Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở để Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt toàn bộ quỹ đất, đồng thời cũng là cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình the
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC
BÌNH GIAI ĐOẠN 2007- 2011
SVTH MSSV LỚP KHÓA NGÀNH
: : : : : :
Nguyễn Thị Ái Viên
08124100 DH08QL
2008 – 2010 Quản Lý Đất Đai
-TP.Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2012-
Trang 2KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN BỘ MÔN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT
NGUYỄN THỊ ÁI VIÊN
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẮC BÌNH GIAI ĐOẠN 2007-2011
Giáo viên hướng dẫn: Th.S: LÊ MỘNG TRIẾT
(Địa chỉ cơ quan: Trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh)
(Ký tên: ………)
- Tháng 5 năm 2008 -
Trang 3Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy LÊ MỘNG TRIẾT đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành đề tài tốt nghiệp Em xin cảm ơn thầy!
Tiếp theo, em xin gởi lời cảm ơn đến các Cô Chú, Anh Chị công tác tại Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Bắc Bình đã tạo điều kiện cho em thực tập, cung cấp số liệu và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập
Cuối cùng, xin cảm ơn các bạn đã cùng mình trao đổi kiến thức trong suốt quá trình học và thời gian thực hiện đề tài
Do hiểu biết còn hạn chế và thời gian thực tập còn ngắn nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của Thầy Cô và các bạn Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện NGUYỄN THỊ ÁI VIÊN
Trang 4Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Ái Viên, Khoa Quản Lý Đất Đai & Bất Động
Sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
Đề tài: “ Đánh giá tình hình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Bắc Bình giai đoạn 2007- 2011”
Giáo viên hướng dẫn: Th.S.Lê Mộng Triết, Bộ môn Chính sách và Pháp luật,
Khoa Quản Lý Đất Đai & Bất Động Sản
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở để Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt toàn bộ quỹ đất, đồng thời cũng là cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật đất đai Vì thế, hoàn thành tốt công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là yêu cầu của cả các cơ quan quản
lý đất đai và người sử dụng đất
Bắc Bình là một huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Bình Thuận, cùng với tốc độ đô thị hóa kéo theo tình hình sử dụng đất đai diễn ra khá phức tạp, công tác quản lý nhà nước về đất đai gặp nhiều khó khăn trong đó công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn nhiều hạn chế, vướng mắc cần được tháo gỡ
Từ thực tế đó, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm mục đích hệ thống, đánh giá lại toàn bộ quá trình đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Bắc Bình giai đoạn 2007- 2011 từ đó tìm những nguyên nhân chính ảnh hưởng tới quá trình thực hiện công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trên cơ sở
đó, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại huyện Bắc Bình
Với nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp chuyên gia; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung sau:
• Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở địa phương có liên quan đến công tác cấp GCNQSDĐ
• Đánh giá công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Bắc Bình giai đoạn 2007- 2011
• Đề xuất những giải pháp hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận trong thời gian tới
Đề tài đã đạt được một số kết quả như sau: cấp được 16.743 GCN cho hộ gia đình,
cá nhân với tổng diện tích là 9.561,35 ha.Qua đó, bước đầu đánh giá được tình hình công tác cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện, rút ra được những khó khăn, vướng mắc gặp phải và đã đưa ra được những giải pháp hoàn thiện công tác cấp giấy trong thời gian tới
Trang 5LỜI CẢM ƠN 1
Sinh viên thực hiện 1
TÓM TẮT 2
Mục lục 3
DANH SÁCH CÁC BẢNG 5
DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ 6
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở lí luận chung 3
1.1.1 Cơ sở khoa học 3
1.1.2 Cơ sở pháp lý 7
1.1.3 Cơ sở thực tiễn 8
1.1.3.1 Sơ lược về công tác đăng ký đất đai và cấp Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất tại Việt Nam qua các thời kỳ 8
1.1.3.2 Đánh giá công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Bắc Bình giai đoạn 1998 đến năm 2006 10
1.2 Khái quát địa bàn nghiên cứu 12
1.2.1 Tổng quan điều kiện tự nhiên trên địa bàn huyện Bắc Bình 12
a Vị trí địa lý 12
b Địa hình, địa chất 13
c Khí hậu, thời tiết 13
d Thủy văn 14
e Các nguồn tài nguyên 14
1.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế- xã hội 15
1.2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế 15
1.2.2.2 Thực trạng xã hội 18
1.2.2.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 19
1.2.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh tế- xã hội 20
1.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu: 21
1.3.1 Nội dung nghiên cứu: 21
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu: 21
Trang 62.1 Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở địa phương có liên quan đến công
tác cấp GCNQSDĐ 23
2.1.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Bắc Bình có liên quan đến công tác cấp giấy 23
a Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện 23
b Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ địa chính 23
c Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 24
d Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất 25
e Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại đất đai 25
2.1.2 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện 26
a Hiện trạng sử dụng đất đai theo mục đích sử dụng 26
b Hiện trạng sử dụng đất theo đối tượng sử dụng, đối tượng quản lý 27
2.2 Công tác cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Bắc Bình giai đoạn 2007- 2011 28
2.2.1 Tình hình cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện giai đoạn 2007- 2009 29
2.2.2 Tình hình cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện giai đoạn 2010- 2011 39
2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác cấp GCNQSDĐ: 48
2.3.1 Thuận lợi: 48
2.3.2 Khó khăn và vướng mắc: 48
2.4 Định hướng và giải pháp khắc phục: 49
KẾT LUẬN 50
Kết luận 50
Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 52
Trang 7Bảng 1 Kết quả cấp GCNQSDĐ qua từ năm 2004 đến năm 2006 11
Bảng 2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế giai đoạn năm 2007-2011 15
Bảng 3 Cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn năm 2007-2011 16
Bảng 4 Số lượng bản đồ địa chính của huyện 24
Bảng 5 Hiện trạng sử dụng đất năm 2011 theo mục đích sử dụng 26
Bảng 6 Hiện trạng sử dụng đất theo đối tượng sử dụng 27
Bảng 7 Kết quả đăng ký cấp GCNQSDĐ năm 2007 35
Bảng 8 Kết quả đăng ký cấp GCNQSDĐ năm 2008 36
Bảng 9 Kết quả đăng ký cấp GCNQSDĐ năm 2009 37
Bảng 10 Bảng tổng hợp kết quả cấp GCN từ năm 2007 đến năm 2009 38
Bảng 11 Kết quả cấp GCNQSDĐ năm 2011 45
Bảng12 Kết quả cấp GCNQSDĐ năm 2011 46
Bảng 13 Tổng hợp kết quả cấp GCNQSDĐ giai đoạn 2010- 2011 47
Trang 8Sơ đồ 1 Sơ đồ vị trí huyện Bắc Bình 13
Sơ đồ 2 Quy trình cấp GCNQSDĐ theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP 30
Sơ đồ 3 Quy trình đăng ký , cấp GCNQSDĐ lần đầu ở địa phương thực hiện theo Quyết định số 41/2008/QĐ-UBND 32
Sơ đồ 4 Quy trình cấp giấy chứng nhận thực hiện theo Quyết định số 40/QĐ-UBND tỉnh Bình Thuận 42 Biểu đồ 1 Cơ cấu kinh tế huyện Bắc Bình năm 2011 16 Biểu đồ 2 Hiện trạng sử dụng đất theo mục đích sử dụng 27
Trang 12Trang 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông- lâm nghiệp, là cơ sở để tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, đối với con người, đất đai chiếm một vị trí vô cùng quan trọng
Trong xu thế hiện nay, khi nền kinh tế- xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng có ý thức hơn về tầm quan trọng của đất đai, và với đặc tính cố định về vị trí, giới hạn về không gian Đất đai không giống với bất kì một hàng hóa nào, nó là tư liệu sản xuất đặc biệt, là một nguồn nội lực quan trọng để phát triển kinh tế trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính vì vậy, việc sử dụng và quản lý đất đai một cách đầy đủ và hợp lý là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển về mọi mặt của quốc gia
Bắc Bình là một huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Bình Thuận, toàn huyện có 18xã, thị trấn với quy mô dân số là 118.968 người, cùng với quá trình đô thị hóa kéo theo nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng tăng, gây sức ép rất lớn cho nguồn tài nguyên đất đai ngày một khan hiếm dần và theo đó công tác quản lý nhà nước về đất đai gặp nhiều khó khăn Như vậy để thuận tiện cho việc quản lý và sử dụng đất chặt chẽ, trước hết phải làm tốt công tác đăng ký , cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Nó được đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng nhằm quản lý thống nhất quỹ đất của địa phương; đảm bảo các chính sách Nhà nước được thực hiện chặt chẽ , chính xác; đảm bảo các quyền lợi và nghĩa vụ ch o người sử dụng đất , đồng thời giúp cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư trên đất của mình Trong khi đó công tác cấp giấy chứng nhận trên địa bàn huyện con gặp nhiều khó khăn vì thế việc đánh giá, xem xét tình hình cấp giấy là hết sức cần thiết nhằm tìm hiểu những nguyên nhân chính ảnh hưởng công tác cấp giấy chứng nhận
Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh và hoàn thành tốt công tác cấp giấy chứng nhận giúp người dân yên tâm sản xuất góp phần đẩy mạnh kinh tế- xã hội của huyện ngày càng phát triển
Xuất phát từ những thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “ Đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2007- 2011”
Đánh giá thực trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện, rút ra kết quả đạt được và những vướng mắc, tìm hiểu những nguyên nhân khách quan và chủ quan tồn tại trong công tác đăng ký cấp giấy, đề xuất những giải pháp có căn cứ khoa học góp phần hoàn thiện quá trình thực hiện công tác
cấp GCNQSDĐ
Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với đất ở và đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Bắc Bình trên cơ sở được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất
Trang 13Trang 2
Nghiên cứu công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện bắc bình giai đoạn 2007- 2011
Trang 14Trang 3
PH ẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Khác với các tài sản thông thường, quyền sở hữu đất đai có những đặc thù riêng
do có những đặc tính cơ bản, đó là:
• Không do con người tạo ra mà do thiên nhiên ban tặng cho loài người
• Có sự phân bố khác nhau trên trái đất nhưng lại cố định
• Không bị mất đi khi biết khai thác sử dụng hợp lý sẽ tạo ngày càng nhiều lợi ích cho con người, cùng với sự phát triển của xã hội loài người đất sẽ trở nên khan hiếm
và ngày càng có giá trị
