1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chăm lo sinh kế cho các hộ thuộc diện giải tỏa, tái định cư - nhìn từ góc độ cộng đồng

49 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 360 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần tháo gỡ những nút thắt trong vấn đềsinh kế cho người dân tái định cư, thực hiện mục tiêu “Năm giải tỏa đền bù, tái định cư và an sinh xã hội”, ngày 3/4/2012, Ủy ban Mặt trận

Trang 1

MỞ ĐẦU

Vấn đề giải toả, di dời, tái định cư là một quy luậtkhông thể tránh khỏi trong quá trình phát triển và chỉnhtrang đô thị Đây là giai đoạn mà hầu hết các thành phốlớn trên thế giới trong quá trình phát triển của mình đềuphải trải qua

Thành phố Đà Nẵng đang trong quá trình phát triển,chỉnh trang đô thị với rất nhiều dự án cùng với các chươngtrình di dời, tái định cư Những năm qua, thành phố đượcđánh giá là một trong những địa phương làm tốt công tácgiải tỏa, tái định cư trong cả nước với những thành tựu tolớn Nhờ vậy, sau 15 năm trở thành thành phố trực thuộcTrung ương, Đà Nẵng đã trở thành một đô thị trẻ với diệnmạo đô thị khang trang, hiện đại, kết cấu hạ tầng đô thịkhá đồng bộ

Tuy nhiên, việc giải tỏa, tái định cư cũng kéo theonhững hệ lụy về kinh tế, văn hóa, xã hội cho các hộ giađình bị thu hồi đất sản xuất, nhất là người nông dân Đốivới họ, khi những điều kiện sản xuất, nguồn lực sinh kế bịmất đi thì việc phải đối mặt với đói nghèo là một nguy cơtiềm ẩn Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao để sớm

ổn định tình hình đời sống kinh tế, đặc biệt là công ăn việclàm đối với các hộ gia đình thuộc diện giải tỏa, tái định cư

Để góp phần tháo gỡ những nút thắt trong vấn đềsinh kế cho người dân tái định cư, thực hiện mục tiêu

“Năm giải tỏa đền bù, tái định cư và an sinh xã hội”, ngày

3/4/2012, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố

Đà Nẵng đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh

tế Xã hội Đà Nẵng tổ chức hội thảo với chủ đề “Chăm losinh kế cho các hộ thuộc diện giải tỏa, tái định cư - nhìn từgóc độ cộng đồng”

Trang 2

Đây là một vấn đề rộng và phức tạp, trong khuôn khổthời lượng cho phép, hội thảo đã tập trung trao đổi, thảoluận những nội dung sau:

Một là, Đánh giá khách quan thực trạng các nguồn

lực tự nhiên, kinh tế - xã hội tại các khu vực giải tỏa, táiđịnh cư và hoạt động sinh kế của các hộ thuộc diện giảitỏa, tái định cư trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Hai là, Kết quả thực hiện các chính sách của Nhà

nước về hỗ trợ giải tỏa, tái định cư, đào tạo nghề và tạo

việc làm cho các hộ thuộc diện giải tỏa, tái định cư

Ba là, Các giải pháp hỗ trợ sinh kế của cộng đồng

thông qua các dịch vụ hỗ trợ tín dụng, giới thiệu việc làm,chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, nhất là việc triển khaicác chương trình “5 không, 3 có” Trong đó, ổn định nhà ở

và có việc làm là những vấn đề quan trọng trước mắt cần

sự hỗ trợ nhiều nhất từ cộng đồng

Bốn là, Các giải pháp giúp các hộ thuộc diện giải tỏa,

tái định cư tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các chính sách

hỗ trợ sinh kế từ Nhà nước và cộng đồng

Trên cơ sở những nội dung này, hội thảo đã nhậnđược sự tham gia ý kiến của các nhà khoa học, nhà nghiêncứu, lãnh đạo các sở ban ngành, lãnh đạo các quận, huyện,cùng với sự tham gia của các hiệp hội, các doanh nghiệptrong thành phố Dưới đây là những nội dung chính đượctổng kết từ kết quả của hội thảo

2

Trang 3

Phần I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ SINH KẾ

1 Khái niệm sinh kế

Theo cách hiểu thông thường, sinh kế là sự kết hợpcác hoạt động được thực hiện để sử dụng các nguồn lực nhằmduy trì cuộc sống Các nguồn lực ở đây bao gồm các khảnăng và kỹ năng cá nhân (nguồn lực con người), đất đai(nguồn lực tự nhiên), tiền tích lũy (nguồn lực tài chính), cácthiết bị (nguồn lực vật chất) và các nhóm trợ giúp chính thứchay không chính thức tạo điều kiện cho các hoạt động đượcdiễn ra (nguồn lực xã hội)

Khái niệm sinh kế liên quan chặt chẽ đến sinh kế bềnvững Bền vững ở đây không có nghĩa là sẽ không có gì thayđổi, mà là có khả năng thích nghi theo thời gian Nhìn chung,một sinh kế bền vững là khi nó có khả năng ứng phó và phụchồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy khả năng và tài sản ở

cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làmxói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên1 Để đạt được điều này,sinh kế phải có khả năng vượt qua và hồi phục sau các áp lực

và các cú sốc

2 Các yếu tố quy định vấn đề sinh kế

Sinh kế chịu sự quy định của nhiều yếu tố, trong đóquan trọng nhất là các nguồn lực sinh kế

Như đã đề cập ở trên, nguồn lực sinh kế bao gồm 5 loại

cơ bản là nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người, nguồnlực vật chất, nguồn lực xã hội và nguồn lực tài chính Đócũng chính là 5 loại vốn, tài sản mà mỗi hộ gia đình có đểđáp ứng nhu cầu sinh kế Trong đó:

1 Tim Hanstad, Robin Nielsn and Jennifer Brown Land andlivelihoods: Making land rights real for India’s rural poor LSPworking paper 12 Rome: Food and Agriculture Organizationlivelihood Support Program, 2004

Trang 4

- Vốn con người đại diện cho các kỹ năng, tri thức, khảnăng làm việc và sức khỏe tốt, tất cả cộng lại tạo điều kiệngiúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau vàđạt được các mục tiêu sinh kế.

- Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và các loại hànghóa mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế

- Vốn tự nhiên là tất cả những tư liệu sản xuất tự nhiên

để tạo dựng sinh kế Có rất nhiều nguồn vốn tự nhiên, trong

đó quan trọng và phổ biến nhất là các nguồn lực đất đai Đốivới những cộng đồng nông thôn và ven đô, đất đai là mộtnguồn tài sản có giá trị nhất và là một loại tư liệu quan trọng

để đạt được mục tiêu sinh kế Quyền sử dụng đất đai đóngmột vị trí quan trọng về nhiều mặt và tạo cơ sở để ngườinông dân tiếp cận các loại tài sản khác và những sự lựa chọnsinh kế thay thế Vì vậy biến đổi trong tiếp cận và sử dụngđất đai sẽ ảnh hưởng đến an ninh sinh kế của người nôngdân Thực tế này cho thấy một mối quan hệ mật thiết và trựctiếp giữa tiếp cận đất đai và sinh kế

- Vốn xã hội nghĩa là các nguồn lực xã hội mà conngười sử dụng để theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình,bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sựphụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng thông tinchính thống quan trọng

- Vốn tài chính bao hàm về các nguồn lực tài chính màcon người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế củamình

Ở cấp độ hộ gia đình, vốn con người là yếu tố về sốlượng và chất lượng lao động của hộ; yếu tố này khác nhautùy thuộc vào quy mô của hộ, trình độ giáo dục và kỹ năngnghề nghiệp, khả năng quản lý, tình trạng sức khỏe, tri thức

về các cấu trúc sở hữu chính thống và phi chính thống (như

4

Trang 5

các quyền, luật pháp, chuẩn mực, cấu trúc chính quyền, cácthủ tục)…

Bên cạnh đó, sinh kế còn chịu sự tác động của các cơchế, chính sách các cấp Trực tiếp nhất là các chính sách,chương trình của Chính phủ thông qua các Ủy ban Nhân dâncác cấp, các ban, ngành chức năng và quá trình triển khaithực hiện của các chủ trương đó từ cấp trung ương đến cấp

cơ sở

Phần II TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH GIẢI TỎA, TÁI ĐỊNH CƯ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO CÁC HỘ THUỘC DIỆN GIẢI TỎA, TÁI ĐỊNH CƯ TRÊN ĐỊA

BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Sau 15 năm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương,thành phố Đà Nẵng đạt thành công trên nhiều phương diện,trong đó nổi bật là thành công về giải phóng mặt bằng Từnăm 1997 đến nay, để triển khai thực hiện hơn 1.300 dự án,thành phố đã giải tỏa hơn 18.500ha, mạnh nhất là từ năm

2005 đến nay, giải tỏa hơn 13.000ha, phục vụ cho hơn 1.000

dự án Riêng năm 2011, thành phố đã tiến hành giải tỏa đền

bù 222 dự án với tổng số hồ sơ đã kiểm định trong năm là43.665 hồ sơ Tổng cộng số hộ dân phải di dời giải tỏa lênđến 90.050 hộ dân, trong đó:

- Số hộ giải tỏa thu hồi đi hẳn: 41.282 hộ

- Số hộ giải tỏa thu hồi một phần: 21.125 hộ

- Số hộ giải tỏa đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp:20.333 hộ

- Tổng số hộ giải tỏa được bố trí đất tái định cư: 35.324hộ

Hoạt động giải phóng mặt bằng đã tạo nên diện mạokhang trang cho đô thị hiện nay Tuy nhiên, nó đã làm biến

Trang 6

động cuộc sống của người dân, đặc biệt là đối với 35.324 hộdân bị di dời, tái định cư Do vừa bị thay đổi nơi ở, vừa bị thuhồi hoặc giảm diện tích đất sản xuất nên tình trạng thiếu việclàm đối với người dân tái định cư, đặc biệt là người nông dânngày càng tăng

Để hạn chế những tác động tiêu cực về đời sống kinh tế

xã hội của người dân, thành phố đã có những hỗ trợ về vốn,dạy nghề thông qua nhiều chủ trương, chính sách như:

- Quyết định số 65/QĐ-UBND ngày 24/5/2005 về hỗtrợ, chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm, ổn định đờisống đối với đối tượng trong diện giải toả, thu hồi đất sảnxuất

- Quyết định số 31/2008/QĐ-UBND ngày 27/5/2008 vềsửa đổi, bổ sung Quyết định số 65/2005/QĐ-UBND;

- Chỉ thị số 10-CT/TU của Thành ủy Đà Nẵng ngày04/7/2011 về tăng cường công tác quản lý và sử dụng đất đaitrên địa bàn thành phố Đà Nẵng;

- Quyết định số 23/2011/QĐ-UBND ngày 22/8/2011nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhận lao động vào đào tạo nghề vàgiải quyết việc làm;

- Quyết định số 24/2011/QĐ-UBND ngày 22/8/2011 vềviệc ban hành quy định chính sách hỗ trợ học nghề, chuyểnđổi ngành nghề, giải quyết việc làm, ổn định đời sống đối vớiđối tượng thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất sản xuất trênđịa bàn thành phố Đà Nẵng

Bên cạnh đó, thành phố còn có những chủ trương mạnh

mẽ, thiết thực nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội như:

