1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN TOÁN 6: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢI TOÁN VỀ PHÂN SỐ

18 194 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 396 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật. Theo hướng đó, ngành giáo dục phải thay đổi tầm nhìn và phương thức hoạt động là yêu cầu tất yếu vì sản phẩm của giáo dục là nhân cách của con người. Nó quyết định vận mệnh tương lai của một đất nước, điều này thể hiện rõ: “Coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu cùng với khoa học công nghệ là yếu tố quyết định góp phần phát triển khoa học và xã hội”. Do đó cần phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo của Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Trong giáo dục, môn toán có một vị trí quan trọng. Trong nhà trường các tri thức toán giúp học sinh học tốt các môn học khác, trong đời sống hàng ngày thì có được các kĩ năng tính toán, vẽ hình, đọc, vẽ biểu đồ, đo đạc, ước lượng,... từ đó giúp con người có điều kiện thuận lợi để tiến hành hoạt động lao động trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Thực tế, đa số học sinh đều rất ngại học toán so với các môn học khác, đặc biệt là học sinh đầu cấp THCS. Do lần đầu tiên tiếp xúc với môi trường mới, khi học đa số các em vận dụng kiến thức tư duy còn nhiều hạn chế, khả năng suy luận chưa nhiều, khả năng phân tích chưa cao do đó việc giải toán của các em gặp nhiều khó khăn. Mặc khác trong quá trình giảng dạy do năng lực, trình độ giáo viên mới chỉ dạy cho học sinh ở mức độ truyền thụ trên tinh thần của sách giáo khoa mà chưa có phân loại dạng toán, chưa khái quát được cách giải mỗi dạng toán cho học sinh. Do đó muốn bồi dưỡng năng lực giải toán cho học sinh phải diễn đạt mối quan hệ những dạng toán này đến dạng toán khác. Vì vậy nhiệm vụ của người thầy giáo không phải là giải bài tập cho học sinh mà vấn đề đặt ra là người thầy là người định hướng, hướng dẫn cho học sinh cách tiến hành giải bài toán, với những lí do đó tôi mạnh dạng chọn đề tài: “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 6 giải các bài toán về phân số ”

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật Theo hướng đó, ngành giáo dục phải thay đổi tầm nhìn và phương thức hoạt động là yêu cầu tất yếu vì sản phẩm của giáo dục là nhân cách của con người Nó quyết định vận mệnh tương lai của một đất nước, điều này thể hiện rõ: “Coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu cùng với khoa học công nghệ là yếu tố quyết định góp phần phát triển khoa học và xã hội” Do đó cần phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo của Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế

Trong giáo dục, môn toán có một vị trí quan trọng Trong nhà trường các tri thức toán giúp học sinh học tốt các môn học khác, trong đời sống hàng ngày thì có được các kĩ năng tính toán, vẽ hình, đọc, vẽ biểu đồ, đo đạc, ước lượng, từ đó giúp con người có điều kiện thuận lợi để tiến hành hoạt động lao động trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

Thực tế, đa số học sinh đều rất ngại học toán so với các môn học khác, đặc biệt là học sinh đầu cấp THCS Do lần đầu tiên tiếp xúc với môi trường mới, khi học đa số các em vận dụng kiến thức tư duy còn nhiều hạn chế, khả năng suy luận chưa nhiều, khả năng phân tích chưa cao do đó việc giải toán của các em gặp nhiều khó khăn

Mặc khác trong quá trình giảng dạy do năng lực, trình độ giáo viên mới chỉ dạy cho học sinh ở mức độ truyền thụ trên tinh thần của sách giáo khoa mà chưa có phân loại dạng toán, chưa khái quát được cách giải mỗi dạng toán cho học sinh Do

đó muốn bồi dưỡng năng lực giải toán cho học sinh phải diễn đạt mối quan hệ những dạng toán này đến dạng toán khác Vì vậy nhiệm vụ của người thầy giáo không phải là giải bài tập cho học sinh mà vấn đề đặt ra là người thầy là người định hướng, hướng dẫn cho học sinh cách tiến hành giải bài toán, với những lí do đó tôi

mạnh dạng chọn đề tài: “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 6 giải các bài toán về phân số ”

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu nhằm đề ra các biện pháp sư phạm giúp cho học sinh có năng lực giải toán chương III: Phân số trong chương trình số học 6, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán 6 nói riêng và Toán THCS nói chung

