Xuất phát từ thực tế trên, được sự phân công của khoa Quản lý Đất đai & Bất động sản, đề tài “Hiện trạng và định hướng phát triển thị trường nhà ở trên địa bàn huyện Củ Chi đến năm 2020
Trang 1KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ BẤT ĐỘNG SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
- Tháng 7 năm 2012 -
Trang 2
LÊ THỊ PHƯƠNG THÚY
HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI
Giáo viên hướng dẫn: ThS TRẦN DUY HÙNG Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Ký tên :
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để được như ngày hôm nay, con xin cảm ơn cha mẹ
đã sinh ra con, yêu thương và tạo mọi điều kiện tốt đẹp cho con trong suốt quá trình học tập con xin khắc ghi suốt cuộc đời mình
Em xin cảm ơn ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, ban chủ nhiệm và toàn thể quý thầy cô khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em làm hành trang bước vào cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn thầy Trần Duy Hùng đã tận tình quan tâm, hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn đến anh Nguyễn Việt Dũng, anh Nguyễn Hoàng Nguyên, chị Ngô Thị Thanh Loan cùng các anh chị tại phòng Quản lý đô thị huyện Củ Chi đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Cảm ơn tất cả bạn bè đã sát cánh bên tôi, giúp đỡ tôi trong suốt những năm học qua
Quá trình nghiên cứu đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy
Trang 4Sinh viên thực hiện: Lê Thị Phương Thúy, Khoa Quản lý Đất đai & Bất động sản, Trường Đại Học Nông Lâm – Thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài: “Hiện trạng và định hướng phát triển thị trường nhà ở trên địa bàn
huyện Củ Chi đến năm 2020” Địa điểm thực tập: Phòng Quản lý đô thị huyện Củ
Chi
Giáo viên hướng dẫn: Ths Trần Duy Hùng, khoa Quản lý Đất đai và Bất động
sản Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Là thành phố phát triển bậc nhất cả nước, hiện nay sức chứa của thành phố Hồ Chí Minh gần như quá tải với số lượng dân nhập cư ngày càng đông Để giải quyết vấn
đề dân số đang đè nặng đồng thời đảm bảo mức sống cho người dân, thành phố đang thực hiện phát triển theo mô hình tập trung đa cực Trong bốn hướng phát triển của thành phố, Củ Chi là hướng phụ về phía Tây Bắc phục vụ cho chính sách giãn dân của Thành phố, tuy nhiên Huyện được đánh giá cao hơn các hướng còn lại do có những điều kiện thuận lợi cho công tác phát triển nhà ở Sự phát triển của các khu, cụm công nghiệp đã thu hút một lượng lớn lao động về Huyện sinh sống, giải quyết nhu cầu nơi
ở cho lượng dân nhập cư phù hợp với quy hoạch vẫn còn là một thách thức đối với Huyện nhà
Xuất phát từ thực tế trên, được sự phân công của khoa Quản lý Đất đai & Bất
động sản, đề tài “Hiện trạng và định hướng phát triển thị trường nhà ở trên địa bàn
huyện Củ Chi đến năm 2020” được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths Trần Duy
Hùng với mong muốn tìm ra giải pháp phát triển thị trường nhà ở huyện Củ Chi Bằng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích – tổng hợp số liệu và ý kiến của những chuyên gia có kinh nghiệm, đề tài đã đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố tiềm năng của huyện Củ Chi để phát triển xây dựng nhà ở Qua quá trình nghiên cứu, đề tài rút ra một số kết quả sau:
Huyện Củ Chi có lợi thế về điều kiện tự nhiên, quỹ đất xây dựng khá lớn nhưng chưa được khai thác sử dụng đúng mức
Ngoài các khu công nghiệp, huyện còn có những dự án lớn như Thảo cầm viên, công viên giải trí… đảm bảo nhu cầu sinh hoạt của người dân Các dự án này cũng góp phần phân bố lại dân cư trên địa bàn Huyện
Huyện có nhiều di tích lịch sử, có lợi thế về du lịch sinh thái, nhà vườn sinh thái, đây
là nét đặc trưng riêng dự báo thu hút du khách và cả dân di cư về Huyện nghỉ dưỡng
Trang 5QLNN : Quản lý nhà nước
UBND : Ủy ban nhân dân
KCN : Khu công nghiệp
CB, CNVC : Cán bộ, công nhân viên chức
CBCC, VC, LLVT : Cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
Trang 6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cũng như ăn, mặc… nơi ở là một trong những nhu cầu quan trọng hàng đầu trong đời sống con người Người xưa có câu “an cư lạc nghiệp”, con người muốn có sự nghiệp thì trước tiên phải có một nơi cư trú ổn định Vai trò của nhà ở đã được khẳng định, nó không những là tài sản quan trọng đối với mỗi gia đình mà còn là một trong những tiêu chuẩn làm thước đo phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, mức sống của người dân trên từng Quốc gia Nước ta là một nước đang trên đà phát triển, nền kinh
tế còn gặp nhiều khó khăn như dân số đông, tập trung không đồng đều, thu nhập quốc dân chưa cao lại thường xuyên gặp khó khăn do khí hậu khắc nghiệt, thiên tai… Do đó, vấn
đề nhà ở là quan trọng hơn bao giờ hết, đây không chỉ là nỗi lo của từng hộ gia đình mà còn là vấn đề lớn của Nhà nước, của xã hội
Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố phát triển bậc nhất của cả nước, hàng năm thu hút một lượng lớn lao động nhập cư từ mọi miền đến sinh sống Đất chật người đông, hiện nay TP.HCM đang chịu áp lực lớn về dân số, nghề nghiệp, nơi ăn chốn ở… Nhằm giảm bớt gánh nặng về dân số cũng như ô nhiễm môi trường trong trung tâm nội thành, chính quyền thành phố đã và đang được thực hiện chủ trương di dời một số xí nghiệp, cơ sở sản xuất ra khu vực vùng ven thành phố và ngoại thành như Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi…
Với quỹ đất đai còn khá lớn, vị trí thuận tiện nối liền trung tâm Thành phố, huyện
Củ Chi là nơi lý tưởng để tiếp nhận những dự án di dời và các dự án công nghiệp mới mọc lên Chỉ trong vài năm gần đây, với ba khu công nghiệp và một cụm công nghiệp, Huyện đã thu hút một lượng lớn lao động từ khắp nơi đổ về làm việc và sinh sống, kéo theo dân số tăng nhanh là việc không thể tránh Nhu cầu nhà ở tăng cao đòi hỏi lượng cung nhà ở cũng phải tăng theo Huyện đang trên đà phát triển nhưng tình hình nhà ở trên địa bàn huyện còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu dân số tăng nhanh như hiện nay Cùng với những lợi thế vốn có của mình, huyện Củ Chi là một tiềm năng lớn trong việc phát triển nhà ở
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc thực hiện đề tài: “Hiện trạng và định hướng tiềm năng phát triển thị trường nhà ở trên địa bàn huyện Củ Chi đến năm 2020” là rất
thiết thực nhằm đẩy mạnh sự phát triển thị trường nhà ở trên địa bàn Huyện
Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng nhà ở, qua đó đánh giá tiềm năng và định hướng phát triển nhà ở tại huyện Củ Chi
Đối tượng nghiên cứu
Thị trường nhà ở trên địa bàn huyện Củ Chi
Trang 7 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: địa bàn huyện Củ Chi
Phạm vi thời gian: đề tài được thực hiện từ 01/04/2012 đến 20/07/2012
Trang 8PHẦN I: TỔNG QUAN
I.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
I.1.1 Cơ sở khoa học
- Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
- Các tài sản khác do pháp luật quy định
Bất động sản còn được hiểu là những tài sản vật chất không thể di dời, tồn tại và ổn định lâu dài Như vậy một tài sản được coi là bất động sản khi thỏa mãn những điều kiện sau:
- Là yếu tố vật chất có ích cho con người;
- Được chiếm hữu bởi cá nhân hay cộng đồng người;
- Có thể đo lường bằng giá trị nhất định;
- Không thể di dời hoặc di dời hạn chế để tính chất, công năng, hình thái của nó không thay đổi;
- Tồn tại lâu dài
2 Thuộc tính của bất động sản
- Tính cố định, cá biệt, khan hiếm
- Tính bền vững và đời sống kinh tế lâu dài
- Hàng hóa bất động sản mang nặng yếu tố tập quán, thị hiếu và tâm lý xã hội
- Hàng hóa bất động sản chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau
- Là tài sản có giá trị lớn
- Chịu sự cho phối mạnh mẽ của pháp luật, chính sách và năng lực quản lý của nhà
nước
3 Đặc trưng của bất động sản
- Khả năng co dãn của cung bất động sản kém: cung đối với bất động sản tương
đối kém đàn hồi so với những thay đổi về giá cả, thể hiện trên các mặt:
Tổng cung toàn bộ quỹ đất đai là cố định, giới hạn cho từng mục đích riêng
biệt
Trang 9 Việc phân bố đất đai cho những mục đích sử dụng phải tuân thủ quy hoạch sử
dụng đất đai trong từng thời kỳ nên việc chuyển mục đích không thể tùy tiện
Những thay đổi về chiều cao, diện tích đất xây dựng phải đảm bảo theo quy
hoạch và điều lệ xây dựng của chính quyền địa phương
- Thời gian mua, bán giao dịch dài, chi phí mua, bán giao dịch cao: bất động sản là tài sản quan trọng, là hàng hóa đặc biệt có giá trị cao, việc mua, bán bất động sản phải
được cân nhắc thận trọng dẫn đến thời gian mua, bán giao dịch dài
- Khả năng chuyển hóa thành tiền mặt kém linh hoạt: do thời gian mua, bán giao dịch dài, chi phí mua, bán giao dịch cao dẫn đến khả năng chuyển hóa thành tiền mặt kém linh hoạt
- Sự can thiệp và quản lý của Nhà nước chặt chẽ: bất động sản là tài sản quan trọng đối với nền kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia, các giao dịch về bất động sản tác động mạnh đến hầu hết hoạt động kinh tế - xã hội Do đó Nhà nước thường có chính sách quản lý chặt chẽ nhằm mang lại sự ổn định cho thị trường bất
Thị trường bất động sản được nhắc đến là nơi diễn ra các quan hệ giao dịch về bất động sản, tại đó người mua và người bán tác động qua lại để xác định giá cả và số lượng hàng hóa dịch vụ bất động sản được giao dịch Khái niệm “nơi” không chỉ đơn thuần là địa điểm giao dịch mà còn bao gồm các yếu tố không gian, thời gian khi diễn ra giao dịch
Theo các nhà quản lý thì thị trường bất động sản không chỉ đơn thuần là một hệ thống các quan hệ kinh tế mà còn bao gồm các thể chế hỗ trợ thị trường như hệ thống
Trang 10pháp luật về đất đai, hệ thống cơ quan Nhà nước về đất đai, các trung tâm đăng ký, các sàn giao dịch bất động sản
Thị trường bất động sản hoàn chỉnh không chỉ là quan hệ giữa người mua và người bán mà còn là nơi diễn ra các giao dịch khác liên quan đến bất động sản như cho thuê, thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng bất động sản…
2 Phân loại thị trường bất động sản
Tùy mục đích nghiên cứu mà người ta có thể phân loại thị trường bất động sản theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Dựa vào hàng hóa bất động sản người ta có thể phân chia thị trường bất động sản thành thị trường đất đai, thị trường nhà ở, thị trường bất động sản dùng trong dịch vụ, thị trường bất động sản dùng cho văn phòng công sở, thị trường bất động sản công nghiệp…
- Dựa vào tính chất các mối quan hệ sản xuất trên thị trường, người ta phân chia thị trường bất động sản thành thị trường mua bán, thị trường thuê và cho thuê, thị trường thế chấp và bảo hiểm,…
- Dựa vào trình tự tham gia, người ta có thể phân chia thị trường bất động sản thành thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giao đất, cho thuê đất) hay còn gọi chung là thị trường đất đai, thị trường xây dựng các bất động sản để bán và cho thuê (thị trường sơ cấp), thị trường bán hoặc cho thuê lại bất động sản (thị trường thứ cấp)
- Dựa vào mức độ kiểm soát, người ta phân chia thị trường bất động sản thành thị trường chính thức và thị trường phi chính thức
3 Đặc điểm của thị trường Bất động sản
- Thị trường bất động sản được hình thành và phát triển qua bốn cấp độ: sơ khởi, tập trung hóa, tiền tệ hóa và tài chính hóa
- Trong mỗi cấp độ phát triển của thị trường bất động sản, quá trình vận động của thị trường đều có chu kỳ dao động tương tự như nhiều thị trường khác
- Thị trường bất động sản mang tính vùng, tính khu vực, tính sâu sắc và không tập trung, trải rộng trên các vùng của đất nước
- Chịu sự chi phối của pháp luật
- Thị trường bất động sản là một dạng thị trường không hoàn hảo
- Thị trường bất động sản có mối liên hệ mật thiết với thị trường vốn và tài chính Động thái phát triển của thị trường này tác động tới nhiều loại thị trường trong nền kinh tế
Trang 114 Vai trò và vị trí của thị trường bất động sản đối với nền kinh tế và đời sống xã hội
Thị trường bất động sản là một trong những thị trường quan trọng của nền kinh
tế thị trường vì nó này liên quan trực tiếp tới một lượng tài sản cực lớn cả về quy mô, tính chất cũng như giá trị của các mặt trong nền kinh tế quốc dân, bất động sản còn là tài sản lớn của từng hộ gia đình, là nơi ở, nơi tổ chức hoạt động kinh tế gia đình
Thị trường bất động sản phát triển thì một nguồn vốn lớn tại chỗ được huy động Thị trường bất động sản có quan hệ mật thiết đối với thị trường vốn, đầu tư vào bất động sản thường sử dụng vốn lớn với thời gian dài, vì vậy thị trường bất động sản là đầu ra quan trọng của thị trường vốn Ngược lại, thị trường bất động sản phát triển tốt là cơ sở để huy động nguồn tài chính lớn cho phát triển kinh tế
Phát triển và quản lý tốt thị trường bất động sản, đặc biệt là thị trường quyền sử dụng đất là điều kiện quan trọng để sử dụng có hiệu quả tài sản quý giá thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, đảm bảo cho sự phát triển đô thị và nông thôn văn minh, hiện đại đưa đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong
xu thế hội nhập và phát triển
Phát triển và quản lý tốt thị trường bất động sản sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển, tăng nguồn thu cho ngân sách Thị trường bất động sản có liên quan trực tiếp đối với các thị trường lớn như thị trường tài chính tín dụng, thị trường xây dựng, thị trường lao động… Vì vậy, có thể nói sự phát triển của thị trường bất động sản có tác động lan tỏa tới nền kinh tế quốc dân thông qua các biện pháp kích thích vào đất đai, tạo lập các công trình, nhà xưởng, vật kiến trúc… để từ đó tạo nên sự chuyển dịch đáng kể về cấu trong các ngành, các vùng lãnh thổ trong phạm vi cả nước
Phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường bất động sản sẽ đáp ứng nhu cầu bức xúc ngày càng gia tăng về nhà ở cho người dân từ đô thị hóa đến nông thôn Nhà ở là nhu cầu cơ bản thiết yếu của người dân Thị trường nhà ở là bộ phận quan trọng chiếm tỷ
lệ lớn trong thị trường bất động sản, những cơn “sốt” nhà đất hầu hết bắt nguồn từ nhà ở
và lan tỏa sang các thị trường khác, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân Vì vậy, phát triển và quản lý hiệu quả thị trường bất động sản, nâng cao chất lượng nhà ở, bình ổn thị trường nhà ở, bảo đảm giá cả phù hợp với thu nhập của người dân là một trong những vai trò quan trọng của quản lý Nhà nước về thị trường bất động sản nhà ở
