1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận thức của sinh viên trường đại học tây bắc về sức khỏe sinh sản – thực trạng và giải pháp

101 246 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện được điều đó, bên cạnh sự tác động, phối hợp...của các lực lượng giáo dục trong giáo dục, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các sinh viên, sự nhận thức của chính sinh viên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

SƠN LA, NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Người hướng dẫn: TS Phạm Thu Hà

SƠN LA, NĂM 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN - -

Trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này Em đã nhận đươc sự hướng dẫn , giúp đỡ quý báu của các thầy cô Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

- TS.Phạm Thu Hà, là một người giảng viên tâm huyết, cô đã hết lòng giúp đỡ, động viên bản thân em trong những lúc khó khăn và hướng dẫn em rất chu đáo trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận, đã mang đến cho em rất nhiều kiến thức quý báu và truyền cho em sự tâm huyết, yêu nghề

- Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giảng viên trong khoa Lý luận chính trị trường Đại học Tây Bắc đã nhiệt tình giúp đỡ , tạo điều kiện thuận lợi về mặt thời gian và công việc để em có thể hoàn thành khóa luận theo đúng tiến độ Xin cảm ơn các bạn sinh viên của các lớp K 56 ĐHGD Chính trị, K57 ĐHGD Toán, K55 ĐHGD Ngữ Văn, K56 Đại học Quản lý tài nguyên và môi trường C, K56 Đại học Kế toán, đã nhiệt tình hợp tác, cung cấp thông tin để em có thể thu thập được những thông tin và số liệu quý báu cho khóa luận

Sơn La, Tháng 5 năm 2018 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Mai Lệ

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBGV : Cán bộ giáo viên

LTQĐTD : Lây truyền qua đường tình dục

KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình

WHO : Tổ chức Y tế thế giới

f : Tần số

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Giới hạn đề tài 7

6 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 7

7 Giả thuyết khoa học 8

8 Phương pháp nghiên cứu 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11

1.1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu

Chương 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN 43

2.1 Đánh giá của sinh viên Đại học Tây Bắc về mức độ nhận thức sức khỏe sinh sản ……… 43

2.2 Nhận thức của sinh viên Đại học Tây Bắc về nội dung sức khỏe sinh sản và về các biểu hiện sự khác biệt mặt tâm lý của giới tính 46

2.3 Nhận thức của sinh viên Đại học Tây Bắc về vấn đề tình yêu, hôn nhân 48

2.4 Nhận thức của sinh viên Đại học Tây Bắc về vấn đề tình dục 55

2.5 Nhận thức của sinh viên Đại học Tây Bắc về vấn đề nạo phá thai và con đường gây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục 61

2.6 Những yếu tố tác động đến nhận thức của sinh viên Đại học Tây Bắc về sức khỏe sinh sản……… 67

2.7 Một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc về sức khỏe sinh sản 70

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thanh niên, sinh viên là lực lượng quyết định sự lớn mạnh và phồn vinh của đất nước Sự phát triển của thanh thiếu niên luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở Việt Nam Ở Việt Nam, vị thành niên và thanh niên tuổi từ 14 - 25 là nhóm dân cư đông nhất, chiếm gần một phần tư dân số cả nước (khoảng trên 20 triệu người - Tổng cục Thống kê, điều tra dân số và nhà ở năm 2014) Vì lực lượng thanh thiếu niên, đặc biệt là thanh niên sinh viên có tiềm năng to lớn quyết định sự lớn mạnh và thịnh vượng của đất nước, chính vì thế việc nắm được những vấn đề cốt lõi trong sự phát triển của họ là hết sức quan trọng Hiện nay, một trong những vấn đề mà thanh niên sinh viên cần được quan tâm đó là vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản

Theo tổ chức UNFPA năm 2013 cho biết - Trên toàn thế giới, có khoảng 16 triệu trẻ em gái từ 15-19 tuổi sinh con mỗi năm, các biến chứng khi mang thai

và khi sinh tiếp tục là những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong mẹ cho các

em gái vị thành niên ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình Trong

số các trường hợp mắc các bệnh lây qua quan hệ tình dục cứ 20 người mắc bệnh thì có 1 người ở lứa tuổi vị thành niên và 1/2 trong tổng số các trường hợp nhiễm HIV/AIDS là những người dưới tuổi 25 Ở Việt Nam hiện nay, cũng đang đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến SKSS vị thành niên Tình trạng nạo, phá thai ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên ngày một gia tăng

Ở Việt Nam, kể từ Hội nghị Quốc tế “Dân số và phát triển”, hàng loạt các cuộc nghiên cứu về SKSS đã được thực hiện Hướng nghiên cứu SKSS ở nhóm dân số trẻ (15 - 24 tuổi) cũng mới thực sự được quan tâm và phát triển trong thời gian gần đây Trong đó, các công trình nghiên cứu về nhận thức sức khỏe sinh sản của sinh viên đại học nhất là ở khối ngành sư phạm cũng còn ở giai đoạn khởi đầu Đây là việc làm cần thiết để chuẩn bị cho sinh viên đương đầu với những vấn đề của cuộc sống liên quan đến SKSS của họ Thêm nữa, sự hiểu biết thiếu đầy đủ, đúng đắn về SKSS có thể đẩy các sinh viên vào nguy cơ tình dục không lành mạnh, không an toàn; có thể đẩy các bạn gái vào nguy cơ có thai

Trang 7

ngoài ý muốn hoặc mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục kể cả HIV/AIDS Nhận thức của lớp trẻ về các vấn đề SKSS bao gồm tình dục, chức năng sinh sản, các biện pháp tránh thai, quan hệ tình dục an toàn còn nhiều hạn chế “Ở Việt Nam, theo thống kê có 40% thanh thiếu niên cho biết rằng họ không hiểu gì về các biện pháp tránh thai” [5,tr.12] Sự thiếu hiểu biết chung về quá trình sinh sản và bản năng sinh dục của con người cùng với quan hệ tình dục trước hôn nhân có xu hướng ngày một tăng khiến lớp trẻ phải đối mặt với các nguy cơ nói trên

Cung cấp thông tin và giáo dục SKSS hay giáo dục sức khỏe tình dục có thể giúp cho lớp trẻ tự khám phá các quan điểm, tiêu chuẩn và sự lựa chọn riêng đồng thời nâng cao kiến thức và hiểu biết về vấn đề SKSS Điều đó giúp cho lớp trẻ có một cuộc sống lành mạnh và hạnh phúc, ngăn ngừa những nguy cơ nói trên và nâng cao đời sống và SKSS sau này Do đó, có thể nói việc nhận thức về SKSS có tác động sâu rộng và lâu dài với thái độ và hành vi của sinh viên

Sinh viên trường Đại học Tây Bắc tương lai sẽ trở thành những giáo viên, cán

bộ công chức có trình độ cao Do đó, nhận thức, hành vi của họ không những có tác dụng với cuộc sống của chính họ mà với sinh viên khối ngành sư phạm còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới học sinh của họ sau này Nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho sinh viên nhất là sinh viên khối ngành sư phạm thiết nghĩ là việc làm cần thiết nhằm giúp cho họ có một cuộc sống lành mạnh, hạnh phúc, ngăn ngừa các nguy cơ nói trên và nâng cao được đời sống và sức khỏe sau này cho nhiều thế hệ

Để thực hiện được điều đó, bên cạnh sự tác động, phối hợp của các lực lượng giáo dục trong giáo dục, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các sinh viên, sự nhận thức của chính sinh viên để trên cơ sở đó có hành động phù hợp về vấn đề sức khỏe sinh sản không những đem lại hiệu quả thiết thực trong nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân, gia đình và xã hội mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc trang bị kiến thức cho thanh niên, sinh viên đang học tại các trường cao đẳng đại học chuyên nghiệp về vấn đề này

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đó chính là lý do để em lựa chọn đề tài này

Trang 8

“Nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc về sức khỏe sinh sản –

Thực trạng và giải pháp” Qua việc nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp bản thân em

tích lũy thêm kiến thức, đồng thời sẽ nêu lên được thực trạng về nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc về SKSS cũng như đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao nhận thức cúa sinh viên về vấn đề này