III PHƯƠNG PHÁP, PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp

Phương pháp nghiên cứu lí luận: đọc tài liệu sách báo, tạp chí, Internet có

nội dung liên quan đến bồi dưỡng năng lực giải Toán

Trang 2

Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích các số liệu từ tài liệu để sử dụng

trong đề tài Sau đó tổng hợp các số liệu

Phương pháp điều tra, quan sát: Tìm hiểu thực trạng về năng lực giải Toán

của học sinh lớp 6

2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Học sinh lớp 6A năm học 2013-2014 và lớp 6A năm học 2014-2015 ở trường THCS Nga An

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I- CƠ SỞ LÝ LUẬN

Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh đã dược đặt ra từ những năm đầu của thập kỉ 60 của thế kỉ XX Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới về chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học

Luật giáo dục công bố năm 2005, Điều 82.2 có ghi “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Vì vậy, như thế nào để chuyển tải tri thức đến học sinh tiếp nhận một cách chủ động, câu hỏi đặt ra cho chúng ta là dạy và học như thế nào? Nội dung của câu hỏi này chính là phương pháp hoạt động của thầy giáo và học sinh, để thực hiện được nhiệm vụ này người giáo viên phải xác định được nhiệm vụ dạy học Dó đó,

để có thể vận dụng tốt dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong giờ học môn toán 6 ở trường THCS Nga An, đòi hỏi giáo viên phải phối hợp chặt chẽ nhiều hoạt động dạy học, sử dụng phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực theo đặc trưng của môn học

Học sinh lớp 6 là đối tượng mới chuyển từ cấp Tiểu học lên Do đó việc lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng cần thiết đối với những học sinh này, tất yếu đòi hỏi tốn nhiều công sức và thời gian hơn những học sinh khác Vì thế người thầy phải nắm vững những đặc điểm tâm lý của học sinh để từ đó đề ra các giải pháp phù hợp nhằm khác phục tình trạng thụ động trong học toán của học sinh

II- THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

1 Thực trạng

Về phía GV

Trong quá trình giảng dạy ở trường THCS hiện nay còn một vài giáo viên không xem trọng việc dạy học theo đối tượng học sinh, trong quá trình giảng dạy chỉ hướng dẫn một cách sơ sài, đặt câu hỏi chưa rõ ràng hoặc chưa sát với yêu cầu bài toán, chưa đưa ra được các bài toán tổng hợp ở cuối chương làm cho học sinh không có thời gian học bài và làm bài tập ở nhà và tạo áp lực cho học sinh gặp

Trang 3

nhiều khó khăn…Bên cạnh đó một số giáo viên chưa chú trọng nhiều đến năng lực giải toán cho học sinh tìm nhiều cách giải, sáng tạo ra bài toán mới

Về phía HS

Khả năng tính toán của các em chưa linh hoạt, chưa vận dụng hợp lí các phương pháp giải, hợp logic, khả năng phân tích, dự đoán kết quả của một số em còn hạn chế, chưa biết khai thác bài toán

Học sinh không nắm vững được những kiến thức đã học, một số học sinh không có khả năng phân tích một bài toán từ những gì đề bài yêu cầu sau đó tổng hợp lại, không chuyển đổi được từ ngôn ngữ bình thường sang ngôn ngữ số học hoặc không tìm ra phương pháp chung để giải dạng toán về phân số, từ đó cần có khả năng so sánh các cách giải để trình bày lời giải cho hợp lí Nhiều học sinh một bài giải không xác định được đáp án đúng và sai Vận dụng các cách giải đó để có thể tạo ra một bài toán mới tổng quát hơn

2 Kết quả của thực trạng

Trong thực tế giảng dạy toán ở trường THCS Nga An, học sinh giải bài tập phần phân số còn nhiều khó khăn Nhiều bài các em không định hướng được cách làm, kỹ năng vận dụng yếu

Số lượng học sinh biết biết vận dụng kiến thức để giải toán còn thấp Kết quả thống kê bài kiểm tra sau khi dạy chương phân số năm học 2013-2014 như sau:

III CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1 Củng cố kiến thức cơ bản về phân số thông qua các bài tập

Việc củng cố dưỡng kiến thức cơ bản là một công việc cực kỳ quan trọng vì kiến thức cơ bản là nền tảng quyết định đến khả năng học tập của các em, đặc biệt môn Toán càng quan trọng hơn vì lượng kiến thức của bộ môn Toán có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau Do đó trong quá trình dạy học giáo viên hệ thống lại nội dung kiến thức, giúp HS nắm vững các kiến thức cơ bản về phân số từ đó có cơ sở để giải các bài toán có liên quan

Các ví dụ minh họa

Ví dụ 1 ( BT 56-SBT toán 6 tập 2-trang 17 )

Tính: a) 4: 1 7.

