấp có thẩm quyền giải quyết Tuy nhiên vẫn còn tình trạng không đảm bảo đúng thời hạn giải quyết, số hồ sơ tồn đọng chuyển sang năm sau vẫn còn nhiều, cụ thể số đơn thư tồn đọng theo báo cáo về việc thực hiện Luật khiếu nại, tố cáo năm 2009 số đơn tồn là 52 đơn (tranh chấp đất đai 8 trường hợp, khiếu nại đất đai 3 trường hợp, 41 trường hợp), năm 2010 số đơn tồn là 90 đơn (tranh chấp đất đai 11 trường hợp, khiếu nại đất đai 5 trường hợp, đơn dân nguyện 64 trường hợp)
Công tác thu hồi đất để triển khai thực hiện dự án, tiến hành hiệp thương đền bù nhà cửa, đất đai, tái định cư cho các hộ dân trong khu vực giải tỏa là công tác có ảnh hưởng đến việc phát sinh nhiều khiếu nại, khiếu nại kéo dài trên địa bàn quận
Đây là công tác được Ủy ban nhân dân quận hết sức quan tâm đã chỉ đạo Thanh tra quận 12 và phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân các phường tập trung thực hiện
Bảng 5: Tình hình khiếu nại về đất đai trên địa bàn Quận 12
(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)
ST
T Phường 200 4 200 5 200 6 200 7 200 8 200 9 201 0 2011
Tổng lượng đơn
Trung bình/nă
Tổng đơn 34 34 40 46 53 69 73 58 407 50,8 7
Năm
Trang 32Bảng 6: Quyết định lần đầu được giải quyết thành công
(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)
Công tác giải quyết khiếu nại ngày càng được chú trọng, quan tâm do khiếu nại
về đất đai là vấn đề nhạy cảm cần giải quyết đảm bảo quyền và lợi ích của người dân cũng như thể hiệntình hình quản lý của địa phương Tỷ lệ giải quyết thành công hồ sơ khiếu nại lần đầu ngày càng tăng, cụ thể năm gần đây nhất- 2011- tỷ lệ đạt 90,06%- tỷ lệ khá cao thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo cũng như kinh nghiệm giải quyết của cán bộ nhân viên
Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
Hiện nay, Quận 12 cũng như một số quận Quận khác trên cả nước chưa thực sự bắt tay vào thực hiện nội dung này trong việc quản lý nhà nước về đất đai Đến cuối năm 2005, địa phương mới có định hướng về việc thực hiện nội dung này
Quản lý và giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Phòng Tài nguyên - Môi trường Quận 12 luôn phối hợp với Phòng Quản lý Đô thị và UBND các phường, cử cán bộ chuyên trách thực hiện quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm của người sử dụng đất
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai
Trong thời gian qua, Quận đã phối hợp cùng Đoàn Thanh tra liên ngành của Sở Tài nguyên & Môi trường thực hiện kiểm tra việc sử dụng đất, tiến độ triển khai dự án
Năm
Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu
Quyết định giải quyết được triển khai, thực hiện
Tỷ lệ (%)
Trang 33của tổ chức, đơn vị được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn Quận, thanh tra
việc giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa cho các hộ dân có đất nằm trong khu vực
quy hoạch Bên cạnh đó, cũng đã tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra và xử lý các
trường hợp san lấp, lấn chiếm sông rạch của các hộ gia đình, cá nhân Thực hiện nhằm
thanh tra thủ tục hành chính lĩnh vực nhà đất theo cơ chế một cửa một dấu, phát hiện
nguyên nhân giải quyết hồ sơ hành chính cho dân chậm so với yêu cầu và đề xuất biện
pháp chấn chỉnh
Tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại địa phương
Bảng 7: Hoạt động chuyển nhượng QSDĐ quận 12 năm 2011
(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường Quận 12)