Hiến pháp nước CHXHCNVN ngày 18/12/1980 tại điều 18 quy định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân…”, người đại diện cho toàn dân để duy trì bảo vệ quyền sở hữu đất đai là Nhà nước Nhà nước có đầy đủ các quyền năng, song nhà nước không trực tiếp sử dụng mà thông qua pháp luật của mình để chuyển giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng Thông qua pháp luật đất đai, nhà nước điều chỉnh quan hệ đất đai trong các việc chiếm hữu, quản lý, sử dụng và định đoạt số phận pháp lý của đất đai nhằm sử dụng nó đạt hiệu quả kinh tế cao phù hợp với lợi ích nhà nước và người sử dụng Nhà nước có quyền yêu cầu người sử dụng phải tuân theo quyết định
mang tính mệnh lệnh và buộc người sử dụng thực hiện nghĩa vụ trong quá trình sử dụng đất
Tóm lại, quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật- theo bộ luật dân sự 2005
sử dụng đất Những quyền đó được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong thực tế
Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính để thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ và cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng đất đủ điều kiện, nhằm xác lập mối quan hệ pháp
Trang 15Trang 4
lý giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai theo pháp luật; đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Đăng ký đất đai gồm hai giai đoạn:
+ Đăng ký lần đầu: được tổ chức thực hiện lần đầu trên phạm vi cả nước để thiết
lập hồ sơ địa chính ban đầu cho toàn bộ đất đai và cấp GCNQSDĐ cho tất cả các chủ
sử dụng đất đủ điều kiện (bao gồm: người được nhà nước giao đất, cho thuê đất; người đang sử dụng đất mà thửa đất đó chưa được cấp GCNQSDĐ)
+ Đăng ký biến động: được thực hiện cho mọi trường hợp có nhu cầu thay đổi
nội dung của hồ sơ địa chính đã được thiết lập (bao gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ; đổi tên, thay đổi đường ranh giới thửa đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thay đổi thời hạn sử dụng đất, chuyển từ hình thức Nhà nước cho thuê đất sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thay đổi về những hạn chế quyền của người sử dụng đất, Nhà nước thu hồi đất
Hồ sơ địa chính là hệ thống tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách… chứa đựng những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý của đất đai được thiết lập trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng kí ban đầu, đăng kí biến động đất đai, cấp giấy chứng nhận
Hồ sơ địa chính quản lý thường xuyên bao gồm các tài liệu:
Điều 48 của Luật Đất Đai 2003 quy định GCNQSDĐ như sau:
− GCNQSDĐ được cấp cho người sử dụng đất theo một mẫu thống nhất trong
cả nước đối với mọi loại đất
Trường hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản đó được ghi nhận trên GCNQSDĐ; chủ sở hữu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký bất động sản
Trang 16Trang 5
− GCNQSDĐ do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành
− GCNQSDĐ được cấp theo từng thửa đất
Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì GCNQSDĐ phải ghi cả họ, tên vợ và chồng
Trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức cùng sử dụng thì GCNQSDĐ được cấp cho từng cá nhân, từng hộ gia đình, từng tổ chức đồng quyền sử dụng
Trường hợp thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng dân cư thì GCNQSDĐ được cấp cho cộng đồng dân cư và trao cho người đại diện hợp pháp của cộng đồng dân cư đó
Trường hợp thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của cơ sở tôn giáo thì GCNQSDĐ được cấp cho cơ sở tôn giáo và trao cho người có trách nhiệm cao nhất của cơ sở tôn giáo đó
Chính phủ quy định cụ thể việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nhà chung cư, nhà tập thể
− Trường hợp người sử dụng đất đã được cấp GCNQSDĐ, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị thì không phải đổi giấy chứng nhận đó sang GCNQSDĐ theo quy định của Luật này Khi chuyển quyền sử dụng đất thì người nhận quyền sử dụng đất đó được cấp GCNQSDĐ theo quy định của Luật này
Trước khi có Luật đất đai năm 1993, người sử dụng đất được cấp GCN theo mẫu màu trắng Sau khi Luật đất đai năm 1993 ra đời thì đất được cấp theo mẫu GCNQSDĐ, mẫu giấy có màu đỏ gọi tắt là “sổ đỏ” (được quy định tại Nghị định 64-
CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ và Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục địa chính); nhà được cấp theo mẫu giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, mẫu giấy có màu hồng nên gọi tắt là “sổ hồng” (được quy định tại Nghị định số 60-CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị) Đến năm 2004, Luật đất đai 2003 có hiệu lực thì đất và nhà đều được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất( màu đỏ), riêng nhà tại trang 2 của giấy chứng nhận được ghi là có tài sản gắn liền Tuy nhiên, mẫu GCN theo Luật đất đai 2003 cũng còn hạn chế trong việc xác lập quyền sở hữu tài sản trên đất cho người sử dụng đất Do vậy, Nghị định 90/2006/NĐ- CP ngày 06/09/2006 của Chính phủ ra đời quy định chi tiết về thi hành Luật nhà ở, Nghị định này quy định có 2 loại giấy GCNQSHNƠ- QSDĐƠ và GCNQSHNƠ do Bộ xây dựng quy định và ban hành( mẫu giấy có màu hồng).Qua đó, việc xét cấp GCNQSDĐ gặp nhiều khó khăn do nhiều mẫu giấy chứng nhận khác nhau do các cơ quan khác nhau ban hành, vì vậy Chính phủ lại tiếp tục ban hành Nghị định số 88/2009/NĐ – CP ngày
19/10/2009 về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tạo thuận hơn cho cán bộ trong việc cấp GCNQSDĐ và người dân
Trang 17Trang 6
Theo điều 49 Luật đất đai 2003, nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những trường hợp sau đây:
• Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất (trừ trường hợp thuê đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn)
• Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp GCNQSDĐ;
• Người đang sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Luật này mà chưa được cấp GCNQSDĐ (bao gồm: hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất);
• Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho QSDĐ; người nhận QSDĐ khi xử lý hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng QSDĐ để thu hồi nợ; tổ chức sử dụng đất là pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng QSDĐ;
• Người sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
• Người trúng đấu giá QSDĐ, đấu thầu dự án có sử dụng đất;
• Người sử dụng đất quy định tại các Điều 90, 91 và 92 của Luật này (bao gồm: đất khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu kinh tế);
• Người mua nhà ở gắn liền với đất ở;
• Người được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở
Khoản 2 Điều 41 Nghị định 181/2004/NĐ-CP quy định việc Nhà nước không cấp GCNQSDĐ cho những trường hợp sau:
- Đất do nhà nước giao cho các tổ chức để quản lý
- Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích( không cấp cho cả UBND và người thuê đất)
- Người sử dụng đất do thuê của người khác
Trang 18Trang 7
- Người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường
- Người đang sử dụng đất không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại điều 50,51/ Luật đất đai và các điều 46, 47,
50, 51, 52, 54, 90/ nghị định 181/ 2004/ NĐ- CP
GCNQSDĐ là một chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà
nước với người sử dụng đất
Với những thông tin được thể hiện trên giấy (như tên người sử dụng đất, số hiệu, diện tích, mục đích sử dụng, những biến động sau khi cấp giấy, v.v), GCNQSDĐ giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với cả Nhà nước và người sử dụng đất Về phía Nhà nước, tiến độ cấp và mức độ hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ cho người sử dụng đất chứng tỏ khả năng của Nhà nước trong việc quản lý tài sản đất đai thuộc sở hữu của mình, giúp Nhà nước kiểm soát tình hình đất đai một cách thuận tiện Về phía người
sử dụng đất, GCNQSDĐ là cơ sở để họ được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp, là tiền đề để họ có thể thực hiện các quyền mà pháp luật đã trao cho người sử dụng đất, cụ thể và quan trọng nhất là các quyền giao dịch đối với quyền sử dụng đất
Do đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hết sức cần thiết và quan trọng
Dưới bất kỳ một thời đại nào, một chế độ xã hội nào, đất đai luôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của bộ máy nhà nước, để đảm bảo đất đai được quản lý chặt chẽ, nhà nước đã ban hành các văn bản Luật, Nghị định và các Thông tư hướng dẫn thi hành có liên quan có liên quan đến lĩnh vực đất đai trong đó có công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Từ Luật đất đai năm 1993 được thông qua ngày 14/7/1993 thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định tại điều 36 của luật này, tuy nhiên luật này vẫn còn quy định chung chung về việc cấp giấy Năm 2003, luật 1993 được thay thế bằng luật đất đai 2003 được quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực thi hành 1/7/2004 Tại điều 46-52 của luật này quy định về việc đăng ký quyền sử dụng đất, nêu rõ những trường hợp được cấp giấy và quy định việc cấp giấy chứng nhận cho
hộ gia đình, cá nhân và tổ chức sử dụng đất; ngoài ra luật này còn quy định cụ thể hơn
về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất được quy định cụ thể tại điều 123 Và để hướng dẫn thi hành luật đất đai 2003, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 181 ngày 29/10/2004 hướng dẫn cụ thể các điều khoản của luật 2003 cụ thể: khoản 4 điều 41 hướng dẫn việc ghi các biến động trên giấy chứng nhận; những trường hợp thu hồi giấy chứng nhận quy định tại điều 42; cách ghi tên người sử dụng đất trên giấy chứng nhận tại điều 43; điều 44- 45 quy định việc cấp giấy chứng nhận trong trường hợp có tài sản gắn liền và trường hợp thửa đất
có vườn ao; quy định việc cấp giấy chứng nhận cho các đối tượng sử dụng được quy định tại điều 46- 55…
Trang 19Trang 8
Tiếp đó, ngày 1/11/2004 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quyết định số 24/2003/QĐ- BTNMT quy định về mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nội dung, cách viết và quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất một cách rõ ràng Nhằm bổ sung thêm một số trường hợp cấp giấy chứng nhận chính phủ lại tiếp tục ban hành Nghị định 84/2007/NĐ- CP ngày 25/5/2007 về quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ,tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai trong đó tại điều 4- 21 quy định cụ thể về cấp giấy chứng nhận Pháp luật đất đai luôn được nhà nước ta quan tâm, hoàn thiện và bổ sung để mở rộng hơn quyền lợi cho người dân, do
đó Nghị định 88/2009/NĐ- CP ra đời quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và Thông tư 17/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Và để việc cấp giấy được thực hiện tốt hơn, UBND Tỉnh Bình Thuận đã ban hành các quyết định 41/2008/QĐ-UBND ngày 09/05/2008 quy định trình tự thủ tục giải quyết hồ sơ hành chính trong các lĩnh vực đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước và môi trường theo cơ chế “một cửa” trên địa bàn tỉnh Bình Thuận và quyết định 40/2010/QĐ-UBND ngày 10/09/2010 của UBND tỉnh Bình Thuận về việc ban hành quy định về cơ chế phối hợp và thời gian thực hiện cấp GCNQSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, đăng ký biến động QSDĐ, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận Trên cơ sở những văn bản cấp trung ương và cấp địa phương đã ban hành nêu trên, công tác cấp giấy ở địa phương được thực hiện một cách khoa học và hiệu quả hơn