2 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) là vấn đề không còn mới nhưng chưa bao giờ là cũ Vấn đề này đã đang và ngày càng thực sự thu hút sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới Chính vì vậy, từ việc nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục dân số cho thế hệ trẻ, và kể từ sau Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo, Ai Cập năm 1994 (ICPD), chương trình dân số chuyển hướng sang quan tâm nhiều hơn đến chất lượng dân số, trong đó trọng tâm là nội dung chăm sóc SKSS Hầu hết các nghiên cứu về SKSS ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam thường hướng về đối tượng thanh, thiếu niên

Có thể nói, việc nghiên cứu SKSS nói chung và nghiên cứu SKSS cho thanh niên, sinh viên đã được tiến hành rất sớm trên thế giới, nhất là ở các quốc gia phát triển nhưng thường được gọi với những tên gọi khác nhau chẳng hạn như giáo dục sức khỏe giới tính, tình dục thanh thiếu niên Có lẽ, kể từ sau Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại Cairo, Ai Cập năm 1994 (ICPD) khi đã có định nghĩa chính thức về SKSS thì việc nghiên cứu SKSS nhất là cho đối tượng thanh thiếu niên đang là “mối quan tâm của không những các nhà khoa học, các nhà giáo dục, các nhà quản lý xã hội mà cả các bậc cha mẹ được đẩy lên một trình độ mới”[27, tr 426]

Hướng nghiên cứu SKSS trong đối tượng thanh thiếu niên ở nước ngoài thường tập trung nghiên cứu về những vấn đề cụ thể, nhạy cảm của SKSS như vấn đề nạo phá thai, sinh đẻ sớm, vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân, các bệnh LTQĐTD Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) “hàng năm có khoảng 20 triệu ca nạo phá thai không an toàn Ở Châu Phi thai nghén ngoài dự định dao động từ 50% - 90% trong số vị thành niên chưa chồng và 25% - 40% trong số vị thành niên có chồng” [27, tr 428]

Trang 9

Theo các nghiên cứu ở nhiều nơi trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương,

đã chỉ ra thực trạng nhận thức về SKSS ớ lứa tuổi thanh thiếu niên là “nhận thức của lớp trẻ trong khu vực-dù đã kết hôn hay chưa - về các vấn đề SKSS bao gồm tình dục, chức năng sinh sản, các biện pháp tránh thai, quan hệ tình dục an toàn còn nhiều hạn chế” [5, tr 12]

Thanh thiếu niên chưa có gia đình thường không biết, hoặc không tiếp cận được những dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và như vậy nguy cơ mang thai ngoài ý muốn hoặc mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả lây nhiễm HIV/AIDS

Đồng thời thông tin về về tình dục, sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên hầu như không có và việc thảo luận về tình dục thường bị cấm kỵ Nhiều người lớn còn nghĩ rằng việc đưa giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên vào chương trình học sẽ khiến lớp trẻ có quan hệ tình dục sớm hơn và nhiều hơn Tuy nhiên hàng loạt nghiên cứu cũng cho thấy, thông qua việc nghiên cứu và giáo dục SKSS hay giáo dục sức khỏe tình dục sẽ làm cho “thanh thiếu niên đã

có quan hệ tình dục chấp nhận thực hiện những hành vi tình dục an toàn hơn, cũng như lớp trẻ đã bắt đầu quan hệ tình dục muộn hơn hoặc giảm bớt hoạt động tình dục nói chung” [5, tr 11]

Cũng qua các nghiên cứu trên cho thấy ở một số nước trong khu vực, cha

mẹ được xem là những người có trách nhiệm chính trong việc giáo dục SKSS cho vị thành niên và thanh niên Nhưng trên thực tế, do việc việc thiếu hiểu biết chính xác hoặc không biết cách nói chuyện với con cái về chủ đề trên khiến lớp trẻ thích thu lượm những thông tin từ những người khác hay nguồn khác như bạn bè đồng lứa, phương tiện truyền thông không được kiểm soát hơn là từ cha

mẹ Và lẽ tất nhiên chính điều đó đã gây cho họ những hệ lụy không mong muốn

Đáp ứng chương trình hành động quốc tế và thực hiện chiến lược quốc gia

về dân số và chăm sóc SKSS, ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ XX, hoạt động giáo dục dân số cũng đã chuyển hướng sang giáo dục SKSS nói chung và SKSS cho thanh thiếu niên nói riêng Theo đó đã có hàng loạt các cuộc nghiên

Trang 10

cứu về SKSS đã được thực hiện Đặc biệt hướng nghiên cứu về nhận thức, thái

độ, hành vi về SKSS ở nhóm dân số trẻ từ 15 tuổi đến 24 tuổi cũng mới thực sự được quan tâm và phát triển trong những năm gần đây cùng với quá trình hội nhập và đổi mới Mặc dù còn khá mới mẻ nhưng chúng ta đã sớm nhận ra vị trí quan trọng của giai đoạn 10 -19 tuổi (trong đó có đối tượng SV) trong quá trình phát triển của cuộc đời mỗi con người Do vậy, chỉ hơn mười năm qua cùng với

sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, sự vào cuộc của các nhà khoa học, sự hỗ trợ

về mặt tài chính và khoa học của các tổ chức quốc tế, đã có hàng chục công trình

và đề tài nghiên cứu về các vấn đề cơ bản của SKSS nói chung và SKSS thanh thiếu niên nói riêng Tuy nhiên, các nghiên cứu đa phần thường được tiếp cận dưới góc độ Y tế - bệnh học và thời gian qua chúng ta cũng chưa có một dự án nào một cách toàn diện với quy mô quốc gia về SKSS thanh thiếu niên

- Điều tra về thanh niên Việt Nam (SAVY) mang tính chất rộng lớn vào năm 2003 do Bộ Y tế, Tổng cục thống kê, WHO thực hiện đã mô tả tương đối

đa dạng về các mối quan hệ bạn bè, SKSS và vấn đề tình dục; quan niệm, thái

độ, hành vi và trải nghiệm của thanh thiếu niên về các vấn đề SKSS Đồng thời, cũng qua báo cáo điều tra đã nêu lên nhận thức, kiến thức và nguồn thông tin về SKSS như nhận thức về 4 chủ đề SKSS: Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD); Hiểu biết về chu kỳ kinh nguyệt; Nhận thức và sử dụng các biện pháp tránh thai; Việc sử dụng bao cao su

Các công trình nghiên cứu trên đối tượng SV về SKSS ở các trường đại học thường không nhiều chủ yếu là tập trung nghiên cứu những vấn đề cụ thể của SKSS Có thể kể ra một vài nghiên cứu sau đây:

- Quan niệm về sự chung thuỷ trong tình yêu của SV hiện nay của tác giả

Lê Thị Bừng nghiên cứu trên 143 sinh viên ở hai trường cao đẳng sư phạm Hưng Yên và đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho thấy đa số SV có quan niệm đúng về tình yêu, trong đó gần 60,14% cho rằng yếu tố đầu tiên trong tình yêu là phải có phẩm chất chung thủy [7, tr.19-21]

- Quan niệm của SV về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân của tác giả Nguyễn Ánh Hồng nghiên cứu trên 230 SV ở 3 trường đại học Khoa học Xã hội

Trang 11

và Nhân văn, đại học Khoa học Tự nhiên và đại học Kinh tế đã phản ánh xu hướng dễ chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân trong SV hiện nay, quan niệm về hôn nhân và tình yêu của họ thường thoáng hơn [20, tr.18-20]

Các công trình nghiên cứu về nhận thức SKSS đối với SV đại học sư phạm cũng đang còn ở giai đoạn khởi đầu

- Tác giả Trần Thị Minh Ngọc với công trình nghiên cứu về “Khảo sát nhận thức của sinh viên đại học sư phạm về SKSS” vào năm 2004 ở 1440 SV thuộc bốn trường đại học sư phạm: Thái Nguyên, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Vinh đại diện cho các trường đại học sư phạm ở bốn miền Bắc, Trung, Nam và miền núi phía Bắc, đã cho thấy thực trạng mức độ nhận thức của sinh viên đại học sư phạm còn rất hạn chế, không đồng đều Có sự chênh lệch mức độ nhận thức của sinh viên đại học sư phạm theo giới tính, năm học, học lực, ngành học, khu vực về 7 nội dung cốt lõi của SKSS: 1 Khái niệm SKSS, đối tượng SKSS, nội dung SKSS; 2 Giới tính; 3 Tình bạn, tình yêu, hôn nhân; 4 Tình dục an toàn; 5 Mang thai, nạo phá thai; 6 Biện pháp tránh thai; 7 Bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS Đồng thời cũng qua nghiên cứu đó, tác giả cũng đề xuất các biện pháp tác động sư phạm nhằm phát triển nhận thức của sinh viên đại học sư phạm

về SKSS [34, tr.40-58]