Hoạt động chuyển nhượng và công tác cấp GCNQSDĐ có mối liên hệ qua lại với
nhau Khi một hợp đồng chuyển nhượng thành công kéo theo việc người dân tiến hành
đăng ký cấp GCN (cấp đổi hoặc mới) Nếu hoạt động chuyển nhượng QSDĐ diễn ra
càng sôi động thì số hồ sơ xin cấp GCN cũng tăng theo
Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 181/CP của Chính phủ về thi
hành Luật Đất đai, Quận đã sớm thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực
thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường vào tháng 3/2005 Đây là cơ quan dịch vụ
Trang 34công có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký sử dụng đất và biến động về sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính và giúp cơ quan Tài nguyên và Môi trường trong việc thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng đất
Qúa trình ứng dụng công nghệ thông tin- áp dụng chương trình Vilis-trong xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu đất đai tại UBND Quận12
Quận 12 là một quận có tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ, dữ liệu đất đai có nhiều biến động, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý sử dụng đất, quản lý xây dựng Chính sách Pháp luật đất đai luôn có sự thay đổi và điều chỉnh mới, trong khi điều kiện hạ tầng giao thông, quy hoạch đô thị của quận phát triển chưa đồng bộ là một trong những nguyên nhân chính khiến cho công tác quản lý nhà nước về đất đai gặp nhiều khó khăn Đứng trước tình hình đó, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải xây dựng được hệ thống đất đai hoàn chỉnh, đồng bộ; tạo điều kiện cho việc quản lý đất đai được dễ dàng và thuận lợi
Trước đây, việc đăng ký và quản lý biến động đất đai không theo một phần mềm nhất định, áp dụng nhiều chương trình khác nhau để quản lý sử dụng: GM-Landreg, Word, Excel, Access Hệ thống lưu trữ dữ liệu không thống nhất, thiếu sự tập trung, không đảm bảo các yêu cầu về an toàn và bảo mật dữ liệu
Nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý đất đai trên địa bàn đảm bảo tính thống nhất, hiện đại, hiệu quả và phục vụ người dân được tốt hơn, UBND quận 12 đã đưa chương trình ViLIS vào ứng dụng tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận
Chương trình ViLIS (tại khu vực thành phố HCM gọi là chương trình HCM Land’s MDP) là phần mềm hệ thống thông tin đất đai đa mục tiêu, dùng để xây dựng
và quản lý cơ sở dữ liệu đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý biến động trên nền tảng dữ liệu số đồng bộ và thống nhất
Trước khi áp dụng ViLIS:
Việc quản lý dữ liệu đất đai còn thủ công, quy trình thực hiện có nhiều bất cập,
dữ liệu chưa đồng bộ, dẫn đến việc quản lý chưa hiệu quả:
- Nhập và lưu trữ biến động liên quan ranh giới thửa đất, thông tin về chủ sử dụng bằng phần mềm AutoCAD, MicroStations
- In GCN và quản lý dữ liệu cấp GCN bằng các phần mềm AutoCAD, Word, Excel, Access Qui trình thực hiện qua nhiều bước, mất nhiều thời gian, gây khó khăn trong công tác quản lý do dữ liệu không đồng bộ, thiếu nhất quán
- Quản lý và lưu trữ dữ liệu biến động đất đai, dữ liệu đăng ký giao dịch đảm bảo bằng phần mềm Word, Excel
Quá trình áp dụng ViLIS:
Căn cứ Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCN), Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009, Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về việc cấp GCN, UBND quận 12 đã tiến hành áp dụng chương trình ViLIS trong việc giải quyết hồ sơ hành chính liên quan lĩnh vực đất đai tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận
Chương trình ViLIS bao gồm hệ thống máy chủ và các máy con có kết nối mạng nội bộ LAN, trong đó các máy con tương tác và truy xuất đến dữ liệu có trên máy chủ:
+ Máy chủ: đóng vai trò quản lý, lưu trữ dữ liệu hệ thống (dữ liệu thuộc tính và
dữ liệu bản đồ); được cài đặt các chương trình: ViLIS Server, SQL Server 2005, ArcGIS, ArcSDE
Trang 35+ Các máy con: dành cho người sử dụng để thực hiện các thao tác chương trình ViLIS, được cài đặt các phần mềm: ViLIS Client (HCM Land’s MDP), Microsoft NET framework, AutoCAD
Khi áp dụng chương trình ViLIS, các mục tiêu được đề ra như sau:
- Xây dựng hệ thống quy trình nội bộ để quản lý tiến độ cho từng loại hồ sơ
- Giải quyết hồ sơ giao dịch đảm bảo, hồ sơ đăng bộ cập nhật (không cấp mới GCN) thực hiện trên chương trình ViLIS
- Hồ sơ cấp mới GCN (cấp GCN ban đầu, tách hợp thửa, đăng bộ cấp mới GCN) thực hiện bằng chức năng kê khai đăng ký trên chương trình ViLIS: nhanh chóng, thuận lợi, dễ thao tác, người sử dụng chỉ phải nhập thông tin một lần không phải nhập lại nhiều lần Các nội dung về chủ sử dụng đất, thửa đất, diện tích, mục đích sử dụng,
sơ đồ thửa, nhà ở, công trình, được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của máy chủ, khi cần
sử dụng sẽ truy xuất dễ dàng
- Thực hiện việc ngăn chặn, xóa ngăn chặn bằng chức năng quản lý ngăn chặn trên chương trình ViLIS: chương trình sẽ tự động phát hiện và thông báo việc ngăn chặn nếu thửa đất có liên quan hiện đang bị ngăn chặn của các cơ quan chức năng như Tòa án, Thi hành án, Cơ quan điều tra
- Cập nhật và lưu trữ thông tin biến động của thửa đất trên chương trình ViLIS
- Xây dựng được quy trình nội bộ đối với các dạng hồ sơ (08 dạng), cụ thể: Quy trình cấp mới GCN hồ sơ nộp từ UBND phường, Đăng bộ cấp mới GCN, Cấp đổi cấp lại GCN, Hoàn công cấp mới GCN, Tách thửa hợp thửa, chuyển mục đích sử dụng đất, Chỉnh lý thông tin sau khi cấp GCN và quy trình cấp GCN hồ sơ nộp tại UBND quận
- Trong công tác cấp GCN (cấp mới, tách hợp thửa, cấp đổi, đăng bộ cấp mới GCN): tính từ ngày 01/01/2011 đến ngày 30/09/2011 đã cấp được 7.976 GCN (cả đất trống và nhà)
Trung bình 1 tháng, UBND quận 12 đã cấp được khoảng 886 GCN khi áp dụng bằng chương trình ViLIS, so với trước đây khoảng 530 GCN khi chưa áp dụng chương trình Qua đó, nhận thấy tiến độ cấp GCN được tăng lên 25,2 %
- Trong công tác đăng ký giao dịch đảm bảo: tính từ ngày 01/01/2011 đến ngày 30/09/2011 đã giải quyết được 7852 hồ sơ, tỉ lệ hồ sơ đúng hẹn đạt: 97,6 %
- Trong công tác đăng bộ cập nhật (không cấp mới GCN): tính từ ngày 01/01/2011 đến ngày 30/09/2011 đã giải quyết được 1193 hồ sơ, tỉ lệ hồ sơ đúng hẹn đạt: 78,4 %
Như vậy, qua quá trình thực hiện chương trình ViLIS, dữ liệu đất đai được quản
lý đồng bộ, thống nhất, dễ dàng quản lý, lấy thông tin nhanh chóng, chính xác, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ; từ đó tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền bạc cho Nhà nước và nhân dân
- Bên cạnh các kết quả đạt được, còn tồn tại một số mặt hạn chế như sau:
+ Chưa cập nhật ranh giới của các thửa đất biến động khi cấp mới GCN lên dữ liệu bản đồ của máy chủ, dẫn đến chưa liên kết được dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính của thửa đất