Sổ “địa bộ” thời Minh Mạng: được lập tới từng làng, xã và đã có nhiều tiến bộ hơn so với sổ địa bạ thời Gia Long
Dưới thời Pháp thuộc: do chính sách cai trị của thực dân, trên lãnh thổ Việt Nam đã tồn tại nhiều chế độ điền địa khác nhau:
- Chế độ quản lý địa bộ tại Nam Kỳ
Trang 20Trang 9
- Chế độ bảo tồn điền trạch, sau đổi thành quản thủ địa chánh tại Trung Kỳ
- Chế độ bảo thủ để áp áp dụng với bất động sản của người Pháp
- Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 29/3/1939 áp dụng tại Bắc Kỳ
- Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 21/07/1925 áp dụng tại Nam Kỳ
Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1979:
Nhà nước chưa có một văn bản pháp lý nào làm cơ sở nên công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa được triển khai Hoạt động chủ yếu của ngành trong giai đoạn này là tổ chức các cuộc điều tra nhanh về đất để giúp nhà nước quản lý chặt chẽ diện tích phục vụ yêu cầu xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất
Hệ thống tài liệu đất đai trong giai đoạn này chủ yếu gồm 2 loại: bản đồ giải thửa, sổ mục kê kiêm thống kê ruộng đất Trong đó thông tin về người sử dụng đất trên sổ sách chỉ phản ánh theo hiện trạng không thể tra cứu đến cơ sở pháp lý và lịch sử sử dụng đất
Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1988:
Từ sau năm 1980 công tác đăng kí đất đai mới được Nhà Nước quan tâm thể hiện:
+ Ngày 01/07/1980, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định 201-CP về việc thống nhất quản lý đất đai và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước
Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1993:
Sau luật đất đai 1988, đăng ký đất đai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trở thành một nhiệm vụ bắt buộc và hết sức bứt thiết làm cơ sở để tổ chức thi hành Luật đất đai Xuất phát từ yêu cầu đó, kế thừa và kết quả điều tra đo đạc và đăng ký đất đai theo Chỉ thị 299/TTg, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành Quyết định 201/ĐKTK ngày 14/07/1989 về việc ban hành quyết định cấp GCNQSDĐ và Thông tư 302/ĐKTK ngày 28/10/1989 hướng dẫn thi hành quyết định về việc cấp giấy chứng nhận về việc sử dụng đất Việc ban hành các văn bản này đã tạo ra một sự chuyển biến lớn về chất trong việc thực hiện đăng ký đất và bắt đầu từ năm 1990 được triển khai đồng loạt trên phạm vi cả nước
Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003:
Thành công của việc thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã tạo cơ sở vững chắc cho sự ra đời của Luật đất đai năm 1993 (được thông qua ngày 14/7/1993 và có hiệu lực thi hành ngày 15/9/1993) với những thay đổi lớn: ruộng đất được giao ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng; đất đai có giá trị; mở rộng quyền cho người
sử dụng đất (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế QSDĐ, thế chấp bằng QSDĐ) Với những thay đổi đó, yêu cầu hoàn thành cấp GCNQSDĐ ngày càng trở nên cấp bách Nhận thức được điều đó, chính quyền các cấp bắt đầu coi trọng và tập
Trang 21Trang 10
trung chỉ đạo nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ trên phạm vi cả nước với mục tiêu hoàn thành cấp GCNQSDĐ vào năm 2000 (khu vực nông thôn) và năm 2001 (khu vực đô thị) theo các Chỉ thị số 10/1998/CT-TTg và Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Sự khẳng định đất đai có giá trị, người sử dụng đất được nới rộng các quyền đã tạo ra sự chuyển biến lớn về giá cả đất đai và vấn đề quản lý đô thị, quản lý đất đai phải gắn liền với quản lý Nhà nước Xuất phát từ tình hình đó, ngày 05/4/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 60/CP Nghị định này đã trở thành cột mốc quan trọng trong việc lập lại trật tự pháp lý cho lĩnh vực nhà đất tại đô thị Nghị định xác định rõ các vấn đề QSDĐ phải được xem xét từ nguồn gốc và tính hợp pháp của quá trình tạo lập Theo tinh thần Nghị định này thì người sử dụng đất ở tại đô thị phải được cấp GCNQSHNƠ và QSDĐƠ Việc đăng ký nhà ở và đất ở tại đô thị bắt đầu được thực hiện Tuy nhiên khi thực hiện thì số lượng GCN được cấp rất hạn chế vì trong quy định còn nhiều điểm chưa hợp lý, cần phải điều chỉnh
Giai đoạn từ 2003 đến nay:
Trên cơ sở kế thừa và phát huy Luật Đất đai năm 1993; Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2001; Luật đất đai năm 2003 đã mở rộng hơn quyền của người
sử dụng đất (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế QSDĐ; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ) Đặc biệt, việc cho phép QSDĐ được tham gia thị trường bất động sản có sự quản lý của Nhà nước cũng đã góp phần làm tăng thêm nhu cầu cấp GCNQSDĐ Hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai được ban hành (như Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, Nghị định số 88/2009/NĐ-CP và Thông tư 17/2009/TT-BTNMT…) Quy trình thực hiện đăng ký cấp GCNQSDĐ đơn giản và thông thoáng hơn, đã đáp ứng được phần nào nhu cầu cấp GCNQSDĐ của người sử dụng đất
địa bàn huyện Bắc Bình giai đoạn 1998 đến năm 2006
bàn huyện Bắc Bình giai đoạn 1998 đến tháng 12 năm 2003
Trước khi Luật đất đai 2003 ra đời, công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện được thực hiện theo Luật đất đai 1993, Luật đất đai sửa đổi bổ sung 1998, năm 2001 và các văn bản hướng dẫn thi hành của Trung ương và của Sở