Bên cạnh những yếu tố tích cực của thị trường bất động sản, những biến động của nó cũng ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế và đời sống xã hội:
- Thị trường bất động sản quá “nóng sốt” hoặc “đóng băng” đều ảnh hưởng không tốt đến đầu tư phát triển sản xuất và đời sống của người dân Nhà ở là một trong những nhu cầu cơ bản của nhân dân Khi giá bất động sản lên cao không phù hợp với thu
Trang 12nhập xã hội thì người dân gặp nhiều khó khăn trong việc tạo lập nhà ở, dẫn đến hậu quả là hiện tượng lấn chiếm đất công, xây dựng trái phép làm mất mỹ quan đô thị, gây quá tải hệ thống hạ tầng, ô nhiễm môi trường, tăng tình trạng tranh chấp, khiếu kiện…
- Khi giá nhà đất lên cao ảnh hưởng lớn đến nhiều dự án mở rộng nâng cấp hạ tầng giao thông đô thị, chi phí đền bù giải tỏa mặt bằng gấp từ 5 đến 10 lần mức đầu tư hạ tầng, chậm tiến độ, giảm hiệu quả đầu tư…
- Phát triển thị trường bất động sản trong điều kiện chưa thực hiện quy hoạch: những giải pháp tình thế như chia nhỏ đất đai để đáp ứng nhu cầu nhà ở của nhân dân và nhu cầu nhà xưởng của doanh nghiệp trước mắt có thể đáp ứng nhu cầu nhưng về lâu dài khi phát triển cần hiện đại hóa đất nước, Nhà nước sẽ phải bỏ ra rất nhiều tiền vào đầu tư
để giải phóng mặt bằng, vô hình chung đã lãng phí một lượng của cải vật chất rất lớn của
xã hội, kéo theo là việc phải bỏ ra một lượng vốn đầu tư lớn nhưng bộ mặt đô thị và nông
thôn cũng không được cải thiện là bao nhiêu
5 Các thành phần của thị trường bất động sản
Cung hàng hóa bất động sản
Cung bất động sản trên thị trường là toàn bộ khối lượng hàng hóa bất động sản sẵn sàng đưa ra thị trường để trao đổi tại một thời điểm nào đó với một mức giá giới hạn nhất định
Các điều kiện hình thành cung bất động sản trên thị trường: người chủ sỡ hữu bất động sản có nhu cầu bán, giá cả phải phù hợp với sức mua (khả năng thanh toán) được coi
là giá thị trường được cả người mua và người bán chấp nhận Hay nói cách khác, cung nhà đất là lượng nhà đất có thể và sẵn sàng tham gia giao dịch
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cung bất động sản trên thị trường như:
- Cung về quỹ đất phát triển bất động sản trong quy hoạch của chính phủ
- Kết cấu hạ tầng
- Các yếu tố đầu vào và chi phí phát triển nhà ở
- Chính sách pháp luật của Nhà nước
Đối với các hàng hóa thông thường, cung hàng hóa thường co giãn thuận chiều với nhân tố giá cả, đối với cung hàng hóa về bất động sản lại không hoàn toàn diễn ra như vậy Độ co giãn của cung nhà đất so với biến động của giá cả nhà đất nói chung là rất nhỏ Điều này là do khi giá đất tăng lên đến một bộ phận đất đai thuộc quy hoạch cho đất đang
ở tăng lên hoặc các loại đất khác chuyển sang mục đích sử dụng cho đất ở tăng lên Tuy nhiên, số lượng cung đất ở đó bị hạn chế bởi tổng quỹ đất ở và sự ràng buộc chặt chẽ về mặt pháp luật và chính sách của chính phủ Giá nhà đất tăng lên nhưng cung nhà đất không theo kịp sự tăng lên của giá cả vì việc tạo lập bất động sản đòi hỏi vốn lớn và cần nhiều thời gian Do đó, lượng cung nhà đất đưa vào thị trường cũng bị hạn chế
Trang 13Tổng cung về đất đai nói chung là một đường không co giãn vì tổng diện tích đất đai cho tất cả các mục đích sử dụng là không đổi
Điều này dường như mâu thuẫn với quy luật chung của cung: lượng cung hàng hóa tăng lên khi giá cả hàng hóa đó tăng lên, nói cách khác hàm cung là hàm đồng biến với biến nội sinh giá
Cầu hàng hóa bất động sản
Cầu bất động sản là khối lượng hàng hóa bất động sản mà người tiêu dùng sẵn sàng chấp nhận và có khả năng thanh toán với một mức giá nhất định để nhận được bất động sản đó trên thị trường tại một thời điểm nhất định
Cần lưu ý phân biệt giữa cầu và nhu cầu bất động sản Cầu xuất phát từ nhu cầu:
nhu cầu sử dụng, nhu cầu sở hữu, nhu cầu về tích trữ tài chính, nhu cầu về đầu cơ kinh doanh… Nhu cầu về bất động sản mà điển hình là nhu cầu về nhà đất ở là sự mong muốn của người dân có được bất động sản để thỏa mãn các mục đích tiêu dùng của mình Nhu cầu của mỗi cá nhân có xu hướng tăng lên cùng với sự phát triển của xã hội và dường như nhu cầu này là vô cùng lớn
Cầu về bất động sản xuất hiện trên cơ sở các điều kiện sau:
Cầu = {nhu cầu thực; nguồn lực tài chính; thị trường}
Nhìn chung cầu luôn có xu hướng dịch chuyển sang phải nhưng trong vài trường hợp đặc biệt đường cầu có thể dịch sang trái (tai nạn, thảm họa chết người hàng loạt, tâm
lý hoang mang của người tiêu dùng…)
Thực tế cầu nhà đất luôn có xu hướng tăng, đôi khi có sự chững lại (tình trạng đóng băng của thị trường bất động sản)
Các nhân tố phổ biến gây tác động đến cầu nhà đất: có nhiều yếu tố là các biến số tác động đến sự thay đổi về cầu bất động sản:
Tuy nhiên, trong một số bối cảnh khác nhau thì sự hiện diện của các nhân tố trên
sẽ khác nhau và xuất hiện thêm những nhân tố khác
Trang 14I.1.1.3 Tổng quan về nhà ở
1 Khái niệm
Nhà ở là loại hình kiến trúc xuất hiện sớm nhất, đó là không gian kiến trúc phục
vụ cho đời sống sinh hoạt của gia đình, của con người Ban đầu nhà ở chỉ đơn thuần là một nơi trú thân đơn giản nhằm bảo vệ cho con người chống lại những bất lợi của điều kiện tự nhiên hoang dã như nắng, mưa, gió, tuyết, thú rừng…
Theo Điều 1 Luật nhà ở 2005: “Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở
và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về nhà ở khác nhau tùy theo góc độ nghiên cứu:
- Trên góc độ kinh tế: nhà ở là tài sản đặc biệt đối với mỗi cá nhân, là bộ phận cấu thành nên bất động sản
- Trên góc độ xã hội: nhà ở là một trong những chỉ tiêu đá giá mức sống của con người
- Trên góc độ xây dựng: nhà ở là sản phẩm hoạt động xây dựng không gian bên trong có tổ chức được ngăn cách với môi trường bên ngoài dùng để ở
2 Đặc điểm của nhà ở
- Nhà ở là tài sản không di dời được, nó gắn liền với đất và được xây dựng trên đất Sự gắn liền với đất thể hiện vị trí của nó được phân bố ở đâu Mà hiện nay các giao dịch trên thị trường nhà đất đô thị thường thì người ta quan tâm nhiều đến giá trị tài sản nhà đất
- Nhà ở là loại bất động sản có tính bền vững, thời gian sử dụng dài, hao mòn chậm
- Nhà ở là tài sản có giá trị lớn: so với các loại hàng hóa khác khi mua sắm thì việc xây dựng nhà ở đòi hỏi phải có một nguồn đầu tư lớn
- Nhà ở rất đa dạng và phong phú cả về số lượng và chất lượng: một mặt là do
sự đa dạng của tầng lớp dân cư, mặt khác là do thu nhập và một phần do văn hóa và phong tục tập quán
Vậy nhà ở là một loại nhà chuyên dụng cho các hoạt động ở và sinh hoạt gia đình nhằm phục vụ cuộc sống ăn ở, nghỉ ngơi, giải trí và giao tiếp của con người, nhằm tái tạo lại sức lao động đơn giản Và là vỏ bao che để thực hiện một mô hình sống (là cách thức sinh hoạt của một gia đình)
3 Phân loại nhà ở
Theo 71/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 06 năm 2010 của Chính phủ về việc quy định và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở, nhà ở bao gồm:
Trang 15 Nhà ở thương mại: là nhà ở do tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng để bán, cho thuê cơ chế thị trường
- Nhà ở riêng lẻ: là nhà ở do hộ gia đình, cá nhân xây dựng