- Với công trình nghiên cứu về “Thực nghiệm nâng cao nhận thức của sinh viên sư phạm về SKSS” vào năm 2005 cũng của tác giả Trần Thị Minh Ngọc tiến hành ở 358 SV sư phạm Hà Nội, thực nghiệm với 3 nội dung cơ bản: tình dục an toàn, các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục bằng biện pháp tác động sư phạm thực hiện qua 2 hình thức: tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ theo từng chủ đề về SKSS; tổ chức thi tìm hiểu SKSS thông qua trò chơi “hái hoa dân chủ” có giải bài tập tình huống Qua kết quả thực nghiệm đã cho thấy nhận thức của sinh viên sư phạm được nâng lên nhờ các biện pháp tác động sư phạm nhưng mức độ thay đổi nhận thức về các nội dung SKSS là không đồng đều, phụ thuộc nhất định vào các tác động sư phạm [36, tr.37-39]

- Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về nhận thức SKSS của sinh viên

sư phạm đã phản ánh thực trạng mức độ nhận thức của SV sư phạm về việc biết,

Trang 12

hiểu, vận dụng liên quan đến các vấn đề cốt lõi của SKSS, các biện pháp thực nghiệm nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên sư phạm về các chủ đề SKSS có liên quan nhất là các vấn đề tương đối nhạy cảm như tình dục an toàn, các biện pháp tránh thai, các bệnh LTQĐTD

Với đề tài “Nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc về sức khỏe sinh sản – Thực trạng và giải pháp”, em mong muốn qua việc nghiên cứu nắm bắt được thực trạng nhận thức về SKSS của sinh viên đại học Tây bắc ở các nội dung cơ bản về SKSS, đồng thời qua đó so sánh nhận thức của SV ở 2 khối ngành lớn: ngành sư phạm (SP), ngành ngoài sư phạm về vấn đề trên nhằm xem xét sự khác biệt giữa SV sư phạm và SV ngành ngoài SP (NSP) Từ đó đề xuất những giải pháp tác động nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về SKSS

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc về sức khỏe sinh sản; từ đó đề xuất một số biện pháp cụ thể góp phần nâng cao nhận thức về SKSS cho sinh viên

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Thực trạng nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc về SKSS

- Đề xuất một số biện pháp cơ bản góp phần nâng cao nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc về SKSS

5 Giới hạn đề tài

- Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu mức độ nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc về SKSS

- Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu sinh viên thuộc

hệ đào tạo chính quy đang theo học tại trường Đại học Tây Bắc

- Giới hạn về không gian nghiên cứu:Tại trường Đại học tây Bắc

6 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên trường Đại học Tây Bắc

- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc

về SKSS

Trang 13

7 Giả thuyết khoa học

- Nhận thức của sinh viên hệ Đại học chính quy trường Đại học Tây Bắc còn chưa đầy đủ ở các nội dung cơ bản của SKSS và có sự khác nhau giữa sinh viên ngành sư phạm (SVSP) và sinh viên ngành ngoài sư phạm (SVNSP)

- Có thể nâng cao nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc về SKSS bằng việc cung cấp thông tin, kiến thức giáo dục giới tính, giáo dục dân

số, giáo dục SKSS và phát huy tính tích cực nhận thức của sinh viên trong tiếp cận SKSS

8 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài, em đã lựa chọn và

sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

* Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan về SKSS để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến:

Xác định thực trạng nhận thức của sinh viên trường Đại học Tây Bắc về SKSS Đây là phương pháp nghiên cứu chính sử dụng trong thực hiện khóa luận + Mục đích khảo sát:

Khảo sát thực trạng về mức độ nhận thức của SV Đại học Tây Bắc về SKSS ở hai khoa sư phạm và ngoài sư phạm Kết quả khảo sát sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về SKSS của SV

+ Nội dung khảo sát:

Khảo sát hướng vào các nội dung cơ bản của SKSS gắn với đối tượng thanh niên SV

- Khái niệm SKSS, giới tính;

- Tình bạn, tình yêu, hôn nhân, luật hôn nhân;

- Tình dục;

- Nạo phá thai và các con đường nhiễm bệnh LTQĐTD

- Đánh giá của SV về nhận thức SKSS

Trang 14

- Nguyên nhân ảnh hưởng đến nhận thức của SV về SKSS

- Mức độ ảnh hưởng của các nguồn thông tin giúp SV có hiểu biết về SKSS

- Các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về SKSS của SV:

Cấu trúc bảng hỏi: Bảng hỏi được xây dựng dựa vào các nội dung cơ bản

về SKSS tập trung vào việc biết, hiểu và vận dụng của SV Trong đó có các câu hỏi là các tình huống giả định để tìm hiểu khả năng vận dụng kiến thức về SKSS của SV

+ Đối tượng khảo sát:

Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của SV trường Đại học Tây Bắc về SKSS, em đã thực hiện khảo sát trên toàn bộ SV hệ đại học chính quy thuộc khoa sư phạm và ngoài sư phạm gồm SV của 5 lớp: K56 ĐHGD Chính trị, K57 ĐHSP Toán, K55 ĐHSP Ngữ Văn, K56 ĐH Quản lý tài nguyên và môi trường, K56 Đại học kế toán

Tổng số phiếu phát ra: 200 phiếu

Tổng số phiếu thu vào: 188 phiếu

Số phiếu hợp lệ là 188 phiếu và được phân bố như sau:

Với số phiếu phân bố như trên thì:

- Sinh viên ngành sư phạm (SVSP) có: 117 phiếu

Trong đó: Nam sinh viên có: 47 phiếu

Nữ sinh viên có: 70 phiếu

- Sinh viên ngành ngoài sư phạm (SVNSP): 71 phiếu

Trang 15

Trong đó: Nam sinh viên có: 36 phiếu

Nữ sinh viên có: 35 phiếu

- Thời gian và địa bàn khảo sát:

Khảo sát nhận thức của SV Đại học Tây Bắc được tiến hành tháng 4 năm

2018 thực hiện trên 5 lớp SV đại học chính quy thuộc khoa sư phạm và ngoài sư phạm tại trường ĐHTB

+ Xử lý kết quả khảo sát:

Phân tích số liệu qua khảo sát để đưa ra nhận xét và bàn luận, đặc biệt là thực trạng nhận thức về SKSS của SVSP và SVNSP

- Phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả điều tra được:

Hỗ trợ cho phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi, bằng cách thống kê tần số và phần trăm, từ đó rút ra được các nhận xét và kết luận

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về tuổi thanh niên sinh viên

Việc phân đoạn, phân kỳ quá trình phát triển của con người phác họa cho chúng ta thấy rõ những nét đặc trưng cơ bản cho từng lứa tuổi Trong mỗi giai đoạn phát triển, các nét đặc trưng này nảy sinh trên cơ sở kết hợp các điều kiện khách quan và chủ quan

Quá trình phát triển này là quá trình liên tục Mỗi giai đoạn phát triển vừa mang tính kế thừa vừa mang tính phát triển Tuy nhiên việc phân đoạn, phân kỳ quá trình phát triển của con người, trong đó có lứa tuổi thanh niên SV chỉ có ý nghĩa tương đối

Hiện nay tồn tại nhiều cách phân đoạn, phân kỳ quá trình phát triển của con người tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu: xuất phát từ đặc điểm phát triển sinh lý, đặc điểm phát triển tâm lý hay đi từ góc độ xã hội học dựa vào các dạng hoạt động xã hội Nếu so sánh sự khác biệt giữa ngôn ngữ thông thường và ngôn ngữ khoa học thì nội dung các khái niệm thể hiện giai đoạn phát triển lại càng khác

Chính vì vậy, việc xem xét và đưa ra các quan niệm, định nghĩa về lứa tuổi thanh niên SV nhìn chung là chưa thống nhất, còn nhiều vấn đề tranh cãi

- Theo Từ điển Giáo dục học của nhà xuất bản Từ điển Bách khoa: “Sinh

viên là người học của một cở sở giáo dục cao đẳng, đại học” [18,tr.343] Theo

cách hiểu này, có thể phân loại sinh viên theo nhiều phạm trù khác nhau Thí dụ sinh viên tập trung, sinh viên chính quy, sinh viên không tập trung, sinh viên tại

Trang 17

chức, sinh viên tự do, Hơn nữa, do nhu cầu thống kê, người ta có thể phân biệt sinh viên thông thường và sinh viên thuộc hệ thống giáo dục không chính quy (giáo dục thường xuyên) và có một hệ số quy đổi từ sinh viên không chính quy sang sinh viên chính quy

- Về độ tuổi theo Điều 1, chương I, Luật thanh niên 2005, thanh niên trong

đó có cả thanh niên sinh viên là “công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”

- Quan điểm cho rằng tuổi thanh niên sinh viên thuộc giai đoạn tuổi thanh

niên là phù hợp xét theo nhiều mặt Theo cách hiểu đó, tuổi thanh niên là “giai đoạn phát triển bắt đầu từ sự phát dục và kết thúc vào lúc bước vào tuổi trưởng thành” [17,tr.61] Tuy nhiên việc phát dục hay trưởng thành về mặt sinh dục của mỗi trẻ em là hoàn toàn khác nhau Hơn thế nữa, việc xác định chuẩn thế nào là người trưởng thành cũng khác nhau Chính vì vậy, theo cách nhìn nhận trên thì khó mà xác định được giới hạn về tuổi thanh niên Trên thực tế, người ta thường đưa ra các chuẩn về mặt sinh lý, về mặt xã hội để xác định lứa tuổi thanh niên

- Cũng có quan niệm cho rằng nội dung tuổi thanh niên là những giai đoạn

của cuộc đời Quan niệm này có phần chặt chẽ, khoa học hơn khi cho rằng tuổi

thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp, quá độ từ trẻ em đến người lớn và bao gồm

lứa tuổi từ 11-12 đến 23- 25 tuổi và trong đó đặc biệt lưu ý đến 2 thời kỳ cơ bản sau:

+ Tuổi thanh niên mới lớn: (từ 14-15 đến 18 tuổi) là “thế giới thứ ba” [21,tr.61] tồn tại giữa trẻ em và người lớn với đặc trưng là sự trưởng thành về mặt cơ thể, sự chín muồi sinh vật, là giai đoạn hoàn thiện quá trình xã hội hóa

đầu tiên Tuổi thanh niên mới lớn cũng thuộc “thời kỳ chuyển tiếp trước”

+ Thời kỳ thứ ba của lứa tuổi chuyển tiếp (từ 18 đến 23-25 tuổi) là tuổi thanh niên muộn hay thời kỳ bắt đầu của tuổi người lớn còn gọi là “thời kỳ

chuyển tiếp sau” Lứa tuổi này “lớn” về cả hai phương diện sinh vật và quan hệ

xã hội

Theo PGS TS Nguyễn Thạc và PGS TS Phạm Thành Nghị trong giáo trình Tâm lý học sư phạm đại học đã cho rằng “SV đại học là những thanh niên

Trang 18

thuộc thời kỳ chuyển tiếp sau” [43,tr.37-44] Việc cho rằng thanh niên nằm trong thời kỳ chuyển tiếp và SV đại học thuộc thời kỳ chuyển tiếp sau cũng phù hợp với quan niệm của nhà tâm lý học người Mỹ Niky Hayes khi cho rằng “thời thanh niên như một thời kỳ chuyển tiếp vai trò ngày càng tăng, đến lượt dẫn đến

sự thay đổi nhân cách”[15,tr.803] Theo đó việc chuyển tiếp có thể diễn ra từ trường học đến nơi làm việc hay thực hành kinh nghiệm đòi hỏi thanh niên nói chung và thanh niên SV nói riêng phải tập quen nhiều hành vi vai trò khác biệt nhau nhằm mục đích hướng tới việc hoàn thiện bản thân

- Trong một công trình nghiên cứu khác, người ta cho rằng đối với lứa tuổi thanh niên SV, về tên gọi và sự phân chia giai đoạn phát triển ở lứa tuổi này được xác định theo một nghĩa tương đối Các thành tựu nghiên cứu về sự phát triển của lứa tuổi này còn ít, chưa tập trung và có hệ thống nên việc khái quát

các đặc điểm chung đối với toàn bộ độ tuổi này theo ghi nhận là thuộc nhóm dân

số trẻ tức là trong độ tuổi từ 15 đến 24 tuổi Thông thường khi đề cập đến lứa

tuổi này, người ta hay mô tả đó là lứa tuổi của những “thanh niên đang ngồi trên ghế nhà trường: đại học, cao đẳng, dạy nghề ”[36, tr.137] Theo ý kiến của nhiều tác giả, lứa tuổi thanh niên sinh viên nên bắt đầu từ 19 tuổi và kết thúc vào khoảng 24 - 25 tuổi Sỡ dĩ như vậy là vì khi ở độ tuổi 24, 25 con người đã hoàn tất sự phát triển về thể chất thể hiện ở: sự tăng lên về chiều cao, trong lượng của cơ thể, sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của các bộ phận trong cơ thể Đồng thời ở tuổi 25 cũng là dấu mốc cuối cùng kết thúc giai đoạn đào tạo dài nhất ở trường đại học như đại học y, đại học dược sinh viên phải hoàn thành khóa học trong thời gian 6 năm

Tóm lạị: Từ cách tiếp cận các quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu: Tuổi

thanh niên SV là công dân Việt Nam, trong độ tuổi từ 19 đến 23 - 25 tuổi, nhóm dân số trẻ ở “thời kỳ chuyển tiếp sau”; là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về mặt thể chất sang sự trưởng thành về mặt tâm lý –xã hội; là lứa tuổi đang ngồi trên ghế nhà trường đại học, cao đẳng, dạy nghề

1.1.2 Khái niệm về sức khỏe sinh sản

- Bối cảnh ra đời của khái niệm SKSS

Trang 19

Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, chúng ta không thấy đề cập hay nhắc đến khái niệm SKSS mà chỉ nói đến các vấn đề về giới tính, giáo dục giới tính, sức khỏe, văn hóa tính dục, tình dục Khái niệm SKSS được khởi nguồn từ các nước phương Tây và theo hướng hòa nhập xuất hiện ở Việt Nam thời gian gần đây

Theo tác giả Đào Xuân Dũng: Khái niệm SKSS “có nguồn gốc từ những năm 50 của thế kỷ XX khi xuất hiện tình trạng gia tăng dân số quá nhanh ở nhiều nước đang phát triển buộc chính phủ nhiều nước phải quyết định hành động để giảm bớt sự tăng nhanh dân số” [25,tr.47] Vì thế trong thập niên 60 của thế kỷ XX, nhiều chương trình kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) đã ra đời ở nhiều nước và trở thành động lực bước đầu cho những nỗ lực toàn cầu trong nghiên cứu vấn đề sinh sản người

Năm 1986 chương trình này còn nghiên cứu về AIDS, sự lây nhiễm HIV từ

mẹ sang con Năm 1988 thì WHO đã ủng hộ những đường lối chiến lược của Chương trình, đồng thời tái khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa KHHGĐ, sức khỏe và phát triển và sự cần thiết phải lồng ghép các hoạt động KHHGĐ với các hoạt động bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em Chính từ thời điểm này, sứ mạng của Chương trình là phát triển và điều phối những nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu

về SKSS

- Quan niệm về sức khỏe sinh sản

Rõ ràng vấn đề SKSS đã được quan tâm nhiều từ những năm 90 của thế kỷ

XX Khái niệm này chính thức được nhắc đến từ Chương trình của WHO về nghiên cứu sinh sản người trên bình diện toàn cầu xuất từ yêu cầu của việc giáo dục dân số, việc nghiên cứu về giới tính, trong đó đáng lưu ý là xuất phát từ tình hình phức tạp của đời sống xã hội về các tệ nạn xã hội, về sự bùng nổ dân số, về

sự phát triển của những lối sống không lành mạnh của thanh thiếu niên

Theo tác giả Bùi Ngọc Oánh, việc nghiên cứu SKSS thường được tiến hành theo các hướng:

+ Nghiên cứu theo góc độ Dân số học và Giáo dục dân số: việc nghiên cứu

này thường đi vào những phương thức điều chỉnh sự phát triển dân số, KHHGĐ,

Trang 20

giáo dục dân số

+ Nghiên cứu theo góc độ Y học: việc nghiên cứu này thường là hướng

những tri thức khoa học về các vấn đề của SKSS, những vấn đề thuộc về kỹ thuật của KHHGĐ

+ Nghiên cứu việc giáo dục SKSS cho thanh thiếu niên cũng như cho người

lớn, đặc biệt là cho trẻ vị thành niên, trẻ ngoài nhà trường

Kể từ sau Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cairo, Ai Cập vào tháng 09/1994, việc nghiên cứu về SKSS ngày càng được phát triển

Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục SKSS được đặc biệt quan tâm trong tình hình hiện nay ở mọi đối tượng nhất là vị thành niên vì nhóm đối tượng này có nguy

cơ cao Bởi lẽ, nhóm đối tượng này dễ mắc bệnh LTQĐTD, nghiện hút ma tuý như HIV/AIDS và nhiều bệnh lây nhiễm khác, thậm chí còn là vấn đề thách thức

về SKSS Thực tế những nội dung này chỉ mới được giới thiệu trong thời gian gần đây, nhưng đã được nhiều cơ quan ban ngành trong xã hội xem xét tích cực Năm 1998, Ủy ban Nhà nước về các vấn đề xã hội đã khuyến cáo Quốc hội, Chính phủ và các tỉnh “Phát triển chương trình SKSS quốc gia bao gồm chương trình quốc gia chăm sóc bà mẹ trẻ em, nâng cao chất lượng của các dịch vụ KHHGĐ và phát triển chương trình SKSS thanh thiếu niên”[4, tr.26-27] và

“năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo đưa nội dung giáo dục dân số - SKSS vào chương trình đào tạo trong các trường sư phạm”[38, tr.134] cũng như thực hiện chương trình giáo dục về SKSS ở các nhà trường từ trung học cơ sở đến trung học phổ thông

Trước đây, khi nói đến khái niệm SKSS thường người ta cho rằng đó là

những vấn đề liên quan đến KHHGĐ, đến vấn đề sinh sản và sức khỏe của phụ

nữ Ngày nay, mọi người đều nhận thấy rằng sức khỏe sinh sản có nội hàm rộng

hơn bao gồm nhiều vấn đề về lối sống, quan hệ yêu đương, tri thức về KHHGĐ,

về hoạt động tình dục và nhiều vấn đề khác

Về khái niệm SKSS, mặc dù có nhiều tài liệu khác nhau với nhiều cách trình bày khác nhau nhưng tựu trung các tác giả đều thống nhất với định nghĩa của WHO khi đề cập đến SKSS: “SKSS là tình trạng khỏe mạnh về thể chất,

Trang 21

tinh thần và xã hội, của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hoặc là ốm yếu” Định nghĩa này đã được Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) họp tại Cairo, Ai Cập vào năm 1994 công nhận Chính vì vậy hiện nay trong các tài liệu về SKSS các tác giả thường sử dụng khái niệm này

Trong đề tài này, em cũng sẽ sử dụng cách tiếp cận khái niệm SKSS này, xem đó là khái niệm cơ bản khi thực hiện nghiên cứu Vì đây là khái niệm mang tính phổ biến

Theo cách hiểu trên, khái niệm SKSS hàm ý là con người có thể có một

cuộc sống tình dục an toàn và thỏa mãn, có khả năng sinh sản và được tự do quyết định khi nào và thường xuyên như thế nào trong việc này Điều kiện cuối cùng này ngụ ý nói về quyền của phụ nữ và nam giới được thông tin và tiếp cận các biện pháp KHHGĐ an toàn, hiệu quả vừa túi tiền, có thể chấp nhận được và được tự lựa chọn cũng như các biện pháp khác để điều hòa sinh sản mà không trái với pháp luật Việc tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp sẽ giúp cho người phụ nữ trải qua thời kỳ thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng có cơ may tốt nhất để có con lành mạnh, một cách lý tưởng là tham vọng hướng đến việc tạo ra những đứa con với các tiêu chuẩn “đẹp, khỏe, cao, thông minh và ngoan”

Từ định nghĩa trên có thể khẳng định, việc chăm sóc SKSS là một tổng thể các biện pháp kỹ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết cáxc vấn đề về sức khỏe sinh sản Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích là đề cao cuộc sống và các mối quan

hệ riêng tư, chứ không chỉ là việc tư vấn và chăm sóc liên quan đến sinh sản và cách bệnh LTQĐTD

Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy điều này khi nói đến SKSS người ta cũng thường đề cập đến khái niệm sức khỏe tình dục vì chúng có liên quan mật thiết nhau và sức khỏe tình dục được xem là một bộ phận của nội dung SKSS

Khái niệm sức khỏe tình dục đã được đề cập từ thập niên 70 của thế kỷ XX (1975) trước khi tổ chức Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển tổ chức tại

Trang 22

Cairo, Ai Cập năm 1994 Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sức khỏe tình dục được phát biểu như sau: “Sức khỏe tình dục là tổng hợp các khía cạnh thể chất, tình cảm, tri thức và xã hội của con người có tính dục, sao cho cuộc sống con người phong phú, tốt đẹp hơn về nhân cách, giao tiếp và tình yêu”

(Nguồn: Sex Education in the eighties- Lorna Brown-p.248)

Điều đó chứng tỏ rằng, hành vi tính dục của con người không còn là “vấn

đề riêng tư của cá nhân mà đã trở thành một vấn đề mang tính xã hội”

[12,tr.52] Hành vi tính dục của con người trước đây thường chịu sự nhìn nhận, đánh giá khắt khe và biến đổi theo thời gian, theo sự phát triển xã hội Hiện nay

đã ra đời những quan niệm cởi mở hơn, tiến bộ hơn do việc chúng ta ngày càng hiểu rõ bản chất sinh học, ảnh hưởng tâm lý, giá trị nhân bản và tác động xã hội của nó Đồng thời sức khỏe tình dục, ngoài ý nghĩa nhân bản của nó còn thể hiện một bước tiến quan trọng trong quan niệm về bình đẳng nam nữ và đã trở thành

“một nội dung được quan tâm nhiều trong khoa học xã hội về phụ nữ”

Khi nói đến sức khỏe tình dục, chúng ta cũng cần xem xét đến yếu tố có liên quan như: vấn đề tình dục an toàn và lành mạnh, tình dục có trách nhiệm, việc giáo dục tình dục, vì sao cần coi hành vi tình dục người là một thực thể sức khỏe Có như vậy, trong điều kiện nhất định mới có thể trang bị tương đối đầy

đủ cho các loại đối tượng trong đó có thanh niên

- Nội dung cơ bản của vấn đề SKSS

Trong kế hoạch hành động sau Hội nghị Cairo của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA), SKSS bao gồm sáu nội dung chính có liên quan mật thiết với nhau đó là SKSS, KHHGĐ, sức khỏe phụ nữ và làm mẹ an toàn, vô sinh, bệnh nhiễm nhuẫn và bệnh lây truyền qua đường tình dục, vấn đề tình dục

Nhưng mỗi khu vực, mỗi quốc gia lại có những vấn đề ưu tiên của riêng mình, nên các nước và các tổ chức tham gia vào việc thực hiện chương trình sức khỏe sinh sản đã cụ thể hóa 10 nội dung như sau :

+ Làm mẹ an toàn

+ Kế hoạch hóa gia đình

+ Nạo hút thai

Trang 23

+ Bệnh nhiễm khuẩn qua đường sinh sản

+ Giáo dục truyền thông vì SKSS-KHHGĐ [42, tr.12]

Nội dung SKSS như đã đề cập bao gồm nhiều nội dung phong phú, phức tạp, có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng đều có những điểm chung

Theo tác giả Bùi Ngọc Oánh, nội dung cơ bản của vấn đề SKSS bao gồm: + Tình trạng sức khỏe của hệ cơ quan sinh dục nam và nữ

+ Sự dậy thì và sự chín muồi giới tính, sự nảy sinh và xuất hiện những nhu cầu của đời sống tình dục

+ Những biểu hiện của đời sống tính dục và những chức năng khác trong hoạt động của các cơ quan sinh dục

+ Đời sống tình dục trong đó có sức khỏe tình dục

+ Sự thụ thai và các vấn đề phòng tránh, chữa trị trong sinh nở nuôi con + Vấn đề KHHGĐ

+ Những kiến thức và bệnh lý liên quan đến đường tình dục

+ Ý thức và trách nhiệm trong quan hệ yêu đương, quan hệ tình dục

+ Ý thức tôn trọng phụ nữ, tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ [38, 136] Theo tác giả Đào Xuân Dũng, nội hàm của SKSS có thể tóm tắt ở các điểm chính sau đây:

tr.135-+ Hành vi sinh sản và tình dục có trách nhiệm

+ Dịch vụ KHHGĐ rộng rãi và thuận tiện

+ Chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và đảm bảo thai nghén và sinh nở an toàn

+ Kiểm soát có hiệu quả các bệnh nhiễm khuẫn đường sinh sản

+ Phòng và điều trị vô sinh

+ Loại trừ phá thai không an toàn

Trang 24

+ Phòng và điều trị các bệnh ác tính ở cơ quan sinh sản

Ngoài ra SKSS còn có ảnh hưởng qua lại với nhiều khía cạnh khác của sức khỏe, đặc biệt là HIV/AIDS, sức khỏe trẻ em, sức khỏe vị thành niên, tình dục, lối sống và môi trường [25, tr.49-50]

Thực tế ở Việt Nam khi đề cập đến nội dung của SKSS thường người ta hay nhắc đến 7 vấn đề ưu tiên sau đây:

+ Quyền sinh sản

+ Các bệnh lây truyền qua đường tình dục

+ Kế hoạch hóa gia đình

+ Nạo phá thai

Kế hoạch hóa gia đình và các biện pháp tránh thai

Nạo hút thai an toàn và giảm tác hại của việc nạo hút thai

Phòng tránh các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản, bệnh LTQĐTD, nhiễm HIV/AIDS

Chăm sóc SKSS vị thành niên [17, tr.9]

Có thể nói: nội dung cơ bản của SKSS gây tác động tới vấn đề sức khỏe -

cụ thể là các vấn đề sức khỏe có liên quan đến hệ sinh sản hoặc là các vấn đề sức khỏe có liên quan tới giống nòi Ở Việt Nam, vấn đề SKSS đặt ra chủ yếu là tình trạng mang thai ở tuổi thiếu niên, các bệnh LTQĐTD, sự phân biệt chống lại trẻ em gái và phụ nữ và bạo lực đối với phụ nữ Ở nhà trường phổ thông, nội dung SKSS phải tập trung vào việc giúp học sinh hiểu biết và có những quyết định đúng đắn hơn đối với các vấn đề này

Trong các công trình nghiên cứu về SKSS, các tác giả cũng thường đề cập

Trang 25

đến các nội dung cốt lõi của SKSS nêu trên như: thuật ngữ, khái niệm SKSS, vấn đề giới và giới tính, tình bạn, tình yêu, hôn nhân, tình dục an toàn, mang thai, nạo phá thai, biện pháp tránh thai, bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS

Như vậy, với những nội dung trên, khái niệm SKSS trước hết là một khái niệm rộng không chỉ giới hạn ở sức khỏe người mẹ mà là sức khỏe người phụ

nữ nói chung, nhưng cũng quan tâm đến những vấn đề liên quan đến quá trình sinh sản của nam nữ và nhấn mạnh nhiều đến việc tự quyết định của phụ nữ với sinh đẻ Vấn đề này hiện nay ở nhiều loại đối tượng trong đó có cả SV và người lớn vẫn cho rằng SKSS là vấn đề chỉ dành cho những người đã lập gia đình và

có con Họ đồng nhất vấn đề SKSS với việc sinh đẻ của các sản phụ và thậm chí

còn cho rằng việc cung cấp kiến thức về SKSS chẳng khác nào “vạch đường cho

hươu chạy”

Khái niệm SKSS có ý nghĩa xã hội và rất nhân bản vì nó giúp nâng cao

những yêu cầu bảo vệ chức năng đặc thù của phụ nữ là mang thai, sinh đẻ và nuôi con Chức năng đặc thù này xét về mặt đạo lý và giá trị được xem là chức

năng xã hội vì nó quan tâm đến cả hai giới mặc dù hiện nay vấn đề ưu tiên trong SKSS là dành ưu tiên cho phụ nữ nhưng chính bản thân nam giới đôi khi cũng không được hưởng đầy đủ về SKSS như vấn đề vô sinh ở nam giới, rối loạn chức năng tình dục của nam giới mà hiện nay ở nước ta ít có cơ sở y tế và

thầy thuốc chuyên khoa chữa trị Do vậy nói đến SKSS phải là “tình trạng khỏe

mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản” và cần phải chú ý việc chăm sóc

SKKS đến cả hai giới mặc dù có thể một giới nào đó được ưu tiên chăm sóc nhiều hơn

Từ những nội dung trên, có thể nói rằng SKSS là bộ phận quan trọng và điển hình của đời sống giới tính, gắn bó mật thiết với những yếu tố khác của đời sống giới tính

Theo các nội dung trên về SKSS, có thể được trình bày ở nhiều tài liệu khác nhau, theo những cách viết khác nhau nhưng tất cả đều phác họa những vấn đề cơ bản về SKSS Vấn đề quan trọng theo chúng tôi là cần xác định đúng

Trang 26

nội dung cần thực hiện đảm bảo phù hợp ở mức cao cho từng loại đối tượng, xem xét các vấn đề ưu tiên khi giới thiệu, giảng dạy, giáo dục, tư vấn, đặc biệt

là đối với nhóm đối tượng thanh thiếu niên trong đó có SV Hướng tiếp cận của chúng tôi về nội dung SKSS trong đề tài này là theo cách trình bày của tác giả Bùi Ngọc Oánh vì nó đầy đủ nhưng lại rất cụ thể và rõ ràng

1.1.3 Sức khỏe sinh sản tuổi thanh niên

Là người chủ tương lai của đất nước đặc biệt là nhóm đối tượng thanh niên

SV với tư cách là những trí thức có trình độ cao, họ phải tích cực học tập, chuẩn

bị cho mình kiến thức đầy đủ để làm chủ cuộc sống, cuộc đời của mình và tham gia xây dựng xã hội Đồng thời phải ý thức những việc nên làm và tránh xa những việc không nên làm; chú ý việc rèn luyện thể chất, tiếp thu có chọn lọc

những cái mới theo hướng “gạn đục khơi trong” Do vậy, bên cạnh việc cung

cấp cho thanh niên kiến thức văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách cũng cần lưu tâm đến việc phát triển toàn diện về thể lực đặc biệt là về giới tính, SKSS để duy trì nòi giống, đóng góp vào sự phát triển của xã hội Điều đó đã được khẳng định trong Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào ngày 14/11/2011 quyết định số: 2013/QĐ-TT

Đặc điểm của lứa tuổi này là đã có sự phát triển tương đối hoàn chỉnh về nhân cách, ý thức công dân, quan điểm sống, xu hướng đạo đức Trước mắt

nhà giáo dục là “một thế giới người lớn” Họ đòi hỏi có sự tôn trọng, quan hệ

bình đẳng và tin cậy lẫn nhau đối với với nhà giáo dục Thêm vào đó, ở lứa tuổi này còn có đặc điểm là “luôn mở rộng phạm vi các mối quan tâm gần gũi

và những mối quan tâm với người lớn nói chung” [28,tr.34] Vì vậy, họ đã có đầy đủ lý trí và tính tự chủ trong những xét đoán và những hành động của mình,

có thái độ phê phán đối với bản thân và người khác nhất là trong phạm vi các mối quan hệ nam nữ Điều cần thiết đòi hỏi người lớn cần đối xử với họ một cách phù hợp: lắng nghe ý kiến, dẫn dắt họ một cách tế nhị trong cuộc sống hàng ngày để giúp họ thoát khỏi tính tự cao tự đại hay do dự, nhút nhát

Theo em, nội dung SKSS cho lứa tuổi thanh niên có thể bao gồm các vấn

Trang 27

đề sau:

- Ôn lại và nâng cao những kiến thức về giải phẫu sinh lý và chức năng của cơ quan sinh dục nam nữ Điều cần lưu ý là đối với họ, tùy theo nhóm tuổi

mà giới hạn nội dung giáo dục

- Làm rõ khái niệm giới tính và sự khác biệt nam nữ về giới tính

- Nhấn mạnh tính đạo đức trong quan hệ tình dục nam nữ, văn hóa tình dục Vấn đề tình dục trong tình yêu Tác hại của quan hệ tình dục trước hôn nhân

- Tình bạn, tình yêu lành mạnh Tình yêu và sự lựa chọn bạn đời chuẩn bị cho hôn nhân Tri thức về hôn nhân và gia đình Văn hóa ứng xử trong quan hệ nam nữ

- Thụ thai và sự phát triển của thai Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bào thai

- Tội phạm tình dục và phòng tội phạm tình dục

Các biện pháp tránh thai Hậu quả của việc có thai ngoài ý muốn và nạo phá thai ở thanh niên

- Các bệnh LTQĐTD

- Vấn đề của những cặp vợ chồng trẻ

- Lơị ích của việc KHHGĐ

Trong các nội dung vừa trình bày, nhằm phục vụ cho đề tài này, theo em cần làm rõ một số vấn đề sau:

* Giới tính và sự khác biệt nam nữ

- Khái niệm giới tính

Có nhiều quan niệm khác nhau liên quan đến khái niệm này nhưng em chọn cách tiếp cận khái niệm giới tính của giáo sư Trần Trọng Thuỷ: “Giới tính

là tất cả những đặc điểm riêng biệt tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ” [43, tr.164] và của tác giả Bùi Ngọc Oánh “Giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người, tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ” [36 tr.29] là đầy đủ, chặt chẽ

Có quan điểm nói đến giới tính là nói đến vấn đề sinh sản, là đặc điểm khác biệt về sinh học giữa nam và nữ chủ yếu liên quan đến chức năng sinh sản là

Trang 28

chưa đầy đủ

Thực chất giới tính “là một đặc điểm nền tảng có tính chất sinh học – xã hội của con người” [26 tr.37] Ý thức mình thuộc giới nào ở mỗi cá nhân là kết quả của quá trình sinh học - xã hội phức tạp liên kết thống nhất ở ba mặt: sự phát triển chất người - sự xã hội hóa gới tính - sự phát triển tự nhận thức của con người

- Những biểu hiện của sự khác biệt giới tính

Theo tài liệu nghiên cứu tiếp cận được, em nhận thấy sự khác biệt của giới tính được biểu hiện: về mặt giải phẫu sinh lý ở cấu trúc và chức năng của các bộ phận cơ thể nhất là chức năng đặc biệt của hệ sinh dục nam nữ và biểu hiện về mặt tâm lý: hứng thú, tình cảm, tính cách, năng lực [45, tr.167-169]

* Những biến đổi cơ thể ở tuổi dậy thì

Phần này có thể không cần đi sâu nên nghiêng về việc giới thiệu khái quát những vấn đề sinh lý người, tuổi dậy thì, chu kỳ kinh nguyệt Tuy nhiên, nội dung trình bày cần hấp dẫn không quá đi sâu, tỉ mĩ khêu gợi trí tò mò của thanh niên nhưng có nhiều mức khác nhau để phù hợp với từng độ tuổi Vấn đề quan trọng là cần phát huy khả năng chủ động của đối tượng trong việc xem xét vấn

đề

* Kiến thức về tình bạn, tình yêu đôi lứa; tri thức về hôn nhân và đời sống gia đình

- Tình bạn

Trang 29

+ Tình bạn là gì?

Người ta có nhiều quan niệm khác nhau về tình bạn Có người thích chơi với nhóm bạn nhiều người, nhóm có những hoạt động cùng yêu thích, nhóm có cùng chí hướng và ước mơ Dù phong cách của từng người thế nào đi nữa nhưng ai cũng cảm thấy kiêu hãnh được làm thành viên của một nhóm bạn nào

đó và thường nhóm bạn của mình được xem là một phần của “gia đình mình” Theo nhiều tài liệu tiếp cận, em nhận thấy đều thống nhất với định nghĩa:

“Tình bạn là loại tình cảm gắn bó giữa hai người hoặc một nhóm người với nhau trên cơ sở hợp nhau về tình tình, giống nhau về sở thích, có sự phù hợp về xu hướng ( thế giới quan, lý tưởng, niềm tin, hứn thú ) và một số nét nhân cách khác mà qua đó mỗi người đều tìm thấy ở bạn mình một cái “tôi” thứ hai ít nhiều có tính chất lý tưởng” [5, tr 58] Chính vì vậy, thông qua mối quan hệ bạn

bè, mỗi người có thể bộc lộ, khám phá, tự kiểm tra và đánh giá bản thân bằng việc so sánh mình với người khác, đồng thời dựa vào sự đánh giá của mình để tự hiểu mình, tự điều chỉnh, tự giáo dục và hoàn thiện mình

Một điều cần lưu ý là chỉ đến cuối tuổi thiếu niên trở lên mới có tình bạn

thân theo đúng nghĩa của nó dựa trên sự giống nhau về xu hướng Và càng đến

tuổi thanh niên tuổi trưởng thành, “tình bạn thân càng ổn định, càng bền vững kể

cả tình bạn cùng giới cũng như tình bạn khác giới” [45, tr.110]

+ Đặc điểm của tình bạn tốt

Bản chất của tình bạn là tình người, là kết tinh từ tình người Cho nên giữa tình bạn và tình người có quan hệ mật thiết không tách rời nhau Đặc điểm của tình bạn tốt đòi hỏi biểu hiện ở các dấu hiệu sau :

Có sự phù hợp về xu hướng

Có sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau

Có sự chân thành, tin cậy và có trách nhiệm cao đối với nhau Có sự đồng cảm

Có thể tồn tại nhiều mối quan hệ tình bạn cùng một lúc và vẫn giữ được độ mặn nồng, thắm thiết

Chính vì vậy mà tình bạn tốt không chấp nhận sự bao che khuyết điểm, bè

Trang 30

phái, có sự ghen ghét đố kỵ nhau

+ Tình bạn khác giới

Tình bạn khác giới là tình bạn giữa một bạn nam và một bạn nữ, thường có các đặc điểm sau đây:

Cảm thấy bối rối, xao xuyến, ngỡ ngàng

Những rung cảm giới tính trong giao tiếp chứa đựng nhiều tâm trạng phức tạp có khoảng cách tế nhị hơn so với tình bạn cùng giới, dường như có một sự

“tự điều chỉnh” tự nhiên trong mối quan hệ khác giới

Mỗi bên đều xem giới kia là điều kiện để tự hoàn thiện mình Tình bạn khác giới làm tôn vẻ đẹp của mỗi giới: trong giao tiếp với nhau, bạn trai tỏ ra lịch sự, đàng hoàng trong cách ăn mặc, nói năng, điệu bộ còn bạn gái thì tỏ ra diụ dàng, ý tứ và duyên dáng

Từ chỗ tôn trọng, thông cảm, giúp đỡ lẫn nhau, tình bạn khác giới có thể trở thành tình yêu Tuy nhiên điều cần lưu ý không phải mọi tình bạn khác giới đều trở thành tình yêu Tình bạn khác giới thường nảy sinh ở tuổi dậy thì khi mà các em cùng nhau học tập lao động, rèn luyện, vui chơi

Những vấn đề này, theo tôi cần trang bị cho thanh niên giúp họ lựa chọn bạn phù hợp cho công việc, học tập của mình và khắc phục những dấu hiệu của tình bạn không tốt

- Tình yêu đôi lứa

+ Tình yêu đôi lứa là gì?