Sự ra đời của Luật đất đai 1993 với những thay đổi: ruộng đất được giao ổn định lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân, đất đai có giá trị, người sử dụng đất được hưởng các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất…với những yêu cầu đó nhiệm vụ đăng ký đất đai cấp GCN ngày càng trở nên bức bách Nhận thức được điều đó, chính quyền các cấp, các địa phương nói chung và huyện Bắc Bình nói riêng bắt đầu coi trọng và tập trung chỉ đạo, công tác cấp giấy bắt đầu được triển khai mạnh mẽ
Từ năm 1993 đến 2001, nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản quy định làm
cơ sở pháp lý cho việc triển khai và đẩy mạnh việc đăng ký như Nghị định 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị;
Trang 22Trang 11
Quyết định 499/QĐ- ĐC ngày 27/7/1995 của Tổng cục địa chính quy định các mẫu sổ địa chính, sổ Mục kê, sổ cấp giấy chứng nhận, sổ theo dõi biến động; Chỉ thị 10/1998/CT-TTg ngày 20/2/1998 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh và hoàn thành việc giao đất, cấp giấy chứng nhận đất nông nghiệp…
Đến năm 2001, nền kinh tế nước ta đã chuyển biến mạnh mẽ, nhu cầu đòi hỏi phải hội nhập với nền kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới do đó một số điều Luật đất đai không còn phù hợp với thực tế Vì vậy, trong kỳ họp thứ IX Quốc hội khóa X ngày 29/6/2001 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung của Luật đất đai 1993 Trên cơ sở các văn bản Luật và Nghị định, chỉ thị nêu trên, huyện Bắc Bình đã tiền hành đẩy mạnh công tác đăng ký cấp giấy và đã đạt được kết quả: đã cấp được 23.573 giấy/21.933 chủ sử dụng/115.516,43 ha
b Khái quát công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006
• Cơ sở pháp lý:
Trong giai đoạn này, Luật đất đai 2003 vừa mới ra đời có hiệu lực ngày 1/7/2004
và một số văn bản hướng dẫn Luật đất đai có liên quan đến công tác đăng ký đất đai và cấp GCNQSDĐ như:
Nghị định 181/2004/NĐ- CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai
Quyết định số 24/2004/QĐ- BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Thông tư số 01/2005/TT- BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ- CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn về thi hành Luật đất đai…
Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện được thực hiện trên cơ sở các quy định của Luật và Nghị định , thông tư trên
Bảng 1 Kết quả cấp GCNQSDĐ qua từ năm 2004 đến năm 2006
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bắc Bình)
Dựa vào bảng kết quả cho thấy năm 2005, số giấy chứng nhận được cấp thấp hơn
so với 2004, năm 2006 kết quả đạt cao nhất nguyên nhân là do:
Giai đoạn này huyện mới thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ngày 1/5/2005 và đưa vào thực hiện theo cơ chế một cửa, bước đầu gặp nhiều khó khăn về
cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí Đội ngũ cán bộ là lực lượng trẻ mới ra trường nên chưa nắm bắt được công việc chuyên môn, trong khi đó:
Luật đất đai 2003 có nhiều quy định mới chặt chẽ như thông tin trên giấy chứng nhận phải chi tiết, giấy chứng nhận gồm 2 bản , việc in ra giấy chứng nhận hoàn toàn phải ứng dụng công nghệ tin học nên đã gây không ít khó khăn cho công tác cấp giấy;
Trang 23Trang 12
các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế “một cửa”, luân chuyển hồ sơ hồ sơ địa chính
để xác định nghĩa vụ tài chính và thu lệ phí trước bạ còn chồng chéo làm cho việc tổ chức thực hiện và giao trả hồ sơ cho nhân dân còn lúng túng và bất cập
Đến năm 2006, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã hoạt động hơn một năm; các cán bộ nắm bắt được phần nào công việc của mình, do đó kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt được kết quả cao hơn 2005
1.2 Khái quát địa bàn nghiên cứu
1.2.1 T ổng quan điều kiện tự nhiên trên địa bàn huyện Bắc Bình
a Vị trí địa lý
Bắc Bình là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bình Thuận Huyện có Quốc Lộ 1A đi qua với chiều dài 37 km và đường sắt Bắc Nam đi qua với chiều dài 40 km, có bờ biển dài 83 km
+ Phía Bắc giáp huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng
+ Phía Tây Bắc giáp huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng
+ Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Hàm Thuận Bắc - tỉnh Bình Thuận
+ Phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Tuy Phong - tỉnh Bình Thuận
+ Phía Đông Nam giáp với Biển Đông
+ Phía Nam và Tây Nam giáp Biển Đông và Thành Phố Phan Thiết
Với vị trí nằm cách TP Hồ Chí Minh (270 km), Nha Trang (200 km), có Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam chạy qua và tuyến đường Lương Sơn -Đại Ninh nối liền với tỉnh Lâm Đồng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển một nền kinh tế đ a dạng, phong phú với những tỉnh vùng Duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ đặc biệt là khu tam giác Bình Thuận-Ninh Thuận-Lâm Đồng
Trang 24xuống Tây Nam Độ cao thấp nhất về vùng đồng bằng ven Sông Luỹ, Sông Mao
c Khí h ậu, thời tiết
Huyện Bắc Bình mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng, do đặc điểm vị trí của Bắc Bình nằm ở sườn Đông và Đông Nam dãy Trường Sơn không
Trang 25Trang 14
thuận lợi đón gió mùa Đông Bắc và Tây Nam để gây mưa nên Bắc Bình là một trong những huyện có lượng mưa thấp nhất của tỉnh Bình Thuận Trong năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, lượng mưa bình quân 818mm/năm
