1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp chủ yếu nhằm đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước về chế biến thủy sản xuất khẩu ở thành phố nha trang

115 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VỀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN XUẤT KHẨU Ở THÀNH PHỐ NHA TRANG.. Là các doanh nghiệp công nghiệp nên các doanh ngh

Trang 1

CHƯƠNG 1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI CễNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VỀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN XUẤT KHẨU Ở THÀNH PHỐ NHA

TRANG

I KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN THỦY SẢN VÀ CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN XUẤT KHẨU Ở THÀNH PHỐ NHA TRANG.

1 TỔNG QUAN TèNH HèNH

Theo kết quả điều tra của Viện nghiờn cứu biển Nha Trang, Viện nghiờncứu hải sản Hải Phũng , Vụ nguồn lợi khai thỏc Bộ thủy sản thỡ trữ lượng nguồnlợi biển khỏnh hũa khoảng 92.000-110.000 tấn (chưa kể nguồn lợi vựng huyệnđảo Trường Sa)

Theo số liệu khảo cứu của viện Quốc gia thống kờ tổng nha Kế HoạchViệt Nam Cộng Hũa thỡ Khỏnh Hũa là một trong những tỉnh cú tiềm năng thủysản lớn kể cả Nam và Trung phần, chỉ sau tỉnh Bỡnh Thuận

Bảng 4: Phõn bố trữ lượng Hải sản biển Khỏnh Hũa như sau:

(T/ NĂM)

TỶ LỆ (%)

ĐỐI TƯỢNG CHỦ

YẾUVen bờ, đầm,

vịnh

15.000 20.000

Hiện nay toàn tỉnh Khánh Hòa có 34 doanh nghiệp hoạt

động sản xuất kinh doanh chế biến thủy sản có mức vốn đăng

ký lớn hơn vốn pháp định trong đó có 15 doanh nghiệp nhà nớc

Trang 2

(2 doanh nghiệp nhà nớc trung ơng), 12 công ty trách nhiệmhữu hạn, một công ty cổ phần, 7 doanh nghiệp t nhân.

- Có 80 hộ đăng ký có giấy phép của UBNN thành phố(vốn thấp hơn mức vốn pháp định)

- Khoảng 200 hộ cá thể sản xuất nhỏ tại gia đình cha cógiấy phép các doanh nghiệp chế biến thủy sản chủ yếu nằmtrên địa bàn thành phố Nha Trang

* Về loại hình và năng lực chế biến thủy sản

Hầu hết các doanh nghiệp lớn đều tổ chức sản xuất hàng xuấtkhẩu, vài doanh nghiệp kết hợp chế biến xuất khẩu và nội

địa Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu chủ yếu là chếbiến đông lạnh, chế biến khô xuất khẩu và chế biến các hải

đợc khoảng 6,5 triệu lít, đến năm 1995 chỉ còn 5 triệu lít.Trong đó Quốc doanh từ 4,5 triệu lít (1991) đến 1995 chỉ còn

2 triệu lít (với 5000 T/thùng)

Ở lĩnh vực chế biến nội địa lực lượng nhõn dõn đó phỏt triển thay thế cho

sự giảm sỳt của nhà nước năm 1991 cú khoảng 250 hộ cỏ thể với sức chứa 3000tấn thựng chế biến được 2,5 triệu lớt đến năm 1995 mặc dự nguyờn liệu cú giảm

và một số hộ bỏ, chuyển nghề nhưng vẫn giữ được 3 triệu lớt/năm

- Chế biến thủy sản khụ và cỏc thủy đặc sản khỏc tập trung chủ yếu trongnhõn dõn và một số doanh nghiệp Nhõn dõn đó tận dụng cỏc điều kiện hiện cútại gia đỡnh để sản xuất chế biến Cỏc mặt hàng thường sản xuất như : Mực khụ,

cỏ khụ, cỏc loại, cỏc mặt hàng tẩm gia vị , sứa muối phốn v.v nhỡn chung sảnlượng chế biến khụ khụng tăng nhưng chất lượng được quan tõm hơn, Nhõn dõn

Trang 3

đó tổ chức phơi trờn vĩ, hạn chế phơi ở dưới đất, lũng đường Năm 1995 toàn

tỉnh chế biến được 1.900 tấn thủy sản khụ

Bảng 5: Tổng hợp tỡnh hỡnh sản xuất chế biến thủy sản Khỏnh Hũa

5

1996

3736,9

39,538,5

39,238,1

41,537,8

47,144,5

50,147,8

1,061,05

1,16,51,8

2,38,21,7

4,86,81,9

5,76,51,9

9,15,01,9

13.75,01,5

1,660,970,96

3 Giá trị

XK

Tổng năng lực sản xuất,chế biến và cơ sở vật chất của

các cơ sở chế biến đông lạnh thủy sản xuất khẩu nh sau:

712000

1013.500

1320.700

1425.200

1526.700

1526.700

2 Số cơ sở CBTS

khô

Trang 4

6205

6205

6505

6706

6706

Trang 5

Bảng 7: Tổng năng lực sản xuất về chế biến thủy sản xuất

khẩu của cácdoanh nghiệp chế biến thủy sản tỉnh Khánh Hòa (Số liệu có đến

358926.700

3 Thiết bị bảo quản

- Kho bảo quản đông

- Dung lợng kho bảo quản

đông

- Kho bảo quản lạnh

- Dung lợng kho bảo quản

lạnh

KhoTấnKhoTấn

35170011295

4 Xe lạnh : Số lợng xe

Trọng tải

XeTấn

1063

2.434

198 (8,1%)

Nh vậy năng lực chế biến thủy sản nói chung và chế biếnthủy sản xuất khẩu nói riêng của Tỉnh Khánh Hòa và thành phốNha Trang đã không ngừng tăng lên qua các năm và xu hớngchung là thiết bị chế biến thủy sản xuất khẩu tăng nhanh hơnvì phần lớn các doanh nghiệp từ chỗ không chế biến xuất khẩu

Trang 6

chuyển sang chế biến xuất khẩu, một số doanh nghiệp đầu tthêm cho thiết bị chế biến xuất khẩu và một số khác mới xâydựng và thành lập để hoạt động chế biến thủy sản xuất khẩu

Trang 7

C¸c doanh nghiÖp chÕ biÕn thñy s¶n xuÊt khÈu tØnh

1 Công ty CBXKTS Nha Trang

(F.17) Nha Trang Sở ThủysảnKhánh Hòa ĐL-khô Xuất khẩu

ĐL-3 XN khai thác D/vụ TàI SảN

Khánh Hòa Nha Trang Sở ThủysảnKhánh Hòa ĐL-khô Xuất khẩu

4 Công ty CB Cam Ranh Cam Ranh Sở Thủysản

Khánh Hòa ĐL- Sứa muối phèn

5 Công ty TS Ninh Hòa Ninh Hòa Sở Thủy sản

Khánh Hòa Khô XK- Sứa muối phèn

6 XN Đông lạnh KhánhHòa

(F.115)Cty sxhxk KHòa Nha Trang Sở Thương mại Khô xuất khẩu-ĐL

7 Công ty CB súc sản Nha

8 Công ty chất đốt Nha Trang Nha Trang Sở thương mại Khô xuất khẩu

9 Cty Thương mại và Dịch vụ

Du lịch Nha Trang Nha Trang Sở thương mại ĐL- khô xuất khẩu

10 Cty ngoại thương NTrang Nha Trang Sở thương mại Khô xuất khẩu

11 Cty Ecpco (XNCB thựcphẩm Nha Trang) Nha Trang Sở thương mại Đông lạnh, khô xuất

15 Cty thực phẩm Nam Trung

Bộ Nha Trang Tổng công tythực phẩm Đông lạnh xuấtkhẩu

16 XNCBTS khu vực 2 Nha Trang Bộ Thủy sản Nước mắm khô XK

Trang 8

23 Cty TNHH Hải nông sản

24 Cty TNHH Hải nông sản Vạn

Ninh

Vạn Ninh UBNN Tỉnh Nước mắm ; Khô

XK

25 Cty TNHH Anh Đào

26 Cty cổ phần XNK

NT (Seaprodex)

Trong số 15 doanh nghiệp của nhà nước về chế biến thủy sản xuất khẩu

nói trên có 8 chế biến đông lạnh xuất khẩu nhưng thực chất một số doanh nghiệp

như sở thương mại dịch vụ du lịch , công ty chế biến súc sản NhaTrang chỉ có

một bộ phận nhỏ (một xưởng) chế biến thủy sản đông lạnh

Do đó luận văn không đi vào nghiên cứu các cơ sở dạng này mà chỉ tập

trung vào nghiên cứu các doanh nghiệp nhà nước về chế biến thủy sản xuất khẩu

có quy mô và cơ cấu tổ chức tương đối hoàn chỉnh Nghĩa là có sự định hình rõ

nét của một doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu

Các doanh nghiệp thuộc loại này trên thành phố Nha Trang chỉ gồm 6

doanh nghiệp đó là:

1 Công ty chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang(F.17)

2 Công ty thiết bị vật tư thủy sản (F.90)

3 Xí nghiệp khai thác dịch vụ thủy sản khánh hòa

4 Công ty Ecpco

5 F.115

6 Công ty thực phẩm Nam trung Bộ (F.123)

2 CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VỀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN XUẤT

KHẨU Ở THÀNH PHỐ NHA TRANG

Là các doanh nghiệp công nghiệp nên các doanh nghiệp nhà nước về chế

biến thủy sản xuất khẩu ở Nha Trang quá trình đổi mới công nghệ cũng chịu ảnh

hưởng của các nhân tố chung như: Các nhân tố thuộc về môi trường (nhân tố

Trang 9

kinh tế, chính trị, pháp luật ) và các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp(nguồn lực, sản phẩm, trình độ doanh nghiệp ) mà ta đã phân tích ở chương I,mục IV

Ngoài ra có nhiều đặc điểm riêng có trong lĩnh vực chế biến thủy sản xuấtkhẩu và trình độ công nghệ cụ thể trong các doanh ngghiệp cũng như các chínhsách mang tính địa phương của Khánh Hòa và thành phố Nha Trang cũng ảnhhưởng lớn đến quá trình đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước vềchế biến thủy sản xuất khẩu ở thành phố nha trang Ta có thể khái quát sự ảnhhưởng này bằng các đặc điểm sau:

2.1 Đặc điểm về nguyên liệu thủy sản

Ta biết rằng, nguyên liệu thủy sản là cá và các sinh vật sống dưới nướcđược khai thác, đánh bắt để đưa vào sản xuất chế biến phục vụ nhu cầu của conngười (chủ yếu là nhu cầu về thực phẩm)

Do đó nguyên liệu thủy sản có rất nhiều đặc thù so với các nguyên liệucông nghiệp khác như tính mau hư hỏng Khả năng tái sinh tự nhiên làm cho nóphụ thuộc vào mùa vụ, khí hậu thời tiết, địa hình thủy văn v.v

Đặc điểm này đặt ra yêu cầu việc đổi mới và trang bị công nghệ chế biếnphải đảm bảo sao cho trước hết là bảo tồn được tới mức cao nhất các chất dinhdưỡng chứa trong nguyên liệu Có thể nói trong chế biến thủy sản thì việc giữnguyên liệu càng ít bị thay đổi so với tính chất tự nhiên ban đầu của nó càngtốt Nói cách khác đó là việc giữ cho nguyên liệu từ khi khai thác lên đến khiđưa vào tiêu dùng càng tươi nguyên thì giá trị trao đổi của nó càng cao Khinguyên liệu ban đầu đã bị biến chất, giảm chất lượng thì không thể có một thiết

bị công nghệ nào có phép lạ để phục hồi được chất lượng của nó được nữa (chưanói đến việc nâng cao chất lượng) Phương pháp công nghệ để bảo quản và chếbiến nguyên liệu thủy sản đã được nghiên cứu rất nhiều nhưng cho đến nay trừviệc bảo quản sống nguyên liệu, gây mê (tôm , cá) để vận chuyển đến nơi tiêuthụ thì phương pháp công nghệ tiên tiến nhất vẫn là đông lạnh với thời gian càngnhanh càng tốt Do đó, qúa trình đổi mới công nghệ trong các doang nghiệp chếbiến thủy sản thời gian qua chủ yếu xoay quanh hướng theo phương pháp này

Các loại động, thực vật thủy sản rất phong phú đa dạng về chủng loại mỗiloại có đặc điểm riêng về thành phần các chất dinh dưỡng đòi hỏi một quá trình

Trang 10

chế biến riêng nhưng chủ yếu là dùng thực phẩm Nói cách khác là sử dụng để

ăn mà nhu cầu ăn của con người không chỉ đơn thuần là chất dinh dưỡng mà cònmột loạt các yếu tố khác như mùi vị, màu sắc thậm chí cả hình dáng bao gói vàcách thức chế biến

Việc đổi mới công nghệ trong chế biến thủy sản không ngoài mục đíchđáp ứng nhu cầu con người và để có thể đáp ứng yêu cầu này thì số lượng chủngloại các nguyên liệu và đặc tính của chúng là yếu tố cần phải xem xét trước hết

Cơ sở nguyên liệu thủy sản cung cấp cho các doanh nghiệp chế biến thủysản Khánh hòa và Nha trang chủ yếu là vùng biển Miền Trung từ Thanh Hóa đếnBình Thuận trong đó trực tiếp là vùng biển Khánh Hòa, với tổng trữ lượngkhoảng 150.000 T/năm Trong đó chủ yếu là cá nổi: Khoảng 70% (105.000 tấn);

Cá đáy: 25% (37.500 Tờn); Rong biển và các sinh vật khác: 5%

Nguồn lợi hải sản phân bố không đều, tập trung ở ngư trường phía namcủa tỉnh (chiếm 60% trữ lượng) Nếu chia các ngư trường theo chiều ngang (từ

bờ đển khơi) thì ngư trường lộng (50m nước trở vào) chiếm 60-65% Thànhphần giống loài Hải sản phong phú nhưng số loài có giá trị kinh tế lại ít, chỉkhoảng 150/500loài

Về nguồn lợi nuôi trồng, biển Khánh Hòa và điều kiện tự nhiên ở đây cóđặc điểm là vùng nước ngọt ít, vùng triều hẹp, biên độ thủy triều thấp, khó điềutiết nước và bảo vệ môi trường, do đó nghề nuôi trồng thủy sản ở đây chủ yếu lànuôi nước lợ và mặn với các loài như tôm sú , hùm, và ngọc trai (mới thínghiệm) Khí hậu Nha Trang Khánh Hòa ấm áp, nước biển có độ mặn cao và ổnđịnh nên ở đây là trung tâm sản xuất tôm giống (sú) cao nhất của cả nước , mỗinăm sản xuất trên một triệu P.15 cung cấp cho các tỉnh Đồng bằng sông CửuLong

Với đặc điểm nguyên liệu như trên công nghiệp chế biến thủy sản NhaTrang và khánh Hòa những năm qua, thời kỳ 76-80 do còn ít doanh nghiệp chếbiến xuất khẩu nên chế biến xuất khẩu chủ yếu là tôm Nhưng những năm gầnđây tập trung vào chế biến cá (đặc biệt là cá fillets)

Hiện nay, do nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm việc sản xuất cácsản phẩm từ các loại nguyên liệu giá trị cao ngày càng khó khăn buộc các doanhnghiệp phải tìm cách tận dụng nguồn nguyên liệu hiện có (thậm chí cả nhữngnguyên liệu trước đây chỉ chế biến để tiêu dùng nội địa) để sản xuất các sản

Trang 11

phẩm mới nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường Nói cách khác, nếu như trước đâycác doanh ngiệp chế biến thủy sản xuất khẩu chủ yếu theo hướng giữ nguyêntrạng thái ban đầu (thủy sản tươi sống) thì nay đang chuyển dần sang hướng sửdụng công nghệ nhằm duy trì tốt chất lượng nguyên thủy của nguyên liệu và tạo

ra những sản phẩm tiện lợi cho người tiêu dùng (sản phẩm có giá trị gia tăng ănliền hoặc nấu chín)

Và đây cũng chính là một xu hướng chung chi phối sự phát triển của tất

cả các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu trong cả nước hiện nay Xuhướng này cũng đã và đang kích thích đổi mới công nghệ trong các doanhnghiệp nhà nước chế biến thủy sản của Nha trang Tuy nhiên cũng do nguồnnguyên liệu bị hạn chế về trữ lượng và khả năng khai thác cơ cấu nguyên liệu cógiá trị cao ngày càng giảm trong lúc số lượng các doanh nghiệp chế biến thủysản xuất khẩu ngày càng gia tăng dẫn đến việc sử dụng công suất máy móc thiết

bị và năng lực sản xuất của các doanh nghiệp bị giảm thấp

Bên cạnh đó việc đổi mới công nghệ (mà trước hết là thiết bị) lại đòi hỏiđầu tư một số vốn ban đầu không nhỏ làm các doanh nghiệp muốn mà khôngdám hoặc không có khả năng đổi mới công nghệ và kết quả hạn chế sự đổi mớicông nghệ của các doanh nghiệp

đã có sự chuyên môn hóa nhưng vẫn mang tính chất của lao động nông nghiệp

Đặc điểm này ảnh hưởng lớn đến vấn đề đổi mới công nghệ trong cácdoanh nghiệp sản xuất nghề cá cũng như trong chế biến thủy sản nói riêng làmcho qui mô và tốc độ đổi mới công nghệ tiến triển chậm hơn so với các ngànhcông nghiệp khác

Các doanh nghiệp chế biến thủy sản nước ta và Nha Trang Khánh hòa (kể

cả chế biến nội địa và chế biến xuất khẩu) còn sử dụng một lực lượng lớn laođộngthủ công trình độ thấp trong khi việc đổi mới công nghệ trong chế biến sẽ

Trang 12

dẫn đến một tất yếu là tinh giản và sa thải hàng loạt các công nhân thủ công nóitrên Điều này đã đặt các doanh nghiệp chế biến thủy sản trước bài toán về chiphí sử dụng thiết bị công nghệ trình độ kỹ thuật cao Đương nhiên các doanhnghiệp cũng thừa biết việc sử dụng công nghệ mới trình độ cao sẽ cho phép nângcao chất lượng sản phẩm

Nhưng như trên ta đã phân tích, trong điều kiện khó khăn về vốn vànguyên liệu thì chưa chắc đổi mới công nghệ làm tăng chi phí sử dụng máy mọithiết bị lại có hiệu quả hơn việc sử dụng lao động và công nghệ hiện có Đâycũng là nhân tố quan trọng trong việc ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ trongcác doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu làm chậm lại quá trình đôie mớicông nghệ của các doanh nghiệp

2.3 Đặc điểm về sự hình thành và phát triển của hệ thống công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước và chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang.

Doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu ra đời lớn nhất ở nha trang làF.17 được hình thành trên cơ sở của một tư nhân cũ để lại với máy móc thiết bị

cũ kỹ công suất nhỏ bé (1T/ngày) Sau đó dược phát triển lên theo nhu cầu vàkhả năng thực tế của công ty nên các trang thiết bị chủ yếu cũng được hoàn thiện

và mở rộng năng lực dần dần mà chủ yếu là mua thêm các thiết bị để mở rộngcông suất chứ chưa có thiết bị cải tạo đổi mới một cách đồng bộ Các thiết bịcông nghệ trang bị thêm cũng là các thiết bị cũ Kể cả thiết bị cất đông nhanhIQF (là công nghệ mới trong chế biến đông lạnh) thì cũng mới chỉ trang bị đượcmột tủ nhưng cũng là máy của thế hệ cũ những năm 1980

Các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu của thành phố Nha Trangcòn laik ra đời sau F.17 cũng mang tính tự phát theo phong trào xuất khẩu thủysản nói chung mà không trên một cơ sở quy hoạch thống nhất cũng như mộtđịnh hướng rõ ràng trong việc xây dựng và trang bị máy móc thiết bị công nghệ

do đó nhìn chung công nghệ, trang thiết bị của các doanh nghiệp nhà nước vềchế biến thủy sản xuất khẩu trên địa bàn thành phố Nha Trang là cũ, không đồng

bộ Hầu hết các máy móc thiết bị cấp đông may nhãn hiệu của nhiều nước khácnhau như Mycom của Nhật, Shangchi của Đài loan, Frullerton hay Frick của

mỹ Có một số hệ thống lạnh do cơ sở nhập máy cũ về, sửa chữa gia công thêm

tự động để đưa vào sử dụng, số này chiếm tỷ lệ khoản 25% Các hệ thống này đa

Trang 13

số đã được sử dụng lâu từ trên 4-6 năm Toàn tỉnh chỉ có 2 tủ đông Mycom củaNhật mới sản xuất từ năm 1993 Còn lại là đời cũ trước 1981.

Cũng do không có quy hoạch phát triển mà chủ yếu là tự phát nên địađiểm mặt bằng của các doanh nghiệp bố trí một cách tùy tiện có đâu làm đấy chonên ảnh hưởng lớn đến việc trang bị và đổi mới công nghệ

Với thực trạng trên, có thể nói công nghệ và sự phát triển công nghệ trongcác doanh nghiệp nhà nước về chế biến thủy sản Nha Trang còn chắp vá, tự phát,tuy nó đã có những đóng góp nhất định trong sự phát triển của sản xuất thủy sảnxuất khẩu của tỉnh Khánh Hòa nhưng chính điều này đã gây ra những khó khăntrong việc đổi mới công nghệ hiện tại cũng như tương lai một cách bài bản có hệthống (Đây có lẽ cũng là thực tế chung trong nhiều doanh nghiệp chế biến thủysản xuất khẩu của cả nước ta) Các doanh nghiệp cứ tiếp tục buộc phải chắp vá

bổ sung mà ít có doanh nghiệp dám loại bỏ hoàn toàn cái cũ để xây dựng một hệthống hoàn chỉnh và đồng bộ, hiện đại

Một khía cạnh khác cũng không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến đổimới công nghệ trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp chế biến thủysản xuất khẩu Nha Trang nói riêng, đó là thời gian qua, hầu hết các doanh nghiệpchỉ chú ý đến trang bị và đổi mới phần cứng (Máy móc, Thiết bị) mà ít chú ýhoặc không có khả năng và điều kiện để đổi mới phần mềm Mà quan trọng nhất

là vấn đề đội ngũ con người và khả năng thu thập, phân tích và xử lý thông tin.Các thông tin về thị trường, mặt hàng và nhu cầu về sản phẩm mà các doanhnghiệp chế biến thủy sản chủ yếu được thu lượm từ các thông tin đại chúng, tàiliệu một cách gián tiếp Dẫn đến sự hiểu biết về các mặt đặc biệt là về thịtrườngcòn rất hạn chế Từ đó có không ít các doanh nghiệp không mạnh dạntrong đầu tư đổi mới (sợ không thu hồi vốn được) hoặc đã đầu tư nhưng lạikhông đúng hướng hoặc không phù hợp, thiết bị công nghệ nhập về bị lạc hậu(thực chất là mua đồ cũ của nước ngòai)

2.4 Đặc điểm về chính sách phát triển kinh tế xã hội

Đây là một đặc điểm thuộc về môi trường của đổi mới công nghệ cácdoanh nghiệp nói chung và sản xuất chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang nóiriêng Các chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nha Trang và tỉnh Khánh hòagắn liền với sự phát triển và đổi mới cơ chế quản lý của cả nước nói chung

Trang 14

Như ta đã biết cơ chế quản lý nền kinh tế nước ta có thể chia thành 2 giaiđoạn chính

- Giai đoạn trước đại hội VI của Đảng Công Sản Việt nam (1986) Giaiđoạn này trong nền kinh tế chủ yếu tồn tại 2 loại hình doanh nghiệp là quốcdoanh và tập thể Quy luật hàng hóa tiền tệ của kinh tế thị trường không đượccoi trọng, các doanh nghiệp hoạt đông theo cơ chế kế hoạch hóa cao độ vớiphương thức nhận chỉ tiêu và giao nộp sản phẩm và dĩ nhiên khoa học công nghệkhông được coi là hàng hóa, không có thị trường công nghệ Doanh nghiệpkhông được lựa chọn, cũng như mua bán công nghệ Việc trang bị và đổi mớicông nghệ ở các doanh nghiệp nhà nước được tiến hành trên cơ sở kế hoach nhànước và nguồn vốn cấp phát qua ngân sách thậm chí còn được phân phối máymóc thiết bị công nghệ từ phía nhà nước bằng viện trợ của các nước Xã hội chủnghĩa cho gì được nấy mà không có quyền lựa chọn

Các doanh nghiệp nhà nước của ngành Thủy sản nói chung và nha TrangKhánh Hòa nói riêng cũng không nằm ngoài cơ chế này tuy nhiên vào năm 1981sau khi được nhà nước cho phép thực hiện cơ chế " Tự cân đối tự trang trải"ngành được phép sử dụng một phần ngoại tệ thu được do xuất khẩu thủy sản đểnhập khẩu các trang thiết bị, vật tư phục vụ nghề cá gắn liền các khâu khai thác -chế biến nuôi trồng thủy thủy sản Do đó các doanh nghiệp sản xuất kinh doanhcủa ngành thủy sản đã sớm được tiếp xúc với thị trường nước ngoài hơn so vớicác doanh nghiệp của các ngành khác Điều này đã ảnh hưởng tốt đến việc đổimới công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thủy sản mà trướchết là các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Song đây mới chỉ còn ởmức ảnh hưởng gián tiếp bởi việc xuất nhập khẩu vẫn còn do các cơ quanchuyên trách đảm nhiệm (Seaprodex) mà chưa phải do sự chủ độngcủa cácdoanh nghiệp trực tiếp đảm nhận

Thời kỳ thứ 2 : Từ sau đại hội VI đến nay: Là thời kỳ đổi mới nền kinh tế.Với sự thừa nhận kinh tế thị trường và sự tồn tại khách quan của các thành phầnkinh tế Các doanh nghiệp nhà nước chuyển sang hạch toán kinh doanh bắt đầuphải đối mặt với các vấn đề của thị trường như cạnh tranh, lợi nhuận Thịtrường đã tạo ra sức ép và động lực mạnh mẽ buộc các doanh nghiệp nhà nướcphải đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm hạ giá thành, đa dạng hóasản phẩm để tạo sức cạnh tranh, đứng vững tồn tại và phát triển trên thị trường

Trang 15

Có thể nói trong thời kỳ này công nghệ là nhân tố quyết định sự tồn tạicủa các doanh nghiệp

Ngành thủy sản khánh Hòa luôn được coi là ngành có thế mạnh và giữ vịtrí mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Trong đó chế biến thủy sản, đặc biệt

là chế biến xuất khẩu có vai trò quan trọng góp phần tạo ra trên 50 triệu USD giátrị xuất khẩu chiếm gần 70% kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh Và có thể nóikết quả này phần lớn là do các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu nhànước nằm trên thành phố Nha Trang Vì vậy trong thời gian qua các chính sáchphát triển kinh tế Tỉnh khánh hòa luôn coi trọng việc phát triển ngành thủy sảnnói chung cũng như ngành chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang nói riêng

Tuy nhiên , do vốn đầu tư quá ít nên mặc dầu trong ngành chế biến thủysản xuất khẩu thì các doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí chủ đạo và chiếm tỷ trọngchủ yếu (70% giá trị), Nhưng cơ cấu đầu tư Nhà nước cho phát triển ngành chếbiến thủy sản lại thấp nhất chỉ khoảng 1% trong tổng đầu tư Nhà nước chongành thủy sản Tỉnh năm 1996 (2 tỷ trong số 155 tỷ đồng) Do vậy việc đầu tư để

mở rộng quy mô năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ trong ngành chế biếnthủy sản xuất khẩu nha Trang thời gian qua chủ yếu là do doanh nghiệp tự đầu tưbằng các nguồn vốn vay và phần lớn khác là do các thành phần kinh tế tư nhân

tự đầu tư tham gia sản xuất kinh doanh xuất khẩu thủy sản

Chính điều này đã làm cho việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệpchế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang không theo một định hướng thống nhất

mà chủ yếu mà chủ yếu là mang tính tự phát, chắp vá và không đồng bộ

Trong những năm tới (1995-2000) ngành thủy sản Khánh Hòa cũng nhưthành phố Nha Trang trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng và những dự báo

về khả năng và yêu cầu mới về số lượng, chất lượng sản phẫm xuất khẩu, đặcbiệt là đối với các thị trường mới như EU Bắc Mỹ Đã đặt ra phương hướngphát triển mới cho ngành thủy sản là từng bước điều chỉnh và đổi mới hệ thốngnhà máy chế biến thủy sản đông lạnh tiên tiến, đồng bộ đảm bảo những tiêuchuẩn vệ sinh công nghiệp , nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách sắp xếpquy hoạch lại hệ thống doanh nghiệp hiện có, nâng cấp đầu tư chiều sâu,trang bịcác máy móc thiết bị mới đồng bộ, bố trí dây chuyền sản xuất hợp lý kèm theoviệc thực hiện xây dựng và cải tạo kết cấu hạ tầng đảm bảo sự hoạt động tối ưucủa các doanh nghiệp

Trang 16

Nếu như các chính sách và giải pháp này được thực thi nhất quán thì sẽ làđiều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu của thànhphố Nha Trang trong việc đổi mới công nghệ một cách triệt để có hệ thống

II PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VỀ CHẾ BIẾN THỦY SẢN XUẤT KHẨU Ở NHA TRANG

1 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH MÁY MÓC THIẾT BỊ :

1.1 Về quy mô năng lực máy móc thiết bị:

Hệ thống máy móc thiết bị trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuấtkhẩu bao gồm nhiều loại song chủ yếu là các loại máy móc thiết bị phục vụ choquá trình đông lạnh (các thiết bị lạnh) mà thiết bị chủ yếu nhất trực tiếp quyếtđịnh đến năng lực sản xuất của các doanh nghiệp là hệ thống tủ cấp đông

Hiện nay, trong 6 doanh nghiệp nhà nước về chế biến thủy sản xuất khẩuNha trang đã có 23 tủ cấp đông với tổng công suất 20.048 tấn/ năm chiếm 75%công suất cấp đông của toàn tỉnh Có thể nói, trong 5 năm qua (91- 96) cùng với

sự phát triển của ngành chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu cả nước, qui mô

và năng lực sản xuất trong các doanh nghiệp Nhà nước về chế biến thủy sản xuấtkhẩu Nha Trang đã tăng lên rất nhanh Nếu như năm 1991, mới chỉ có xí nghiệpđông lạnh Nha trang (F.17) với hai tủ cấp đông, tương đương công suất 3.360tấn/năm thì đến năm 1993 có 6 doanh nghiệp Nhà nước chế biến thủy sản xuấtkhẩu với 18 tủ cấp đông tương đương công suất 12.600 tấn/năm và đến cuối

1996 thì đã tăng lên 23 tủ tương đương 20.048 tấn/năm (gấp 6 lần so với năm1991) chưa kể số tủ cấp đông trong một số doanh nghiệp Nhà nước khác mà chếbiến thủy sản xuất khẩu là một bộ phận nhỏ

Bảng 8: Quy mô và năng lực của các máy móc thiết bị chính trong các doanh

nghiệp nhà nước và chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang (6 doanh nghiệp)

96

SỐ TUYỆTĐỐI

SO VỚI91

1 Gi¸ trÞ Tr.® 11.43 15.24 16.75 18.245 7,5 lÇn

Trang 17

20.048

Sự gia tăng về quy mô và năng lực sản xuất một cáchnhanh chóng nh trên là do từ sau năm 1991, một số các doanhnghiệp trớc đây hoạt động chế biến thực phẩm (thịt heo,bò,vịt ) xuất khẩu sang thị trờng Liên Xô (cũ) gặp khó khăn vìtình hình Liên Xô khủng hoảng, đã chuyển hớng sang cải tạo xínghiệp, đổi mới, mua sắm thêm thiết bị máy móc để chếbiến thủy sản xuất khẩu (Nh F.115, xí nghiệp thực phẩm NamTrung Bộ F.123) Bên cạnh đó, sự đổi mới cơ chế quản lý trongcả nền kinh tế nớc ta đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự

do không bị hạn chế bởi một lĩnh vực sản xuất kinh doanhnhất định mà chuyển sang hoạt động sản xuất dinh doanhtổng hợp hơn nữa chế biến thủy sản xuất khẩu đang là mộtlĩnh vực hấp dẫn nên các doanh nghiệp đều hớng vào trang bịmáy móc phục vụ chế biến thủy sản xuất khẩu Kết quả là số l-ợng máy móc thiết bị chế biến thủy sản, giá trị máy móc thiết

bị cũng nh công suất chế biến đều tăng vọt lên nhanh chóng

Bảng 9: Cơ cấu năng lực máy móc thiết bị chính theo các

doanh nghiệpnăm 1996

MMTB

GIÁ TRỊ CềNLẠI

TỔNG CễNGSUẤT

Trang 18

Số ợng(Tr.đ)

l-Tỷ lệ

%

Số ợng(Tr

l-đ)

Tỷ lệ

%

Số ợng (T/nă

Việc đầu t trang bị cũng đợc thực hiện một cách tự pháttrong từng doanh nghiệp mà cha có một định hớng chung trêncơ sở cân đối với nguồn nguyên liệu Điều này đã dẫn đến sựkhó khăn cho các doanh nghiệp trong việc phát huy hết côngsuất máy móc thiết bị để nâng cao hiệu quả kinh tế

Hệ số sử dụng công suất máy móc thiết bị trung bình củacác doanh nghiệp mới chỉ đạt 42%

Trang 19

1.2.Về thời gian và tuổi thọ của thiết bị :

Trong 6 doanh nghiệp nhà nớc về chế biến thủy sản xuất khẩu

ở Nha Trang, thì doanh nghiệp có tuổi thọ cao nhất có thời gianhoạt động trên 20 năm là công ty chế biến thủy sản xuất khẩuNha Trang (F.17) số còn lại đều có thời gian hoạt động từ 5-7năm trở lại Tuổi trung bình của các trang thiết bị công nghệchủ yếu là 7,0 năm (Cao hơn tuổi trung bình chung của thiết

bị trong toàn ngành thủy sản cả nớc 0,5 năm)

So với thời gian định mức sử dụng các máy móc thiết bịchế biến thủy sản xuất khẩu thì tuổi thọ của máy móc thiết bịcủa các doanh nghiệp nhà nớc về chế biến thủy sản xuất khẩu

ở Nha Trang nh trên là khá cao Hơn nữa tuổi trung bình thực

tế của các máy móc thiết bị ở đây là 7,0 năm đợc tính toántrên cơ sở số năm đa thiết bị vào sử dụng.Trong khi đó hầuhết các thiết bị đợc trang bị là các thiết bị cũ đã qua thời gian

sử dụng trớc đó từ 4-6 năm rồi mới đợc các doanh nghiệp mua về

đại tu và tân trang lại và đem vào sử dụng Toàn tỉnh KhánhHòa hiện nay chỉ có hai thiết bị (tủ đông) Mycom mới sản xuất

đời 1993 đang đợc sử dụng còn lại đều đợc sản xuất trớcnhững năm 1980

Điều này có nghĩa là, nếu thời gian sử dụng định mức(10 năm) thì các máy móc thiết bị trang bị trong các doanhnghiệp đều đã hết thời gian sử dụng, nhng các doanh nghiệpcha khấu hao hết hoặc đã khấu hao hết nhng cha thanh lý màcần tiếp tục sử dụng, điều này tất yếu sẽ làm cho các máy mócthiết bị của các doanh nghiệp bị lạc hậu so với thực tế

Bảng 9: Một số chỉ tiêu phản ánh trình độ máy móc thiết bị

về thời gian và công suất của các doanh nghiệp nhà nớc về chế

biến thủy sản xuất khẩu Nha trang

1 Tổng vốn cố định Tr đ 15.03 16.38 17.60 19.757

Trang 20

Nh vậy hệ số hao mòn hữu hình chung của các doanh nghiệp

là 44% trong lúc tuổi trung bình của thiết bị là 7,0 năm Điềunày có nghĩa là, nếu các doanh nghiệp hoạt động bình thờng,thì các máy móc thiết bị của các doanh nghiệp đã bị lạc hậu ítnhất là từ 5 - 6 năm so với trình độ hiện có (cha kể yếu tố haomòn vô hình)

Hệ số đổi mới thiết bị các năm 94, 95, 96 đạt rất thấp (từ

8 - 9%) chứng tỏ động thái của việc đổi mới máy móc thiết bịcủa các doanh nghiệp cha đảm bảo tái sản xuất tài sản cố

định hàng năm (tỷ lệ khấu hao hàng năm là 10%) Điều này lạimột lần nữa thể hiện việc đổi mới máy móc thiết bị trong cácdoanh nghiệp những năm qua chủ yếu đi vào chiều rộng mà ítchú trọng đến việc nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệcủa máy móc thiết bị

Năm 93 hệ số này là 49% vì đây là năm và các doanhnghiệp bắt đầu trang bị để đa vào chế biến thủy sản xuấtkhẩu nâng công suất chế biến từ 3.360 tấn (năm 91) lên 12.600tấn Cho nên máy móc thiết bị tăng lên (thiết bị mới đa vào sửdụng trong năm) là giá trị của các thiết bị lắp đặt thêm để

Trang 21

nâng công suất nh trên đã nói Sau đó, hàng năm giá trị máymóc thiết bị tăng thêm chủ yếu là giá trị sửa chữa lại hoặc giátrị của một số thiết bị phụ trợ chứ không phải là giá trị đổi mớihiện đại hóa thiết bị, nên giá trị này không lớn (vì các doanhnghiệp đã thừa công suất).

Về cơ cấu đầu t, nói chung các doanh nghiệp đã đảmbảo cân đối giữa đầu t cho máy móc thiết bị và các tài sản cố

định khác Điều này đợc phản ánh qua tỷ trọng vốn cố địnhtrực tiếp tham gia vào sản xuất trong tổng vốn cố định năm

1993 là 54% thì năm 96 là 52% Song hệ số này cũng nói lênviệc đổi mới thiết bị trong các doanh nghiệp những năm quacha thực sự tăng cờng lợng vốn cố định trực tiếp tham gia vàosản xuất của doanh nghiệp mà đặc biệt là vốn máy móc thiết

bị (Điều này thể hiện trình độ đổi mới cũng nh hiệu suất huy

động vốn của doanh nghiệp cha cao)

Đi sâu vào từng doanh nghiệp cụ thể ta thấy, doanhnghiệp đầu đàn trong số các doanh nghiệp nhà nớc về chếbiến thủy sản xuất khẩu Nha Trang, cũng là doanh nghiệp đầu

đàn trong toàn tỉnh Khánh hòa, đó là Công ty chế biến thủysản xuất khẩu Nha Trang (F.17) thì tuổi trung bình của máymóc thiết bị cũng cao nhất (10,6 năm) Nhng hệ số hao mònhữu hình cũng chỉ mới 44%

Điều này chỉ có thể do hai nguyên nhân : Hoặc là doanhnghiệp tính khấu hao quá thấp từ đó kéo dài số năm sử dụngthiết bị mà vẫn cha khấu hao xong, hoặc là doanh nghiệp đãtính khấu hao xong một số thiết bị máy móc nhng vẫn tiếp tục

sử dụng mà không thanh lý, thay mới cả hai trờng hợp đều thểhiện trình độ sử dụng và đổi mới máy móc thiết bị của doanhnghiệp không cao và sẽ làm cho doanh nghiệp luôn luôn sửdụng các máy móc thiết bị lạc hậu

Trang 22

Bảng 10: Các chỉ tiêu phản ánh trình độ đổi mới máy móc

thiết bịcủa từng doanh nghiệp (số liệu năm 1996)

Doanh

nghiệp

Tuổi thọ trung bình (năm)

Hệ số hao mòn hữu hình (%)

Hệ số sử dụng công suất MMTB (%)

Trang 23

tiếp tham gia sản xuất trong tổng vốn cố định cũng rất cao.Chứng tỏ mặc dù doanh nghiệp vẫn còn sử dụng những máymóc thiết bị cũ nhng trong quá trình đổi mới trang bị doanhnghiệp đã chú ý vào trang bị máy móc thiết bị mới nâng caomức huy động vốn trực tiếp vào sản xuất nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thực tế những năm gần đây, mặc dù các doanh nghiệpkhác trong ngành chế biến thủy sản xuất khẩu khác làm ăn gặprất nhiều khó khăn thì F.17 vẫn phát triển vững chắc do đócông ty vẫn tiếp tục đầu t đổi mới công nghệ, mở rộng quy môbằng cách tăng cờng mua thêm máy móc thiết bị mới cụ thể năm

94 trang bị thêm hai tủ cấp đông công suất 9 tấn/ ngày năm1995-1996 trang bị thêm hai tủ công suất 7 tấn/ ngày Làm chotổng số tủ cấp đông của công ty hiện có là 6 thủ với công suất8.400 tấn/ năm (30 tấn / ngày) gấp 3 lần so với 1991

Bên cạnh đó là hệ thống kho lạnh bảo quản hiện có côngsuất 600 tấn chiếm 30% tổng công suất kho lạnh toàn tỉnh

Đặc biệt, bên cạnh việc đầu t mở rộng quy mô sản xuấtcông ty cũng đã nhận thức đợc vai trò của việc đổi mới côngnghệ theo chiều sâu và đã cố gắng trang bị các thiết bị theohớng hiện đại Năm 1993, công ty đã trang bị đợc một tủ đôngloại IQF đây là một trong những thiết bị cho phép sản xuấtnhững mặt hàng đông lạnh cao cấp nâng cao chất lợng sảnphẩm

Tiếp theo những năm 1994-1995 công ty đã trang bị cácthiết bị khác nh máy trộn, máy hút chân không, máy cán mực

và đã xây dựng đợc một phơng thức sản xuất mặt hàng caocấp Shashimi Tức là công ty đã bắt đầu chuyển hớng sản xuất

từ việc đông lạnh và xuất khẩu dới dạng nguyên liệu thô sangviệc sản xuất chế biến các mặt hàng tinh chế cao cấp, ăn liền

và có khả năng tiêu thụ trực tiếp trên các siêu thị

Trang 24

Các doanh nghiệp còn lại ngoài F.17 là những doanhnghiệp mới đi vào họat động chế biến thủy sản xuất khẩunhững năm gần đây nên tuổi trung bình của máy móc thiết

bị chỉ mới từ 3,6 năm đến 6 năm Tuy vậy các máy móc thiết bịcủa các doanh nghiệp này cũng là những thiết bị cũ đợc sảnxuất từ những năm 80 về trớc do đó không tránh khỏi tìnhtrạng lạc hậu Một điều đáng lu ý ở đây là các doanh nghiệp có

hệ số hao mòn hữu hình rất cao trong lúc tuổi trung bình lạithấp chứng tỏ rằng tuy các doanh nghiệp này mới xây dựng nh-

ng máy móc thiết bị lại đã rất cũ Bên cạnh đó hệ số sử dụngcông suất thiết bị lại rất thấp thậm chí nh xí nghiệp đông lạnhKhánh Hòa (F 115) chỉ đạt 23,7% Đây là một nhân tố đã làmcho hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm củadoanh nghiệp đạt rất thấp (ta sẽ thấy rõ hơn ở phần sau)

1.3 Về xuất xứ và tính đồng bộ của hệ thống máy móc thiết bị của các doanh nghiệp.

Có thể nói các loại máy móc thiết bị sử dụng trong các doanhnghiệp nhà nớc về chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang cũng

nh phần lớn các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩutrong cả nớc nói chung là bao gồm nhiều loại, nhiều mác, nhãnhiệu xuất xứ từ nhiều nớc khác nhau làm cho tính đồng bộ củadây chuyền sản xuất thấp và mang tính chắp vá

Hầu hết các thiết bị cấp đông đều mang nhãn hiệuMycom hay Nichin của Nhật, Shangchi của Đài Loan Một số thiết

bị mang nhãn hiệu Fullerton hay Frick của Mỹ (số này thờng rấtcũ) Bên cạnh đó cũng có một số thiết bị do Việt nam sản xuấthoặc do Việt nam đại tu, gia công lại (số này chiếm khoảng20% số thiết bị) Thậm chí, nh Công ty khai thác và dịch vụthủy sản Khánh Hòa (KHASPEXCO) năm 1993 khi chuyển hớngxây dựng phân xởng chế biến đông lạnh xuất khẩu, công ty

đã khai thác số thiết bị hiện có trong đó có một số thiết bị lạnh

Trang 25

đợc tháo gỡ từ tàu đánh cá 400cv của công ty rồi tự gia công lắp

đặt để hoạt động

Hay nh xí nghiệp đông lạnh Khánh Hòa (F.115) các thiết

bị chế biến đông lạnh thủy sản một số đợc tận dụng và cải tạocác thiết bị chế biến thực phẩm trớc đây nên chất lợng và độ

an toàn vệ sinh trong chế biến không cao

Các thiết bị khác trong hệ thống thiết bị cấp đông củacác doanh nghiệp nh tủ đông, giàn ngng, hệ thống kho bảoquản, sản xuất nớc đá phần lớn đợc các doanh nghiệp tự giacông hoặc đặt gia công ở các cơ sở sản xuất trong nớc

Nói tóm lại, các thiết bị máy móc của các doanh nghiệpnhà nớc chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang là mang tínhchắp vá không đồng bộ, từ nhiều nguồn khác nhau đợc lắp ráp

và điều chỉnh để có thể hoạt động đợc Nếu xét về thế hệmáy thì phần lớn các máy móc thiết bị này là thuộc thế hệnhững năm 1930 đến 1960, nghĩa là đã lạc hậu so với thế giớikhoảng 2 thế hệ Thiết bị chủ yếu nhất trong hệ thống thiết bịchế biến đông lạnh là các máy nén Theo thời gian các máy nén

đã đợc hoàn thiện từ kiểu máy nén hở sang kiểu máy nén kín,tức là toàn bộ hệ thống máy nén và động cơ đợc bọc kín trongmột lốc máy làm nâng cao hiệu suất hoạt động của máy Nhnghiện nay các doanh nghiệp Nhà nớc về chế biến thủy sản xuấtkhẩu ở Nha Trang nhiều hệ thống vẫn sử dụng loại máy nén hở

Còn các thiết bị phụ trợ, phục vụ khác nh máy điều hòanhiệt độ

chỉ mới trang bị ở một số cơ sở và doanh nghiệp nào có điềukiện đến đâu trang bị đến đó Chủ yếu là các doanh nghiệp

đã ra đời lâu năm nhất nh Công ty chế biến thuỷ sản xuấtkhẩu Nha Trang (F.17) mới có trang bị tơng đối đầy đủ và một

số doanh nghiệp có chế biến các mặt hàng cao cấp nh : Mựcnang Shashimi, tôm đông nguyên con, ghẹ thịt

Trang 26

Hiện nay có một số tủ đông quá cũ nên thời gian cấp

đông kéo dài quá thời gian quy định và còn một số kho bảoquản, phân xởng chế biến cha đạt nhiệt độ quy định (-1oC

đối với kho; + 18oC đối với nhà PX chế biến) Một số cơ sở dotận dụng mặt bằng cũ, gia cố lại để sản xuất nên việc sắp xếp

bố trí dây chuyền công nghệ cha hợp lý và cha đạt yêu cầuquy định nh Xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu Khánh Hoà(F.115), Công ty thực phẩm Nam Trung Bộ (F.123)

1.4 Về trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động:

Trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động thể hiện mức

độ phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật của các doanh nghiệp

ở mức độ nhất định thể hiện sự thay thế của lao động thủcông bằng máy móc

Các chỉ tiêu phản ánh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao

động là mức trang bị năng lợng điện cho lao động; mức trang

bị vốn (máy móc thiết bị) cho lao động

Nói chung trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động củacác doanh nghiệp nhà nớc về chế biến thủy sản xuất khẩu là t-

ơng đối cao và ổn định Chứng tỏ hàng năm sự gia tăng vềlực lợng lao động tơng ứng với sự gia tăng về trang bị máy móc

và vốn cố định trực tiếp tham gia vào sản xuất Nói cách khác,cha có sự thay thế lao động thủ công bằng máy móc (Xem bảng12)

Bảng 12 : Trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động ở các doanh

nghiệp nhà nớc về chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang

Trang 27

Thực tế trong những năm qua các doanh nghiệp, nhất làcác doanh nghiệp có tham gia hoạt động lâu đời nh F.17 đã cónhiều cố gắng trong việc cơ giới hóa lao động trong các khâu

có thể đợc (nh trang bị hệ thống máy cán mực trong chế biếnmực tẩm gia vị) bằng các động cơ điện thay cho việc sử dụngcác hệ thống quay tay thủ công trớc đây đã làm cho năng suấtlao động tăng lên rất nhiều

Muốn thực hiện một cách triệt để việc tăng cờng trang

bị kỹ thuật cho lao động, cơ giới hóa, trong điều kiện hiện nay

về mặt thiết bị và khả năng công nghệ là hoàn toàn không cóvấn đề gì Vấn đề còn lại ở đây là các doanh nghiệp phải cóvốn để cải tạo và trang bị lại toàn bộ dây chuyền sản xuấtbằng những dây chuyền công nghệ chế biến hoàn chỉnh

đồng bộ khép kín từ khâu đầu đến khâu cuối (nghĩa là phải

đổi mới triệt để về thiết bị công nghệ) nhng điều này là

Trang 28

không thể hoặc hoàn toàn cha có tính khả thi đối với cácdoanh nghiệp trong hiện tại và những năm trớc mắt.

1.5 Về trình độ công nghệ và bố trí mặt bằng dây chuyền sản xuất.

Công nghệ chế biến thủy sản xuất khẩu hiện nay ở nớc ta nóichung có thể phân làm hai dạng chính đó là chế biến khô vàchế biến đông lạnh, trong đó chủ yếu là chế biến đông lạnh(chế biến khô cũng cần có hệ thống kho lạnh bảo quản) Trongchế biến đông lạnh, thì hầu hết các doanh nghiệp chế biếnthủy sản xuất khẩu cả nớc cũng nh các doanh nghiệp nhà nớc vềchế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang vẫn chỉ là đông khối(Block) dới dạng sơ chế và bảo quản nguyên liệu để xuất khẩu

Do đặc điểm của nguyên liệu thủy sản là dễ bị h hỏng

và giảm chất lợng trong quá trình chế biến nên trong quy trìnhcông nghệ chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu đòi hỏi cácgiai đoạn, bớc công việc phải có sự quan hệ chặt chẽ với nhaukhông thể tách rời

Và thông thờng các giai đoạn chế biến phải bố trí trongcùng một phân xởng, thậm chí trong cùng một khu nhà xởng có

Trang 29

kết cấu hợp lý với quy trìng công nghệ Mặt khác, theo các tiêuchuẩn về chất lợng và an toàn vệ sinh thủy sản (TCVN 5108-90

và TCVN 4378) thì quy trình xử lý và chế biến tôm cá trên bờ

đợc chia làm 3 công đoạn là: Tiếp nhận (nguyên liệu hoặc bánthành phẩm)- chế biến và bảo quản, phân phối Trong đó chếbiến gồm có 2 giai đoạn là chế biến (1) chế biến (2) mà ta cóthể gọi là sơ chế và tinh chế Tất cả các công đoạn này thốngnhất chặt chẽ với nhau nhng khi bố trí vào các phân xởng thìphải có phân định rõ ràng giữa các công đoạn Mặt bằng phải

đủ rộng để đáp ứng đợc yêu cầu quy trình công nghệ tránh

đợc sự nhiễm bẩn sản phẩm và phải có sự cách ly hoàn toàngiữa khu vực có nguy cơ nhiễm bẩn (khu tiếp nhận, sơ chế) vàvới khu bảo quản, phân phối Các khu vực sau khi đã phân

định không đợc sử dụng sai mục đích và phải đợc giữ sạch

Trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp nhà nớc về chếbiến thủy sản xuất khẩu Nha Trang đợc xây dựng trên các mặtbằng chật hẹp nên không thể tuân thủ một cách nghiêm ngặtcác tiêu chuẩn về điều kiện sản xuất nh đã nêu Cá biệt có một

số doanh nghiệp không đủ điều kiện tối thiểu, nhà xởng còntạm bợ nh PX 310, PX147 của ECPCO (toàn bộ diện tớch PX 310 chưa tới500m2) do đú cỏc doanh nghiệp này phõn xưởng chế biến khụng cú phũng baogúi riờng việc tiếp nhận thực hiện ngay trước cổng phõn xưởng trờn một diệntớch chật hẹp cựng chung với khu vực xuất thành phẩm (Xem sơ đồ 5)

Một số doanh nghiệp khỏc, tuy tổng diện tớch mặt bằng rộng nhưng do cải tạo lại

từ cơ sở chế biến thực phẩm gia sỳc (chế biến thịt heo, bũ, vịt ) nờn mang tớnhchắp vỏ và bố trớ cỏc bộ phận khụng hợp lý với quy trỡnh cụng nghệ như F.123(cụng ty thực phẩm Nam Trung Bộ) và F.115 (cụng ty chế biến hàng xuất khẩuKhỏnh Hũa) Trong cỏc doanh nghiệp này vừa cú chế biến thủy sản xuất khẩuvừa cú chế biến cỏc thực phẩm khỏc

Khu vực chế biến thủy sản xuất khẩu của F.115 phõn xưởng xử lý chếbiến sơ chế tỏch biệt quỏ xa với khu vực xếp khuụn và cấp đụng (xem sơ đồ 6)

Trang 30

Cũng do mặt bằng và việc bố trí sản xuất như trên mà trong 6 doanh nghiệp nhànước về chế biến thủy sản xuất khẩu ở Nha Trang thì có thể nói chưa có doanhnghiệp nào đảm bảo các yêu cầu về vệ sinh môi trường Phần lớn các doanhnghiệp nằm ngay trong khu vực dân cư, các doanh nghiệp chưa có hệ thống xử

lý nước thải và chất thải, nước thải hầu như được đổ trực tiếp vào hệ thống cốngthành phố hoặc thải xuống sông gây ô nhiểm môi trường và không đáp ứng yêucầu vệ sinh thủy sản

Ngoài ra, trong thời gian mùa vụ, các doanh nghiệp thường sử dụng mộtlượng lớn lao động hợp đồng thời vụ để thực hiện các công đoạn đơn giản cầnnhiều sức lao động thủ công như xử lý, sơ chế (vặt đầu, bóc vỏ tôm, xẻ mực )với phương thức khoán cho từng người, hoặc từng nhóm nhận nguyên liệu vàgiao bán thành phẩm mà không kiểm soát nổi quá trình xử lý Những người nàythậm chí có lúc phải đứng ngồi tràn lan ra cả hành lang khu vực chế biến và do

đó rõ ràng là không thể đảm bảo các điều kiện an toàn về vệ sinh chế biến

Phòng Máy

P.Tiếp nhận

KhoBảo quảnSông Cái Nha Trang

Cổng vào 30m

Khu nhà quản lý

Kho Trạm bia

SX Cơ điệnNước đá

Cấp đông

XếpKhuôn

Nhà dân

Trang 32

Bảng 13: Số lượng và cơ cấu lao động của các doanh nghiệp nhà nước về

chế biến thủy sản xuất khẩu Nha trang các năm

năm (%)

1 Tổng số lao động Người 1.470 1.834 1.911 2.293 +162.Trong đó gián tiếp

- Tỷ lệ

Người

%

23416

24413,3

27814,6

28312,3

1.59086,7

1.63385,4

2.01087,7

+17,6

Như vậy, mặc dù số lượng lao động hàng năm trong các doanh nghiệp tănglên liên tục cả về lao động trực tiếp cũng như gián tiếp Nhưng nếu xem xét tỷ lệtương đối thì ta thấy chỉ có lao động trực tiếp tăng còn lao động gián tiếp giảm

và đến cuối năm 1996 tỷ lệ lao động gián tiếp trong tổng số còn lại 12,3% đây là

tỷ lệ xấp xỉ với tỷ lệ chung trong toàn ngành thủy sản cả nước Nói cách khác,nếu xét về số lượng và cơ cấu đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp nhà nước

về chế biến thủy sản xuất khẩu Khánh Hòa đã có sự phát triển theo chiều hướngtiến bộ tiến kịp với sự phát triển chung của toàn ngành Song việc sử dụng một

số lượng lớn lao động trực tiếp như trên cũng cho thấy trình độ đổi mới côngnghệ là chưa cao (Xem bảng tính toán mức trang bị kỹ thuật cho lao động ởphần trên)

Đi sâu vào từng doang nghiệp ta thấy bố trí lao động trong các doanhnghiệp là không đều nhau Có một số doanh nghiệp tỷ lệ là gián tiếp rất thấp nhưF.123 hay ECPCO (chỉ 6-7%) thực ra thì tỷ lệ này cũng chưa phản ánh trình độcuả các doanh nghiệp mà sở dĩ có tỷ lệ như trên là do trong thực tế, các doanhnghiệp này thường nhận hàng gia công rất nhiều và nhận xuất ủy thác cho cácdoanh nghiệp khác (thậm chí đối với nhiều doanh nghiệp tư nhân) Do đó laođộng hợp đồng của các doanh nghiệp này rất lớn (chủ yếu là lao động trực tiếp)

và điều này làm giảm tỷ lệ gián tiếp trong tổng số Nhưng hiệu kinh tế cuối cùngcủa các doanh nghiệp này không cao (ta sẽ thấy rõ hơn điều này ở phần phântích hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phần sau)

Bảng 14: Số lượng và cơ cấu lao động của từng doanh nghiệp năm 1996

Trang 33

T

Chỉ tiêuDN

Tổngsố(ngời)

Lao độnggián tiếp Trực tiếp

Số ợng(ngời)

l-tỷ lệ(%)

Số ợng(ngời)

l-Tỷ lệ(%)

Nếu so sánh với tỷ lệ lao động có trong các doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế khác (t nhân, công ty cổ phần )thì tỷ lệ này là 12% Điều này có lý do của nó, đó là trongnhững năm gần đây cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý Sốngời đợc đào tạo có trình độ đại học tăng nhanh nhng việc sửdụng lực lợng này còn hạn chế trong các doanh nghiệp nhà nớc

do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân lớn là do cơ chếtuyển dụng trong các doanh nghiệp nhà nớc thờng cứng nhắc

Trang 34

và quan liêu hơn trong lúc đó lại làm ăn kém hiệu quả, thì cácdoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác lai đang dầnthích nghi đợc với cơ chế thị trờng và năng động hơn rấtnhiều, nhất là đối với công tác tuyển dụng và bố trí lao độngnên họ đã thu hút đợc một số lớn ngời có trình độ đại học vàolàm việc Đây là một xu thế có nguy cơ làm gỉam thấp trình

độ lao động chung của các doanh nghiệp nhà nớc

Bảng 15: Cơ cấu trình độ và chất lợng lao động của các doanh

nghiệp nhà nớc về chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang

đặc biệt là đối với đội ngũ lao động gián tiếp Chính sáchtuyển dụng cũng có những yêu cầu gắt gao hơn về trình độ

Do đó, bên cạnh những yếu kém nhất định của đội ngũ lao

động hiện nay của các doanh nghiệp là khả năng nắm bắtthông tin và xử lý thông tin còn chậm, ít năng động, kiến thức

đợc trang bị còn xa vời thực tế, thì một số doanh nghiệp đãxây dựng đợc cho mình một đội ngũ lao động khá vững vàngtrong sản xuất và kinh doanh mà tiêu biểu nhất trong số đó làF.17 Mặc dù tỷ lệ lao động có trình độ Đại học ở đây chỉ hơn

Trang 35

7% trong tổng số lao động, nhng bộ máy quản lý của công typhần lớn là lực lợng trẻ (từ giám đốc trở xuống quản đốc phân x-ởng tuổi không quá 40) Và nếu tính trong số lao động giántiếp thì tỷ lệ trình độ đại học là 37%.

Hầu hết các cán bộ quản lý của công ty đều xuất phát lànhững cán bộ chuyên môn kỹ thuật trình độ Đại học sau đó đ-

ợc trang bị thêm kiến thức quản lý kinh tế theo hình thức tạichức Và nói chung đội ngũ cán bộ quản lý ở đây rất năng

động, có trình độ nắm bắt và xử lý các thông tin nhanhchóng đáp ứng đợc yêu cầu của cơ chế thị trờng hiện nay Cóthể thấy rõ điều đó qua số liệu sau (Xem bảng 16 và 17)

Bảng 16: Trình độ đội ngũ cán bộ gián tiếp nói chung của F.17 ĐVT: Ngời

Biểu đồ 1 : Tỷ lệ % lao động cú trỡnh độ đại học (1996)

(Ngành chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang)

Trang 36

Cá c doanh nghiệp Nhà n ớ c

9%

91%

Đ ại học Tr.đọ khác

Cá c doanh nghiệp t huộc

t hành phần k.t ế khá c

12%

88%

Đ ại học Tr.độ khác

Trang 37

Bảng 17: Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý công ty F.17

(Cán bộ lãnh đạo)

2 P.Giám đốc kiêm trưởng

phòng hành chính

39 Kỹ sư CBTS và quản trị KD(tc)

4 Trưởng phòng tài vụ 39 ĐH tài chính kế toán

5 Trưởng phòng KDXK 40 ĐH thủy sản (kinh tế)

6 Trưởng phòng Kỹ thuật 38 ĐH thủy sản (chế biến)

8 Quản đốc PX chế biến 33 ĐH thủy sản (chế biến)

9 Quản đốc và P quản đốc

Phân xưởng đặc sản

37 ĐH thủy sản (chế biến)

10 Kế toán PX chế biến 37 Đại Học Quản trị kinh doanh

11 Kế toán P xưởng đặc sản 37 Đại Học Quản trị kinh doanh

*Trình độ và chất lượng lao động trực tiếp.

Nói chung, các sản phẩm thủy sản xuất khẩu của nước ta hiện nay phầnlớn còn ở dạng sơ chế, do đó yêu cầu của quy trình công nghệ đối với trình độlao động không cao Phần lớn lao động trong quy trình công nghệ là lao động thủcông với những công việc khá đơn giản, chỉ yêu cầu công nhân có sức khỏe tốt

là đủ Trong toàn bộ dây chuyền sản xuất chỉ có một số ít công đoạn đòi hỏicông nhân phải có một trình độ thành thạo với những kỹ năng nhất định nhưkhâu phân cỡ (loại), hay fillets cá,mực Ở công đoạn này, công nhân phải có cấpbậc từ bậc 4 trở lên Còn lại, các công đoạn khác (chẳng hạn như xử lý bóc vỏtôm, xẻ mực ) thì chỉ cần bậc 1,2 là đủ thậm chí không cần trình độ xếp bậc màchỉ xem hướng dẫn sơ bộ một vài lần là có thể thực hiện được

Do đặc điểm trên, lực lượng công nhân trực tiếp sản xuất trong các doanhnghiệp nhà nước về chế biến thủy sản xuất khẩu Nha Trang cũng như trong toànngành thủy sản nói chung phần lớn là có trình độ thấp (lao động phổ thông) Tỷ

lệ công nhân bậc cao (bậc 4 trở lên) trong tổng số công nhân chỉ chiếm từ 14% (xem bảng II-17) Hầu hết các doanh nghiệp đều xây dựng một lực lượngnhỏ công nhân có trình độ bậc cao làm việc thường xuyên theo chế độ biên chế(hay hợp đồng dài hạn)

Trang 38

12-Lực lượng này đảm nhận các khâu trọng yếu của quy trình công nghệ(phân cỡ, fillets cá, mực hay sản xuất các mặt hàng cao cấp như shashimi,Cooking) số còn lại được hợp đồng ngắn hạn thậm chí chủ yếu là hợp đồng thời

vụ Cách giải quyết này của các doanh nghiệp có ưu điểm là sử dụng hợp lý vàtiết kiệm sức lao động, giảm chi phí tiền lương cho thời gian không sản xuất.Tuy nhiên, nếu như quá tính toán về các chi phí trước mắt thì các doanh nghiệpkhó có thể xây dựng được một đội ngũ lao động có chất lượng ngày càng caophù hợp với công nghệ ngày càng đổi mới đồng thời có thể chủ động trong trình

độ sản xuất kinh doanh Hơn nữa, quá trình chế biến thủy sản xuất khẩu có yêucầu về chất lượng và vệ sinh cao và chặt chẽ hơn nhiều so với các sản phẩm khácnên nếu các doanh nghiệp quá thiên về việc sử dụng lao động hợp đồng thời vụ

sẽ rất khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu này

Thực tế hiện nay ở các doanh nghiệp nhà nước về chế biến thủy sản ởNha Trang chỉ có công ty F.17 là có một đội ngũ công nhân có trình độ tay nghềvững vàng và tương đối ổn định Được xây dựng từ ngày đầu thành lập với 14công nhân giỏi từ thành phố Hồ Chí Minh tuyển chọn về vừa sản xuất vừa làmhạt giống đào tạo đội ngũ lao động cho công ty Đến nay công ty đã có 140công nhân có trình độ bậc 4 trở lên (một số công nhân có trình độ Đại học)chiếm 22% tổng số lao động trực tiếp thường xuyên của công ty Kết hợp vớiđội ngũ quản lý năng động, công ty là đơn vi dẫn đầu trong ngành thủy sảnKhánh Hòa trong việc đi tiên phong sản xuất những mặt hàng mới với yêu cầu

kỹ thuật cao, giá trị lớn và tận dụng nguồn nguyên liệu

Bắt đầu từ năm 1996, trước yêu cầu của việc đổi mới mặt hàng cho phùhợp hơn nữa với trình độ và nguồn nguyên liệu cũng như yêu cầu của kháchhàng đặc biệt là khách hàng Nhật Bản (khách hàng lớn nhất của công ty từ trướcđến nay), công ty đã tuyển dụng một số lao động có trình độ Đại học và gửi sangNhật Bản để vừa tham gia sản xuất vừa học hỏi nắm kỹ thuật sản xuất mặt hàngmới Đây là việc làm có tính chất đầu tư lâu dài cho sự phát triển về tiềm lựccông nghệ - con người của công ty trong tương lai

Bảng 18: Cơ cấu trình độ chất lượng lao động trực tiếp từng doanh nghiệp

(năm 1996)

STT CHỈ TIÊU TỔNG SỐ

CN

CN BẬ CAO (BẬC

4 TRỞ LÊN) CẤP BẬC CNB/QUÂN

Trang 39

DN (NGƯỜI) Số lợng Tỷlệ % T.tế So với yêu

Điều này một lần nữa khẳng định trình độ công nghệcon ngời đối với bộ phận công nhân sản xuất còn rất thấp Đặcbiệt là các doanh nghiệp mới thành lập hay mới chuyển sang sảnxuất kinh doanh hàng thủy sản nh KHASPEXCO, F.123, F.115,ECPCO cấp bậc bình quân của công nhân quá thấp so với yêucầu Điều này đã ảnh hởng lớn đến việc đáp ứng yêu cầu côngnghệ và ảnh hởng đến chất lợng sản phẩm cũng nh hiệu quảsản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp này thờng không có độingũ công nhân bậc cao làm nòng cốt do đó việc phát triển độingũ lao động gặp nhiều khó khăn, bên cạnh đó do hiệu quảkinh doanh thấp nên thu nhập ngời lao động của các doanhnghiệp này cũng thấp nên lại càng khó thu hút những côngnhân có trình độ tay nghề cao vào làm việc

Một vấn đề đáng nói nữa là trong các doanh nghiệp nhànớc về chế biến thủy sản xuất khẩu hiện nay việc tổ chức thitay nghề nâng cao trình độ công nhân cha đợc thực hiện một

Trang 40

cách đúng đắn để có một kế hoạch bồi dỡng nâng cao trình

độ cho công nhân từ đó nâng cao trình độ công nghệ củadoanh nghiệp Phần lớn công nhân phải tự tìm hiểu và nângcao trình độ tay nghề Việc xếp bậc cũng còn mang tính tùytiện cha theo một tiêu chuẩn thống nhất

3 TèNH HèNH TỔ CHỨC VÀ QUẢN Lí SẢN XUẤT KINH DOANH NẮMBẮT THễNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VỀ CHẾ BIẾNTHỦY SẢN XUẤT KHẨU NHA TRANG

Mỏy múc, thiết bị, con người hay cỏc yếu tố vật chất khỏc của sản xuấttrong doanh nghiệp bao giờ cũng phải được sắp xếp bố trớ liờn hệ với nhau mộtcỏch chặt chẽ trong một cơ cấu tổ chức nhất định và một chức năng chung đểđiều hũa phối hợp sự hoạt động của chỳng với nhau một cỏch ăn khớp nhịpnhàng, là linh hồn của tổ chức Trờn gúc độ cụng nghệ, thụng tin và tổ chức làhai bộ phận phần “ mềm” đặc biệt quan trọng

Ngành thủy sản núi chung và thủy sản xuất khẩu núi riờng là ngành sảnxuất thực phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người Mà nhu cầu ăn củacon người khụng chỉ là dinh dưỡng (nghĩa là người ta ăn khụng phải chỉ vỡ nú cúnhiều chất dinh dưỡng) mà nú cũn phụ thuộc vào tập quỏn (cỏch ăn), hỡnh thứcbao gúi và cỏc tiờu chuẩn vệ sinh khỏc Điều này phụ thuộc vào trỡnh độ phỏttriển và phong tục tập quỏn truyền thống của cỏc nước, cỏc khu vực trờn thế giớirất khỏc nhau Do đú, tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh thủy sản xuất khẩuphải nắm vững nhu cầu thị trường tiờu dựng, tõm lý và phong tục cũng như cỏcđiều kiện và tiờu chuẩn cần thiết để xõm nhập vào cỏc thị trường quốc tế khỏcnhau đú

Cỏc doanh nghiệp nhà nước về chế biến thủy sản xuất khẩu ở Nha Trangcũng như hầu hết cỏc doanh nghiệp khỏc trong cả nước vừa mới ra khỏi cơ chếtập trung quan liờu bao cấp và chưa hoàn toàn trỳt bỏ được cung cỏch làm ăn thụđộng trước đõy Bộ mỏy quản lý cũn chưa năng động, việc nắm bắt và xử lýthụng tin cũn rất nhiều hạn chế mặc dự như phần trờn ta thấy tỷ lệ lao động giỏntiếp trong tổng số là khỏ cao

Nhược điểm lớn nhất trong việc nắm bắt thụng tin của cỏc doanh nghiệphiện nay là tiếp xỳc với thị trường ngoài nước để nghiờn cứu nhu cầu và tỡmkhỏch hàng tiờu thụ trực tiếp một phần vỡ tư tưởng của cơ chế cũ cũn cú trong

Ngày đăng: 29/05/2018, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Báo cáo tình hình thực hiện công tác xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm 1995 và phương hướng phát triển công nghệ chế biến thuỷ sản đông lạnh đến năm 2000 Khác
6. Phạm Khiêm Ích - Nguyễn Đình Phan(chủ biên)Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa ở Việt Nam và các nước trong khu vực. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội 1995 Khác
9. PTS. Nguyễn Văn Thụy (chủ biên)Một số vấn đề về chính sách phát triển khoa học và công nghệ.Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 1994 Khác
10. Pháp luật về chuyển giao công nghệ và đầu tư. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội 1995 Khác
11. Số liệu thống kê của các doanh nghiệp nhà nước về chế biến Thủy Sản xuất khẩu ở thành phố Nha trang từ năm 1991 đến năm 1996 Khác
12. Số liệu thống kê của sở Thủy Sản Khánh Hoà từ năm 1991 đến năm 1997 Khác
13. Số liệu quyết toán của các doanh nghiệp nhà nước sở Thủy Sản Khánh Hòa từ năm 1990 đến năm 1994 Khác
15. Tạp chí thông tin khoa học và công nghệ Thủy Sản - Bộ TS Khác
16. Tạp chí thông tin nghề cá - Seaprodex Miền trung Khác
18. Tạp chí phát triển kinh tế - Trường ĐH Kinh Tế Tp. HCM Khác
19. Thực trạng ngành chế biến Thủy Sản Khánh Hòa (số liệu đến tháng 10-1993) - Sở Thủy Sản Khánh Hoà Khác
20. Tổng luận Khoa học, Kỹ thuật, Kinh tế - Bộ KHCN & MT Khác
21. Văn kiện hội nghị BCHTƯ lần thứ 2 (khoá VIII). Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 1997 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w