- Nhà ở xã hội: là nhà ở do nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư đầu tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại Điều 53, 54 của Luật nhà ở thuê hoặc thuê mua theo cơ chế Nhà nước quy định
- Nhà công vụ: là nhà ở do Nhà nước đầu tư xây cho một số đối tượng quy định tại Điều 60 của Luật nhà ở thuê trong thời gian đảm nhiệm công tác theo cơ chế do Nhà nước quy định
Phân loại dựa vào hình thức tổ chức đáp ứng công năng
- Nhà ở nông thôn: là loại hình nhà ở gia đình dành riêng cho những người lao động nông nghiệp, nó gắn liền với đồng ruộng, địa bàn sản xuất chủ yếu của gia đình thuần nông, nó gắn liền với đồng ruộng, địa bàn sản xuất chủ yếu của gia đình thuần nông
- Nhà biệt thự thành phố: là loại nhà ở cho gia đình độc lập với tiện nghi sang trọng, có sân vườn rộng, chủ yếu phục vụ cho người dân thành phố có đời sống cao Theo
số tầng nhà biệt thự có thể chia ra biệt thự 1 tầng, 2 tầng, 3 tầng hoặc biệt thự song lập, biệt thự đơn lập… Nhà biệt thự hiện nay thường tọa lạc tại các khu vực yên tĩnh, có nhiều cây xanh và có tiêu chuẩn sinh hoạt cao, điều kiện tiện nghi đầy đủ
- Nhà liên kế: là loại nhà gồm các ô hoặc ngăn đặt cạnh nhau xếp thành băng hoặc dãy, cho phép xây dựng hàng loạt, tiết kiệm đất sử dụng, thường chỉ có hai hướng tiếp xúc với thiên nhiên Loại nhà này thường tạo thành những dãy phố có hình thức vô cùng sống động với các kiểu kiến trúc đa dạng Đặc biệt loại nhà này dùng để phục vụ những gia đình trung lưu, có thể vừa kết hợp với kinh doanh
- Nhà chung cư: dành cho tập thể nhiều gia đình Các căn hộ là một tế bào tạo nên chung cư Căn hộ là một chuỗi không gian có quan hệ khép kín phục vụ đời sống độc lập cho một hộ gia đình Chúng được tập hợp quanh những cầu thang, hành lang công cộng Đây là loại nhà kinh tế nhất về mặt khai thác sử dụng đất của đô thị và đồng thời là loại nhà đang có xu hướng lựa chọn cao nhất của người dân
Phân loại theo độ cao
- Nhà thấp tầng (1 – 2 tầng)
- Nhà nhiều tầng (3 – 6 tầng)
- Nhà ở cao tầng trung bình (8 – 16 tầng)
- Nhà cao tầng (24 – 30 tầng)
- Nhà siêu cao, chọc trời (lớn hơn 30 tầng)
Phân loại dựa vào đối tượng phục vụ và ý nghĩa xã hội của nó
Trang 16- Nhà ở kiểu sang trọng tiêu chuẩn cao (dành cho giới quý tộc, nhà lãnh đạo, quan chức cấp cao, nhà tư bản lớn): lâu đài, cung điện, biệt thự cao cấp
- Nhà ở cho người có thu nhập cao (dành cho các dạng ông chủ doanh nghiệp lớn và quan chức hay trí thức cao cấp): biệt thự, biệt trại, chung cư cao cấp
- Nhà ở cho người thu nhập khá, trung bình: biệt thự song lập, nhà liền kề, chung cư cao cấp…
- Nhà ở cho người thu nhập thấp, nghèo khổ: chung cư thấp tầng và nhiều tầng (hay nhà ở xã hội)
- Nhà ở tạm thời
4 Phân cấp nhà ở
Theo thông tư liên bộ số 07 – LB/TT ngày 30/09/1991 của Bộ Xây Dựng, Tài chính, Ủy ban Vật giá Nhà nước và Tổng cục quản lý ruộng đất hướng dẫn việc phân loại các hạng nhà, hạng đất, và định giá tính thuế nhà, đất Thông tư số 05 – BXD/ĐT ngày 09/02/1993 của bộ Xây dựng định hướng phương pháp xác định diện tích sử dụng và phân cấp nhà ở Quyết định số 28/2007 ngày 28/12/2008 về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu và chế độ báo cáo thống kê tổng hợp ngành xây dựng:
- Nhà biệt thự: là nhà riêng biệt, có sân vườn, hàng rào bao quanh, kết cấu chịu lực, khung, sàn, tường bằng bê tông, cốt thép hoặc tường gạch, bao che nhà và tường ngăn cách các phòng bằng bê tông cốt thép hoặc xây gạch Mái bằng hoặc mái ngói, có hệ thống cách âm và cách nhiệt tốt, vật liệu hoàn thiện, tiện nghi sinh hoạt đầy đủ tiện dụng, chất lượng tốt, số tầng không hạn chế, nhưng mỗi tầng phải có ít nhất 2 phòng để ở
- Nhà cấp I: là nhà có kết cấu chịu lực bằng bê tông cốt thép hoặc xây gạch có niên hạn sử dụng quy định trên 80 năm, bao che nhà và tường ngăn cách các phòng bằng
bê tông cốt thép hoặc gạch xây, mái bằng bê tông cốt thép hoặc lợp ngói, có hệ thống cách nhiệt tốt, trong và ngoài trời tốt, tiện nghi sinh hoạt (bếp, xí, nhà tắm, điện nước) đầy
đủ, tiện lợi không hạn chế số tầng
- Nhà cấp II: là nhà có kết cấu chịu lực bằng bê tông cốt thép hoặc xây gạch có niên hạn sử dụng trên 70 năm, bao che nhà và tường ngăn cách các phòng bằng bê tông cốt thép hoặc gạch xây, mái bằng bê tông cốt thép hoặc mái ngói, vật liệu hoàn thiện trong và ngoài nhà tốt, tiện nghi sinh hoạt đầy đủ, số tầng không hạn chế
- Nhà cấp III: là nhà có kết cấu chịu lực bằng bê tông cốt thép hoặc gạch xây Niên hạn sử dụng trên 40 năm Bao che nhà và tường ngăn bằng gạch, mái ngói Vật liệu hoàn thiện bằng vật liệu phổ thông, tiện nghi sinh hoạt bình thường, trang bị xí, tắm bằng vật liệu bình thường, nhà cao tối đa là 2 tầng
Trang 17- Nhà cấp IV: là nhà có kết cấu chịu lực bằng gạch, gỗ, niên hạn sử dụng tối đa
30 năm Tường bao che và tường ngăn bằng gạch (tường 22 hoặc 11cm), mái ngói, vật liệu hoàn thiện bằng chất lượng thấp, tiện nghi sinh hoạt thấp
- Nhà tạm, nhà đơn sơ: là nhà dưới cấp IV, có kết cấu chịu lực bằng gỗ, tre, vầu, bao quanh tường đất, lớp lá, rạ, những tiện nghi điều kiện sinh hoạt thấp
- Nhà kiên cố: là nhà cấp I, cấp II và tương đương trở lên
- Nhà khá kiên cố: là nhà cấp III và tương đương
- Nhà thiếu kiên cố: là nhà cấp IV và tương đương
5 Vai trò của nhà ở
Nhà ở là điều kiện vật chất để phát triển kinh tế
Môi trường cư trú, điều kiện sinh hoạt của nơi ở, nơi làm việc, môi trường văn hóa khu vực, môi trường tự nhiên khu vực… ảnh hưởng rất lớn đến tái sản xuất lao động
và tác động đến tâm sinh lý của người lao động, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, hiệu quả của nền kinh tế
Nhà ở là điều kiện vật chất trọng yếu để tái sản xuất lao động
Lao động là điều kiện cơ bản tiến hành sản xuất, là đầu vào của quá trình sản xuất Chất lượng của lao động bao gồm thể lực và trí lực ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất Để nâng cao chất lượng lao động đầu tiên là đảm bảo các điều kiện ăn, ở, mặc và các tư liệu sinh hoạt khác
Nhà ở là phương tiện bảo vệ con người trước các hiện tượng tự nhiên như nắng, mưa, gió, bão, giá rét… mà còn là nơi nuôi dưỡng, giáo dục đào tạo con người từ mới sinh ra đến lớn lên tạo điều kiện tái sản xuất lao động của con người
Nhà ở là điều kiện vật chất ảnh hường đến sinh hoạt xã hội và điều chỉnh mối quan hệ xã hội
Nhà ở không những là tài sản có giá trị, có tầm quan trọng đặc biệt đối với mỗi
gia đình mà còn là một trong những tiêu chuẩn làm thước đo phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mức sống dân cư của một dân tộc Thực tế cho thấy rằng khi ta nhìn vào một ngôi nhà ta có thể biết được phong tục tập quán, đời sống vật chất tinh thần của gia đình đó như thế nào
6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nhà ở
- Sự tăng dân số
- Sự tác động của việc làm và thu nhập của dân cư
- Đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị
- Những chính sách của nhà nước
Trang 18I.1.2 Cơ sở pháp lý
Các văn bản pháp luật có liên quan:
- Luật nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;
- Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 06 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở;
- Quyết định 167/2008 của thủ tướng chính phủ về chính sách hỗ trợ nhà ở cho các
các tài liệu quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 đã được phê duyệt của Huyện
I.1.3 Cơ sở thực tiễn
Ở bất kì quốc gia nào, chăm lo chỗ ở cho người dân luôn là vấn đề được quan tâm giải quyết hàng đầu nhằm giúp người dân an cư lạc nghiệp, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, phát triển xã hội Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang quá tải do lượng dân nhập cư vào càng đông Nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống, thành phố đang từng bước thực hiện giãn dân khu vực nội thành cũ ra các huyện ngoại thành thành phố Huyện Củ Chi với quỹ đất còn khá lớn, vị trí giao thông thuận tiện đang dần tiếp nhận những dự án
di dời và các dự án công nghiệp mới nhằm thu hút lượng lao động khá lớn, nhu cầu về nhà ở tăng nhanh Trước tình hình đó, huyện cần một nguồn cung thỏa đáng để đáp ứng
nhu cầu của người dân
I.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
I.2.1 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá chung đặc điểm hiện trạng huyện Củ Chi
- Nhu cầu và tiềm năng phát triển nhà ở trên địa bàn huyện Củ Chi
- Định hướng phát triển nhà ở trên địa bàn huyện Củ Chi đến năm 2020
- Đề xuất các biện pháp thúc đẩy tiềm năng phát triển thị trường nhà ở trên địa bàn
Huyện
Trang 19I.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài áp dụng các phương pháp:
- Phương pháp điều tra thu thập dữ liệu: thu thập dữ liệu tại Phòng Tài nguyên môi trường, Phòng thống kê huyện Củ Chi, Ban quản lý dự án…
- Phương pháp phân tích – so sánh: dựa trên số liệu thu thập được, tiến hành phân tích, so sánh để có cái nhìn cụ thể, nhận xét về thực trạng thị trường nhà ở, nhịp độ tăng trưởng qua các năm
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực này
để có kiến thức thực tế
- Phương pháp tổng hợp: tổng hợp dữ liệu đã thu thập từ nhiều nguồn, từ đó nhận xét, đánh giá vấn đề
Trang 20PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
II.1 Đánh giá chung đặc điểm hiện trạng huyện Củ Chi
II.1.1 Điều kiện tự nhiên
1 Vị trí – tổ chức hành chính
Huyện Củ Chi có tọa độ địa lý từ 10053’00” đến 10010’00” vĩ độ Bắc và từ
106022’00” đến 106040’00” kinh độ Đông, là một trong 5 huyện ngoại thành thành phố
Hồ Chí Minh, gồm 20 xã và một thị trấn với 43.496,6 ha diện tích tự nhiên bằng 20,74% diện tích toàn Thành Phố
Huyện là cửa ngõ Tây Bắc thành phố, qua huyện có các trục giao thông đối ngoại quan trọng nối TP Hồ Chí Minh với các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Long An và Campuchia như Quốc lộ 22 (đường Xuyên Á), tỉnh lộ 7;8;15, đường Vành đai 4 phía đông, đường cao tốc TP Hồ Chí Minh – Tây Ninh… có sông Sài Gòn tiếp giáp, thuận lợi phát triển giao thông thủy và du lịch sinh thái
- Ranh giới của Huyện tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh
Phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Phía Nam giáp huyện Hóc Môn, TP.Hồ Chí Minh
Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
Hình 1: Bản đồ vị trí huyện Củ Chi
Trang 21Thị trấn Củ Chi là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của huyện, cách trung tâm Thành phố 50 km về phía Tây Bắc theo đường xuyên Á
- Diện tích tự nhiên toàn huyện:
+ Theo biểu thống kê, kiểm kê diện tích đất năm 2005 của Sở tài Nguyên Môi trường, diện tích đất tự nhiên trên địa bàn Huyện là 43496,6 ha
+ Theo quy hoạch duyệt năm 1998 là 42.848,3 ha
+ Diện tích tự nhiên hiện nay so với quy hoạch duyệt 1998 tăng 648,3 ha Có 2 nguyên nhân:
Do định lại ranh giới của huyện Củ Chi với huyện Hóc Môn và các tỉnh khác như tỉnh Bình Dương, Long An, Tây Ninh
Do bản đồ địa chính được đo đạc với công nghệ chính xác hơn và chuẩn hóa diện tích của các xã, thị trấn qua đợt kiểm tra đất đai năm 2005
Lãnh thổ của Huyện tổ chức 20 đơn vị hành chính xã và 1 thị trấn huyện lỵ
Bảng 1: Diện tích đất tự nhiên phân theo đơn vị hành chính
Trang 232 Địa hình, địa mạo
Địa hình huyện Củ Chi nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Tây nam bộ và
miền sụt Đông nam bộ, với độ cao giảm dần theo 2 hướng Tây bắc – Đông nam và Đông bắc – Tây nam Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 8m – 10m
Ngoài ra địa bàn huyện có tương đối nhiều ruộng, đất đai thuận lợi để phát triển
nông nghiệp so với các huyện trong Thành phố
3 Khí hậu, thời tiết
Huyện nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, mang tính chất chung là nóng ẩm với nhiệt độ cao và mưa nhiều Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
- Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Theo số lượng của đài khí tượng thủy văn đặc điểm khí như sau:
- Nhiệt độ tương đối ổn định, cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình năm khoảng 270C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28.80C (tháng 4), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 24,80C (tháng 12) Tuy nhiên biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch khá lớn, vào mùa khô có trị số 5 – 100C
- Độ ẩm biến thiên theo mùa, tỷ lệ nghịch với chế độ nhiệt, độ ẩm trung bình là 77%
- Lượng mưa trung bình hàg năm là 1983mm/năm, tăng dần lên phía Bắc theo chiều cao địa hình, mưa phân bổ không đều giữa các tháng trong năm, tập trung chủ yếu vào tháng 6, 7, 8, 9; vào tháng 12, tháng 1 lượng mưa không đáng kể Số ngày mưa bình quân hàng năm là 159 ngày
- Hướng gió chủ yếu là đông Nam và tây Nam
+ Gió thịnh hành trong mùa khô là gió Đông Nam với tần suất 30 – 40%
+ Gió thịnh hành vào mùa mưa là gió Tây Nam với tần suất 66%
Tốc độ gió trung bình là 3m/s, gió mạnh nhất là 22,6 m/s, đổi chiều rõ rệt theo mùa
Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 2.100 – 2920 giờ
4 Địa chất công trình – địa chất thủy văn
Khu vực có cấu tạo nền đất là phù sa cổ, chủ yếu là phân bố ở khu vực có nền đất cao trên 2m, thành phần chủ yếu là cát, cát pha trộn lẫn một ít tạp chất hữu cơ, thường có màu vàng nâu, đỏ nâu Sức chịu tải của nền đất khá tốt, lớn hơn 1,5 kg/cm2 Mực nước
ngầm không áp nông, cách mặt đất từ 1m đến 5m
Khu vực có cấu tạo nền đất là phù sa mới chủ yếu nằm ở khu vực có nền đất thấp dưới 2m, thành phần chủ yếu là sét, bùn sét pha lẫn nhiều tạp chất hữu cơ thường có màu
Trang 24đen hoặc xám đen Sức chịu tải của nền đất thấp, nhỏ hơn 0,7 kg/cm Mực nước ngầm không áp nông, cách mặt đất khoảng 0,5m
- Đất xám: có diện tích lớn nhất với 15.329 ha chiếm 35,55% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố trên hầu hết các xã của Huyện
- Đất trên phù sa cổ có diện tích 1.538 ha, chiếm 3,5% tổng diện tích, phân bố ở các triền thấp tại các xã Trung Lập Thượng, Trung Lập Hạ
- Đất nhiễm phèn, dốc tụ trên nền phèn có diện tích 1.460 ha chiếm 3,41%, phân
bố trên các vùng thấp tập trung ở các xã Thái Mỹ, Trung Lập Hạ, Tân Phú Trung
- Đất phù sa trên nền phèn: diện tích 192 ha, chiếm 0,45% tổng diện tích, phân bố dọc sông Sài Gòn
- Đất phèn chiếm 15.011 ha đất bằng 35% tổng diện tích, phân bố trên các vùng trũng ở phía Tây Nam huyện như Tam Tân và một số nơi dọc sông Sài Gòn và kinh rạch…
6 Thủy văn - thủy lợi
Khu vực chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không đều trên sông Sài Gòn Huyện tập trung khá nhiều các công trình thủy lợi mà nổi bật là hệ thống thủy lợi Hóc Môn - Bắc Bình Chánh, hệ thống công trình thủy lợi Kênh đông và kênh N31A
- Hệ thống thủy lợi Hóc Môn – Bắc Bình Chánh: Đây là công trình lớn với diện
tích phục vụ ban đầu là 12.197 ha kể cả một phần tỉnh Long An, trong đó TP Hồ Chí
Minh có 9.700 ha Sau đó được mở rộng vùng dự án cho 2 khu vực Nhị Xuân và Tam Tân – Thái Mỹ với diện tích phục vụ khoảng 3.750 ha
- Công trình thủy lợi kênh Đông và kênh N31A có quy mô lớn và mang lại hiệu quả cao đặc biệt cho khu vực Huyện Kênh N31A mở rộng diện tích phục vụ cho công trình kênh Đông, phục vụ cho 3.526 ha đất canh tác thuộc các xã Tân Thông Hội, Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An và thị trấn Củ Chi
+ Tác động tích cực:
Cung cấp nước tưới, nước sinh hoạt trong khu vực phụ trách
Ngăn mặn, tiêu úng, xổ phèn; cải tạo đất
Ngăn ngập do triều cao
Chống xói lở
Trang 25+ Tác động tiêu cực:
Các cống ngăn triều gây ách tắc giao thông thủy, đồng thời gây ách tắc trong tiêu thoát nước khi khu vực được đô thị hóa
Các tuyến kênh tưới gây khó khăn cho việc tiêu thoát nước mưa
Đánh giá chung tác động của điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
- Huyện là cửa ngõ Tây Bắc thành phố, qua huyện có các trục giao thông đối ngoại quan trọng nối TP Hồ Chí Minh với các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Long An và Campuchia như Quốc lộ 22 (đường Xuyên Á), tỉnh lộ 7;8;15, đường Vành đai 4 phía đông, đường cao tốc TP Hồ Chí Minh – Tây Ninh…
- Với quỹ đất khá lớn và điều kiện tự nhiên thuận lợi, huyện có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Thành phố Huyện đã thu hút một lượng lớn các nhà đầu tư vào nghiên cứu xây dựng các dự án nhà ở Cơ cấu sử dụng đất ở năm
2007 chỉ đạt 1.773,11 ha, đến nay là 3.260,78 tăng 3,42%, đưa thị trường bất động sản của Huyện chuyển mình mạnh mẽ
- Là một huyện ngoại thành cách xa trung tâm thành phố, giá đất trên địa bàn Huyện thấp hơn rất nhiều so với các quận thuộc nội thành thành phố
Địa hình – địa mạo
Huyện nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Tây Nam bộ và Miền Đông Nam bộ, địa hình có 3 dạng: vùng đồi gò, vùng triền, vùng bưng trũng, quy hoạch tạo những nét đặc trưng riêng theo địa hình Khu vực phía Bắc của Huyện địa hình gò triền, nền đất tốt, thuận lợi phát triển xây dựng các công trình công nghiệp, thương mại, nhà ở kiên cố cao tầng Khu vực phía Đông địa hình thấp, có nhiều sông rạch đan cắt nhau, nền đất yếu thích hợp xây dựng các công trình thấp tầng, mật độ xây dựng thưa thoáng, thuận lợi phát triển đô thị xanh phục vụ du lịch giải trí nghỉ ngơi
Khí hậu – thủy văn – thủy lợi
- Khí hậu điều hòa ít thay đổi, không bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt, thích hợp cho phát triển đô thị và xây dựng nhà ở, xây dựng các khu cụm công nghiệp quy mô lớn, trồng cây công nghiệp đạt năng suất cao và có điều kiện phát triển chăn nuôi lớn
- Huyện có hệ thống sông, rạch tương đối nhiều, chủ yếu ở phía Đông, trực tiếp chi phối chế độ thủy văn của Huyện, đây là lợi thế phát triển du lịch kết hợp cây xanh và sông nước
- Ngày nay, xu hướng chọn nhà theo phong thủy khá phổ biến Trong đó, gió và nước là tiêu chuẩn cơ bản, khí điều hòa tâm tính làm con người thư giãn và sảng khoái, nước tạo cảm giác mọi chuyện đều êm xuôi trôi chảy Huyện Củ Chi rất có thế mạnh về 2
Trang 26yếu tố này, trong năm vừa qua có hơn 20% nhà ở phát triển là do người dân nội thành thành phố dời về sinh sống làm nơi thư giãn
Tài nguyên khoáng sản khá phong phú như than bùn, kap lin, sạn sỏi, sét gạch ngói, lateric, cát, sét trương nở… thuận lợi phát triển vật liệu xây dựng phục vụ xây dựng trên địa bàn Huyện và khu vực
II.1.2 Hiện trạng dân cư và lao động
II.1.2.1 Quy mô dân số của huyện
Tính đến ngày 31/6/2010, tổng dân số Củ Chi là 354.597 người, trong đó có 184.327 nữ Dân số thành thị là 20.025 người, chiếm 5,65% dân số toàn huyện Mật độ dân số là 815 người/km2 (thấp hơn so với mật độ dân số chung của toàn thành phố là 3.523 người/km2) Phân bố dân cư tại 21 xã, thị trấn không đều, trong đó thị trấn Củ Chi
có mật độ dân số cao nhất với 5.278 người/km2; gấp 17 lần xã có mật độ thấp nhất là xã Phạm Văn Cội, Phú Mỹ Hưng (300 người/km2); 6 xã có mật độ dân số trên 1.000 người/km2 là Phú Hòa Đông, Tân Thạnh Đông, Hòa Phú, Tân Thông Hội, Tân Phú Trung
và Phước Thạnh
Việc phân bố các dạng dân cư thể hiện khá rõ: dân cư đô thị tập trung chủ yếu ở các cụm kinh tế - kỹ thuật của huyện và các khu trung tâm hành chính – kinh tế của các xã còn lại do có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ổn định, đầy đủ các tiện ích như hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống điện, các trường học, nhà trẻ, các khu vui chơi giải trí và các dịch vụ đô thị khác Các khu dân cư mật độ thấp: các xã phía bắc của huyện: xã Phú Mỹ Hưng, An Phú do chưa được đầu tư phát triển đúng mức
- Vùng có mật độ dân cư cao nhất: khu trung tâm thị trấn Củ Chi, các xã Tân Thạnh Đông, Tân Phú Trung, Phước Thạnh, An Nhơn Tây, khu Tân Quy… do có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ổn định, đầy đủ các tiện ích như hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống điện, các trường học, nhà trẻ, các khu vui chơi giải trí và các dịch vụ đô thị khác Các khu dân cư mật độ thấp thuộc các xã phía bắc của huyện: xã Phú
Mỹ Hưng, An Phú do chưa được đầu tư phát triển đúng mức
- Các điểm dân cư nông thôn phân bố tập trung thành từng ấp dọc theo các đường giao thông, ven sông, rạch để thuận lợi cho việc sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp như
trồng trọt, chăn nuôi
II.1.2.2 Đặc điểm dân cư
Dân số trong các hộ gia đình
Đến năm 2010, tổng số nhân khẩu thực tế thường trú tại huyện Củ Chi là 354.597người, với 87.340 hộ
Trang 27Biểu đồ 1: Dân số trong các hộ gia đình
Hiện hộ có từ 4 trở lên chiếm 60,243%
Bình quân một hộ có 4,28 người, nhưng hiện đã giảm còn 4,06 người/hộ (toàn
thành phố bình quân 4,42 người/hộ)
Dân số phân theo độ tuổi
Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi: quan sát tháp tuổi của Huyện nhận thấy dân số Huyện tương đối trẻ, tháp tuổi phình khá to ở độ tuổi 15 – 29 và tóp lại ở phía trên; nhưng
tỷ lệ dân ở nhóm 0 – 4 tuổi, 5 – 9 tuổi, 9 – 10 tuổi chiếm khoảng 6,65 – 8,89%/ nhóm là nhờ thực hiện chương trình kế hoạch hóa gia đình; tỷ lệ từ nhóm tuổi 15 – 29 khá cao, đây
là nguồn lao động dồi dào của Huyện
- Nhân khẩu ở thành phố dưới 6 tháng là 3.267 người
- Người nước ngoài: 201 người
- Khách vãng lai: 1.428 người
II.1.2.3 Nguồn lao động
Số người trong độ tuổi lao động năm 2010 là 238.289 người, chiếm 67,2% tổng số dân, đa số là lao động trẻ được đào tạo về tay nghề chuyên môn Bên cạnh đó với việc phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn huyện cũng thu hút đáng kể
Trang 28lượng công nhân từ các khu vực lân cận và các tỉnh Có 70,3% lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế, trong đó lao động đang làm việc tại các ngành nông lâm thủy sản chiếm 45,8% số lao động đang làm việc, ngành công nghiệp xây dựng chiếm 30,9% số
lao động đang làm việc và ngành dịch vụ chiếm 23,3%
II.1.3 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn Huyện
Hiện trạng quỹ đất của Huyện năm 2010 như sau:
Bảng 2: Hiện trạng sử dụng quỹ đất tại huyện Củ Chi năm 2010
STT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 37,86 0,09
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 362,77 0,83
2.5 Đất sông suối và mặt nước CD 1.188,6 2,73
2.6 Đất phi nông nghiệp khác 8,77 0,02
3.1 Đất bằng chưa sử dụng 317,2 0,73
(Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường huyện Củ Chi)
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010, diện tích đất tự nhiên của huyện Củ Chi là 43.496,60 ha Trong đó, đất nông nghiệp có 32.541,42 ha, tỷ lệ 74,81%; đất phi nông nghiệp có 10.367,98 ha, tỷ lệ 24,46%, còn lại là đất chưa sử dụng với 317,20 ha, chiếm tỷ
lệ 0,73%
- Tình hình sử dụng đất nông nghiệp: Năm 2010, tổng diện tích đất nông nghiệp là
32.541,42 ha, chiếm 27,54% của thành phố, cơ cấu như sau: đất sản xuất nông nghiệp chiếm
tỷ lệ lớn nhất là 97,72%, đất lâm nghiệp có tỷ lệ nhỏ nhất là 0,15%
Trang 29+ Đất sản xuất nông nghiệp là 31.800 ha, gồm có đất trồng cây hàng năm (tỷ lệ
52,28%) và đất trồng cây lâu năm (47,72%)
Đất trồng cây hàng năm có diện tích 16.626 ha, chủ yếu là đất trồng lúa, đất trồng cỏ chăn nuôi và đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm có diện tích là 15.173 ha, gồm có đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác
+ Đất lâm nghiệp: còn 48,48 ha, là rừng tự nhiên được phân bố ở xã Phạm Văn
Cội
+ Đất nuôi trồng thủy sản: diện tích là 405 ha, với loại hình nuôi thủy sản nước
ngọt ở các ao hồ, kênh rạch trên địa bàn 20 xã, thị trấn (trừ xã Phạm Văn Cội)
- Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp: Diện tích đất phi nông nghiệp của Củ
Chi là 10.638 ha, chiếm 11,72% đất phi nông nghiệp toàn thành phố So với năm 2000, diện tích đất phi nông nghiệp tăng gần 2.380 ha (riêng giai đoạn 2005 - 2010 tăng 1.100 ha), trong đó đất chuyên dùng có chiếm tỷ lệ lớn nhất là 67,01 %, đất phi nông nghiệp khác có tỷ lệ nhỏ nhất là 0,06%
+ Đất ở: Diện tích đất ở là 1.913 ha (trong đó đất ở đô thị là 81,52 ha, chiếm
4,26%, phân bố ở thị trấn Củ Chi) Bình quân diện tích đất ở theo đầu người toàn huyện là
54 m2/người, tương ứng với khoảng 219 m2/hộ, đứng thứ 2 toàn thành phố, sau huyện Cần Giờ
+ Đất chuyên dùng: Có diện tích là 7.127 ha, gồm các loại đất như đất trụ sở cơ
quan công trình sự nghiệp, đất quốc phòng, đất an ninh, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và đất công trình công cộng (chiếm tỷ lệ lớn nhất là 60,48%)
Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp: Diện tích là 1.922 ha, trong đó có đất khu công nghiệp (1.130 ha) và đất cơ sở sản xuất kinh doanh (792 ha)
Đất công trình công cộng có 13 loại đất theo quy định của Luật đất đai năm
2003 Tuy nhiên, địa bàn huyện Củ Chi không có loại đất cơ sở nghiên cứu khoa học Năm
2010, diện tích công cộng của huyện là 4.310,89 ha
+ Đất tôn giáo, tín ngưỡng có diện tích là 37,86 ha, trong đó đất tôn giáo là 19,18
ha và đất tín ngưỡng là 18,68 ha;
+ Đất nghĩa trang nghĩa địa: Củ Chi ngày xưa là căn cứ cách mạng, khu giải
phóng nên thường xuyên bị địch tàn phá, càn quét dữ dội nên nhân dân, du kích địa phương đã hy sinh rất nhiều Vì thế, diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa khá lớn, với 362,77 ha, chiếm 38,14% đất nghĩa trang, nghĩa địa toàn thành phố
Trang 30+ Đất sông và mặt nước chuyên dùng có diện tích 1.188,60 ha, chiếm 3,62% của
toàn thành phố Trong đó, đất sông, ngòi, kênh, rạch là 1.122,31 ha, đất có mặt nước chuyên dùng là 66,29 ha
Thực trạng quỹ đất ở của Huyện:
Huyện Củ Chi có khoảng 23.000 ha đất được đánh giá là loại đất thuận lợi cho xây dựng, chiếm khoảng 51% diện tích đất đai thuận lợi cho xây dựng của toàn thành phố, có nhiều khả năng phát triển các công trình phúc lợi công cộng phục vụ dân cư toàn thành phố như Thảo cầm viên, viện trường ngành y tế, Trung tâm công cộng cấp thành phố, phim trường, công viên… các khu, cụm công nghiệp tập trung và khu dân cư đô thị góp
phần thực hiện giãn dân của khu vực nội thành
II.1.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
- Cấp điện – chiếu sáng công cộng: Huyện đã thực hiện xong việc cấp điện trên toàn bộ các xã, thị trấn trên địa bàn và lắp đặt 8.609 bộ đèn chiếu sáng trên hầu hết các tuyến đường giao thông công cộng khu vực do Huyện quản lý (không tính các tuyến
đường do Thành phố quản lý)
- Cấp nước: Hiện nay mạng lưới cấp nước chưa được phát triển, đến nay mới chỉ
có trạm cấp nước Công ty công ích huyện cung cấp được cho 600 hộ dân thuộc khu vực thị trấn Củ Chi chiếm tỷ lệ 1,5% Nguồn nước này chủ yếu là các giếng khoan bơm trực tiếp đến đối tượng sử dụng mà không qua trạm xử lý nên chất lượng nước chưa đạt tiêu chuẩn nước cấp sinh hoạt Các hộ dân còn lại sử dụng nước giếng đào, giếng khoan hộ gia đình và giếng khoan bán công nghiệp của UNICEF
Hạ tầng xã hội
Hệ thống hạ tầng xã hội của Huyện trong những năm qua được chú ý đầu tư xây dựng nhằm phục vụ cho người dân các khu nhà ở và các điểm dân cư nông thôn trên địa bàn Huyện, tổng diện tích đất công trình công cộng của Huyện hiện là 294,24ha, đạt bình quân 9,9m2/người, trong đó các hạng mục công trình cụ thể như sau:
Trang 31- Trường học: tổng diện tích đất là 80ha, bao gồm các loại hình:
+ Trường Mầm non: 33 trường với 204 phòng phục vụ cho 9.412 học sinh
+ Trường Tiểu học: 37 trường với 649 phòng phục vụ cho 22.558 học sinh
+ Trường Trung học cơ sở: 21 trường với 359 phòng phục vụ cho 18.249 học sinh
+ Trường Trung học phổ thông: 8 trường với 242 phòng phục vụ cho 8.747 học sinh
+ Các loại trường khác: ngoài ra trên địa bàn Huyện còn có các trường đào tạo nghề, trung tâm dạy nghề, giáo dục thường xuyên
- Y tế: tổng diện tích đất là 9,24ha, bao gồm Trung tâm y tế huyện, phòng khám khu vực và 21 trạm y tế của các xã, thị trấn huyện lỵ; hiện nay huyện đang xây dựng chương trình đầu tư xây dựng các trạm y tế đạt chuẩn quốc gia vào năm 2010
- Thương mại – dịch vụ: tổng diện tích đất là 6,08ha, bao gồm các chợ ở các trung tâm dân cư của Huyện: Thị trấn huyện lỵ, xã Phước Thạnh, An Nhơn Tây, Tân Quy, Tân Phú Trung, Tân Thạnh Đông, Trung An, Trung Lập Thượng, Phú Hòa Đông
- Khu văn hóa: tổng diện tích đất là 103,84ha, bao gồm các công trình nhà văn hóa phục vụ đời sống tinh thần người dân: nhà văn hóa huyện, An Nhơn Tây, Thái Mỹ; ngoài ra còn có các công trình khác: nhà thiếu nhi, nhà truyền thống, công viên nước… phục vụ tích cực cho đời sống tinh thần, văn hóa của người dân
- Khu hành chính: tổng diện tích đất là 58,26 ha, bao gồm các công trình mới được xây dựng kiên cố tập trung ở thị trấn và trung tâm các xã
- Khu thể dục thể thao: tổng diện tích đất là 28,82 ha, bao gồm sân vận động huyện và sân bóng đá trên địa bàn 20 xã
- Công viên nước Phước Vĩnh An: 8 ha
II.1.5 Thực trạng về nhà ở
II.1.5.1 Thực trạng các dự án nhà ở
Bảng 3: Hiện trạng các dự án trên địa bàn Huyện đến tháng 06/2012
1 Nhà ở 0,6314 Phú Hòa Đông Công ty Hóa mỹ phẩm P/S
2 Nhà ở 2,6704 Tân Thạnh Tây Công ty TNHH WAYHONG
3 Nhà ở 0,1555 Tân Thông Hội Công ty TNHH TM-DV Việt Thổ
4 Nhà ở 0,3869 Trung Lập Hạ Công ty CP May Sài Gòn 2