“Thành phố 5 không”, “Thành phố 3 có”; Chỉ thị 24-CT/TU;tập trung giải quyết chế độ, bảo đảm đời sống cho gia đìnhchính sách, gia đình hộ nghèo, khó khăn

6

Trang 7

Trên cơ sở những chủ trương, chính sách này, thành phố

Đà Nẵng đã triển khai thực hiện nhiều hoạt động nhằm giảiquyết vấn đề sinh kế cho người dân

Trước khi thu hồi đất, thành phố đã thực hiện việc xâydựng các khu tái định cư, đặc biệt đối với những dự án đãđược quy hoạch từ trước, UBND thành phố chỉ giao đất chocác chủ đầu tư khi họ hoàn thành xong việc xây dựng các khutái định cư, để người dân có chỗ ở ổn định cuộc sống

Về vấn đề sinh kế cho người dân, thành phố đã banhành đề án “Giải quyết việc làm cho người trong độ tuổi laođộng trên địa bàn thành phố (2006-2010), từ đó giải quyếtviệc làm cho 161.000 lao động, trung bình mỗi năm tạo việclàm cho hơn 32.000 lao động Công tác hỗ trợ giới thiệu vàgiải quyết việc làm thông qua Trung tâm tư vấn và giới thiệuviệc làm và các Chợ việc làm lưu động được thực hiện thànhcông mang lại hiệu quả thiết thực cho người lao động Đây làmột trong những mô hình hỗ trợ cho đối tượng thuộc diện didời, giải tỏa, được Sở LĐTB&XH duy trì thường xuyên định

kỳ 02 phiên chợ/tháng tại Trung tâm và mỗi năm tổ chức 3-5phiên chợ việc làm và tư vấn tuyển sinh học nghề lưu độngtại các vùng giải tỏa, tái định cư nhằm thu hút và tuyển dụnglao động vào làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bànthành phố

- Ở Quận Cẩm Lệ, phiên chợ việc làm được tổ chứcngày 17/4/2010 (tại Phường Hòa Xuân - nơi giải tỏa di dờitoàn bộ) với hơn 1.000 lao động tham gia; kết quả chắp nốigiới thiệu cho 363 lao động, trong đó 298 lao động phỏngvấn sơ tuyển

- Ở huyện Hòa Vang, phiên chợ việc làm tổ chức ngày6/11/2010 với gần 1.000 người tham gia; kết quả chắp nốigiới thiệu cho 151 lao động, trong đó 118 lao động phỏng vấn

sơ tuyển

Trang 8

- Ở quận Ngũ Hành Sơn, phiên chợ việc làm tổ chứcngày 16/4/2011 với hơn 1.000 lao động tham gia; kết quảchắp nối giới thiệu cho 293 lao động, trong đó 182 lao độngphỏng vấn sơ tuyển.

Ngoài các phiên chợ lưu động, sàn giao dịch việc làmcủa Trung tâm Giới thiệu việc làm Đà Nẵng thường xuyênkết nối giữa cung và cầu lao động; hàng năm có trên 17.000lao động đến giao dịch; và chắp nối giới thiệu 6.500-7.700lao động cho các doanh nghiệp, đã giúp cho người lao độngcủa thành phố nói chung, người lao động thuộc diện di dờigiải tỏa, thu hồi đất sản xuất nói riêng có điều kiện để tiếpcận, nâng cao kỹ năng tìm việc làm và có cơ hội cao để tìmviệc làm chuyển đổi ngành nghề

Bên cạnh đó, hầu hết các quận huyện, xã, phường đềutích cực tổ chức những hoạt động hỗ trợ cho người dân táiđịnh cư, như tổ chức gặp mặt, đối thoại trực tiếp với từng hộgia đình để xác định nhu cầu, từ đó hỗ trợ vay vốn, phươngtiện làm ăn, hỗ trợ đào tạo nghề để chuyển đổi ngành nghề.Điển hình như chính quyền quận Cẩm Lệ:

- Tiến hành nhiều đợt khảo sát nhu cầu của người dântrong vùng dự án, đối thoại trực tiếp người dân để lắng nghetâm tư, nguyện vọng của người dân, đồng thời tư vấn ngànhnghề đào tạo và giới thiệu việc làm, từ đó giúp bản thân họ tựlựa chọn cho mình một ngành nghề thích hợp với trình độ,khả năng Riêng với dự án đô thị sinh thái Hòa Xuân, chínhquyền đã xây dựng hẳn một đề án giải quyết việc làm và đàotạo nghề cho nông dân và tổ chức chợ việc làm riêng tại HòaXuân

- Chủ động làm việc với Hội doanh nghiệp, khu côngnghiệp Hòa Cầm và các doanh nghiệp trên địa bàn, để nắmbắt nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp, tạo cầunối giữa doanh nghiệp với người lao động, cũng như người

8

Trang 9

lao động với doanh nghiệp Đây là giải pháp hiệu quả để tạoviệc làm cho người lao động Trong thời gian qua, đã giảiquyết được việc làm cho 7.959 lao động, đào tạo nghề cho1.717 học viên và hiện đã có việc làm ổn định, trong đó laođộng thuộc diện quy hoạch giải tỏa là 3.198 lao động.

- Thành lập Tổ hỗ trợ xây dựng nhà ở cho các hộnghèo, hộ khó khăn ở khu vực giải tỏa, nhất là tại khu đô thịsinh thái Hòa Xuân

Nhìn chung, các quận, huyện đã có nhiều cố gắng để tạođiều kiện thuận lợi để người dân vay vốn phát triển kinh tế,sớm ổn định cuộc sống, thực hiện chu đáo các chính sách chongười dân thuộc diện giải tỏa, tái định cư Đồng thời, cùngvới các ban, ngành, đoàn thể thành phố, các tổ chức, doanhnghiệp, trung tâm đào tạo nghề, các cơ quan đơn vị trên địabàn đã tích cực thực hiện nhiều chương trình, mô hình pháttriển kinh tế, trợ giúp khác như tổ chức các lớp dạy trồngnấm, hoa cây cảnh, nấu ăn, chuyển đổi mô hình con vật nuôi,may công nghiệp, điện lạnh, điện dân dụng, cơ khí, tin học,…Tất cả các lớp đều được khảo sát từ nhu cầu của người laođộng ở các vùng quy hoạch giải tỏa tái định cư và chỉnh trang

đô thị

Những việc làm trên đây phần nào tháo gỡ được nhữngkhó khăn cho người dân khu vực tái định cư Tuy nhiên, việcthực hiện chính sách cũng gặp phải nhiều khó khăn:

- Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương,chính sách của thành phố tuy đã được chú trọng nhưng nhậnthức của một bộ phận người lao động còn chưa rõ, làm nảysinh tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nướctrong vấn đề dạy nghề và giải quyết việc làm Họ chưa nhậnthức rõ về tính ổn định lâu dài đối với đời sống của bản thân

và gia đình khi có nghề và có việc làm ổn định Các địaphương kể cả các cơ quan quản lý chưa định hướng một cách

Trang 10

cụ thể cho người lao động nên học nghề gì, học ở đâu, làmviệc ở nơi nào sau khi học nên người dân chưa mạnh dạndành thời gian, kinh phí để đi học nghề.

- Vấn đề suy giảm, khủng hoảng kinh tế trong nhữngnăm gần đây đã làm cho người lao động bị mất việc làm có

xu hướng gia tăng mà chủ yếu là lao động phổ thông Laođộng qua đào tạo ở nhóm đối tượng này chưa đáp ứng yêucầu cả về số lượng và kỹ năng nghề, phần lớn họ chỉ phù hợp

để đào tạo trình độ sơ cấp nghề do trình độ học vấn thấp, lớntuổi trong khi thị trường lao động đang cần lao động có taynghề cao, chuyên nghiệp ở các ngành nghề dịch vụ và kỹthuật

- Các hoạt động dịch vụ việc làm, dự báo, cung cấpthông tin thị trường lao động mới đạt được kết quả bước đầu,chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của người lao động cũng nhưcủa doanh nghiệp

- Đầu tư của nhà nước cho công tác đào tạo nghề chưađáp ứng yêu cầu Trình độ giáo viên, trang thiết bị dạy nghềchưa theo kịp và tương thích với yêu cầu kỹ thuật và trangthiết bị của doanh nghiệp nên doanh nghiệp phải đào tạo lại.Kinh phí dạy nghề miễn phí và vốn vay hỗ trợ cho đối tượngthuộc diện này chưa đảm bảo

- Nhiều cơ sở, chương trình đào tạo cho người thuộcdiện giải tỏa, tái định cư không thật hiệu quả, do đó người laođộng học xong không xin được việc làm, gây tâm lý chánnản, thiếu niềm tin; bên cạnh đó, gia đình lại có một khoảntiền đền bù nên họ dễ có tâm lý tiêu xài phung phí dẫn đếntrở thành gánh nặng của xã hội

- Các giải pháp triển khai thực hiện chưa đồng bộ, kếhoạch thực hiện giải tỏa, tái định cư được triển khai riêngtrong khi công tác đào tạo, chuyển đổi ngành nghề và giải

10

Trang 11

quyết việc làm cho đối tượng này lại được thực hiện ở một cơquan khác và ở vào một thời điểm khác

- Nguồn vốn vay để giải quyết việc làm còn hạn chế(Tổng nguồn vốn hơn 76 tỷ đồng, hằng năm Trung ương bổsung nhỏ giọt 3 tỷ đồng/năm, nguồn ủy thác của thành phốcũng hạn chế hơn 20 tỷ đồng); nên chưa đáp ứng được nhucầu cho vay giải quyết việc làm

Phần III MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ SINH KẾ CHO CÁC HỘ THUỘC DIỆN GIẢI TỎA, TÁI ĐỊNH CƯ CỦA CÁC TỈNH,

THÀNH PHỐ TRONG NƯỚC

Hiện tại Việt nam chưa có các quy định cụ thể và thốngnhất về di dân, tái định cư nói chung và triển khai công tácnày trong các dự án phát triển Các kế hoạch di dân, tái định

cư thường được xây dựng tùy theo điều kiện cụ thể của dự án

và khả năng của nhà đầu tư

Trước năm 1993, Nhà nước có thể thu hồi đất mà khôngđền bù gì hoặc chỉ đền bù cho chính quyền địa phương hoặc

tổ chức tập thể đã được cấp đất Cơ sở pháp lý cho chính sáchtái định cư dần dần được hình thành với sự ra đời của Hiếnpháp năm 1992 và Luật Đất đai năm 1993, kèm theo đó làhướng dẫn thực hiện trong Nghị định 22/1998/NĐ-CP, cùngvới những cải thiện trong Luật Đất đai năm 2003 Cho đếnnay, luật đã quy định là phải đền bù những thiệt hại về đất vàcác tài sản kèm theo đất Các biện pháp hỗ trợ ổn định mứcsống của những đối tượng bị ảnh hưởng đã được đưa ra vớinguyên tắc chung là nơi tái định cư phải có điều kiện sống ítnhất là ngang bằng hoặc tốt hơn

Hiện nay, nhiều địa phương đã ban hành và thực hiệnchính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm chongười dân có đất bị thu hồi dưới nhiều hình thức như: giaođất sản xuất - kinh doanh - dịch vụ phi nông nghiệp (Vĩnh

Trang 12

Phúc, Bắc Giang); dạy nghề miễn phí 100% cho những ngườithuộc hộ đã bàn giao từ 50% diện tích đất canh tác trở lên(Hải Dương); thành lập quỹ hỗ trợ đào tạo và giải quyết việclàm cho người có đất bị thu hồi, cấp thẻ học nghề miễn phí,

hỗ trợ chi phí học văn hóa, chi phí học nghề và cho vay vốnkinh doanh (Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội); thực hiệnđiều chỉnh quy hoạch tái định cư gắn với tạo việc làm, đầu tưngân sách cho dạy nghề, phát triển ngành nghề, mở rộng sảnxuất, dịch vụ gắn với khu công nghiệp, khu kinh tế (BìnhDương, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hà Nam) 2

Đáng chú ý là việc hướng dẫn các hộ sử dụng tiền đền

bù khi giao lại đất cho Nhà nước được thực hiện có hiệu quả

ở một số tỉnh như Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bình Dương Mặcdầu ở những nơi này, số tiền mà các hộ đầu tư cho học nghề,sản xuất - kinh doanh chỉ chiếm gần 48% số tiền được đền

bù, số còn lại dùng cho việc mua sắm đồ dùng sinh hoạt, xâydựng, sửa chữa nhà cửa và chi dùng khác nhưng đó là kết quảđáng khích lệ

Qua đó, bên cạnh việc đền bù, hỗ trợ tiền cho người bịthu hồi đất, thành phố Đà Nẵng có thể học hỏi kinh nghiệm

về việc hướng dẫn các hộ dân sử dụng tiền bồi thường saocho hợp lý, tăng tỉ lệ sử dụng tiền đền bù vào đầu tư sản xuất,hoặc học nghề, chuyển đổi việc làm thay cho tình trạng muasắm tài sản sinh hoạt, xây dựng nhà cửa hiện nay

2 Theo

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/nong-nghiep-nong-thon/2009/1040/Viec-lam-cho-ho-nong-dan-thieu-dat-san-xuat-van.aspx

12

Trang 13

Phần IV KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA CÁC HỘ THUỘC DIỆN GIẢI TỎA,

TÁI ĐỊNH CƯ

1 Giới thiệu cuộc khảo sát

Để có cơ sở cho việc đề ra những giải pháp tạo sinh kếbền vững cho các hộ gia đình thuộc diện giải tỏa, tái định cư,Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng đã tiếnhành một cuộc khảo sát ở một số điểm tái định cư lớn ở quậnCẩm Lệ và huyện Hòa Vang

1.1 Đối tượng và địa điểm khảo sát:

Đối tượng của cuộc khảo sát là chủ hộ, người lao độngchính trong các gia đình thuộc diện giải tỏa, tái định cư đangsinh sống tại khu vực tái định cư

Địa điểm khảo sát là hai địa bàn quận Cẩm Lệ vàhuyện Hòa Vang Đây là hai địa phương những năm gầnđây có nhiều người dân bị giải tỏa, thu hồi đất nhiều nhấttrên địa bàn thành phố Đà Nẵng Hòa Vang là địa phương

có nhiều lao động nông nghiệp chịu ảnh hưởng nhất trongviệc di dời, giải tỏa với 12 dự án đã hoàn thành, thu hồihơn 614 ha đất nông nghiệp, hiện có 39 dự án đang triểnkhai, thu hồi gần 3.885 ha đất và sẽ thu hồi thêm 1.570 hađất cho 08 dự án đã được phê duyệt sẽ triển khai trong thờigian tới Các dự án này ảnh hưởng đến khoảng 40% dân sốtoàn huyện, kéo theo hơn 40 nghìn lao động cần được đàotạo và chuyển đổi ngành nghề Còn quận Cẩm Lệ, dù mớithành lập hơn sáu năm nhưng số dân nằm trong khu vựcgiải tỏa để chỉnh trang đô thị cũng rất lớn 77 dự án trêntoàn quận đang triển khai đã ảnh hưởng tới hơn 10 nghìn

hộ dân, riêng phường Hòa Xuân phải giải tỏa trắng với hơn

ba nghìn hộ dân phải di dời, tái định cư.3

3 Số liệu từ năm 2011 từ website: http://www.danang.gov.vn/

Trang 14

1.2 Quy mô khảo sát:

Cuộc khảo sát tiến hành với số lượng 400 phiếu, trong

đó có 250 phiếu (chiếm 62,5%) ở quận Cẩm Lệ (chủ yếu làcác khu A, B, C, D, E1, E2, F thuộc phường Hòa Xuân) và

150 phiếu (chiếm 37,4%) ở huyện Hòa Vang (ở các xã HòaLiên, Hòa Ninh, Hòa Châu) Cuộc khảo sát đã thu được một

số kết quả nhằm thông qua đó đánh giá về tình hình sinh kếcủa các hộ giải tỏa, tái định cư và tìm ra những giải phápkhắc phục

1.3 Phương pháp khảo sát và xử lý số liệu

Người khảo sát trực tiếp đi đến các điểm trên, phátphiếu câu hỏi cho các chủ hộ tái định cư để họ tự điền thôngtin vào phiếu hỏi, hoặc trực tiếp phỏng vấn và trợ giúp ngườiđược khảo sát điền thông tin vào phiếu hỏi

Sau khi thu thập đủ thông tin vào 400 phiếu, nhóm khảosát đã xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS (version 16.0) để cho

ra kết quả khảo sát với các số liệu cụ thể, được sử dụng trongnhững phân tích dưới đây

2 Nguồn lực sinh kế của hộ gia đình và của cộng đồng

2.1 Về nguồn lực con người

Nguồn lực con người được xem xét trên cả ba khía cạnh

số lượng, sức khỏe và trình độ Trong số 400 gia đình đượckhảo sát, có 77% gia đình có số thành viên trong gia đình từ3-6 người Mặc dầu số lượng gia đình đơn lẻ 1-2 người cũngchiếm số lượng không nhỏ (10,4%) nhưng bên cạnh đó lạitồn tại một số gia đình có số lượng nhân khẩu lớn (hơn 10người) Vì vậy, tính trung bình, số nhân khẩu trong mỗi giađình là 4,66 Trong đó, số người trong độ tuổi lao động ở mỗigia đình trung bình là 3,07 người, chiếm 63%; số người cóviệc làm ổn định trung bình là 1,8 người, chiếm 51,6% trên

14

Trang 15

tổng số người trong độ tuổi lao động và 32,7% trên tổng nhânkhẩu.

Số nhân khẩu như vậy là tương đối trẻ, gắn liền là sứckhỏe tốt Họ là đối tượng phải gánh vác trách nhiệm quantrọng trong việc đảm bảo sinh kế của gia đình Tuy nhiên,hạn chế chung là trình độ văn hóa của họ còn thấp, rất ítngười được rèn luyện, học hành, đào tạo bài bản Có đến34% chủ hộ gia đình không có trình độ văn hóa gì Trong số66% còn lại, có 20,8% trình độ văn hóa cấp 1, 29,8% trình độcấp 2 và 11,2% trình độ cấp 3 Số chủ hộ có trình độ chuyênmôn chỉ đạt 4,2% Bên cạnh đó, trong mỗi gia đình tái định

cư, tỉ lệ thành viên trẻ có trình độ chuyên môn cũng rất thấp.Cuộc khảo sát cho thấy số hộ có người học trung cấp chỉchiếm 6,8%, cao đẳng là 11,8% và đại học là 13,5%

Bảng 1: Tình hình nhân khẩu và lao động của

các nhóm hộ điều tra

Tổn g cộn g

Cẩ m Lệ

Hòa Van g

Trang 16

Điều này đã hạn chế người lao động tiếp cận các côngviệc được trả lương cao song lại đòi hỏi nhiều kỹ năng nghềnghiệp Đây là một trong những nguyên nhân quan trọngkhiến tình trạng việc làm sau tái định cư trở nên bấp bênh.Người dân tái định cư chủ yếu tham gia vào những công việcđơn giản, tự trả lương, không đòi hỏi nhiều về trình độ đàotạo hay kỹ năng nghề nghiệp và quan hệ con người Thực tếcho thấy bên cạnh số lượng tiếp tục công việc cũ chiếm32,5% thì số lượng chuyển đổi nghề nghiệp chỉ chiếm 18,8%.

Số còn lại thì trở nên thất nghiệp và tiếp tục thất nghiệp(33,7%), làm việc thời vụ, bán thời gian (14,1%)

2.2 Về nguồn lực vật chất:

Nguồn lực vật chất bao gồm nguồn lực chung của cộngđồng và riêng của từng hộ gia đình

- Nguồn lực vật chất của cộng đồng là điều kiện cơ sở

hạ tầng tại nơi ở mới Quá trình giải tỏa, tái định cư mangđến cho người dân một nơi cư trú mới với cơ sở hạ tầng mới

Đó là nguồn lực vật chất dùng chung cho cả cộng đồng, tạođiều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi hơn và hiệu quảhơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, cải thiện điều kiệngiao lưu với môi trường bên ngoài

Bảng 2: Mức độ hài lòng người dân tái định cư đối với

Trang 17

Nhà văn hóa 12,4 49,5 38,2Thực tế khảo sát cho thấy hệ thống đường giao thông,cấp thoát nước và điện được đánh giá khá tốt Về mặt giaothông, chỉ có 35,5% người dân ở quận Cẩm Lệ phàn nàn vìmột số khu dân cư mới xây dựng, đường sá, nhà cửa đangxây, nhiều xe chuyên chở vật liệu qua lại trong khi vẫn chưa

có cây xanh nên gây ra bụi bặm Trong khi đó, tại địa bànkhảo sát thuộc huyện Hòa Vang, người dân tái định cư kháhài lòng vì hiện vẫn còn thưa thớt dân cư

Về cấp thoát nước, mặc dầu có một số trường hợp bịmất nước hoặc nước yếu, một số trường hợp hệ thống thoátnước bị tắt và ngập khi trời mưa nhưng nhìn chung người dânvẫn có thái độ hài lòng (83%) Về hệ thống điện, có 92,2% ýkiến cho rằng đã được cung cấp thường xuyên và khá ổnđịnh, chỉ cần hoàn thiện thêm điện đường chiếu sáng vàobuổi tối

Điều đáng lưu ý là đối với người dân mới tái định cư, hệthống chợ xung quanh khu vực sinh sống còn chật hẹp, chưađược nâng cấp và ở khá xa Điều này không chỉ hạn chế về đờisống sinh hoạt hàng ngày mà còn là trở lực đối với những ngườimuốn kinh doanh, buôn bán Bên cạnh đó, hệ thống trường học,

cơ sở y tế chưa ổn định và xa khu dân cư cũng đã ảnh hưởngđến cuộc sống mới của người dân

- Nguồn lực vật chất của hộ gia đình cơ bản được thểhiện qua tình trạng nhà ở

Sau khi chuyển sang địa bàn mới, tỉ lệ nhà cấp 4 giảmxuống nhiều và thay vào đó, tỉ lệ kiên cố hóa nhà cửa đượctăng lên Nếu trước tái định cư, nhà cấp 4 chiếm 92,3%, nhàcấp 3 và cấp 2 chỉ chiếm 6,2% thì sau tái định cư đã có sựdịch chuyển tích cực, chỉ còn 39% đối với nhà cấp 4 và tănglên đạt 50,5% đối với nhà cấp 3 và cấp 2 (Trong đó quậnCẩm Lệ đạt 54,3% và huyện Hòa Vang đạt 44,1%) Đi liền

Trang 18

với xu hướng biến động đó là số lượng nhà tạm, chưa có nhà

và đang xây nhà tăng lên đạt 10,6% trong khi trước tái định

cư chỉ có 1,5% nhà tạm (không có trường hợp đang xây nhà,chưa có nhà) Mặc dầu vẫn còn nhà tạm tại khu dân cư nhưngtính chất không giống trước đây vì chúng thực sự tạm thờitrong thời gian chờ đợi xây xong một ngôi nhà mới

Biểu đồ 1: Các loại nhà ở của người dân trước và

sau khi tái định cư

Sự xuất hiện các ngôi nhà mới kéo theo nhiều đồ đạcgia dụng khác cũng được đầu tư mua sắm Theo kết quả khảosát, số tiền mua đồ dùng trong gia đình cũng chiếm một tỉ lệnhất định như để mua xe máy là 8,2% và để mua các đồ dùngkhác trong gia đình là 14,6% Tuy nhiên, hầu hết các hộ giađình đều không mua sắm những vật dụng dùng cho côngviệc Nếu có thì chỉ là những công cụ đơn giản phục vụ choviệc buôn bán nhỏ lẻ ở chợ, xe bán hàng lưu động, bán hàngcafé, máy tính phục vụ học hành cho con.…

Trước TĐC Sau TĐC

18

Trang 19

Biểu đồ 2: Tỉ lệ mục đích của các hộ trong sử dụng tiền

đền bù, hỗ trợ

Thực trạng trên cho thấy nguồn vốn tài sản cá nhân có

sự tăng lên đáng kể sau thu hồi đất, tuy nhiên điều đó khôngkhẳng định mức sống người dân được cải thiện Ở đây có sựluân chuyển giữa nguồn vốn tự nhiên sang nguồn vốn vậtchất nhưng thực chất nguồn vốn này chủ yếu là phương tiệnsinh hoạt, chưa phải là phương tiện sản xuất

Trang 20

hợp ở Sơn Phước, Hòa Ninh, Hòa Vang) Có hơn 52% hộ giađình có số tiền đền bù dao động từ 100 đến 300 triệu và 35%

hộ gia đình dao động từ 300 đến 500 Ở huyện Hòa Vang, tỉ

lệ hộ gia đình dưới 300 triệu chiếm 36,6% và từ 300 đến 500triệu chiếm 39%, đặc biệt có 1 trường hợp đạt cao hơn 1 tỷđồng Tỉ lệ này tương đương với quận Cẩm Lệ là 59,6% và32,8%, trong đó có 2 đối tượng đạt từ 700 đến 1 tỷ đồng Bêncạnh đó, các hộ gia đình còn nhận được số tiền hỗ trợ, chủyếu là khoản hỗ trợ thuê nhà, với mức trung bình là 18,4 triệuđồng trên mỗi hộ gia đình, cao nhất là 120 triệu, thấp nhất là

Số

Số lượng %

Trang 21

số lượng tiền đó phải chi tiêu cho nhiều khoản, trong đó mộtphần quan trọng dùng để xây dựng nhà mới, chiếm 88,8%.Việc xây nhà trong nhiều trường hợp đã tiêu tốn toàn bộ tiềnbồi thường đất ở và đất nông nghiệp của hộ gia đình Khoảntiền còn lại thường được nhiều hộ gia đình sử dụng cho nhiềumục đích khác nhau, tuy nhiên số gửi tiết kiệm tại ngân hàng

và để học nghề, đầu tư làm ăn, buôn bán chiếm tỉ lệ khôngđáng kể

Do có sự thay đổi về nguồn vốn đất đai, tư liệu sản xuấtchủ yếu dẫn đến thay đổi về lao động và thu nhập của hộ.Nhìn chung, sau tái định cư, chỉ có 6,6% hộ là tăng thu nhập,24,9% giữ nguyên thu nhập, và có đến 68,6% hộ có thu nhập

bị giảm, trong đó, số lượng bị giảm nhiều (trên 70% thu nhậpcũ) chiếm 42,1%

Nếu tính theo độ tuổi, tỉ lệ tăng thu nhập chủ yếu tậptrung ở độ tuổi dưới 45 Độ tuổi này cũng có tỉ lệ thu nhậpkhông đổi lớn hơn các độ tuổi còn lại (36,7%), đồng thời có

tỉ lệ giảm ít hơn, chỉ chiếm 57,1% (cả giảm ít và giảm nhiều)đối với dưới 35 tuổi, 54,4% (cả giảm ít và giảm nhiều) đốivới nhóm từ 35-45 tuổi, so với 76,9% đối với độ tuổi 46-60

và 78,8 đối với độ tuổi trên 60 Như vậy, những hộ bị giảmthu nhập tập trung chủ yếu ở các hộ gia đình có tuổi đời lớn,chỉ những hộ trẻ mới có khả năng giữ vững và tăng thu nhập.Bảng 4: Chiều hướng thay đổi thu nhập của các hộ

chia theo độ tuổi

Tăng nhiều

(Trên 70%)

Tăng ít

(Dưới 30%)

Không đổi

Giảm ít

(Dưới 30%)

Giảm nhiều

(Trên 70%)

Trang 22

Tăng nhiều

(Trên 70%)

Tăng ít

(Dưới 30%)

Không đổi

Giảm ít

(Dưới 30%)

Giảm nhiều

(Trên 70%)

Nguyên nhân cơ bản là những hộ này có thể linh hoạttrong chuyển đổi sang hoạt động phi nông nghiệp Nếu nhưtrước tái định cư, có 75,8% thu nhập từ trồng trọt, 42,2% từchăn nuôi, 30,6% lao động tự do và 18,3% từ hoạt động sảnxuất kinh doanh thì sau tái định cư, đã có sự dịch chuyểnsang 76% thu nhập từ lao động tự do, 41,9% là hoạt động sảnxuất, kinh doanh

Biểu đồ 3: Tỷ lệ các nguồn thu nhập của các hộ gia đình

trước và sau tái định cư

Điều này cho thấy đã có những cố gắng trong chuyểnđổi nghề nghiệp, tuy nhiên mức thu nhập của các hộ gia đìnhkhông cao Trung bình mỗi tháng, thu nhập dưới 3 triệuchiếm đến 58,2%, từ 3-5 triệu chiếm 32,7%, số trên 5 triệuchiếm tỉ lệ rất nhỏ Trong số đó, ở Cẩm Lệ có tỉ lệ thu nhập

22

Trang 23

trên 5 triệu lớn hơn nhưng vẫn không cao, chiếm 10,6% sovới Hòa Vang là 6,6%.

Biểu đồ 4: Thu nhập trung bình của hộ gia đình theo độ

tuổi

Một số trường hợp có thu nhập tự do cao hơn so vớilàm nông nghiệp trước đây Tuy nhiên nguồn thu này rất bấpbênh, thường khó khăn trong tìm kiếm việc làm vào mùamưa Hơn nữa, các hộ dân tái định cư cho rằng, thu nhậpbằng tiền mặt hàng ngày nên dễ tiêu xài, khó tiết kiệm, trongkhi đó phải trang trải nhiều khoản chi tiêu vì phải mua nhiềuthứ hơn trước đây khi còn đất sản xuất nên mức sống chưađược nâng cao

Mặc dầu thu nhập thấp như vậy nhưng hầu hết các giađình không tiếp cận vốn vay Chỉ có 19% người được hỏi trảlời là có tiếp cận nguồn vốn cho vay Trong đó chủ yếu là vay

Trang 24

từ người thân, bạn bè (11%), vay từ ngân hàng chính sách xãhội (NHCSXH) (5,2%) Những nguồn vay khác mà họ có thểtiếp cận chủ yếu là từ Hội phụ nữ Sở dĩ họ không tiếp cậnvốn vay là vì không có gì để thế chấp đồng thời có không íttrường hợp không biết làm gì với số vốn nếu được vay và lo

sợ không đủ khả năng chi trả vốn gốc và lãi vay

2.4 Về nguồn lực xã hội

Nguồn lực xã hội của một cộng đồng được thể hiện thôngqua các mối quan hệ quen biết hay quan hệ thành viên của cộngđồng đó đối với các cơ quan, đơn vị, đoàn thể xã hội từ trênxuống và giữa các cá nhân, tổ chức này trong cùng địa phương.Xuất phát là những người dân sống ở nông thôn nên họvốn có tình làng nghĩa xóm sâu đậm Đó là quan hệ làm ăntập thể, quan hệ tương thân tương ái mỗi khi khó khăn, cóthiên tai Đây chính là sức mạnh của cộng đồng, dựa vào đó

mà thúc đẩy sinh kế cho người dân Tuy nhiên khi chuyểnqua địa bàn cư trú mới thì vai trò tổ chức truyền thống vàhoạt động của các đoàn thể chưa hiệu quả Ở đây, họ chỉ mới

có mạng lưới hỗ trợ từ bạn bè, họ hàng, láng giềng mà chưa

có tham gia nhiều vào hệ thống các tổ chức đoàn thể bao gồmHội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh, Hội nôngdân…Trong những trường hợp hội họp, người đàn ôngthường tham gia nhiều hơn Sự vắng mặt của những ngườiphụ nữ khiến họ bị hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn lực

xã hội

Tình hình xã hội tại nơi ở mới cũng nảy sinh nhiều vấn

đề Mặc dầu theo đánh giá của người dân tại địa bàn, các tệnạn dù đã xuất hiện nhưng vẫn còn ít, không nghiêm trọng,chỉ có 16,5% ý kiến cho rằng có trộm cắp, 8,2% cho rằng có

cờ bạc, 5,8% cho rằng có tình trạng bia rượu và một số tệ nạnkhác như bói toán, cho vay nóng, đòi nợ thuê.… tuy nhiêntình trạng cờ bạc ở nơi công cộng hay trong các gia đình vẫn

24

Ngày đăng: 29/05/2018, 15:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Hữu Hoạnh, Nghiên cứu ảnh hưởng sinh kế người nông dân khi chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, http:www.ckt.edu.vn/chuyenmon/Hoanh.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng sinh kế ngườinông dân khi chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nôngnghiệp tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
2. Lê Du Phong (chủ biên) (2007), Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu nhập, đời sống, việclàm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu côngnghiệp, khu đô thị kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội các côngtrình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia
Tác giả: Lê Du Phong (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2007
3. Phạm Quang Tín (2010), Đo lường sự ảnh hưởng về kinh tế của chính sách giải tỏa đền bù đến các hộ dân tái định cư trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 4(39) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường sự ảnh hưởng về kinhtế của chính sách giải tỏa đền bù đến các hộ dân tái định cưtrên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Phạm Quang Tín
Năm: 2010
4. Viện Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2008), Báo cáo tổng hợp đề tài Thực trạng đời sống kinh tế xã hội các hộ gia đình sau tái định cư: vấn đề và giải pháp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đời sống kinh tế xã hội các hộ gia đìnhsau tái định cư: vấn đề và giải pháp
Tác giả: Viện Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
5. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2010), Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Việc làm củanông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóavùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020
Tác giả: Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trịQuốc gia
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w