Theo khái niệm trong Luật đầu tư năm 2005 LĐT thì đầu tư được hiểu là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng được hiểu là những hoạt động gì? 1
2 Vậy pháp luật quy định về hoạt động đầu tư tài chính của tổ chức tín dụng ra sao? 2
a Những quy định chung: 2
b Những quy định cụ thể về đầu tư ra bên ngoài TCTD: 3
3 Thực tiễn thực hiện hoạt động đầu tư của các tổ chức tín dụng trong năm 2012 trở lại đây 6
4 Ý kiến pháp lý giải quyết vấn đề này 11
a.Từ phía nhà nước 11
b Đối với TCTD: 12
KẾT LUẬN 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, hoạt động đầu tư tài chính có vai trò ngày càng quan trọng đối với các
tổ chức tín dụng nói chung và sự phát triển kinh tế nói riêng Đối với mỗi loại hình
tổ chức tín dụng thì pháp luật lại có những quy định riêng cho những chủ thể này
Sau đây em xin đi chi tiết đề tài: “Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng và ý kiến pháp lý đối với những vấn đề phát sinh
từ 2012 trở lại đây” để làm rõ những nội dung của nó.
NỘI DUNG
1 Hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức tín dụng được hiểu là những hoạt động gì?
Theo khái niệm trong Luật đầu tư năm 2005 (LĐT) thì đầu tư được hiểu là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.(1)
Cũng trong LĐT, hoạt động đầu tư được giải thích là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự
án đầu tư.(2)
Như vậy, có thể hiểu rằng, hoạt động đầu tư tài chính trong các tổ chức tín dung (TCTD) chính là việc TCTD dùng vốn của mình, vốn đó có thể bằng tài sản hữu hình (vật, tiền, giấy tờ có giá) hay vô hình (quyền tài sản) để hình thành nên một khối tài sản, và dùng khối tài sản đó để đầu tư vào các lĩnh vực mà Luật Ngân hàng
và các luật khác quy định, theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp quy định tại LĐT
1 Khoản 1 Điều 3 LĐT.
2 Khoản 7 Điều 3 LĐT.
Trang 32 Vậy pháp luật quy định về hoạt động đầu tư tài chính của tổ chức tín dụng ra sao?
a Những quy định chung:
Hiện nay, các hoạt động đầu tư tài chính của TCTD được quy định cụ thể trong các văn bản sau:
- Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Luật đầu tư năm 2005;
- Luật chứng khoán 2010;
- Các văn bản pháp luật và văn bản hướng dẫn khác có liên quan
Theo LĐT, trong các hình thức đầu tư quy định khá nhiều loại hình đầu tư, tuy nhiên, đối chiếu với quy định về hoạt động của các TCTD trong Luật TCTD, thì
hoạt động đầu tư tài chính của các TCTD được xem xét ở hai lĩnh vực, đó là hoạt động đầu tư tài chính bên trong và hoạt động đầu tư tài chính ra bên ngoài Đối
với mỗi hoạt động đầu tư thì pháp luật lại có những điều chỉnh cụ thể:
- Đầu tư tài chính bên trong của các TCTD có thể là đầu tư vào các tài sản cổ
định, loại tài sản này thường chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng tài sản Có của TCTD Các loại tài sản cố định này thường bao gồm trụ sở làm việc, hệ thống vi tính và thông tin, các trang thiết bị và các phương tiện đi lại Đây là một trong những điều kiện để thành lập TCTD, là cơ sở vật chất phục vụ trong suốt quá trình kinh doanh của TCTD
- Đối với hoạt động tư tài chính ra bên ngoài, trước đây pháp luật nước ta quy
định khá hạn chế, bởi nguồn vốn tín dụng được sử dụng trong trường hợp này sẽ không đảm bảo an toàn, kết quả đầu tư phụ thuộc và kết quả kinh doanh của các chủ thể khác và sự diễn biến của nền kinh tế Tuy nhiên, theo luật TCTD hiện hành,
Trang 4nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các TCTD thì pháp luật đã có những quy định thông thoáng hơn trong lĩnh vực đầu tư tài chính ra bên ngoài của các TCTD Các TCTD được đầu tư ra bên ngoài dưới các hình thức như góp vốn, mua
cổ phần doanh nghiệp Ngoài ra, khi các TCTD thỏa mãn điều kiện theo luật định thì còn có thể tham gia vào thị trường tiền tệ, tham gia vào thị trường chứng khoán, kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh, tham gia các hoạt động kinh doanh khác
b Những quy định cụ thể về đầu tư ra bên ngoài TCTD:
Sau đây em chỉ xin đi tìm hiểu chi tiết hoạt động đặc trưng là đầu tư ra bên ngoài của các TCTD:
Về việc góp vốn, mua cổ phần:
TCTD bao gồm bốn loại: Ngân hàng (bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã), tổ chức phi ngân hàng (bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác), tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân (3)
Trong các tổ chức trên, căn cứ vào chương IV Luật TCTD, thì những tổ chức được có hoạt động góp vốn, mua cổ phần bao gồm: Ngân hàng thương mại (Điều 103), công ty tài chính (Điều 110)
Đối với công ty cho thuê tài chính thì Luật TCTD quy định không được góp vốn, mua cổ phần, thành lập công ty con, công ty liên kết dưới bất kỳ hình thức nào (Điều 115)
Đối với mỗi loại tổ chức thì lại có quy định riêng về hoạt động góp vốn, mua cổ phần Nhưng nhìn chung, các quy định này đều mang tính chất vừa thể hiện quyền
tự do kinh doanh cho các chủ thể, khuyến khích mở rộng quy mô, loại hình kinh
3 Căn cứ Điều 4 Luật tổ chức tín dụng năm 2010.
Trang 5doanh nhưng cũng vừa tạo ra khuôn khổ, giới hạn để các chủ thể trên vẫn được tự
do kinh doanh nhưng vẫn đảm bảo được sự an toàn cho toàn bộ hoạt động của tổ chức đó và rộng hơn nữa là cho cả hệ thống TCTD Ví dụ như đối với NHTM chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 6 của Điều 103 (đó là để thành lập hoặc mua lại công ty con, công
ty liên kết …)
Tham gia thị trường tiền tệ:
Thị trường tiền tệ là nơi giao dịch ngắn hạn về vốn (khoản 6 Điều 6 Luật ngân
hàng nhà nước năm 2010) Như vậy, thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi diễn ra các hoạt động của cung và cầu về vốn ngắn hạn Vốn ngắn hạn bao gồm
cả trái phiếu ngắn hạn, có kỳ hạn tức là mua bán những món nợ ngắn hạn rủi ro thấp, tính thanh khoản cao Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng, vì các ngân hàng là chủ thể quan trọng nhất trong việc cung cấp và sử dụng vốn ngắn hạn; Thị trường tiền tệ là thị trường phi tập trung tại các phòng kinh doanh của các ngân hàng và các công cụ kinh doanh đầu tư chuyên nghiệp thông qua mạng lưới điện thoại, internet rộng lớn Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ là nghiệp vụ chuyển giao vốn có khả năng thanh toán cao, ít xảy ra rủi ro đối với người đầu tư; Là nơi mua bán các loại chứng từ có giá ngắn hạn, nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của nền kinh tế
Theo Điều 104 và khoản 2 Điều 111 luật TCTD thì NHTM và công ty tài chính được tham gia thị trường tiền tệ, theo đó NHTM được tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền
tệ
Hoạt động đầu tư tài chính trên thị trường chứng khoán:
Trang 6Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin
để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán (khoản 18 Điều 5 luật chứng khoán năm S2010) Thị trường chứng khoán (TTCK) là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán ( Stock exchange) Tại Sở giao dịch chứng khoán , các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh
để hình thành nên giá giao dịch
TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter) Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận
Qua tìm hiểu một cách khái quát về TTCK như vậy, chiếu theo quy định của luật TCTD thì hiện nay ngân hàng thương mại được phép lưu ký chứng khoán (Điều 107), và thông qua việc góp vốn, mua cổ phần thì NHTM được bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán; quản lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán (Điều 103)
Về kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối, sản phẩm phái sinh của ngân hàng thương mại (quy định tại Điều 107 Luật TCTD):
Sau khi được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chấp thuận, NHTM được kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài các sản phẩm ngoại hối; phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về ngoại hối NHNN quy định cụ thể về phạm vi kinh doanh, điều kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận cho NHTM thực hiện cung ứng các dịch vụ này
Trang 7Ngoài ra, các NHTM được trực tiếp thực hiện một số hoạt động kinh doanh khác (Điều 107) như quản lý tiền mặt, tư vấn tài chính, quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn, tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp, tư vấn đầu tư, mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, môi giới tiền tệ Đối với các nghiệp vụ như lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến hoạt động ngân hàng, NHTM sẽ được thực hiện sau khi được NHNN cho phép
Tham gia các hoạt động kinh doanh khác:
Tùy theo đặc trưng riêng của mỗi loại hình TCTD mà luật TCTD quy định các hoạt động kinh doanh khác cho mỗi loại TCTD một cách riêng biệt, để đảm bảo an toàn cho hệ thống TCTD cũng như quyền tự do kinh doanh cho các TCTD: NHTM (Điều 107), công ty tài chính (Điều 111), công ty cho thuê tài chính (Điềi 116), đối với ngân hàng hợp tác xã thì được thực hiện một số hoạt động kinh doanh khác theo quy định tại mục 2 Chương IV của Luật TCTD sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản, quỹ tín dụng nhân dân (khoản 4 Điều 118), tổ chức tài chính vi mô (Điều 122)
3 Thực tiễn thực hiện hoạt động đầu tư của các tổ chức tín dụng trong năm
2012 trở lại đây.
Đầu tư tài chính ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của các
tổ chức tín dụng, có ý nghĩa giảm thiểu tối đa rủi ro tín dụng có thể xảy ra, đồng thời các ngân hàng cũng thu được nhiều lợi nhuận từ hoạt động đầu tư này Hiện nay các TCTD ở nước ta đang trong quá trình thực hiện chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh trước yêu cầu mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, hội nhập quốc
tế do đó, nguồn vốn đầu tư tài chính của các TCTD vào tài sản cố định, máy móc, phương tiện, công nghệ và đầu tư vào thị trường tài chính ngày càng chiếm tỉ lệ cao trong cấu trúc danh mục đầu tư
Trang 8Bên cạnh đó, các hoạt động đầu tư tài chính đang diễn ra khá sôi nổi tuy nhiên các TCTD cũng gặp không ít khó khăn, bất lợi trong các lĩnh vực đầu tư luôn có sự thay đổi qua từng ngày, từng giờ như vậy Cụ thể như sau:
Thị trường tiền tệ (4) :
Từ đầu năm 2012 trở lại đây, thị trường tiền tệ gặp khá nhiều biến động, và từ
sự biến động đó đã tạo nên một thị trường tiền tệ với nhiều điểm nổi bật Cụ thể, đó là: Tỷ giá ổn định (tỷ giá là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam), tăng trưởng tín dụng thấp, nợ xấu tăng cao, phanh phui nhiều
vụ vi phạm về tài chính ngân hàng
- Tỷ giá ổn định, niềm tin vào Việt Nam Đồng được củng cố:
Năm 2012, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữ vững ở 20.828 đồng/USD Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại cũng hầu như ổn định và hầu hết thời gian giao dịch thấp hơn giá trần 21.036 đồng/USD
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giá USD ngân hàng có 6 tháng tăng và 6 tháng giảm So với cuối năm 2011, chỉ số giá USD đã giảm 0,96%
Nguồn: Tổng cục Thống kê
4 Tham khảo số liệu tại http://gafin.vn/2012122011315638p0c34/7-diem-noi-bat-tren-thi-truong-tien-te-ngan-hang-2012.htm
Trang 9Tỷ giá ổn định đã góp phần tích cực đến việc kiềm chế lạm phát đồng thời góp phần làm cho Ngân hàng Nhà nước mua được một lượng ngoại tệ lớn từ dân cư và doanh nghiệp, giúp cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đẩy tăng dự trữ ngoại hối của Việt Nam lên khoảng 24 tỷ USD, tương đương khoảng 12 tuần nhập khẩu -tăng mạnh so với mức 9 tỷ USD cuối 2011
+ Nợ xấu tăng mạnh:
Nhen nhóm từ năm 2011 khi Thống đốc Nguyễn Văn Bình lần đầu tiên đề cập đến con số nợ xấu, thì sang 2012, chưa bao giờ vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng chưa bao giờ lại được quan tâm nhiều như vậy
Theo báo cáo giải trình chất vấn của Thống đốc tại kỳ họp lần 4 Quốc hội khoá XIII, tính từ tháng 1 đến tháng 5/2012, tốc độ tăng nợ xấu từ 6,59% - 9,35% và lần cập nhật mới nhất là đến tháng 10/2012 theo công bố của ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Chánh thanh tra NHNN tại buổi họp báo ngày 27/12, tốc độ này là âm 0,95% Nợ xấu cũng liên tục tăng từ năm 2008 đến nay, đến tháng 10/2012, nợ xấu tăng khoảng 66%
Về tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, dù con số các đơn vị đưa ra còn nhiều chênh lệch nhưng 2012 được coi là năm đầu tiên Ngân hàng Nhà nước công bố một cách
cụ thể nhất về nợ xấu
Cụ thể, NHNN dẫn báo cáo của các tổ chức tín dụng cho biết, tính đến tháng 9/2012, tỷ lệ nợ xấu trong tổng tín dụng đối với nền kinh tế là 4,93%
- Tín dụng tăng trưởng thấp nhất trong lịch sử:
Theo công bố của NHNN, tăng trưởng tín dụng đến 20/12 ước 6,45%, cả năm nước tăng 7% so cuối 2011, thấp hơn mức tăng 14,41% của năm 2011
Năm 2011, khi công bố số liệu tăng trưởng tín dụng ước cả năm là hơn 10%, Thống đốc Bình nhận xét đây là mức tăng thấp nhất từ trước đến nay của ngành ngân hàng Như vậy, tín dụng năm 2012 tiếp tục lập đáy mới
Nguyên nhân của việc tín dụng tăng trưởng thấp là do sức cầu của nền kinh tế yếu, tồn kho và nợ xấu tăng cao
Trang 10- Quốc hữu hoá quyền sản xuất vàng miếng:
Đối với thị trường vàng, năm 2012 ghi dấu ấn bằng Nghị định 24/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng và thông tư hướng dẫn thi hành nghị định này
Theo Nghị định này, Nhà nước sẽ độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng Hoạt động mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân sẽ chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được NHNN cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng
Cùng với Nghị định 24, lãnh đạo NHNN cũng cho biết, sẽ xây dựng thương hiệu vàng Quốc gia và có khả năng sẽ chọn SJC làm thương hiệu vàng Quốc gia do thương hiệu này hiện đang chiếm thị phần chủ yếu trên thị trường vàng (khoảng 90% thị phần)
Việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng và xây dựng thương hiệu vàng Quốc gia có nhiều ưu điểm như vàng miếng sẽ có chung nguồn gốc xuất xứ, chung quy định về chất lượng, giá cả , tạo sự thuận lợi trong quản lý Tuy nhiên, quy định của Nghị định 24 cũng tạo nên nhiều bất cập
Thứ nhất, với nhiều đơn vị đã được cấp phép sản xuất vàng miếng trước đây như
Bảo Tín Minh Châu, công ty vàng Agribank, SBJ-Sacombank , tất cả máy móc thiết bị được đầu tư hàng tỷ đồng có thể trở nên vô giá trị, lao động làm việc ở đây không còn việc làm
Thứ hai, Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: Mọi loại hình doanh nghiệp đã quy
định trong Luật đều được Nhà nước công nhận và đảm bảo sự công bằng trước pháp luật, không phân biết hình thức sở hữu, thành phần kinh tế
Đặc thù của hoạt động kinh doanh vàng miếng là không có sự khác biệt giữa doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp nhỏ Vì vậy, dường như điều kiện doanh nghiệp kinh doanh vàng phải có vốn điều lệ tối thiểu 100 tỷ đồng và một số điều