Do đặc điểm địa hình là đồi núi nên các sông thường ngắn và dốc dẫn đến thoát nước nhanh, gây nên lũ lụt vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô Trong đó hệ thống Sông Lũy là nguồn cung cấp nước chính cho sinh hoạt và sản xuất của huyện
e Các nguồn tài nguyên
Theo kết quả điều tra đất huyện Bắc Bình bao gồm 6 nhóm đất chính sau:
• Nhóm đất xám: Đây là nhóm đất chính của huyện với diện tích 105.922,77 ha, đặc điểm của nhóm đất này là được hình thành trên đá mẹ giàu thạch anh , nghèo kiềm
và sắt nhôm Loại đất này ở vị trí trung gian giữa đồng bằng phù sa và vùng đồi núi
thấp
• Nhóm đất cát : Với diện tích 45.492,2 ha, đất này được hình thành d o sự hoạt động phối hợp giữa thủy triều , các dòng chảy của nước , gió và sóng biển Đất được
cấu tạo bằng những vật liệu thô, rời rạc Đất tương đối chua và nghèo mùn
• Nhóm đất phù sa: Diện tích 16.571,37 ha, phân bố dọc các con sông Đất có độ
PH cao
• Nhóm đất đỏ: Với diên tích 11.287,23 ha, đất này có tầng đất dày , thành phần
cơ giới nặng, giàu đạm và lân
• Nhóm đất mới biến đổi : Diên tích 1.441,63 ha, có nguồn gốc phù sa nhưng
trong đất có sự di chuyển của cacbonat
• Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: Diện tích 496,00 ha, phân bố ở địa hình cao và độ
dốc lớn, đất có độ phì thấp
Nhìn chung, trên địa bàn huyện có sự phong phú về chủng loại đất nên quá trình khai thác sử dụng có thể cho phép đa dạng hóa các loại hình sử dụng theo hướng đa dạng sinh học với thế mạnh là các loại cây rừng , cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả
và các loại cây ngắn ngày Tuy nhiên do điều kiện khô hạn nên phần lớn đất của huyện
nghèo dinh dưỡng, một số nơi bị xói mòn, rửa trôi nghiêm trọng…
Tài nguyên nước của huyện gồm nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm:
Nguồn nước mặt của huyện có trữ lượng tương đối thấp và phân bố không đều theo không gian và thời gian
Nguồn nước ngầm: nước ngầm có trữ lượng thấp, chất lượng không tốt, thường
bị nhiễm mặn, phân bố không đều, có nơi khoảng từ 4-8m là nước ngọt, có vùng sâu khoảng 85m mà không thấy nguồn nước ngầm
Trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển, nhân dân các dân tộc Bắc Bình đã viết nên trang sử quê hương rực rỡ, với truyền thống văn hóa đặc sắc, gắn liền với truyền thống kiên cường trong đấu tranh cách mạng Cộng đồng các dân tộc gồm trên
18 dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó, cần cù chịu khó trong lao động, cùng những thành
Trang 26Trang 15
tựu đạt được….đã đánh dấu sự nỗ lực vươn lên không ngừng của người dân xây dựng nên mảnh đất Bắc Bình ngày nay
Phát huy truyền thống văn hiến, cách mạng, niềm tự hào quê hương, ý chí tự lực,
tự cường, khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được trong lao động sản xuất, Bắc Bình có điều kiện để phát triển mạnh kinh tế- xã hội trong giai đoạn tới, thưc hiện thành công công cuộc đổi mới với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế- xã hội
1.2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, kinh tế của huyện có những chuyển biến tích cực và dần đi vào thế ổn định
Bảng 2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế giai đoạn năm 2007-2011
Tổng GTSX 418.650 478.505 548.419 627.157 717.356 14,34 Ngành Nông-
( Nguồn: Niên giám thống kê năm 2011 huyện Bắc Bình)
Qua bảng 2 cho thấy, tổng giá trị sản xuất trên toàn huyện qua các năm tăng, với tổng giá trị sản xuất năm 2007 đạt 418.650 triệu đồng, đến năm 2010 tăng lên là 627.157 triệu đồng và năm 2011 tăng lên là 717.356 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 14,34% trong đó ngành nông nghiệp có mức tăng trưởng chậm lại(8,10%); ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh(23,37% và 29,10%).Năm 2011, tốc độ tăng trưởng GDP là 14,08%; GDP bình quân đầu người đạt 16.869.000 đồng/ người
Trang 27Trang 16
Nền kinh tế của huyện còn mang tính đặc thù của một vùng kinh tế nông nghiệp,
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện còn diễn ra chậm và chưa ổn định
Bảng 3 Cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn năm 2007-2011
Ngành Công nghiệp và
xây dựng 15,36 16,06 17,64 19,29 20,36 Ngành Thương mại và
Dịch vụ 16,77 18,50 21,19 23,94 26,39
( Nguồn: Niên giám thống kê năm 2011 huyện Bắc Bình)
Qua bảng 3 cho thấy, so với năm 2007 cơ cấu kinh tế của huyện có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp- xây dựng và thương mai- dịch vụ, giảm ngành Nông- Lâm- Thủy sản nhưng sự chuyển dịch còn rất chậm và chưa ổn định Ngành Nông- Lâm- Thủy sản vẫn giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế của huyện nhà( năm 2009 chiếm 61,17%; năm 2010 chiếm 56,77%; năm 2011 chiếm 53,25%) Hiện tại và cả những năm tới ngành nông nghiệp vẫn giữ vị trí chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của huyện nhà Vì vậy, trong xây dựng và phát triển kinh tế cần chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng Công nghiệp- dịch vụ, giảm tương đối tỷ trọng Nông- Lâm nghiệp tạo điều kiện thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Biểu đồ 1 Cơ cấu kinh tế huyện Bắc Bình năm 2011
53.25 20.36
26.39
Ngành Nông- Lâm- Thủy sản
Ngành Công nghiệp và xây dựng
Ngành Thương mại và Dịch vụ
Trang 28+ Về trồng trọt: Năm 2011 toàn huyện đã gieo trồng đạt 102%( 51.248 ha/50.150
ha so với kế hoạch), trong đó cây lương thực đạt 105% (26.922 ha/25.121 ha), so với cùng kỳ tăng 1.801 ha Sản lượng lương thực vượt chỉ tiêu đề ra 13,1% (141.396 tấn/125.000 tấn), so với cùng kỳ tăng 16.396 tấn