5 Nhà ở 1,8914 Trung Lập Hạ Công ty CP cao su Sài Gòn Kymdan
6 Nhà ở thương mại Tuyết
Anh 7,89 Bình mỹ Công ty CPXDKD nhà Tuyết Anh
Trang 327 Nhà ở thương mại 4,4 Khu phố 6,
8 Nhà lưu trú cho công nhân 0,6141 Phước Vĩnh An Công ty TNHH Vina DUKE
9 Nhà lưu trú cho công nhân 552,3 Tân Phú Trung Quỹ đầu tư phát triển đô thị
10 Nhà lưu trú cho công nhân 112,9 Tân Thạnh Đông Công ty CK Ôtô Sài Gòn
11 Nhà lưu trú cho công nhân 1,7 Tân An Hội Công ty CP đầu tư phát triển thương
15 Nhà ở tái định cư khu
công nghiệp Tây Bắc 34 Tân An Hội Công ty CP phát triển đô thị Tây Bắc
(Nguồn: Phòng Quản lý đô thị huyện Củ Chi)
Cho đến nay huyện đã có 15 dự án nhà ở thương mại, nhà lưu trú cho công nhân, nhà ở tái định cư… trong đó có 11 dự án đã hoàn thành và 4 dự án hoàn thành giai đoạn 1 được đưa vào hoạt động và đang tiếp tục xây dựng Các dự án hầu hết do các công ty tư nhân đầu tư xây dựng, chỉ có 2 dự án thuộc Nhà nước là dự án nhà lưu trú công nhân ở xã Tân Phú Trung và dự án nhà ở tái định cư ở xã Phước Vĩnh An
- Nhà ở thương mại: với tổng diện tích 18,0256 ha, hầu hết là dạng nhà ở riêng lẻ, chỉ có dự án nhà Tuyết Anh do công ty cổ phần xây dựng kinh doanh nhà Tuyết Anh đầu
tư xây dựng là dạng biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp, dự án đã hoàn thành giai đoạn 1 vào năm 2010 và đang tiếp tục xây dựng Đây là loại hình nhà ở mới xuất hiện ở Huyện khi vừa đưa ra thị trường đã được tiêu thụ rất nhanh, thu hút cả lượng khách hàng là dân cư nội thành thành phố Ngoài ra còn có 1 dự án nhà ở thương mại thu nhập thấp kết hợp với nhà ở thu nhập thấp với quy mô 1.320 căn hộ đáp ứng nhu cầu của đối tượng tượng thu nhập thấp ở xã Phước Vĩnh An
- Nhà lưu trú cho công nhân: Huyện đã đầu tư xây dựng 5 công trình nhà ở cho công nhân (có 2 dự án mới hoàn thành giai đoạn 1 và đang tiếp tục triển khai), bố trí gần các khu công nghiệp thuận tiện cho việc đi lại
- Nhà ở tái định cư: Huyện đã hoàn thành 2 dự án thực hiện tốt việc di dời cho người dân ở khu công nghiệp Tây Bắc
- Huyện vừa khởi công xây dựng 1 dự án nhà ở xã hội tại ấp 1, xã Tân Thạnh Tây vào tháng 06/2012, dự kiến hoàn thành vào năm 2015
Trang 33Hình 3: Khu tái định cư KCN Tây Bắc Hình 4: Nhà lưu trú cho công nhân
Nhìn chung các dự án trên địa bàn Huyện chưa nhiều, chủ yếu là nhà riêng lẻ do người
dân tự tạo lập từ lâu đời, dân nhập cư vào huyện đa phần lớn thuê nhà tại các nhà trọ tự
Số hộ
Số nhà
ở (căn)
Diện tích ở bình quân nhân khẩu (m 2 /người)
Loại nhà Nhà kiên cố Nhà bán kiên cố
DT (m2sàn) Sàn phụ
DT (m2sàn) Sàn phụ
Trang 34Kiến trúc nhà ở của các khu dân cư của Huyện đa số là dạng nhà cấp 4, thấp tầng
và bố trí mặt bằng đơn giản, đa số theo dạng kiến trúc truyền thống nông thôn Việt Nam
thường là nhà chữ Đinh, nhà theo dạng biệt thự vườn kế thừa từ kiểu nhà truyền thống
thường có mặt bằng hình chữ L, và kiểu nhà phố dạng ống theo xu hướng đô thị hóa Các
khu vực thị trấn và thị tứ của Huyện các nhà ở có kiến trúc hiện đại hơn, phổ biến là dạng
nhà ở liên kế phố, có chiều cao trung bình 2-3 tầng, kết cấu bê tông cốt thép, phù hợp với
yêu cầu sinh hoạt của dân cư đô thị
Hình 5: Nhà theo kiểu truyền thống
Đặc biệt, những vùng ven sông Sài Gòn còn thịnh hành và đang tiếp tục phát triển dạng nhà ở sinh thái với kiến trúc đơn giản kết hợp sân vườn, cây xanh thoáng mát, dự
báo được ưu tiên phát triển trong thời gian tới với hình thức du lịch sinh thái kết hợp nghỉ
dưỡng
Trang 35Hình 6: Mô hình nhà ở sinh thái
Hiện nay, các dự án nhà ở được thiết kế hiện đại, đa dạng hơn, bắt kịp xu hướng của Thành phố và cả nước
Hình 7: Biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp Hình 8: Biệt thự vườn sinh thái
II.1.5.4 Về chất lượng nhà ở
Nhìn chung chất lượng nhà ở trên địa bàn Huyện chưa cao, chủ yếu thuộc dạng bán kiên cố phục vụ đơn thuần nhu cầu ở, chưa chú trọng vấn đề tiện nghi, nhà vệ sinh, kiến trúc, thẩm mỹ mà đặc biệt là trong các khu vực dân cư nông thôn Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, đô thị hóa của Huyện, việc đầu tư xây dựng nhà ở của người dân đã có nhiều chú trọng hơn về chất lượng, các công trình nhà ở được chú trọng về tính thẩm mỹ kiến trúc, kết cấu bền vững công trình, tiện nghi sinh hoạt… tập trung nhiều ở các khu đô thị hóa nhanh của Huyện như thị trấn Củ Chi, xã Tân
Thông Hội, Tân Phú Trung, Tân Quy…
II.1.5.5 Thực trạng về công tác phát triển nhà ở
Tình hình phát triển nhà hàng năm
Việc phát triển nhà ở trên địa bàn huyện có gia tăng trong những năm gần đây gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư hạ tầng trên địa bàn huyện, bình quân
Trang 36mỗi năm tăng khoảng 2.000 căn; theo số liệu điều tra đến cuối 2010 tổng số nhà ở trên địa bàn huyện là 84.359 căn, trong đó có trên 90% là nhà có kết cấu kiên cố và bán kiên cố,
bao gồm: nhà ở riêng lẻ: 81.672 căn, biệt thự: 943 căn, nhà loại khác: 1.744 căn
Quy mô lực lượng xây dựng nhà
Trên địa bàn huyện hiện có trên 7 đơn vị thi công xây dựng có chức năng và pháp nhân thực hiện việc xây dựng các công trình xây dựng dân dụng, nhà ở Tuy nhiên hầu hết các đơn vị nêu trên chủ yếu tham gia thi công đối với các công trình có quy mô lớn và có nguồn vốn từ ngân sách của Nhà nước
Các công trình nhà ở nông thôn của người dân đa số được thực hiện xây dựng bởi các tổ chức, nhà thầu địa phương, do đó huyện hết sức quan tâm đối với việc quản lý chất
lượng công trình, việc quản lý công trình xây dựng trên địa bàn của từng xã, thị trấn
Thực trạng vật liệu xây dựng địa phương và khả năng lưu thông, cung cấp
và thói quen sử dụng vật liệu xây dựng
Một bộ phận lớn nhà ở của người dân có kết cấu dạng nhà bán kiên cố, do đó có
sử dụng một phần các vật liệu xây dựng địa phương: cây gỗ, đất san lấp mặt bằng… ngoài
ra các loại vật liệu xây dựng khác đều được cung cấp từ các nguồn ngoài địa bàn huyện
Do điều kiện giao thông và vị trí địa lý của huyện tương đối thuận lợi trong việc vận chuyển cung cấp vật liệu xây dựng, nên không ảnh hưởng lớn đến yêu cầu vật liệu xây dựng nhà ở của huyện
Do đặc điểm đa số nhà ở của huyện là dạng nhà ở nông thôn, thói quen của người dân chủ yếu sử dụng các chủng loại vật liệu xây dựng thông thường, các vật liệu cao cấp chỉ tập trung ở một số ít nhà ở các khu vực đô thị; tuy nhiên với mức phát triển kinh tế của huyện trong thời gian sắp tới, dự báo nhu cầu thị trường vật liệu xây dựng trên địa bàn huyện sẽ tăng mạnh và tỷ trọng vật liệu xây dựng cao cấp sẽ chiếm phần khá lớn,
tương ứng với việc nâng cao mức sống của người dân
II.1.5.6 Thực trạng về công tác quản lý nhà ở
Vấn đề quản lý xây dựng theo quy hoạch, cấp phép xây dựng nhà ở
Công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch, cấp phép xây dựng và xây dựng nhà ở nông thôn của huyện trong những năm qua đã được chú ý thực hiện đã góp phần đáng kể việc giảm tình trạng xây dựng công trình không phép trên địa bàn huyện Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận người dân trong các khu dân cư nông thôn chưa ý thức đầy đủ về pháp luật, xây dựng nhà ở không phù hợp quy hoạch, mục đích sử dụng đất… đây là vấn đề cần
tiếp tục chấn chỉnh trong thời gian sắp tới
Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở - công trình xây dựng