5 3 5

A   

  b) B4 15 2   13 133  8 

Gợi ý câu a

GV:Yêu cầu học sinh nêu thứ tự thực hiện phép toán

Trang 4

HS: Thực hiện trong ngoặc trước.

GV:Trong dấu ngoặc là phép toán gì ? Cách thực hiện của chúng ra sao ?

HS: trả lời

5 3 5 5 15

A    

GV: Trong quá trình thực hiện các phép tính ta cũng cần chú ý đến việc rút gọn để giúp cho bài toán trở nên dễ tính hơn

GV: Để thực hiện phép chia hai phân số ta làm như thế nào ?

HS: trả lời

C      

Gợi ý câu b.

GV: Yêu cầu học sinh nêu thứ tự thực hiện phép toán ?

HS: Thực hiện trong ngoặc trước

GV: Trong dấu ngoặc gồm những phép toán nào ?

HS: phép cộng và phép trừ phân số

GV: Để cộng phân số không cùng mẫu ta làm như thế nào ?

HS: Ta quy đồng cho cùng một mẫu sau đó cộng các tử với nhau và giữ nguyên mẫu

Từ đó giáo viên cho học sinh trình bầy cách giải

Giải:

5 2 13 13

B      

   =13 5. 1

10 13 2



Qua bài toán trên nhằm rèn khả năng tính toán cho HS, giúp cho các nắm vững thứ tự thực hiện các phép tính trong toán đồng thời cũng rèn luyện khả năng

tư duy cho các em

Trong quá trình giải bài toán GV cần đặt ra các câu hỏi có liên quan đến kiến thức trọng tâm của dạng toán để áp dụng giải bài tập Các bài toán trên chúng ta đã

sử dụng các kiến thức nào để giải ? Để nhằm giúp khắc sâu các kiến thức

Ví dụ 2: Quãng đường từ nhà đến trường dài 1200m An đi xe đạp được 3

5

quãng đường thì bị hỏng xe An đành phải gửi xe và đi bộ đến trường Tính quãng đường An đi xe đạp và đi bộ

Gợi ý bài toán

GV: Đây là bài toán liên quan đến kiến thức nào ?

HS: Dạng toán tìm giá trị phân số của một số cho trước

GV: Xác định đâu là b và đâu là m

n ? HS: b là quãng đường từ nhà đến trường dài 1200m

m

n là phân số 3

5 là quãng đường An đi xe đạp đến trường

Trang 5

GV: Quãng đường An đi bộ chiếm bao nhiêu phần quãng đường từ nhà đến trường ?

HS: Phần quãng đường An đi bộ đến trường là 2

5

Giải

Quãng đường An đi xe đạp là 1200.3 720 ( ).

Quãng đường An đi bộ là 1200.2 480 ( ).

Qua bài toán rèn luyện cho HS khả năng phân tích đúng bài toán và biết cách giải đúng bài toán, cho HS thấy được mối quan hệ giữa toán học và thực tế Do đó trong quá trình dạy học GV cần tạo được sự tò mò, hứng thú và muốn khám phá sự hiểu biết của mình để nhằm làm tăng khả năng học tập cho các em

2 Hướng dẫn học sinh tìm ra đường lối giải bài toán

Công việc định hướng tìm đường lối giải bài toán là một vấn đề khó khăn cho những học sinh yếu, kém và kể cả những học sinh khá, giỏi Để giải quyết tốt bài toán thì cần phải có định hướng giải đúng Do đó việc định hướng giải bài toán

là một vấn đề rất cần thiết và rất quan trọng

Khi giải bài toán thì chúng ta cần phải biết đường lối giải nhưng không phải bài toán nào cũng dễ tìm thấy đường lối giải Do đó việc tìm ra đường lối giải cũng

là một vấn đề nan giải nó đòi cả một quá trình rèn luyện lâu dài Ngoài việc nắm vững các kiến thức cơ bản thì việc thực hành cũng rất quan trọng Nhờ quá trình thực hành đó giúp cho HS hình thành nên những kỹ năng, kỹ xảo và định hướng được đường lối giải bài toán Do đó nó đòi hỏi người dạy, người học phải có tính nghiêm túc, cẩn thận và kiên nhẫn cao

Việc xác định đường lối giải chính xác sẽ giúp cho HS giải quyết các bài toán một cách nhanh chóng, dễ hiểu, ngắn gọn và tránh mất được thời gian Chính

vì vậy, đòi hỏi mỗi GV cần phải rèn luyện cho HS khả năng định hướng đường lối giải bài toán là điều không thể thiếu trong quá trình dạy học toán

Các ví dụ minh họa

Ví dụ 1 : Tính: 5 18 0,75

24 27 

Định hướng giải bài toán

GV: Để thực hiện được phép tính trên, trước tiên chúng ta cần làm gì ?

HS: Đổi số thập phân ra thành phân số 5 18 75

24 27 100  GV: Các phân số đó đã được tối giản chưa ?

HS: Rút gọn phân số 5 2 3

24 3 4 

GV: Để thực hiện phép cộng phân số không cùng mẫu ta làm như thế nào ?

HS: Quy đồng các phân số cùng mẫu, sau đó lấy tử cộng tử và giữ nguyên mẫu

Trang 6

5 18

0,75

24 27  = 5 18 75

24 27 100  = 5 2 3

24 3 4  = 5 16 18 39 13

24 24 24  248

Qua bài toán này nhằm giúp cho HS nắm vững các kiến thức và làm quen dần các bước phân tích, lập luận bài toán cho HS

Ví dụ 2 ( BT 110-SGK Toán 6 tr 49 )

Tính nhanh: 5 2 5 9 15

7 11 7 11 7

A

Định hướng giải bài toán

GV: Hãy quan sát và nhận xét ở 3 số hạng của biểu thức ?

HS: Số hạng thứ nhất và số hạng thứ hai có chung phân số là 5

7

GV: Để tính nhanh giá trị của biểu thức trên ta cần vận dụng tính chất nào để giải ? HS: Áp dụng tính chất phân phối của phép nhân đối với phép cộng để giải

Giải

A

Qua bài toán này rèn luyện khả năng quan sát và vận dụng các kiến thức đã học để giải bài toán

Ví dụ 3 ( Bt 73 SBT Toán 6 tập 2 tr 14 )

Cho 1 1 1 1

11 12 13 20

S      , Hãy so sánh S với 1

2

Định hướng giải bài toán

Đối với những bài toán như thế này thì chúng ta không thể tiến hành quy đồng mẫu để tính tổng được vì làm như vậy chỉ làm mất thời gian của ta Khi chúng ta gặp những bài toán như thế này thì cần phải tìm ra quy luật của nó

GV: Tổng S có bao nhiêu số hạng ?

HS: Tổng S có 20 số hạng

GV: hãy so sánh từng số hạng của tổng với 1

20

11 20 12 ; 20 13;  20 20 20

GV: Từ đó ta có cách so sánh tổng S như thế nào?

Giải

11 12 13 20

S      > 1 1 1 1

20 20 20   20

S >10 1

20HayS 2

Bài toán này nhằm tăng khả năng tư duy và lập luận cho HS một cách chặt chẽ Tìm ra được cahs giải hợp lý và nhanh gọn hơn

Tóm lại: Công việc định hướng giải bài toán cho HS là một công việc quan

trọng đầu tiên của một bài giải, nó đòi hỏi phải định hướng đúng nên GV cần rèn

Trang 7

luyện thường xuyên cho HS nhằm làm tăng khả năng suy luận, lập luận một cách logic, giải quyết bài toán một cách nhanh chóng và tránh được mất thời gian khi giải bài toán

3 Phân loại bài toán sao cho phù hợp với các đối tượng học sinh

Bồi dưỡng năng lực phân loại bài toán cũng được coi là một bước quan trọng

để bồi dưỡng cho từng đối tượng HS một cách hợp lí nhất Khi chúng ta làm tốt công việc này sẽ giúp nhiều cho việc học tập của HS, nó cũng giúp HS nắm vững các kiến thức đồng thời tăng khả năng giải toán cho các em và gây được hứng thú nhu cầu ham học toán ở tất cả các đối tượng HS

Việc phân phân loại bài toán cần căn cứ vào mức độ của bài toán và khả năng học tập của HS Phân loại bài toán nhằm giúp cho HS nắm vững các kiến thức

đã học Qua đó cũng đánh giá được mức độ học tập của các em đồng thời cũng tăng khả năng học toán, giải toán cho các em Từ đó GV có thể xây dựng kế hoạch dạy học một cách hợp lí nhằm đem lại hiệu quả học tập cho HS một cách tốt nhất

Các ví dụ minh họa

Học sinh yếu

Ví dụ 1 ( Bài 42 SGK Toán 6 tập 2 tr 26 )

Cộng các phân số sau: a) 7 8

25 25

5 18

Giải

Do đối tượng là HS yếu nên khi giải bài toán cần đặt nhiều câu hỏi gợi mở ở mức độ dễ và sát với yêu cầu câu hỏi

GV: Em có nhận xét gì về mẫu của 2 phân số ( câu a )

HS: mẫu là hai số nguyên đối nhau

GV: Vậy để thực hiện phép cộng 2 phân số đó ta làm như thế nào ?

HS: Đưa về hai phân số có cùng mẫu số dương, sau đó áp dụng quy tắc cộng 2 phân số cùng mẫu

25 25 25 25 25 5

Riêng câu b, GV có thể cho HS nhắc lại quy tắc cộng 2 phân số không cùng mẫu trước khi thực hiện

HS: nhắc lại quy tắc

GV có thể đặt thêm nhiều câu hỏi gợi ý (? Phân số thứ hai của tổng đã được rút gọn chưa, muốn quy đồng trước hết ta phải làm gì )

b) 4 4 4 2 36 10 26

Qua những bài toán như thế này nhằm giúp cho HS nắm lại các kiến cơ bản đặt biệt là những HS yếu kém nên GV cần thường xuyên đặt nhiều câu hỏi gợi ý, từ

đó HS mới có thể giải được những bài toán cao hơn

Trang 8

Học sinh trung bình

Ví dụ 2 ( Bài 45 SGK Toán 6 tập 2 tr 26 )

Tìm x biết

a/ 1 3

2 4

5 6 30

 

Gợi ý

GV: Để tìm giá trị của x ta làm như thế nào ?

HS: Chỉ cần tính tổng của 1 3

2 4

 GV: Để tính tổng trên ta làm như thế nào ?

HS: Quy đồng cùng mẫu, sau đó lấy tử cộng tử và giữ nguyên mẫu

Giải

)

1 4

x

Đối với HS trung bình đặt các câu hỏi dễ hiểu, gợi ý các chi tiết rõ ràng để các em dễ nắm được cách giải nội dung bài tập một cách hợp lí hơn Câu b tương tự như câu a

)

6

5 30

.5

b

x

Qua bài toán này nhằm giúp cho HS vận dụng được các kiến thức cộng 2 phân số và tùy thuộc vào đối tượng giáo viên có thể đặt câu hỏi gợi ý thêm cho HS

Học sinh khá, giỏi

Ví dụ 3 ( Bài 70 SBT toán 6 tập 2 Tr 14 )

Ba người cùng làm chung một công việc Nếu làm riêng người thứ nhất phải mất 4 giờ, người thứ hai phải mất 3 giờ, người thứ ba phải mất 6 giờ Hỏi nếu làm chung thì mỗi giờ cả ba người làm được bao nhiêu phần công việc

Phân tích bài toán

GV: Người thứ nhất phải mất 4 giờ để làm xong một công việc Vậy trong 1 giờ người thứ nhất làm được bao nhiêu phần của công việc ?

HS: Người thứ nhất làm được 1

4 công việc

GV: Người thứ hai phải mất 3 giờ để làm xong một công việc Vậy trong 1 giờ người thứ hai làm được bao nhiêu phần của công việc ?

HS: Người thứ hai làm được 1 công việc

Trang 9

GV: Người thứ ba phải mất 6 giờ để làm xong một công việc Vậy trong 1 giờ người thứ ba làm được bao nhiêu phần của công việc ?

HS: Người thứ ba làm được 1

6 công việc

Đối với HS khá giỏi chúng ta sẽ hướng dẫn qua một cách sơ xài để cho HS

tự độc lập suy nghĩ cách giải nào cho hợp lí nhất

Giải

Trong 1 giờ người thứ nhất làm được 1

4 công việc

Trong 1 giờ người thứ hai làm được 1

3 công việc

Trong 1 giờ người thứ ba làm được 1

6 công việc

Vậy trong 1 giờ cả ba người làm được1 1 1 3 4 2 3

 

    (công việc ) Đây là một bài toán rất gần với thực tế của cuộc sống nên học sinh rất tòi mò

về các dạng bài toán như vậy vì qua những bài toán vậy làm cho học thấy mối quan

hệ của toán học với cuộc sống thực tế, đồng thời thấy được lợi ít của học toán mang lại

Học sinh khá, giỏi

Ví dụ 4 ( Bài tập 176 Ôn tập Toán 6 tr 93 )

Có hai xe ô tô: Xe thứ nhất chạy từ A đến B hết 3 giờ, xe thứ hai chạy từ B đến A hết 2 giờ Xe thứ hai khởi hành sau xe thứ nhất 1 giờ Hỏi sau khi xe thứ hai chạy được 1 giờ thì hai xe đã gặp nhau chưa ?

Phân tích bài toán

Ô tô B

Ô tô A

B A

GV: Để biết hai xe có gặp nhau hay không ta làm như thế nào ?

HS: Tìm tổng phần quãng đường của hai xe đi được Nếu tổng quãng đường của hai xe lớn hơn hoặc bằng 1 thì hai xe đó gặp nhau

GV: Theo đề bài thì Ô tô A đi hết mấy giờ ?

HS: Ô tô đi hết 2 giờ

GV: Ô tô A đi được bao nhiêu phần của quãng đường AB ?

HS: Ô tô đi được 2

3 quãng đường AB

GV: Theo đề bài thì Ô tô B đi hết mấy giờ ?

HS: Ô tô A đi hết 1 giờ

GV: Ô tô B đi được bao nhiêu phần của quãng đường AB ?

Trang 10

HS: Ô tô đi được 1

2 quãng đường AB

Giải

Ta có: Ô tô A đi trong 2 giờ được 2

3 quãng đường AB

Ô tô B đi trong 1 giờ được 1

2 quãng đường AB

Tổng quãng đường cả hai xe chạy được là:

2

3 + 1

2=4 3 7 1

6 6  6 ( quãng đường AB )

Vậy với thời gian trên thì hai xe đã gặp nhau

Đây là một trong những bài toán mà học thường rất ngại trong giải toán vì đa

số các em còn nhỏ nên khả năng phân tích bài toán chưa cao Do đó trong quá trình giải toán GV nên hướng dẫn cho HS tập quen dần cách phân tích những dạng toán này Nhằm làm tăng dần khả năng phân tích cho HS và đồng thời cũng tăng khả năng giải toán cho HS

4 Hướng dẫn học sinh biết cách phân tích, tổng hợp và so sánh bài toán

Nói đến năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh thì chúng ta cũng đã biết gần như mọi ngành nghề, mọi cấp học đều sử dụng đến nó Đặt biệt với sự thay đổi phương pháp dạy học hiện nay thì năng lực này càng được chú trọng Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh này không thể thiếu được trong toán học vì nó giúp cho học sinh tăng khả năng suy luận, sáng tạo trong giải toán và tự chiếm lĩnh tri thức Qua đó cũng giúp cho HS hiểu rõ, hiểu sâu, hiểu rộng về vấn đề toán học

Muốn rèn luyện cho HS khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh tốt các bài toán chúng ta cần:

* Cần nắm vững các kiến thức cơ bản

* Nắm kỹ nội dung của bài toán

* Tổng hợp các dữ kiện để tìm ra lời giải

Nhằm giúp HS từng bước tăng khả năng tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và sáng tạo trong giải toán

Các ví dụ minh họa

Ví dụ 1 ( Ví dụ 71 Toán bồi dưỡng HS lớp 6 tr 65 )

Chuột nặng hơn voi !

Một con chuột nặng 30 gam còn một con voi nặng 5 tấn Tỷ số giữa khối lượng của chuột và khối lượng của voi là 30 6

5  , nghĩa là một con chuột nặng bằng 6 con voi!

Em có tin như vậy không, sai lầm ở chỗ nào

GV : Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán

Khi tính tỷ số giữa hai đại lượng cần chú ý điều gì

HS : Tỷ số của hai đại lượng cùng loại và cùng đơn vị đo

GV : Vậy trong bài toán tính tỷ số của hai đại lượng cùng loại và cùng đơn vị đo chưa ? sai lầm ở chỗ nào

Ngày đăng: 29/05/2018, 10:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w