+ Về chăn nuôi: Phát triển nhanh và ổn định trong đó tổng đàn gia súc, gia cầm được duy trì ổn định: đàn bò tăng 4,8% (59.200 con), đàn heo tăng 9,4%(26.443 con), đàn dê, cừu giảm 8,2% (14.381), đàn gia cầm tăng 39%( 599.000), diện tích nuôi Dông phát triển, đến nay đã đầu tư nuôi với diện tích trên 61 ha
Giá trị Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp đạt trên 100 tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ, chủ yếu là sản xuất nước đá, xây xát lương thực, sản xuất gạch và khai thác vật liệu xây dựng Bên cạnh đó, trên địa bàn huyện cũng đã triển khai quy hoạch chi tiết công nghiệp Hải Ninh, lập quy hoạch đầu tư kết cấu hạ tầng phát triển làng nghề sản xuất bánh tráng Chợ Lầu, gốm gọ Bình Đức
• Dịch vụ:
Trong những năm gần đây ngành thương mại- dịch vụ đang có chiều hướng khởi sắc đáng kể, do đó đã đóng góp ngày một tốt hơn cho nhu cầu đời sống và phục vụ sản xuất ở địa phương Các loại hình hoạt động chủ yếu là dịch vụ vận tải hàng hóa, dịch vụ ăn uống, dịch vụ cung cấp xăng dầu, vật tư phục vụ sản xuất Dịch vụ du lịch bước đầu mới phát triển phục vụ khách đến tham quan di tích lịch sử đền thờ Vua Chăm, chiến khu Lê, thành Sông Lũy, khách tham quan các công trình hồ đập thủy lợi như: Cà Giây, Dồng Mới, Cà Lon…ngoài ra, đã thành lập ban quản lý điểm du lịch Bàu trắng, bước đầu đi vào hoạt động ổn định, tăng cường công tác vệ sinh môi trường nhằm mục đích mở rộng hoạt động du lịch trên địa bàn huyện
Trang 29Mật độ trung bình 61,81 người/km2 nhưng phân bố không đều, dân cư tập trung đông đúc ở các thị trấn Chợ Lầu, Lương Sơn , xã Hồng Thái và xã Phan Rí Thành, tập trung thành các khu dân cư đông đúc chạy dọc theo quốc lộ 1A, bên cạnh đó các xã như Phan Lâm, Phan Sơn, Phan Điền, Phan Tiến dân cư thưa thớt Vì vậy việc bố trí xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhu cầu người dân trong toàn huyện gặp nhiều khó khăn
Những năm qua lực lượng lao động trên địa bàn huyện có xu hướng tăng nhanh,
là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế- xã hội của huyện
Trang 30Trang 19
Theo số liệu thống kê năm 2011, trên địa bàn huyện có 68.787 lao động chiếm 57,82% tổng dân số Trong đó, lao động trong ngành nông nghiệp là 50.054 người chiếm 72,77% tổng số lao động, ngành công nghiệp là 2513 người chiếm 3,65%, dịch
vụ chiếm 23,58% Lao động chủ yếu là nghề nông nên trình độ chuyên môn của lực lượng lao động không thể đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả ba khu vực( nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ)
Bên cạnh đó, việc làm là yếu tố hàng đầu để đảm bảo cuộc sống và thúc đẩy Kinh Tế- Xã hội phát triển Năm 2011, toàn huyện đã giải quyết được 2530 lao động, đạt 101,2% so với kế hoạch Tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn 757 học viên/25 lớp với 9 nghề trên lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp
d Về y tế
Đến nay số trạm y tế có bác sỹ là 14/18 trạm, trong đó có 15 thôn có phòng khám chữa bệnh tư nhân,có 9 xã có cơ sở kinh doanh thuốc tây, ngoài ra công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện được tăng cường
a Giao thông
Hệ thống giao thông huyện được nâng cấp nhựa hóa từ trung tâm huyện đến các
xã miền núi, vùng cao như các tuyến Chợ lầu- Hải Ninh- Phan Điền; Lương Sơn- Hòa Thắng; Sông lũy- Phan Tiến…
Giao thông nội huyện có tất cả 45 tuyến được phân bố trên 18 xã, Thị trấn trong huyện với tổng chiều dài 276 km Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có hệ thống giao thông đường sắt qua huyện với chiều dài 40 km và 3 ga: Sông Mao, Sông Lũy, Châu Hanh
Hiện nay hệ thống thủy lợi của huyện có 1 hồ chứa nước( Cà Giây) và 25 đập, trong đó có 9 đập kiên cố, bán kiên cố và một trạm bơm Trong mấy năm gần đây song song với việc xây dựng hồ Cà Giây, huyện cũng đã kiên cố hóa một số đập thuộc hệ thống tưới nước Cà Giây, hệ thống mương cấp 1,2 và kênh tiêu được đào mới
Nhìn chung ngành thủy lợi trong những năm gần đây có phát triển, xong so với nhu cầu diện tích đất canh tác hiện nay cần tưới nước là rất khan hiếm Vì vậy trong
Trang 31Đến nay đã có 18/18 xã, thị trấn có trạm truyền thanh và mạng lưới truyền thanh, 6/18 xã, thị trấn có Trạm bưu điện, Văn hóa( giảm 9 đơn vị so với năm 2010 do hoạt động không hiệu quả), 06 xã, thị trấn có đường dây truyền hình cáp với số đầu dây được sử dụng trên 3.300 thuê bao, số điện thoại cố định đạt 12 máy/100 dân, hệ thống điện thoại di động phủ sóng toàn Huyện
kinh t ế- xã hội
Thu ận lợi
Nhìn chung, huyện Bắc Bình có vị trí tương đối thuận lợi vì có đường sắt xuyên Việt đi qua với 3 ga là ga Châu Hanh , Sông Mao và Sông Lũy cùng với Quốc lộ 1A mới được nâng cấp chạy qua tạo điều kiện giao lưu kinh tế , văn hóa với các huyện trong tỉnh, với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với miền Trung và Tây nguyên Huyện có diện tích đất đai lớn , diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều đây là một yếu tố quan trọng để phát triển nền kinh tế nếu được đầu tư hiệu quả
Các nguồn tài nguyên trong huyện (tài nguyên đất, ven biển, rừng, khoáng sản )
đa dạng, phong phú là điều kiện thuận lợi để đa dạng hóa cây trồng , phát triển các ngành công nghiệp khai thác, chế biến lâm sản, du lịch và khoáng sản, có bãi biển đẹp, nhiều thắng cảnh và cảnh quan thiên nhiên phong phú thuận lợi cho phát triển kinh tế
du lịch
Cơ cấu kinh tế của huyện có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp- xây dựng và thương mai- dịch vụ, giảm ngành Nông- Lâm- Thủy sản, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế của huyện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa