LỜI MỞ ĐẦU Trong bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có một lượng vốn kinh doanh nhất định. Vốn kinh doanh sẽ quyết định đến quy mô cũng như mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Trong đó vốn cố định (VCĐ) lại đóng vai trò quan trọng trong vốn kinh doanh. Vì vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, công nghệ, vốn cố định trong các doanh nghiệp không ngừng tăng lên và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong vốn kinh doanh. Quy mô vốn cố định nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng đến trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ cũng như năng lực sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp và quyết định tới năng suất lao động, chất lượng sản phẩm. Việc khai thác sử dụng VCĐ hợp lý sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, tăng khả năng cạnh tranh và lợi nhuận của doanh nghiệp, làm thế nào để vốn cố định được sử dụng có hiệu quả là một khâu trọng tâm trong công tác quản lý, sử dụng và bảo toàn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Trong thời gian qua, xung quanh vấn đề này có nhiều ý kiến đóng góp và thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vướng mắc đòi hỏi cần phải tiếp tục tìm kiếm phương hương hoàn thiện. Xuất phát từ yêu cầu trên, trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Xinan Hải Dương, trên cơ sở những kiến thức và hực tế tích lũy được em đã lựa chọn nghiên cứu đè tài: “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Xinan Hải Dương” làm đè tài báo cáo. Kết cấu của đề tài gồm những phần chính sau (phần nội dung): Chương1. Tổng quan những vấn đề đã học và ứng dụng trong thực tế. Chương 2. thực trạng hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Xinan Hải Dương. Chương 3. Gải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Xinan Hải Dương. Em xin chân thành cảm ơn Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Xinan Hải Dương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian kiến tập tại Công ty. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Hữu Thắng đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành bản đề án này. Em xin chân thành cản ơn CHƯƠNG I. TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÃ HỌC VÀ ỨNG DỤNG TRONG THỰC TẾ 1.1. Khái quát về học phần tài chính doanh nghiệp 1.1.1. Nguồn gốc ra đời của tài chính doanh nghiệp Tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính là nền sản xuất hàng hóa – tiền tệ va Nhà nước. Tài chính doanh nghiệp là một khâu quan trọng trong hệ thống tài chính nước ta, có đặc trưng cơ bản là gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ. 1.1.2. Khái niệm Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doah của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của tài chính. Tài chính doanh nghiệp là một hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình tạo lập và phân phối nguồn tài chính và quỹ tiền tệ, quá trình tạo lập và chu chuyển nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm mục đích sản xuất để đạt được mục đích sản xuất đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp đó. Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp: Hoạt động của tài chính doanh nghiệp luôn gắn liền và phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động của tài chính doanh nghiệp luôn bị chi phối bởi mục tiêu lợi nhuận. 1.1.3. Các loại hình Doanh nghiệp Doanh nghiệp Nhà nước Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài Công ty cổ phần Công ty trách nhiệm hữu hạn 1.1.4. Nội dung của học phần tài chính Doanh Nghiệp Lựa chọn và quyết định đầu tư: Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn vào quyết định đầu tư dài hạn với quy mô lớn như quyết định đầu tư đổi mới, mở rộng sản xuất kinh doanh, sản xuất sản phẩm, đi đến quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc trên nhiều mặt kinh tế, kỹ thuật và tài chính. Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoản chi tiêu vốn cho đầu tư và thu nhập đầu tư đưa lại hay nói cách khác là xem xét dòng tiền ra và dòng tiền vào liên quan đến đầu tư để đánh giá có cơ hội đầu tư về mặt tài chính; Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đủ nhu cầu vốn do các hoạt động của doanh nghiệp: Doanh nghiệp phải xác định các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp mình. Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt như: Kết cấu nguồn vốn điểm lợi của từng hình thức huy động vốn cho việc xây dựng sử dụng mỗi nguồn vốn. Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Doanh nghiệp phải tìm mọi cách huy động tối đa số vốn hiện có của doanh nghiệp và kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bán hàng và các khoản thu khác, đồng thời lý chặt chẽ các khoản chi phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cân bằng thu và chi bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp: Thực hiện phân phối hợp lý LNST cũng như trích lập và sử dụng tốt các quỹ sẽ góp phần vào việc phát triển của doanh nghiệp và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp, kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Sự biển thủ và các kiểu gian lận tài chính là hình thức phổ biến. Các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng là nạn nhân của sự bịp bợm này, vì họ không có các quy trình để kiểm soát và ngăn ngừa được nó. Do vậy, việc kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp bảo vệ được mình. Thực hiện kế hoạch hóa tài chính: Vạch ra mục tiêu và chương trình hoạt động trong tương lai xa và gần của doanh nghiệp nhằm mục đích sử dụng tối ưu hóa nguồn lực hiện có của doanh nghiệp trên cở sở thỏa mãn cao nhất nhu cầu của thị trường về sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất. 1.1.5. Vai trò của tài chính doanh nghiệp Vai trò huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất: Để đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghệp phải thanh toán nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, bên cạnh đó phải tổ chức huy động và sử dụng nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả quá trình SXKD ở doanh nghiệp, đây là và vấn đề có tính quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh “ khắc nghiệt “ theo cơ chế thị trường. Vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh: Thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phân phối. Thu nhập mà doanh nghiệp đạt được do thu nhập bán hàng trước tiên phải bù đắp các chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất như: bù đắp hao mòn máy móc thiết bị, trả lương cho người lao động và để mua nguyên liệu để tiếp tục chu kỳ sản xuất mới, thực hiện đối với Nhà nước. Phần còn lại doanh nghiệp dùng hình thành các quỹ, thực hiện bảo toàn vốn, hoặc trả lợi tức cổ phần (nếu có). Chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp là quá trình phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp và quá trình phân phối đó luôn gắn liền với những đặc điểm của vốn của hoạt động KDSX và hình thức sở hữu doanh nghiệp. Ngoài ra, người quản lý biết tận dụng sáng tạo các chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp phù hợp với quy luật sẽ làm cho tài chính doanh nghiệp trở thành đòn bẩy kinh tế có tác dụng trong việc tạo ra những tác động kinh tế tác động tới tăng năng xuất, kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc đẩy vòng quay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội. Vai trò là công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp thực hiện việc kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hành thường xuyên, liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính. Cụ thể các chỉ tiêu đó là: chỉ tiêu về kết cấu tài chính, chỉ tiêu về khả năng thanh toán, chỉ tiêu dặc trưng về hoạt động, sử dụng các nguồn tài chính; chỉ tiêu đặc trưng về khả năng sinh lời…..Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép doanh nghiệp có căn cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu làm lành mạnh hóa tình hình tài chính – kinh doanh của doanh nghiệp. 1.1.6. Nguyên tắc quản lý tài chính Doanh nghiệp Cứng rắn và nhất quán: Một trong những nguyên tắc đầu tiên của việc này là bạn phải nhất quán và có kỷ luật. Khi lên danh mục vốn đầu tư bao gồm: những cổ phiếu; trái phiếu cần đầu tư; cổ phần trong những quỹ đầu tư hoặc những khoản tiền gửi ngân hàng, bạn cần giữ vững tỷ lệ tương quan giữa chúng. Không vì bất cứ một sự dao động ngắn hạn nào của thị trường, sự xuất hiện một ý tưởng đầu tư mới hay những cổ phiếu mới xuất hiện mà bạn lại thay đổi phương pháp đã được xác lập. Thông thường, khi giá trị của một loại hình đầu tư nào đó tăng vọt thường có tác động mạnh đến tâm lý các nhà đầu tư. Khi nhìn vào sự tăng trưởng nhanh chóng của một loại cổ phiếu hay tổng số vốn của một quỹ đầu tư nào đó, mọi người liền đổ tiền vào chúng trong trạng thái kích động mạnh nhưng thường khi đó thời kỳ tăng trưởng manh nhất đã trôi qua. Đừng tiêu tiền thiếu suy nghĩ: Hạnh phúc không thể mua được bằng tiền, nhưng nhiều người cứ “ cố đấm ăn xôi cuối cùng trở thành tù chung thân ” của những món nợ. Chúng ta chính là thị trường: Ai trong chúng ta cũng muốn kiếm được lợi nhiều nhất từ thị trường. Tuy nhiên, không phải ai cũng làm được điều đó, vì thị trường chính là chúng ta, vậy nên nếu trong chúng ta có kẻ thắng, thì tức là sẽ có người thua. Hạn chế chi phí ở mức thấp nhất: Bạn đừng bao giờ quên rằng sự thành công trong đầu tư của bạn bao giờ cũng phải san sẻ với hai người nữa đó là những người môi giới và phòng thuế. Nếu không muốn chia lợi nhuận thu được ra làm ba phần, bạn cần nghĩ cách hạn chế các chi phí đầu tư và trả thuế ở mức thấp nhất trong chừng mực có thể. Cần đến sự giúp đỡ: Phần lớn các nhà đầu tư nghiệp dư đều không có thời gian, hứng thú, kiến thức và cuối cùng là sự nhẫn lại để thực hiện các phi vụ đầu tư độc lập một cách thành công. Thậm chí ngay cả khi bạn đầu tư thành công và thu được lợi nhuận, điều này hoàn toàn không có nghĩa là bạn đã biến thành một người có uy tín trong lĩnh vực tài chính. Mọi người ngay sau khi thu được một số thành tựu nào đó trên thị trường, nhưng trên thực tế thì họ đã nhầm lẫn sự thành công và tri thức. Nhưng đáng tiếc là với sự giúp đỡ của các nhà môi giới hay tư vấn tài chính cũng chưa chắc đã đảm bảo sự thành công cho những quyết định đầu tư của bạn. Chính vì vậy khi lựa chọn một nhà tư vấn tài chính bạn phải đặc biệt cẩn trọng. Đừng bỏ tất cả trứng vào trong một cái giỏ duy nhất: Khi nói về sự cần thiết phải đa dạng hóa danh mục đầu tư, các chuyên gia tài chính thường dựa trên luận điểm rằng đây là phương pháp cần thiết để giảm sự mạo hiểm: Nếu một hướng đầu tư nào đó của bạn đang trong chiều hướng lỗ thì có thể hướng khác vẫn đem lại lợi nhuận cho bạn. Tuy nhiên, bạn cũng nên lưu ý rằng khi xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính lớn thì sự đa dạng cũng không có ý nghĩa nhiều lắm, hoặc trong những thị trường khác nhau thì đô dao động và mức độ thu nhập trong năm cũng khác nhau. Đừng bao giờ quên gia đình: Gia đình là một khoản vốn và một khoản nợ của bạn. Nếu như các con hoặc bố mẹ bạn đang gặp khó khăn về tài chính thì hiển nhiên bạn phải giúp đỡ họ và ngược lại. Bạn không bao giờ được quên điều này. Đầu tư dài hạn: Nếu chẳng may bạn chết sớm thì vợ và con bạn có thể gặp khó khăn về tài chính, nhưng nếu bạn trường thọ thì cũng là một vấn đề cần suy nghĩ. Không ít người khi về hưu có rất ít có tiề tiết kiệm hoặc thậm chí chả có đồng nào, hay sau khi về hưu một thời gian họ đã tiêu hết số tiền dành dụm được. Điều này sẽ chẳng thành vấn đề nếu hai vợ chồng bạn không sống lâu quá, hoăcj bạn cũng chẳng quan tâm lắm đến chuyện tuổi già mình sẽ sống như thế nào. Chuyện gì xảy ra nếu bạn sẽ sống lâu trong khi không có tiền lương hưu hoặc bảo hiểm trọn đời hay nhiều tiền tiết kiệm trong nhà băng? Vì vậy bạn nên trù liệu trước và triệt để tiết kiệm tiền bạc trong chừng mực có thể. Đừng quên lạm phát: Thậm chí ngay cả khi mọ việc xung quanh vẫn đang diễn ra tốt đẹp, tiền tiết kiệm và các khoản đầu tư của bạn vẫn đánginh sôi nảy nở thì bạn vẫn đang mất một tiền nhất định hàng năm vì lạm phát. Chính vì vậy, bạn không nên quá chú ý tới con số lãi trên giấy tờ mà nên đánh giá nó trong sự tương đối – tức là % thu nhập của bạn không được phép thấp hơn % lạm phát. Ngoài ra còn phải tự do về tài chính, tôn trọng pháp luật, sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả, công khai về tài chính, giữ chữ tín và hạn chế, phòng ngừa rủi ro. 1.1.7. Các mối quan hệ tài chính của Doanh nghiệp Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước: Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận. Đồng thời, mối quan hệ tài chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp được thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với thị trường tài chính: Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Với thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhận được các khoản tiền vay để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn và ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiền lãi trong thời hạn nhất định. Với thị trường vốn, thông qua hệ thống các tổ chức tài chính trung gian khác, doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn bằng cách phát hành các chứng khoán. Ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả mọi khoản lãi cho các chủ thể tham gia đầu tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của doanh nghiệp.Thông qua thị trường tài chính, các doanh nghiệp có thể đầu tư vốn nhàn rỗi của mình bằng cách kí gửi vào hệ thống ngân hàng hoặc đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác. Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Các thị trường khác như thị trường hàng hóa, dich vụ, thị trường sức lao động,…Là chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắm các yếu tố sản xuất như vật tư, máy móc thiết bị, trả công lao động, chi trả các dich vụ,…Đồng thời, thông qua các thị trường, các doanh nghiệp xác định nhu cầu sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng, để làm cơ sở hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị,…nhằm làm cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp luôn thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Mối quan tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ tài chính phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính giữa các bộ phận kinh doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các thành viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. 1.1.8. Chức năng của tài chính doanh nghiệp Tổ chức huy động chu chuyển vốn, đảm bảo cho hoạt đông sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nên có nhu cầu về vốn, tùy từng loại hình doanh nghiệp mà vốn huy động được từ những nguồn sau: Ngân sách nhà nước, vốn cổ phần, vốn liên doanh, vốn tự bổ sung, vốn vay. Nội dung của chức năng: Căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất, định mức tiêu chuẩn để xác định nhu cầu vốn cần thiết cho sản xuất kinh doanh. Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về vốn, nếu nhu cầu lớn hơn khả năng về vốn thi doanh nghiệp phải huy động thêm vốn ( tìm nguồn tài trợ với chi phí sử dụng vốn thấp nhưng đảm bảo có hiệu quả ), nếu nhu cầu nhỏ hơn khả năng về vốn thì doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất hoặc tìm kiếm thị trương để đầu tư mang lại hiệu quả. Lựa chon nguồn vốn và phân phối sử dụng vốn hợp lý để sao cho với số vốn ít nhưng mang lại hiệu quả cao nhất. Chức năng phân phối: Thu thập bằng tiền từ bán sản phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ, lợi tức cổ phiếu, lãi cho vay, thu nhập khác của doanh nghiệp được tiến hành phân phối như sau: chi phí vật tư như nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực, công cụ lao động nhỏ,….Chi phí khấu hao tài sản cố định. Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương. Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền (kể cả các khoản thuế gián thu). Phần còn lại là lợi nhuận trước thuế được phân phối tiếp như sau: Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định, bù lỗ năm trước không được bù vào lợi nhuận trước thuế (nếu có), nộp thuế vốn (nếu có), trừ các khoản chi phí không hợp lý hợp lệ, chia lãi cho đối tác góp vốn, trích vào các quỹ doanh nghiệp. Chức năng giám đốc (kiểm soát) đối với hoạt động sản xuất kinh doanh: Giám đốc tài chinh là việc thự hiện kiểm soát quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Cơ sở của giám đốc tài chính: Xuất phát từ tính quy luật trong phân phối sản phẩm quyết định (ở đâu có phân phối tài chính thì ở đó có giám đốc tài chính), xuất phát từ tính mục đích của việc sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh. Muốn cho đồng vốn có hiệu quả cao, sinh lời nhiều thì tất yếu giám đốc phải xem tình hình tạo lập sử dụng quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp. Nội dung: Thông qua chỉ tiêu vay trả, tình hình nộp thuế cho Nhà nước mà Nhà nước, Ngân hàng biết được tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp tốt hay chưa tốt. Thông qua chỉ tiêu giá thành, chi phí mà biết được doanh nghiệp sử dụng vật tư, tài sản, tiền vốn tiết kiệm hay lãng phí. Thông qua tỷ suất lợi nhuận (tỷ suất lợi nhuận doanh thu, giá thành, vốn) mà biêt được doanh nghiệp làm ăn có hiêu quả hay không ?
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có mộtlượng vốn kinh doanh nhất định Vốn kinh doanh sẽ quyết định đến quy mô cũngnhư mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Trong đó vốn cốđịnh (VCĐ) lại đóng vai trò quan trọng trong vốn kinh doanh Vì vậy, cùng với sựphát triển của nền kinh tế quốc dân và sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹthuật, công nghệ, vốn cố định trong các doanh nghiệp không ngừng tăng lên vàngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong vốn kinh doanh Quy mô vốn cố định nhiều hay
ít sẽ ảnh hưởng đến trình độ trang bị kỹ thuật, công nghệ cũng như năng lực sảnxuất kinh doanh của một doanh nghiệp và quyết định tới năng suất lao động, chấtlượng sản phẩm
Việc khai thác sử dụng VCĐ hợp lý sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng, tăng khả năng cạnh tranh và lợi nhuận của doanh nghiệp, làm thế nào đểvốn cố định được sử dụng có hiệu quả là một khâu trọng tâm trong công tác quản lý,
sử dụng và bảo toàn vốn kinh doanh của doanh nghiệp Trong thời gian qua, xungquanh vấn đề này có nhiều ý kiến đóng góp và thu được những kết quả nhất định.Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vướng mắc đòi hỏi cần phải tiếp tục tìm kiếm phươnghương hoàn thiện
Xuất phát từ yêu cầu trên, trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH thức
ăn chăn nuôi Xinan Hải Dương, trên cơ sở những kiến thức và hực tế tích lũy
được em đã lựa chọn nghiên cứu đè tài: “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Xinan Hải Dương” làm
đè tài báo cáo
Kết cấu của đề tài gồm những phần chính sau (phần nội dung):
Chương1 Tổng quan những vấn đề đã học và ứng dụng trong thực tế.
Chương 2 thực trạng hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty TNHH thức
ăn chăn nuôi Xinan Hải Dương
Chương 3 Gải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty
TNHH thức ăn chăn nuôi Xinan Hải Dương
Em xin chân thành cảm ơn Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Xinan HảiDương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian kiến tập tại Công ty
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Hữu Thắng đã tận tình hướng
dẫn em hoàn thành bản đề án này
Em xin chân thành cản ơn !
CHƯƠNG I TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÃ HỌC VÀ ỨNG DỤNG TRONG THỰC TẾ
Trang 31.1 Khái quát về học phần tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Nguồn gốc ra đời của tài chính doanh nghiệp
Tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính là nền sảnxuất hàng hóa – tiền tệ va Nhà nước Tài chính doanh nghiệp là một khâu quantrọng trong hệ thống tài chính nước ta, có đặc trưng cơ bản là gắn liền với hoạt độngsản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ
1.1.2 Khái niệm
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giaodịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đíchthực hiện các hoạt động kinh doanh – tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả cáccông đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứngdịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối cácnguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạtđộng sản xuất kinh doah của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của tài chính Tài chính doanh nghiệp
là một hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trìnhtạo lập và phân phối nguồn tài chính và quỹ tiền tệ, quá trình tạo lập và chu chuyểnnguồn vốn của doanh nghiệp nhằm mục đích sản xuất để đạt được mục đích sảnxuất đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp đó
Đặc điểm của tài chính doanh nghiệp:
Hoạt động của tài chính doanh nghiệp luôn gắn liền và phục vụ cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hoạt động của tài chính doanh nghiệp luôn bị chi phối bởi mục tiêu lợinhuận
1.1.3 Các loại hình Doanh nghiệp
- Doanh nghiệp Nhà nước
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài
- Công ty cổ phần
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
1.1.4 Nội dung của học phần tài chính Doanh Nghiệp
Lựa chọn và quyết định đầu tư: Triển vọng của một doanh nghiệp trongtương lai phụ thuộc rất lớn vào quyết định đầu tư dài hạn với quy mô lớn như quyết
Trang 4định đầu tư đổi mới, mở rộng sản xuất kinh doanh, sản xuất sản phẩm, đi đến quyếtđịnh đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc trên nhiều mặt kinh tế, kỹthuật và tài chính Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét các khoản chi tiêu vốncho đầu tư và thu nhập đầu tư đưa lại hay nói cách khác là xem xét dòng tiền ra vàdòng tiền vào liên quan đến đầu tư để đánh giá có cơ hội đầu tư về mặt tài chính;
Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đủ nhu cầuvốn do các hoạt động của doanh nghiệp: Doanh nghiệp phải xác định các nguồn vốnđáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp mình Để điđến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, cầnxem xét cân nhắc trên nhiều mặt như: Kết cấu nguồn vốn điểm lợi của từng hìnhthức huy động vốn cho việc xây dựng sử dụng mỗi nguồn vốn
Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi vàđảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Doanh nghiệp phải tìm mọi cáchhuy động tối đa số vốn hiện có của doanh nghiệp và kinh doanh, giải phóng kịp thời
số vốn ứ đọng, theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi tiền bánhàng và các khoản thu khác, đồng thời lý chặt chẽ các khoản chi phát sinh trong quátrình hoạt động của doanh nghiệp Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cânbằng thu và chi bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toáncác khoản nợ đến hạn
Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanhnghiệp: Thực hiện phân phối hợp lý LNST cũng như trích lập và sử dụng tốt cácquỹ sẽ góp phần vào việc phát triển của doanh nghiệp và cải thiện đời sống vật chất,tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp, kiểm soát thường xuyên tình hìnhhoạt động của doanh nghiệp Sự biển thủ và các kiểu gian lận tài chính là hình thứcphổ biến Các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng là nạn nhân của sự bịp bợm này, vì họkhông có các quy trình để kiểm soát và ngăn ngừa được nó Do vậy, việc kiểm soátthường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp bảo vệđược mình
Thực hiện kế hoạch hóa tài chính: Vạch ra mục tiêu và chương trình hoạtđộng trong tương lai xa và gần của doanh nghiệp nhằm mục đích sử dụng tối ưu hóanguồn lực hiện có của doanh nghiệp trên cở sở thỏa mãn cao nhất nhu cầu của thịtrường về sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất
Trang 51.1.5 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Vai trò huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầukinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất: Để đủvốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghệp phải thanh toán nhucầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, bên cạnh đó phải tổ chức huy động và sử dụng nhằmduy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả quá trình SXKD ở doanh nghiệp, đây là
và vấn đề có tính quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trong quá trình cạnhtranh “ khắc nghiệt “ theo cơ chế thị trường
Vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh: Thunhập bằng tiền của doanh nghiệp được tài chính doanh nghiệp phân phối Thu nhập
mà doanh nghiệp đạt được do thu nhập bán hàng trước tiên phải bù đắp các chi phí
bỏ ra trong quá trình sản xuất như: bù đắp hao mòn máy móc thiết bị, trả lương chongười lao động và để mua nguyên liệu để tiếp tục chu kỳ sản xuất mới, thực hiệnđối với Nhà nước Phần còn lại doanh nghiệp dùng hình thành các quỹ, thực hiệnbảo toàn vốn, hoặc trả lợi tức cổ phần (nếu có) Chức năng phân phối của tài chínhdoanh nghiệp là quá trình phân phối thu nhập bằng tiền của doanh nghiệp và quátrình phân phối đó luôn gắn liền với những đặc điểm của vốn của hoạt động KDSX
và hình thức sở hữu doanh nghiệp
Ngoài ra, người quản lý biết tận dụng sáng tạo các chức năng phânphối của tài chính doanh nghiệp phù hợp với quy luật sẽ làm cho tài chính doanhnghiệp trở thành đòn bẩy kinh tế có tác dụng trong việc tạo ra những tác động kinh
tế tác động tới tăng năng xuất, kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc đẩyvòng quay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội
Vai trò là công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp: Tài chính doanh nghiệp thực hiện việc kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hànhthường xuyên, liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính Cụ thể các chỉ tiêu
đó là: chỉ tiêu về kết cấu tài chính, chỉ tiêu về khả năng thanh toán, chỉ tiêu dặctrưng về hoạt động, sử dụng các nguồn tài chính; chỉ tiêu đặc trưng về khả năngsinh lời… Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép doanh nghiệp có căn
cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu làm lành mạnh hóa tình hình tàichính – kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.6 Nguyên tắc quản lý tài chính Doanh nghiệp
Cứng rắn và nhất quán: Một trong những nguyên tắc đầu tiên của việc
này là bạn phải nhất quán và có kỷ luật Khi lên danh mục vốn đầu tư bao gồm:
Trang 6những cổ phiếu; trái phiếu cần đầu tư; cổ phần trong những quỹ đầu tư hoặc nhữngkhoản tiền gửi ngân hàng, bạn cần giữ vững tỷ lệ tương quan giữa chúng Không vìbất cứ một sự dao động ngắn hạn nào của thị trường, sự xuất hiện một ý tưởng đầu
tư mới hay những cổ phiếu mới xuất hiện mà bạn lại thay đổi phương pháp đã đượcxác lập Thông thường, khi giá trị của một loại hình đầu tư nào đó tăng vọt thường
có tác động mạnh đến tâm lý các nhà đầu tư Khi nhìn vào sự tăng trưởng nhanhchóng của một loại cổ phiếu hay tổng số vốn của một quỹ đầu tư nào đó, mọi ngườiliền đổ tiền vào chúng trong trạng thái kích động mạnh- nhưng thường khi đó thời
kỳ tăng trưởng manh nhất đã trôi qua
Đừng tiêu tiền thiếu suy nghĩ: Hạnh phúc không thể mua được bằngtiền, nhưng nhiều người cứ “ cố đấm ăn xôi cuối cùng trở thành tù chung thân ” củanhững món nợ Chúng ta chính là thị trường: Ai trong chúng ta cũng muốnkiếm được lợi nhiều nhất từ thị trường Tuy nhiên, không phải ai cũng làm đượcđiều đó, vì thị trường chính là chúng ta, vậy nên nếu trong chúng ta có kẻ thắng, thìtức là sẽ có người thua
Hạn chế chi phí ở mức thấp nhất: Bạn đừng bao giờ quên rằng sự
thành công trong đầu tư của bạn bao giờ cũng phải san sẻ với hai người nữa đó lànhững người môi giới và phòng thuế Nếu không muốn chia lợi nhuận thu được ralàm ba phần, bạn cần nghĩ cách hạn chế các chi phí đầu tư và trả thuế ở mức thấpnhất trong chừng mực có thể
Cần đến sự giúp đỡ: Phần lớn các nhà đầu tư nghiệp dư đều không có thời
gian, hứng thú, kiến thức và cuối cùng là sự nhẫn lại để thực hiện các phi vụ đầu tưđộc lập một cách thành công Thậm chí ngay cả khi bạn đầu tư thành công và thuđược lợi nhuận, điều này hoàn toàn không có nghĩa là bạn đã biến thành một người
có uy tín trong lĩnh vực tài chính Mọi người ngay sau khi thu được một số thànhtựu nào đó trên thị trường, nhưng trên thực tế thì họ đã nhầm lẫn sự thành công vàtri thức Nhưng đáng tiếc là với sự giúp đỡ của các nhà môi giới hay tư vấn tàichính cũng chưa chắc đã đảm bảo sự thành công cho những quyết định đầu tư củabạn Chính vì vậy khi lựa chọn một nhà tư vấn tài chính bạn phải đặc biệt cẩn trọng
Đừng bỏ tất cả trứng vào trong một cái giỏ duy nhất: Khi nói về sựcần thiết phải đa dạng hóa danh mục đầu tư, các chuyên gia tài chính thường dựatrên luận điểm rằng đây là phương pháp cần thiết để giảm sự mạo hiểm: Nếu mộthướng đầu tư nào đó của bạn đang trong chiều hướng lỗ thì có thể hướng khác vẫnđem lại lợi nhuận cho bạn Tuy nhiên, bạn cũng nên lưu ý rằng khi xảy ra các cuộc
Trang 7khủng hoảng tài chính lớn thì sự đa dạng cũng không có ý nghĩa nhiều lắm, hoặctrong những thị trường khác nhau thì đô dao động và mức độ thu nhập trong nămcũng khác nhau.
Đừng bao giờ quên gia đình: Gia đình là một khoản vốn và một khoản
nợ của bạn Nếu như các con hoặc bố mẹ bạn đang gặp khó khăn về tài chính thìhiển nhiên bạn phải giúp đỡ họ và ngược lại Bạn không bao giờ được quên điềunày
Đầu tư dài hạn: Nếu chẳng may bạn chết sớm thì vợ và con bạn có thể
gặp khó khăn về tài chính, nhưng nếu bạn trường thọ thì cũng là một vấn đề cần suynghĩ Không ít người khi về hưu có rất ít có tiề tiết kiệm hoặc thậm chí chả có đồngnào, hay sau khi về hưu một thời gian họ đã tiêu hết số tiền dành dụm được Điềunày sẽ chẳng thành vấn đề nếu hai vợ chồng bạn không sống lâu quá, hoăcj bạncũng chẳng quan tâm lắm đến chuyện tuổi già mình sẽ sống như thế nào Chuyện gìxảy ra nếu bạn sẽ sống lâu trong khi không có tiền lương hưu hoặc bảo hiểm trọnđời hay nhiều tiền tiết kiệm trong nhà băng? Vì vậy bạn nên trù liệu trước và triệt đểtiết kiệm tiền bạc trong chừng mực có thể
Đừng quên lạm phát: Thậm chí ngay cả khi mọ việc xung quanh vẫnđang diễn ra tốt đẹp, tiền tiết kiệm và các khoản đầu tư của bạn vẫn đánginh sôi nảy
nở thì bạn vẫn đang mất một tiền nhất định hàng năm vì lạm phát Chính vì vậy, bạnkhông nên quá chú ý tới con số lãi trên giấy tờ mà nên đánh giá nó trong sự tươngđối – tức là % thu nhập của bạn không được phép thấp hơn % lạm phát
Ngoài ra còn phải tự do về tài chính, tôn trọng pháp luật, sử dụng vốntiết kiệm và hiệu quả, công khai về tài chính, giữ chữ tín và hạn chế, phòng ngừa rủiro
1.1.7 Các mối quan hệ tài chính của Doanh nghiệp
Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước:Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phầntheo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh
và phân chia lợi nhuận Đồng thời, mối quan hệ tài chính này cũng phản ánh nhữngquan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phânphối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách Nhà nước vớicác doanh nghiệp được thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phảinộp vào ngân sách Nhà nước
Trang 8Mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với thị trường tài chính:Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanhnghiệp Với thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhậnđược các khoản tiền vay để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn và ngược lại, cácdoanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiền lãi trong thời hạn nhất định Với thịtrường vốn, thông qua hệ thống các tổ chức tài chính trung gian khác, doanh nghiệptìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn bằng cách pháthành các chứng khoán Ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả mọi khoản lãicho các chủ thể tham gia đầu tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hayphụ thuộc vào khả năng kinh doanh của doanh nghiệp.Thông qua thị trường tàichính, các doanh nghiệp có thể đầu tư vốn nhàn rỗi của mình bằng cách kí gửi vào
hệ thống ngân hàng hoặc đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác
Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Cácthị trường khác như thị trường hàng hóa, dich vụ, thị trường sức lao động,…Là chủthể hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắmcác yếu tố sản xuất như vật tư, máy móc thiết bị, trả công lao động, chi trả các dichvụ,…Đồng thời, thông qua các thị trường, các doanh nghiệp xác định nhu cầu sảnphẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng, để làm cơ sở hoạch định ngân sáchđầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị,…nhằm làm cho sản phẩm, dịch vụ của doanhnghiệp luôn thỏa mãn nhu cầu của thị trường
Mối quan tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ tàichính phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính giữa các bộ phận kinh doanh, giữa các
bộ phận quản lý, giữa các thành viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn vàquyền sử dụng vốn
1.1.8 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Tổ chức huy động chu chuyển vốn, đảm bảo cho hoạt đông sản xuấtkinh doanh được tiến hành liên tục: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở có nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh nên có nhu cầu về vốn, tùy từng loại hình doanh nghiệp màvốn huy động được từ những nguồn sau: Ngân sách nhà nước, vốn cổ phần, vốn liêndoanh, vốn tự bổ sung, vốn vay Nội dung của chức năng: Căn cứ vào nhiệm vụ sảnxuất, định mức tiêu chuẩn để xác định nhu cầu vốn cần thiết cho sản xuất kinhdoanh Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về vốn, nếu nhu cầu lớn hơn khả năng vềvốn thi doanh nghiệp phải huy động thêm vốn ( tìm nguồn tài trợ với chi phí sửdụng vốn thấp nhưng đảm bảo có hiệu quả ), nếu nhu cầu nhỏ hơn khả năng về vốn
Trang 9thì doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất hoặc tìm kiếm thị trương để đầu tư manglại hiệu quả Lựa chon nguồn vốn và phân phối sử dụng vốn hợp lý để sao cho với
số vốn ít nhưng mang lại hiệu quả cao nhất
Chức năng phân phối: Thu thập bằng tiền từ bán sản phẩm, hàng hóa,lao vụ, dịch vụ, lợi tức cổ phiếu, lãi cho vay, thu nhập khác của doanh nghiệp đượctiến hành phân phối như sau: chi phí vật tư như nguyên vật liệu, nhiên liệu, độnglực, công cụ lao động nhỏ,….Chi phí khấu hao tài sản cố định Chi phí tiền lương
và các khoản trích theo lương Chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền(kể cả các khoản thuế gián thu) Phần còn lại là lợi nhuận trước thuế được phân phốitiếp như sau: Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định, bù lỗ năm trướckhông được bù vào lợi nhuận trước thuế (nếu có), nộp thuế vốn (nếu có), trừ cáckhoản chi phí không hợp lý hợp lệ, chia lãi cho đối tác góp vốn, trích vào các quỹdoanh nghiệp
Chức năng giám đốc (kiểm soát) đối với hoạt động sản xuất kinhdoanh: Giám đốc tài chinh là việc thự hiện kiểm soát quá trình tạo lập và sử dụngcác quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Cơ sở của giám đốc tài chính: Xuất phát từ tínhquy luật trong phân phối sản phẩm quyết định (ở đâu có phân phối tài chính thì ở đó
có giám đốc tài chính), xuất phát từ tính mục đích của việc sử dụng vốn trong sảnxuất kinh doanh Muốn cho đồng vốn có hiệu quả cao, sinh lời nhiều thì tất yếugiám đốc phải xem tình hình tạo lập sử dụng quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp Nộidung: Thông qua chỉ tiêu vay trả, tình hình nộp thuế cho Nhà nước mà Nhà nước,Ngân hàng biết được tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp tốt hay chưa tốt.Thông qua chỉ tiêu giá thành, chi phí mà biết được doanh nghiệp sử dụng vật tư, tàisản, tiền vốn tiết kiệm hay lãng phí Thông qua tỷ suất lợi nhuận (tỷ suất lợi nhuậndoanh thu, giá thành, vốn) mà biêt được doanh nghiệp làm ăn có hiêu quả haykhông ?
1.1.9 Mục đích của học phần tài chính Doanh nghiệp
Trang bị cho sinh viên những nội dung cơ bản về hoạt động sản xuấtdoanh nghiệp như khái niệm, vai trò của tài chính doanh nghiệp cũng như tầm quantrọng, nội dung, mục tiêu, nguyên tắc và bộ máy quản lý tài chính doanh nghiệp;các vấn đề về chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp; các loại vốn vàquản lý vốn trong doanh nghiệp
Giúp cho sinh viên có thể xem xét, đánh giá và vận dụng sử lý nhữngvấn đề tài chính doanh nghiệp trong công tác có liên quan
Trang 10Là nền tảng để sinh viên tiếp tục nghiên cứu sâu hơn những vấn đềquản lý tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nói chung và thực tiễn ởViệt Nam nói riêng.
Tranh bị cho sinh viên những vấn đề cơ bản về giá trị thời gian củatiền, các nội dung trong quản lý đầu tư dài hạn doanh nghiệp như: Đầu tư dài hạn vàvai trò của hoạt động đầu tư dài hạn với doanh nghiệp; các chỉ tiêu phân tích, đánhgiá hiệu quả dự án đầu tư dài hạn Trên cơ sở những nội dung nghiên cứu nhằmđánh giá tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; là tiền đề để
dự đoán và xác định quy mô của dòng tiền trong tương lai; là căn cứ để tính toánthời gian thu hồi vốn đầu tư và quyết định đầu tư dài hạn trong doanh nghiệp
Bên cạnh đó, trang bị các kiến thức về phân tích tài chính doanh nghiệp từmục tiêu, ý nghĩa, phương pháp và nội dung phân tích tài chính
1.2 Những vấn đề cơ bản về vốn cố định và hiệu quả sử dụng vốn cố định trong các doanh nghiệp
là những TSCĐ Đây là những tư liệu lao động chủ yếu phục vụ cho các quá trìnhkinh doanh của doanh nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh Nói cách khác, đây là
bộ phận tài sản quan trọng biểu hienẹ quy mô cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu củadoanh nghiệp Trong các doanh nghiệp thương mại, các TSCĐ chủ yếu là hệ thống
cơ sở vật chất phục vụ cho kinh doanh lưu chuyển hàng hoá như hệ thống cửa hàng,kho tàng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải…
Thông thường một tài sản được coi là TSCĐ nếu thoả mãn đồng thời ba điềukiện:
- Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp với tư cách là tư liệu lao động
- Có thời gian sử dụng dài, thường từ một năm trở lên
- Có giá trị lớn đạt đến một giá trị nhất định Tiêu chuẩn này phụ thuộc vàoquy định của từng quốc gia trong từng thời kỳ
Trang 11Những tài sản không hội đủ các tiêu chuẩn kể trên được coi là những tài sảnlưu động của doanh nghiệp, bao gồm những tài sản là đối tượng lao động đối vớiquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và những tư liệu lao động có giá trịnhỏ hoặc thời gian sử dụng ngắn Việc nhận biết và phân biệt TSCĐ và tài sản lưuđộng của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong công tác nghiên cứu
mà còn giúp cho doanh nghiệp có thể quản lý, sử dụng tài sản một cách tốt nhất.Trong thực tế, việc nhận biết TSCĐ dựa trên những tiêu chuẩn kể trên có thể gặpnhững khó khăn sau đây:
Một là, việc phân biệt giữa đối tượng lao động với những tư liệu lao động làTSCĐ của doanh nghiệp trong một số trường hợp nếu chỉ đơn thuần dựa vào đặctính hiện vật thì có thể dẫn đến ngộ nhận về TSCĐ Bởi vì có thể xảy ra cùng mộtTSCĐ ở trường hợp này được coi là TSCĐ nhưng ở trường hợp khác chỉ được coi
là tài sản lưu động Chẳng hạn, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng…nếu được sử dụng để phục vụ cho việc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp thì coi là TSCĐ, song nếu các tài sản này là các sản phẩm mới hoàn thànhquá trình sản xuất của doanh nghiệp đang được bảo quản, chờ tiêu thụ hoặc là cáccông trình xây dựng cơ bản chưa bàn giao, thì đó chỉ coi là đối tượng lao độngthuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp Do đó, để nhận biết chính xác tài sản cốđịnh trong các doanh nghiệp, ngoài đặc tính hiện vật, còn phải dựa vào tính chất,công dụng hay vai trò của TSCĐ đối với các quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
Hai là, việc vận dụng máy móc các tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ kể trên có thểdẫn đến việc bỏ sót TSCĐ của doanh nghiệp Bởi vì trong thực tế có một số tài sản
là các tư liệu lao động, nếu xét riêng lẻ thì không đủ các tiêu chuẩn kể trên song tổhợp các tài sản riêng lẻ này nếu câú thành nên một hệ thống và hệ thống đó đáp ứng
đủ ba điều kiện ở trên thì vẫn được coi là TSCĐ Chẳng hạn như, tổ hợp hay hệthống các trang thiết bị cho một văn phòng, một phòng ở khách sạn, một phòng thínghiệm… được coi là các TSCĐ
b Đặc điểm TSCĐ
Khác với đối tượng lao động đặc điểm cơ bản của TSCĐ - những tư liệu laođộng chủ yếu là chúng có thể tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào nhiềuchu kỳ sản xuất Trong quá trình đó mặc dầu TSCĐ bị hao mòn, song chúng vẫn giữnguyên được hình thái vật chất ban đầu chỉ khi nào chúng bị hao mòn, hư hỏng
Trang 12hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặt kinh tế thì khi đó chúng mới được thaythế đổi mới.
Như vậy tiêu thức để phân biệt giữa đối tượng lao động với TSCĐ là khôngchỉ đơn thuần dựa vào thuộc tính vật chất của chúng, mà phải chủ yếu dựa vào tínhchất tham gia và tác dụng của chúng trong sản xuất, kinh doanh, điều này nó đượccoi là TSCĐ, còn ở trường hợp khác nó lại được coi là đối tượng lao động, chẳnghạn như súc vật trong nông nghiệp nếu lấy sữa, sinh sản cày kéo thì chúng là TSCĐ,còn nếu nuôi béo để lấy thịt thì chúng lại là các công trình chưa bàn giao… khôngphải là TSCĐ nếu như chúng đang còn ở trong kho, đang chờ tiêu thụ, chờ thủ tụcbàn giao thanh toán hoặc khi chúng là đối tượng để nghiên cứu thí nghiệm
Bên cạnh đặc điểm nêu trên, một tư liệu lao động được coi là TSCĐ khi nó làsản phẩm của lao động, do đó TSCĐ không chỉ có giá trị sử dụng mà còn có giá trị.Nói một cách khác, TSCĐ phải là một hàng hoá như mọi hàng hoá thông thườngkhác, thông qua mua bán trao đổi, nó có thể được chuyển quyền sở hữu và quyền sửdụng từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác trên thị trường tư liệu sản xuất
Trong lý luận, việc nhận thức tính hàng hoá của TSCĐ được xem như mộtvấn đề đơn giản tất yếu Song trên thực tế ở nước ta, đã có một thời tính hàng hoácủa TSCĐ bị xem nhẹ, TSCĐ được coi là một "hàng hoá đặc biệt" hàng hoá trêndanh nghĩa, vì thế nó chỉ được phân phối cung cấp trong nội bộ khu vực kinh tếquốc doanh mà không được mua bán, trao đổi rộng rãi trên thị trường, điều này đãđưa đến hậu quả kìm hãm sức sản xuất xã hội nói chung, trong lĩnh vực kinh tế nóiriêng
Trong nền kinh tế hàng hoá, xây dựng hoặc lắp đặt những tư liệu lao độngđược coi là vốn cố định của doanh nghiệp, khác với đối tượng lao động, đặc điểm
cơ bản của TSCĐ - những tư liệu lao động chủ yếu là chúng có thể tham gia mộtcách trực tiếp hoặc gián tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất Trong quá trình đó mặt dầuTSCĐ bị hao mòn, hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặt kinh tế thìkhi đó chúng mới được thay thế đổi mới
Việc quản lý vốn cố định và TSCĐ trên thực tế là một công việc phức tạp
Để giảm nhẹ khối lượng quản lý, về tài chính kế toán người ta có những quy địnhthống nhất về tiêu chuẩn giới hạn về giá trị và thời gian sử dụng của một TSCĐ.Thông thường một tư liệu lao động phải được đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩndưới đây thì được coi là TSCĐ
- Phải có thời gian sử dụng tối thiểu (thường là 1 năm trở lên)
Trang 13- Phải có giá trị tối thiểu đến một mức quy định (hiện nay quy định là có giátrị từ 10 triệu đồng Việt Nam).
Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên thì tư liệu lao động được coi là công
cụ lao động và do nguồn vốn lưu động tài trợ
Tuy nhiên do yêu cầu của công tác quản lý trong một số trường hợp đặc biệt
dù giá trị đơn vị và thời gain sử dụng không đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn được coi làTSCĐ như tổ hợp các đồ dùng trong phòng làm việc, phòng họp, phòng khách,khách sạn…
Mặt khác trong doanh nghiệp có một số khoản chi đầu tư cho sản xuất kinhdoanh về tính chất luân chuyển giá trị cũng tương tự như TSCĐ vì vậy được coi làcác TSCĐ không có hình thái vật chất (TSCĐ vô hình) như các khoản chi phí thànhlập doanh nghiệp, chi phí mua bằng phát minh sáng chế…
Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá những TSCĐ đó không chỉ đượcbiểu hiện dưới hình thái vật chất nên còn được biểu hiện dưới hình thái giá trị đểđầu tư mua sắm TSCĐ, doanh nghiệp phải bỏ ra một số tiền tệ nhất định Vì vậy sốtiền tệ ứng trước đó dùng cho việc xây dựng mua sắm TSCĐ đó được gọi là vốn cốđịnh của doanh nghiệp
Để quản lý, sử dụng vốn có hiệu quả cần phải nghiên cứu các phương phápphân loại về kết cấu của TSCĐ
c Phân loại TSCĐ của doanh nghiệp
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ hiện có của doanh nghiệptheo những tiêu thức nhất ddịnh nhằm phục vụ cho những yêu cầu quản lý của đơnvị
* Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện
Theo phương pháp này, tổng thể TSCĐ thuộc quyền quản lý và sử dụng củadoanh nghiệp sẽ được chia thành hai loại như sau:
+ TSCĐ hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể, chẳng hạnnhư văn phòng, nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,… Theo chế độtài chính doanh nghiệp hiện hành, một tài sản được coi là TSCĐ hữu hình nếu thoảmãn ba điều kiện sau:
- Là tư liệu lao động hữu hình, có kết cấu độc lập hoặc là 1 hệ thống bao gồmnhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện 1 hay một số chứcnăng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống sẽ không
Trang 14thể hoạt động được, nếu toả mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn dưới đây thì được coi làTSCĐ.
a Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sảnđó
b Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy
c Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
d Có giá trị từ 10.000.000đồng (mười triệu đồng) trở lên
Trong thực tế có những hệ thống được cấu thành bởi nhiều bộ phận tài sảnriêng lẻ có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệthống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính Nhưng do yêu cầu quản lý, sửdụng đòi hỏi phải theo dõi riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận đó vẫn đượccoi là một TSCĐ hữu hình độc lập Chẳng hạn như ghế ngồi, khung và động cơ…trong một máy bay
+ TSCĐ vô hình: Là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụthể, thể hiện một lượng giá trị lớn đã đầu tư có liên quan và phát huy tác dụng trongnhiều kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ như chi phí thành lập doanh nghiệp,chi phí mua bằng phát minh sáng chế… Theo chế độ tài chính doanh nghiệp hiệnhành, các khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra nếu thỏa mãn đồng thờihai điều kiện sau thì được coi là TSCĐ vô hình:
- Có thời gian sử dụng hay phát huy tác dụng tối thiểu là một năm
- Có giá trị tối thiểu là 10.000.000 đồng
Việc phân loại TSCĐ theo tiêu thức kể trên sẽ giúp doanh nghiệp thấy được
cơ cấu vốn đầu tư vào TSCĐ theo hình thái biểu hiện, từ đó có thể đưa ra các quyếtđịnh đầu tư, sử dụng TSCĐ hay điều chỉnh cơ cấu này sao cho phù hợp và có hiệuquả nhất
* Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng:
Theo tiêu thức này, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành ba loạisau:
+ TSCĐ sử dụng cho mục đích kinh doanh: Đây là các tài sản do doanhnghiệp sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau nhưng nhằm mục đích kinh doanh.Chẳng hạn như kho tàng, cửa hàng, nhà xưởng, máy móc thiết bị dùng cho các hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Trang 15+ TSCĐ sử dụng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng.Đây là những TSCĐ do doanh nghiệp quản lý và sử dụng cho hoạt động phúc lợi,
sự nghiệp, an ninh, quốc phòng trong doanh nghiệp Chẳng hạn như nhà ăn tập thể,nhà ở tập thể, câu lạc bộ, trạm y tế, phòng học,… được coi là những TSCĐ phúc lợi,
sự nghiệp
+ TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ: Là những tài sản không thuộc quyền sở hữucủa doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp có trách nhiệm bảo quản, giữ hộ cho Nhànước hay cho doanh nghiệp khác
Phân loại theo sử dụng sẽ giúp cho người quản lý thấy rõ kết cấu tài sản, nắmđược trình độ trang thiết bị kỹ thuật của doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi choviệc quản lý tài sản và tính khấu hap chính xác Tuy nhiên phương pháp phân loạinày chưa phản ánh được tình hình sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp Vì vậy, người
ta còn sử dụng phương pháp phân loại tiếp theo
* Phân loại TSCĐ căn cứ vào công dụng kinh tế
Toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp dược chia thành các loại sau:
+ Nhà cửa, vật kiến trúc: đây là các TSCĐ được hình thành qua quá trình thicông, xây dựng như nhà xưởng, văn phòng, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi,các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống…
+ Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các máy móc thiết bị dùng cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc thiết bị động lực, máy công tác,thiết bị chuyên dùng, dây truyền công nghệ…
+ Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: Là các loại phương tiện vận tảiđường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường hàng không và các thiết bị truyền dẫn như
hệ thống điện, hệ thống nước, đường khí đốt, băng tải…
+ Thiết bị dụng cụ quản lý: Là những thiết bị dụng cụ dùng trong công tácquản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, thiết bị điện tửphục vụ quản lý, thiết bị dụng cụ đo lường kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm, hútbụi…
+ Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và (hoặc) cho sản phẩm là các vườncây kinh doanh lâu năm như vườn chè, vườn cà phê, vườn cao su, vườn cây ăn quả,thảm cỏ, thảm cây xanh, súc vật làm việc và (hoặc) cho sản phẩm như đàn voi, đàn
bò, đàn trâu, đàn nhựa,…
Trang 16Phương pháp phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của từng loại TSCĐcủa doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể đưa ra các biệnpháp, quản lý khai thác sử dụng và trích khấu hao thích hợp.
* Phân loại tài sản theo tình hình sử dụng
Theo tiêu thức này, tổng thể TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành cácloại sau:
+ TSCĐ đang sử dụng tại doanh nghiệp: Đây là những TSCĐ của doanhnghiệp sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, phúc lợi, sự nghiệp, anninh, quốc phòng của doanh nghiệp
+ TSCĐ cho thuê
+ TSCĐ chưa cần dùng: Là những TSCĐ của doanh nghiệp cần thiết cho cáchoạt động của doanh nghiệp song hiện tại chưa được đưa ra sử dụng, đang trong quátrình dự trữ, cất trữ để sử dụng sau này
+ TSCĐ không cần dùng chờ nhượng bán, thanh lý: Là những TSCĐ khôngcần thiết hay không phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp hoặc đã hư hỏng cầnđược nhượng bán, thanh lý để giải phóng mặt bằng, thu hồi vốn đầu tư
Cách phân loại này cho thấy tình hình khai thác sử dụng TSCĐ của doanhnghiệp, từ đó có thể đề ra các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụngTSCĐ
* Phân loại TSCĐ căn cứ vào quyền sở hữu
Tổng thể TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành hai loại:
+ TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp: Là các loại TSCĐ được đầu
tư bằng nguồn vốn của doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền sở hữu và sử dụngchúng Các TSCĐ này được đăng ký đứng tên doanh nghiệp
+ TSCĐ không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp: là những TSCĐ củađơn vị khác nhưng doanh nghiệp được quyền quản lý, sử dụng theo những điềukiện ràng buộc nhất định Thuộc nhóm TSCĐ này bao gồm ba loại: TSCĐ nhận củađối tác liên doanh, TSCĐ thuê ngoài và TSCĐ nhận giữ hộ, quản lý hộ
TSCĐ nhận của đỗi tác liên doanh sẽ được doanh nghiệp quản lý và sử dụngtheo đúng hợp đồng liên doanh đã ký kết và khi kết thúc hợp đồng, việc xử lý tàisản này cũng sẽ được tiến hành theo hợp đồng hay theo thoả thuận giữa các bên
TSCĐ thuê ngoài được hình thành theo hai phương thức: thuê tài chính vàthuê hoạt động:
Trang 17Thuê tài chính là hình thức thuê tài sản khi hợp đồng thuê thoả mãn mộttrong bốn điều kiện sau:
- Khi kết thúc thời hạn thuê theo hợp đồng, tài sản thuê sẽ được chuyểnquyền sở hữu cho bên đi thuê hoặc bên đi thuê được tiếp tục thuê theo thoả thuậncủa hai bên
- Khi kết thúc thời hạn thuê, bên đi thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sảnvới giá danh nghĩa nhỏ hơn giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm mua lại
- Thời hạn thuê tối thiểu bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sảnthuê
- Giá trị hiện tại của tổng số tiền thuê một loại tài sản theo quy định tronghợp đồng ít nhất tương đương với giá trị của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm
tư, phương hướng mục tiêu sản xuất kinh doanh, trình độ trang bị kỹ thuật, quy môsản xuất
Việc phân loại và phân tích tình hình kết cấu của chúng là một căn cứ quantrọng để xem xét quyết định đầu tư cũng như việc giúp cho việc tính toán chính xáckhấu hao TSCĐ Một trong những nhiệm vụ của công tác quản lý vốn cố định ở mộtdoanh nghiệp
1.2.1.2 Vốn cố định của doanh nghiệp
a Khái niệm vốn cố định
Trong nền kinh tế thị trường việc mua sắm, xây dựng hay lắp đặt cácTSCĐ Các TSCĐ của Doanh nghiệp đều phải thanh toán, chi trả bằng tiền Số vốn
Trang 18đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các TSCĐ hữu hình và vô hìnhđược gọi là vốn cố định của Doanh nghiệp.
Vì là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các TSCĐ nênquy mô vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô TSCĐ, ảnh hưởng rất lớnđến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh củaDoanh nghiệp
Chính vì vậy quản trị vốn cố định là một nội dung quan trọng trongquản lý kinh doanh của Doanh nghiệp Điều đó không chỉ có chỗ ở vốn cố địnhthường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp mà cònviệc sử dụng vốn cố định thường gắn liền với hoạt động đầu tư dài hạn, thu hồi vốnchậm và dễ gặp rủi ro
Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm về vốn cố địnhnhư sau: “Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước
về TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần tưng phần trong nhiều chu kỳsản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng”
b Đặc điểm lưu chuyển của vốn cố định
Một là vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm.Điều này do đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuấtquyết định
Hai là vốn cố định được lưu chuyển dần dần từng phần trong các chu
kỳ sản xuất Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định đượcluân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấuhao), tương ứng với giá trị hao mon TSCĐ
Ba là sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòngluân chuyển Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn được luân chuyển vào giá trị sảnphẩm dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại dần giảmxuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng giá trị của nó được chuyển dich hếtvào giá trị sản phẩm sản xuất thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng luânchuyển
Những đặc điểm luân chuyển trên đây gắn liền với việc quản lý hìnhthái hiện vật của nó là các TSCĐ của DN
Qua các đặc điểm trên ta thấy rằng VCĐ không thể được thu hồi ngaymột lúc mà chỉ có thể thu hồi dần dần từng phần Muốn thu hồi VCĐ nhanh Doanh
Trang 19nghiệp phải thực hiện khấu hao nhanh để lượng vốn thu hồi sau mỗi chu kỳ sản xuấtlớn, giúp rút gắn thời gian thu hồi vốn.
c Vai trò của vốn cố định
Vốn cố định là một bộ phận đầu tư ứng trước vào hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp, là lương vốn tiền tẹ cần thiết không thể thiếu được đểhình thành cơ sở vật chất, kỹ thuật của bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham gia sảnxuất, kinh doanh
Quy mô của vốn cố định quyết định và chi phối đến quy mô của tàisản cố định, quyết định trình độ trang bị kỹ thuật và cơ sở vật chất cảu doanhnghiệp Trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất ở mức độ nào nói lên trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất ở mức tương ứng và là căn cứ phân biệt thời đại nàyvới thời đại khác Đúng như quan điểm của C.Mác Các thời đại kinh tế được phânbiệt với nhau bởi vì nó sản xuất ra cái gì mà là dùng cái gì để sản xuất
Trong lịch sử phát tiển của nhân loại, vai trò của vốn cố định được thừa nhận
và chú trọng thể hiện qua các cuộc đại cách mạng, công nghiệp đều tập trung vàogiải quyết các vấn đề cơ khí hóa, điện khí hóa, tự động hóa quá trình sản xuất, đổimới và hoàn thiện tài sản cố định Hơn nữa trình độ trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở sảnxuất của doanh nghiệp quyết định năng lực sản xuất, năng xuất lao động, chất lượngsản phẩm góp phần làm tăng lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của mộtdoanh nghiệp trên thị trường
Trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất là một trong những yếu tố quan trọngquyết định đến sự sống cũng như doanh nghiệp Việt Nam tham gia hội nhập kinh tếkhu vực và thế giới không bị thua thiệt Trong điều kiện khoa học công nghệ pháttriển như vũ bão vai trò của VCĐ trong doanh nghiệp rất quan trọng góp phầnchống tụt hậu về kinh tế
Từ những vấn đề phân tích trên ta thấy: Trong hoạt động sản xuất kinh doanhcủa từng doanh nghiệp nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung, vốn cố định quyếtđịnh quy mô của TSCĐ là cơ sở vật chất có vai trò quan trọng nhất
TSCĐ được cải tiến hoàn thiện đổi mới và sử dụng có hiệu quả sẽ là nhân tốquyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nềnkinh tế nói chung
1.2.2 Hiệu quả sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp
Trang 201.2.2.1 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong Doanh nghiệp
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay là rất cần thiết
Nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Điều này xuấtphát từ những lý do chủ yếu sau:
Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định là đảm bảo với số vốn hiện có thamgia vào sản xuất, thông qua sự tác động của các biện pháp tổ chức và quản lý thíchhợp, khai thác một cách triệt để khả năng vốn có của nó để nhanh chóng thu đượclợi nhuận Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định có ý nghĩa thúc đẩy vòng quaycủa vốn và đẩy nhanh nhịp độ đổi mới tài sản cố định theo kịp với trình độ pháttriển khoa học kỹ thuật, mở rộng sản xuất mà không cần phải bỏ thêm vốn đầu tưxây dựng mới tài sản cố định, vừa tiết kiệm được sản xuất, vừa làm hạ giá thành sảnphẩm, từ đó lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên
Xuất phát từ mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp:
Tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu cần phải đạt được của bất kỳ một doanhnghiệp nào khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận là kết quảtài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đểđánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động của doanh nghiệp vì doanh nghiệp cótồn tại và phát triển được hay không đều quyết là doanh nghiệp có tạo ra lợi nhuậnhay không Việc thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là một điều quan trọng đảm bảocho tình hình tài chính cuả doanh nghiệp được vững chắc Để đạt được điều này, cácdoanh nghiệp cần phải tăng cường công tác tổ chức quản lý sản xuất, tổ chức thựchiện việc quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn nói chung và vốn cố định nói riêng, từ
đó mới có thể đạt được lợi nhuận như mong đợi
Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn cố định trong hoạt động sản xuất kinhdoanh:
Vốn cố định thường chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn kinh doanh củadoanh nghiệp do đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định cũng làm cho hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp cũng tăng lên Đây chính là mục tiêu cầnđạt được của bất kỳ một doanh nghiệp nào
Trang 21Xuất phát từ yêu cầu hạch toán kinh doanh đầy đủ đối với các doanh nghiệptrong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay:
Nếu như nguyên tắc hạch toán kinh doanh được áp dụng trong cơ chế baocấp chỉ là một yếu tố mang tính hình thức thì nền kinh tế thị trường đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải tuân thủ theo đúng nguyên tắc này thì mới có thể đạt được mụctiêu kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận Yêu cầu của nguyên tắc này là kinh doanhphải lấy thu bù chi và có lợi nhuận Nếu doanh nghiệp không đạt được những yêucầu này thì doanh nghiệp đó sẽ bị phá sản cho dù là doanh nghiệp Nhà nước haydoanh nghiệp tư nhân
1.2.2.2 Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
a Hiệu quả sử dụng vốn cố định
Đối với các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng trong cơcấu vốn Trình độ quản lý vốn cố định ảnh hưởng rất lớn đến kết quản sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Do vậy, việc quản lý vốn cố định được coi là một trọngđiểm của công tác tài chính doanh nghiệp Vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý là làmthế nào để vốn cố định đạt hiệu quả cao nhất trong suốt quá trình tham gia vào sảnxuất và mang lại lợi nhuận tối đa
Hiệu quả sử dụng vốn cố định là mối quan hệ giữa kết quả đạt được trongquá trình đầu tư, khai thác sử dụng vốn cố định vào sản xuất và số vốn cố định đã
sử dụng để đạt được kết quả đó Nó thể hiện lượng giá trị sản phẩm, hàng hoá lao
vụ sản xuất ra trên 100 đồng vốn cố định tham gia vào sản xuất, hay mức vốn cốđịnh cần tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh để đặt một lượng giá trị sảnphẩm hàng hoá lao vụ dịch vụ
Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng vốn cố định phải được hiểu cảtrên hai khía cạnh:
+ Với số vốn hiện có, có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với chấtlượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp
+ Đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăngdoanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độtăng của vốn Để kiểm tra đánh giá tính hiệu quả vốn sử dụng vốn cố định của mộtdoanh nghiệp, người ta thường dùng một hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp các chỉ tiêuphân tích
b Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng vốn cố định
- Hệ số phục vụ vốn cố định
Trang 22Hệ số phục vụ
Doanh thu thực hiện trong kỳVCĐ bình quân trong kỳTrong đó:
Nếu số liệu vốn cố định được cung cấp vào cuối các quý:
VCĐ bình
quân trong
năm
=
VCĐ đầu quý 1/2 + VCĐ cuối quý I + VCĐ cuối quý II + VCĐ
cuối quý III + VCĐ cuối quý IV/2
4Nếu số liệu vốn cố định được cung cấp vào cuối các năm:
-Số khấu haolũy kế đầu kỳ(cuối kỳ)
+
Các khoản đầu tư dàihạn và chi phí XDCBđầu (cuối kỳ)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tham gia sẽ tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu thực hiện trong kỳ
- Hàm lượng VCĐ: Là đại lượng nghịch đảo của hệ phục vụ vốn cố định
HàmlượngVCĐ
=
VCĐ bình quân trong kỳDoanh thu thực hiện trong kỳ
- Ý nghĩa: Để tạo ra một đồng doanh thu trong kỳ thì doanh nghiệpphải sử dụng bao nhiêu đồng vốn cố định
- Hệ số sinh lời của vốn cố định (tỷ lệ lợi nhuận vốn cố định)
- Ý nghĩa: Trong kỳ một đồng vốn cố định tham gia sẽ tạo ra baonhiêu đồng lợi nhuận
- Hệ số phục vụ bộ phận vốn cố định đầu tư cho tài sản cố định
Trang 23- Hệ số sinh lợi của bộ phận vốn cố định đầu tư vào tài sản cố định :
Hệ số phục vụ của bộ phận
VCĐ đầu tư TSCĐ =
Lợi nhuận trước thuế (sau thuế) trongkỳ
VCĐ đầu tư TSCĐ bình quân trong kỳ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng vốn bỏ ra để đầu tư dàihạn tài sản cố định tham gia tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Hệ số thu nhập rên vốn đầu tư dài hạn
Hệ số thu nhập
trên vốn đầu tư dài hạn =
Thu nhập đầu tư dài hạnVốn đầu tư dài hạn bình quân
Ý nghĩa: Chỉ tiêu nàu cho biết trong một đồng vốn bỏ ra đầu tư dàihạn thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu được từ hoạt động đó
- Hệ số lợi nhuận của vốn đầu tư dài hạn
Hệ số thu nhập
của vốn đầu tư dài hạn =
Thu nhập đầu tư dài hạnVốn đầu tư dài hạn bình quân
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng vốnbỏ ra để đầu tưdàihạn thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu được từ hoạt động đó
Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong doanhnghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng tài sản cố định của doanhnghiệp nhằm đạt đựoc các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhấtđịnh và được biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả sản xuất kinh doanh đạt đựoctrong kỳ với chi phí đầu tư để có được tài sản cố định trong kỳ Các chỉ tiêu đolường hiệu quả sử dụng tài sản cố định bao gồm:
Tổng nguyên giá TSCĐ bình quân hiện có trong kỳ
Ý nghĩa: Trong một đồng nguyên giá tài sản cố định hiện có trongdoanh nghiệp thì bao nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định được sử dụng Do đóchỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ huy động các tài sản cố định vào sử dụng kinh doanh Tỷ
lệ này càng cao thì khả năng khai thác tài sản cố định vào sử dụng càng triệt để haydoanh nghiệp đầu tư mua sắm hợp lý
Trang 24- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hệ số sử dụng
Tổng công suất sử dụng thực tế bình quân trong kỳcủaTSCĐ
Tổng công suất thiết kế bình quân trong kỳ của TSCĐ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tận dụng công suất thiết kếcủa các tài sản cố định đang sử dụng
- Hệ số phục vụ tài sản cố định trong doanh nghiệp
- Hệ số lợi nhuận của tài sản cố định
- Hệ số sinh lời của chi phí sử dụng tài sản cố định
Hệ số sinh lợi của chi
phí sử dụng TSCĐ =
Lợi nhuận đạt đựoc trong kỳTổng chi phí sử dụng TSCĐ trong kỳTrong đó tổng chi phí sử dụng trong kỳ gồm:
Chi phí khấu hao tài sản cố địnhChi phí thuê tài sản cố định phát sinh trong kỳ
Ý nghĩa: Trong kỳ một đồng chi phí sử dụng tài sản cố định tham giatạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận doanh nghiệp
c Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp
Trong các doanh nghiệp thông thường vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn Quy
mô và trình độ trang bị máy móc thiết bị là một nhân tố quyết định khả năng tăng
Trang 25trưởng và cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy cần phải tổ chức tốt việc quản lý và
sử dụng vốn cố định để giúp doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh,tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, góp phần làm tăng lợi nhuận của doanhnghiệp Một số biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định củadoanh nghiệp có thể áp dụng như sau:
* Làm tốt công tác đầu tư xây dựng, mua sắm TSCĐ:
Hiệu quả sử dụng vốn cố định trước hết phụ thuộc vào chất lượng của côngtác đầu tư mua sắm, xây dựng TSCĐ
Trước khi đầu tư cần nghiên cứu kỹ lưỡng, kiểm tra về điều kiện, khả năngtiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp mình, điều kiện cung ứng vật tư, khả năng tậndụng thời gian làm việc và tận dụng công suất của TSCĐ Dựa trên cơ sở phân tích
đó đi đến quyết định sử dụng loại TSCĐ nào là hợp lý, sau đó tiến hành lựa chọncác đối tác đầu tư
Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định thì phải xác định được khâuchủ yếu để đầu tư, cơ cấu đầu tư và việc đầu tư đó phải tính toán được một cáchchính xác hiệu quả kinh tế mang lại Trong thực tế nếu khả năng tiêu thụ sản phẩmtrên thị trường là lớn thì việc đầu tư sẽ phải chú trọng đến các TSCĐ tham gia trựctiếp vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, có như vậy mới phát huy được hết hiệuquả của đồng vốn và hiệu quả mà TSCĐ mang lại
Đối với việc mua sắm, trang bị TSCĐ cần được lựa chọn phương án đầu tưthích hợp mang lại hiệu quả cao nhất, nghiên cứu thị trường cẩn thận, nắm bắt kịpthời tiến bộ khoa học kỹ thuật, điều tra, xem xét phân tích khả năng tiêu thụ của thịtrường, nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, điều kiện cung cấp vật tư, điều kiệnkhả năng tận dụng thời gian làm việc và công suất của TSCĐ
Chỉ tiến hành đầu tư, mua sắm những máy móc thiết bị thực sự cần thiết, phùhợp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, yêu cầu và khả năng khai thác củadoanh nghiệp, tránh dự trữ quá mức thiết bị gây ứ đọng vốn Chủ động đầu tư theohướng tăng tỷ trọng của những TSCĐ đóng vai trò chủ đạo trong sản xuất kinhdoanh, giảm tỷ trọng các loại TSCĐ không phát huy hiệu quả trong sản xuất kinhdoanh xuống
Cùng với việc chủ động mua sắm TSCĐ, để tăng năng lực sản xuất doanhnghiệp cần phải tổ chức sắp xếp hợp lý cơ cấu TSCĐ theo yêu cầu sản xuất chínhtrên cơ sở thực trạng TSCĐ hiện có, vì năng lực sản xuất của doanh nghiệp là khả
Trang 26năng sản xuất sản phẩm cao nhất trong năm trong điều kiện sử dụng các mức laođộng, công nghệ tiên tiến và tổ chức quản lý sản xuất phù hợp.
Trên cơ sở việc xác định tỷ lệ hợp lý giữa các máy móc thiết bị, giữa cáckhâu của quy trình công nghệ và tổng số TSCĐ hiện có, lập kế hoạch điều chỉnh cơcấu và kế hoạch đầu tư theo hướng đồng bộ hoá thiết bị sẵn có cải tạo thiết bị cũ,thanh lý và nhượng bán những TSCĐ không cần dùng, có kế hoạch đầu tư, muasắm mới, thay thế từng phần hay toàn bộ TSCĐ
* Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả TSCĐ vào trong quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định cần phải tăng cường công tácquản lý chặt chẽ TSCĐ từ khâu mua sắm đến khâu sử dụng
Thực hiện việc phân loại cũng như phân cấp quản lý TSCĐ, tiến hành giaoTSCĐ cho từng bộ phận, từng cá nhân một cách rõ ràng, thực hiện những chế độkhuyến khích vật chất, chính sách thưởng phạt hợp lý nhằm nâng cao trách nhiệmcủa người lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh Khai thác triệt để công suấtthiết kế của máy móc thiết bị nhằm từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cốđịnh cả theo chiều sâu lẫn chiều rộng, tiết kiệm tới mức tối đa vốn cố định, tăngnhanh vòng quay của vốn
Tăng cường cân đối về công suất, sản xuất, kiểm tra giám sát việc thực hiệnnghiêm chỉnh quy trình công nghệ để tăng thời gian làm việc có ích của TSCĐ hoặctăng số lượng và tỷ trọng TSCĐ đang hoạt động trong tổng số TSCĐ hiện có
Nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ theo chiều sâu được tiến hành chủ yếubằng việc hoàn chỉnh kỹ thuật sản xuất và hiện đại hoá TSCĐ Đối với nền kinh tếnước ta, việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ theo chiều sâu là một vấn đề cầnthiết và có ý nghĩa, cụ thể như: tăng công suất máy móc thiết bị, nâng cao thông số
kỹ thuật cơ bản của máy móc thiết bị như tốc độ, cơ giới hoá, tự động hoá,… hoànthiện quy trình công nghệ, tổ chức sản xuất dây chuyền trên cơ sở tập trung đối ưu,sản xuất những sản phẩm đồng loạt, chọn nguyên vật liệu phù hợp với yêu cầu củaquy trình công nghệ, có kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa, đổi mới TSCĐ, từng bướccải thiện và nâng cao mức sống cho người lao động trong sản xuất, nâng cao hiệuquả sử dụng vốn cố định và TSCĐ trong doanh nghiệp
* Tổ chức và thực hiện tốt việc khấu hao và sử dụng khấu hao:
Trích khấu hao cơ bản là một hình thức để thu hồi vốn cố định, phục vụ choviệc tái sản xuất TSCĐ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất nâng cao hiệu quả
Trang 27sử dụng đồng vốn bỏ ra Cùng với sự phát triển không ngừng của các tiến bộ khoahọc kỹ thuật, thì TSCĐ càng phải chịu ảnh hưởng này càng lớn của hao mòn vôhình Do đó, việc làm thế nào để thực hiện khấu hao TSCĐ một cách hợp lý, tínhđúng và tính đủ hao mòn hữu hình lẫn hao mòn vô hình để đảm bảo thu hồi đầy đủ
và kịp thời vốn cố định, khắc phục được tình trạng phải thanh lý trước thời hạn sửdụng làm lãng phí vốn và tránh được hao mòn vô hình là một vấn đề mà các doanhnghiệp luôn quan tâm
Quyết định 166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 đã giải quyết được nhữngvấn đề cơ bản giúp cho các doanh nghiệp linh hoạt và tự tin hơn trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của mình Theo quyết định này, các doanh nghiệp được sửdụng hoàn toàn số khấu hao luỹ kế của TSCĐ thuộc vốn đầu tư ngân sách Nhà nước
để tái sản xuất đổi mới TSCĐ, song khi chưa có nhu cầu tái tạo lại TSCĐ, doanhnghiệp có quyền sử dụng linh hoạt số khấu hao luỹ kế phục vụ yêu cầu kinh doanhcủa mình, thời gian khấu hao doanh nghiệp được lựa chọn trong khung quy định đểtránh hao mòn vô hình Do đó, các doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt công táckhấu hao TSCĐ, tính khấu hao một cách chính xác và có khoa học để đảm bảo đúngmục đích là tái tạo TSCĐ
* Tổ chức hạch toán nội bộ doanh nghiệp:
Hiệu quả sử dụng vốn cố định được tính toán từ khâu lập kế hoạch sử dụngvốn đến quá trình tổ chức thực hiện Trong quá trình sản xuất, việc sử dụng vốn cốđịnh luôn gắn với những mục đích cụ thể do đó việc hạch toán kinh tế nội bộ là mộtbiện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
Việc hạch toán kinh tế nội bộ có thể được thực hiện từ phân xưởng, tổ, độisản xuất bằng cách giao một số quyền hạn nhất định trong công tác quản lý và sửdụng nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của người laođộng trong quá trình sản xuất
* Đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước và quản lý vốn cố định trongcác doanh nghiệp
Cùng với sự phát triển và thay đổi không ngừng của nền kinh tế, công tácquản lý và sử dụng vốn cố định và TSCĐ cũng luôn có sự biến động Do đó, các cơquan chức năng của Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền luôn phải bám sát vàtheo dõi chặt chẽ sự thay đổi này từ đó kịp thời đưa ra những chính sách thích hợpvới những điều kiện thực tế Cụ thể quyết định 166/199QĐ-BTC ngày 30/12/1999
đã phát huy được những ưu điểm của mình giúp cho các doanh nghiệp tự do và chủ
Trang 28động hơn trong công việc kinh doanh, thúc đẩy việc sử dụng có hiệu quả TSCĐ vàvốn cố định.
Đối với chính sách về nhập khẩu máy móc thiết bị, Nhà nước cần phải cónhững chính sách hợp lý về thuế và quy định những mặt hàng nhập khẩu phù hợpvới tình hình phát triển khoa học kỹ thuật hiện nay Hoàn thiện và phát huy hơn nữavai trò của những uỷ ban tư vấn về khoa học công nghệ, máy móc thiết bị giúp tưvấn cho các doanh nghiệp về vấn đề nhập khẩu máy móc thiết bị
Hoàn thiện hơn nữa việc giao vốn, giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệpđồng thời đề ra các biện pháp cụ thể để thực hiện nghiêm chỉnh việc nâng cao hiệuquả sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp
1.3 Ứng dụng VCĐ trong thực tế
1.3.1 Văn bản pháp lý liên quan đến VCĐ (TSCĐ)
Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 Hướng dẫn chế độquản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định
1.3.2 Ứng dụng thực tế hiện nay tại các Doanh nghiệp
Hiện nay, nhiều DN phải đối mặt với rủi ro ngày càng lớn hơn khicông bố những báo cáo tài chính của họ Vì thế, thuê chuyên gia thẩm định bênngoài dường như đang trở thành xu thế mới để tránh rủi ro trong việc đánh giá tìnhhình tài chính của công ty Hiện nay, công việc xây dựng và thực hiện các kế hoạchtài chính DN ngày càng đòi hỏi phải có những đánh giá chủ quan một cách chânthực
Giám đốc cũng như nhà điều hành của các DN đang phải đối mặt vớinhững rủi ro khi chính DN của họ đưa ra hàng loạt bản báo cáo tài chính thiếu chínhxác, kém minh bạch hoặc sai lệch hẳn thông tin Hơn nữa, những người chịu tráchnhiệm kiểm tra, rà soát các báo cáo này không ai khác là các nhân viên kiểm toán và
kế toán, thì chính họ lại bị giới hạn bởi khả năng để giảm thiểu rủi ro nêu trên Kếtquả trông thấy của việc này là sự không hài lòng của các cổ đông và ban giám đốc,
sự sụt giảm đột ngột của giá chứng khoán, và việc từ chức của hàng loạt những nhàđiều hành cấp cao
Để giảm thiểu rủi ro đã đề cập đến, các công ty có thể tận dụng nguồnnhân lực là các chuyên viên thẩm định giá, những người thực sự có chuyên môntrong việc đánh giá, thẩm định nguồn gốc cũng như giá trị của tài sản doanh nghiệptrên thị trường Những chuyên gia này dù là trong hay ngoài DN thì việc sử dụng họ