Trang 36+ Chưa cập nhật được ranh quy hoạch xây dựng, ranh quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, ranh thu hồi ngăn chặn làm căn cứ pháp lý trong quá trình giải quyết hồ sơ
+ Chưa áp dụng Hệ thống hồ sơ quét (scan chụp) trong chương trình ViLIS để lưu trữ dữ liệu (dạng số) đối với các loại GCN đã cấp trước đây (GCN theo Luật Đất đai 1993, Giấy hồng 60, Giấy hồng 90, )
- Phương hướng phát triển trong thời gian tới:
Khắc phục, tháo gỡ các mặt hạn chế còn tồn tại, từng bước xây dựng và hoàn thiện dữ liệu quản lý đất đai; tiến tới việc đưa quy trình tiến độ giải quyết hồ sơ lên mạng Internet để người dân dễ cập nhật, theo dõi
Việc áp dụng chương trình ViLIS để giải quyết hồ sơ hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai tại UBND quận 12 đã đạt được những kết quả khả quan, góp phần rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho Nhà nước và nhân dân Đây là ưu điểm lớn nhất chương trình ViLIS mang lại và nó là cơ sở để tiến tới thực hiện theo hệ thống ISO và cải cách thủ tục hành chính liên quan lĩnh vực đất đai tại UBND quận 12 nói riêng và cả nước nói chung
Hiện trạng xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai:
Bước đầu xây dựng được hệ thống quản lý dữ liệu đất đai đáp ứng đúng yêu cầu của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Trong đó, công tác xây dựng dữ liệu đất đai bao gồm:
- Xây dựng được hệ thống quản lý đất đai hoàn chỉnh, đồng bộ và thống nhất; vận hành và khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ cấp GCN và các giao dịch đất đai khác
- Hoàn thành công tác quét (scan chụp) hồ sơ gốc của 11 phường và đang cập nhật, bổ sung thông tin liên quan các GCN đã cấp vào dữ liệu của hệ thống
- Áp dụng phần mềm VILIS trong công tác giải quyết hồ sơ nhà đất: Xây dựng được các quy trình cấp giấy mới GCN, quy trình quản lý biến động đất đai và quy trình xử lý các giao dịch đất đai, theo dõi quá trình luân chuyển hồ sơ, thống kê báo cáo kết quả xử lý hồ sơ
- Từng bước hoàn thiện chương trình xây dựng cơ sở dữ liệu có các chức năng phù hợp với công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, có độ tin cậy và ổn định
- Đào tạo được hệ thống nhân lực có thể chủ động vận hành và sử dụng chương trình
- Hỗ trợ trực tiếp và hiện đại hóa các tác nghiệp trong công tác quản lý đất đai
Hiện trạng về lưu trữ hồ sơ và chỉnh lý hồ sơ lưu trữ:
- Hồ sơ liên quan lĩnh vực đất đai hiện nay được lưu trữ tại 3 kho:
+ Kho A: lưu trữ hồ sơ cấp GCN theo Luật Đất đai năm 1993 do Ủy ban nhân dân Quận Hóc Môn bàn giao cho quận 12 (hồ sơ giấy + file excel khoảng 15.000 hồ sơ), GCN cấp theo Nghị định 60 (29.079 hồ sơ), Công văn, Sổ bộ địa chính
+ Kho B: lưu trữ hồ sơ GCN cấp theo Nghị định 90, Nghị định 181 (24.023 hồ sơ), Nghị định 88 (26.400 hồ sơ), Sổ theo dõi biến động đất đai từ năm 2005 đến năm
2009
+ Kho C: lưu trữ hồ sơ liên quan lĩnh vực Pháp chế, môi trường, hồ sơ đăng ký
Kê khai nhà đất năm 1999
- Tuy nhiên, công tác lưu trữ hồ sơ còn gặp nhiều khó khăn do thiếu thốn về: nhân sự, trang thiết bị, kinh phí… Hiện nay kho lưu trữ đã hết không gian, Ủy ban
Trang 37nhân dân quận chưa có kinh phí để xây dựng thêm kho lưu trữ mới nhằm bố trí, sắp xếp hồ sơ cho khoa học, tránh tình trạng mất mát, thất lạc hồ sơ
c) Đánh giá chung:
Thông qua phân tích đánh giá tình hình quản lý đất đai trong thời gian qua đã cho thấy công tác quản lý đất đai trên địa bàn Quận 12 có những thuận lợi và khó khăn sau:
Lợi thế
- Hệ thống bản đồ địa chính số được phủ trùm toàn Quận tạo thuận lợi cho công tác quản lý
- Đội ngũ cán bộ quản lý đa phần là người dân địa phương, nắm rõ địa bàn, trình
độ chuyên môn cao và tâm huyết
- Quy hoạch xây dựng phủ trùm toàn quận, là cơ sở quan trọng trong công tác quản lý
- Việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ vào công tác quản lý đất đai trên địa bàn quận đã góp phần hoàn thiện theo hướng hiện đại, giúp quản lý đồng
bộ, giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác
Hạn chế
- Diện tích tự nhiên của Quận khá lớn, thành phần dân cư phức tạp
- Mang các đặc điểm của một quận mới phát triển: tốc độ đô thị hóa cao, số vụ tranh chấp khiếu nại lớn… gây rất nhiều khó khăn trong quản lý
- Thị trường bất động sản, đặc biệt là thị trường quyền sử dụng đất diễn ra sôi động, tuy nhiên phần lớn các giao dịch phi pháp (thông qua các hợp đồng viết tay) đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý đất đai trên địa bàn Quận
- Phương tiện, trang thiết bị, kỹ thuật hỗ trợ tác nghiệp còn thiếu
II.2 Tình hình sử dụng đất của quận 12
II.2.1 Tình hình sử dụng đất theo mục đích
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2011 toàn bộ diện tích đất tự nhiên của quận
là 5.274,90 ha chiếm 2,5% diện tích tự nhiên của thành phố Hồ Chí Minh, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người là 177,27m2/người Toàn bộ diện tích đất tự nhiên của quận đã được đưa vào sử dụng theo cơ cấu như sau:
Biểu đồ 2: Cơ cấu sử dụng đất năm 2011
33.56%
66.44%
0%
ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP ĐẤT CHƯA SỬ DỤNG
Trang 38Hiện nay quỹ đất tự nhiên của quận đã được đưa vào sử dụng triệt để và không
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 1.733,5293 32,86
1.2 Đất mặt nước nuôi trồng thủy sản NTS 36,6458 0,69
2 Nhóm đất phi nông nghiệp PNN 3.504,7294 66,44
2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 23,4875 0,45
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 33,6010 0,64
2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên
2.6 Đất phi nông nghiệp khác PNK 16,6087 0,31
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường quận 12, 2011)
Qua bảng trên cho thấy diện tích đất nông nghiệp chiếm diện tích là 1.770,1751
ha, chiếm 33,56% diện tích đất tự nhiên của quận So với các quận trong thành phố thì
quận 12 là quận có diện tích nông nghiệp tương đối lớn cụ thể như:
Đất sản xuất nông nghiệp: 1.733,5293 ha, chiếm 32,86% diện tích đất tự
nhiên
Đất nuôi trồng thủy sản có diện tích là 36,6458 ha, chiếm 0,69% diện tích tự
nhiên
Chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu sử dụng đất của quận là nhóm đất phi nông nghiệp
với 3.504,7294 ha, chiếm 66,44% diện tích tự nhiên Trong đó:
Đất ở là 1.663,78 ha chiếm 31,54% diện tích tự nhiên
Đất chuyên dùng là 1.335,9785 ha, chiếm 25,33 % diện tích đất tự nhiên So
với tốc độ phát triển, tỷ lệ gia tăng dân số của quận và yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
thì tỷ lệ này chưa đáp ứng được nhu cầu
Diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên dùng khá lớn với 358,31 ha,
chiếm 6,79% diện tích tự nhiên
II.2.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Quận 12 có diện tích đất nông nghiệp là 1.850,55 ha, chiếm 35,08% diện tích
đất tự nhiên (tập trung nhiều nhất ở các phường như Thạnh Xuân (550,74 ha), An Phú