Về khái niệm tình yêu đã có không ít tác giả đề cập đến Do tính phức tạp của nó nên mỗi người tùy theo góc độ nhất định có thể đưa ra các định nghĩa khác nhau về tình yêu theo chủ kiến

Có nhiều định nghĩa về tình yêu, nhưng dưới đây là định nghĩa mang tính chất phổ biến, dễ chấp nhận:

Theo Wikipedia Bách khoa toàn thư: Tình yêu là một loạt các cảm xúc, trạng thái tâm lý, và thái độ khác nhau dao động từ tình cảm cá nhân đến niềm vui sướng Tình yêu thường là một cảm xúc thu hút mạnh mẽ và nhu cầu muốn được ràng buộc gắn bó Nó cũng có thể là một đức tính đại diện cho lòng tốt của

Trang 31

con người, sự nhân từ, và sự thông cảm - "mối quan tâm trung thành và vị tha hướng tới người khác" Nó cũng có thể mô tả các hành động nhân văn và thông cảm đối với người khác, chính bản thân mình hoặc các con vật

“Tình yêu là loại tình cảm đặc biệt - biểu hiện cao nhất của tình người vượt

ra khỏi cái vỏ cá nhân của mình để đi đến hòa quyện với một người khác giới trong đó mỗi bên đều trở nên phong phú hơn nhờ bên kia Tuy nhiên tình yêu nam nữ (tình yêu đôi lứa) không đồng nghĩa với quan hệ tình dục

Rõ ràng, tình yêu dứt khoát phải xuất phát từ tình bạn khác giới nhưng khác với tình bạn ở chỗ là phải có sự say mê, cuốn hút, hòa nhập nhau về thể xác, tâm hồn và gắn bó với nhau cả cuộc đời Chính vì vậy, có người cho rằng: “Có ba nguồn cuốn hút con người: tâm hồn làm nảy sinh tình bạn; trí tuệ tạo nên sự tôn trọng và cơ thể là nguồn gốc của sự ham muốn Tổ hợp của ba nguồn gốc đó làm nảy sinh tình yêu”

Trong tình yêu thường chứa đựng nhiều thành phần tâm lý, sinh lý và những thành phần đó quan hệ chặt chẽ nhau, tác động qua lẫn nhau

Một vấn đề mang tính thực tế hiện nay: Thanh niên có ưu điểm biết trao đổi với nhau nhiều những vấn đề về tình bạn nhưng tỷ lệ trao đổi về tình yêu của họ với bạn bè cùng lứa còn thấp Và xa hơn việc trao đổi với nhau về vấn đề tình dục lại càng rất thấp Đây là tình trạng chung đặc biệt là thành niên vùng nông thôn: chứng tỏ họ vẫn xem tình yêu và nhất là tình dục là điều thầm kín không nên bàn luận công khai Điều này đòi hỏi những nhà hoạch định chính sách, nhà giáo dục cần phải lưu tâm hơn về vấn đề này trong giáo dục cho thanh niên + Các đặc điểm của tình yêu lành mạnh:

Tình yêu đôi lứa là một loại tình cảm đặc biệt Để hướng tới một tình yêu đích thực, hai người yêu nhau một cách lành mạnh Có nhiều tài liệu đề cập đến các đặc điểm của tình yêu lành mạnh, tuy nhiên vấn đề này mang tính phổ biến nên thường có sự tương đồng, do vậy trong thực hiện đề tài, chúng tôi chọn cách tiếp cận này: Tôn trọng người mình yêu; chia sẻ, đồng cảm, giúp nhau cùng tiến bộ; luôn đem lại hạnh phúc cho nhau, không nài ép điều gì mà người yêu không muốn, luôn tạo cho nhau những niềm vui nho nhỏ hàng ngày; chung thuỷ; tôn

Trang 32

trọng bản thân mình Do vậy, trong giáo dục cho thanh niên cần chỉ ra cho họ biết những đặc điểm của tình yêu lành mạnh, khắc phục một số biểu hiện sai lệch trong tình yêu của thanh niên, học sinh theo cơ chế kinh tế thị trường hiện nay:

Quan hệ nam nữ quá thân mật - Yêu đương quá sớm - Yêu theo phong trào

- Yêu vô trách nhiệm -Yêu chung chung, chỉ biết hiện tại mà không nghĩ đến tương lai - Yêu ngộ nhận, yêu chỉ để thỏa mãn tình dục - Quan hệ yêu đương trong sáng dần dần được thay thế bằng tình yêu “hòa nhập”, tình yêu lợi dụng, tình yêu vật chất -Yêu nhanh và tan vỡ nhanh - Xuất hiện nhiều kiểu yêu đương không lành mạnh - Yêu nhưng thiếu hiểu biết về tình yêu

- Tình dục

Tình dục thuộc về một trong số những nhu cầu sinh lý cơ bản giúp cho việc sinh tồn nòi giống Đây cũng là nhu cầu quan trọng về tinh thần Nói đến tình yêu là phải đến tình dục vì đó được xem là một “thành phần” không thể thiếu trong tình yêu trọn vẹn ở những người trưởng thành

Mặc dù là một trong những hoạt động của thiết yếu của đời sống xã hội thế nhưng việc nghiên cứu này do nhiều ràng buộc về phong tục tập quán, văn hóa truyền thống thường bị hạn chế Người ta xem đó là điều cấm kỵ, là mảnh đất thiêng, mảnh đất không được biết đến So với những lĩnh vực khoa học khác, các công trình nghiên cứu về tình dục còn quá hiếm Phần lớn chúng được viết dạng những sách chuyên khảo có nội dung từa tựa nhau

Gần đây, trong thời đại bùng nổ thông tin, xu thế hội nhập vấn đề tình dục được xem xét một cách nghiêm túc Và trong giáo dục SKSS cho thanh niên phải có nội dung giáo dục tình dục cho lớp trẻ

Tình dục là yếu tố quan trọng của hôn nhân bền vững và hạnh phúc Trên nền tảng của tình yêu, tình dục đã được nâng lên tầm mức cao, được xử sự một cách có văn hóa Có thể nói thêm: Bản thân tình dục thì không nguy hiểm Nó chính là một phần cuộc sống của con người

Việc giáo dục tình dục đối với thanh niên cần lưu ý họ tác hại của quan hệ tình dục trước hôn nhân Đây là vấn đề mang tính thời sự Tình dục chỉ có ý

Trang 33

nghĩa là bộ phận của tình yêu khi giữa hai người đã: có tình yêu sâu đậm, đã qua thử thách - có sự tôn trọng, bảo vệ và có trách nhiệm cao với nhau - có ý thức vị tha, quan tâm đến tiến bộ, sức khỏe của nhau - biết sử dụng những thành tựukỹ thuật ngừa thai để làm chủ quá trình sinh sản trong tình dục Nếu chưa hội đủ các điều kiện trên thì những người bạn tình nhất là cô gái cần có kiềm chế Sự kiềm chế sẽ giúp cô gái thử thách người bạn trai của mình và còn có tác dụng

giúp cho cô gái tránh “khôn ba năm dại một giờ” Độ tuổi phù hợp để quan hệ

tình dục theo bản thân em là sau khi kết hôn

Chính vì vậy, theo em trong giáo dục tình dục cho thanh niên cần lưu ý đến vấn đề tình dục an toàn và tình dục có trách nhiệm

Tình dục an toàn (safe sex) lần đầu tiên được ra vào những năm 1980 để đáp ứng với sự lan truyền của AIDS; là “cách đạt được khoái cảm nhưng không

để máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo của bạn tình xâm nhập vào cơ thể”.[5,tr.69]

Để đạt yêu cầu này cần thực hiện việc quan hệ tình dục nhưng không giao hợp, không để có thai ngoài ý muốn, “sẽ giúp bảo vệ chống lại tất cả các bệnh LTQĐTD chứ không chỉ riêng AIDS” [26, tr.287] Vì vậy cần sử dụng bao cao su

để “an toàn hơn” Còn tình dục có trách nhiệm “là cả nam và nữ phải kiểm soát được hành vi tình dục của mình khi quan hệ tình dục; là việc phối hợp của cả hai

người trong việc sử dụng các biện pháp tránh thai phù hợp” [5, tr.69] Quan hệ

tình dục sớm và bừa bãi trong thanh niên sẽ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, học tập

và nghề nghiệp Quan hệ tình dục sớm dẫn đến tỉ lệ mang thai ngoài ý muốn cao, gây ra những lo âu, sợ hãi thậm chí cả những hành vi tiêu cực, nếu không thì lại cho ra đời những đứa trẻ không đảm bảo sức khỏe, dinh duỡng

Tóm lại: Đối với lứa tuổi thanh niên cần được giáo dục không nên yêu sớm

và phải biết nói “không” đúng lúc Nếu thanh niên đã có quan hệ tình dục cần hướng dẫn về tình dục an toàn Trong mọi trường hợp cần khuyến khích bạn trai phải có trách nhiệm

- Hôn nhân

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn

Trang 34

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014: Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn

Hôn nhân, một cách chung nhất có thể được xác định như một sự xếp đặt của mỗi một xã hội để điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa đàn ông và đàn bà

Nó là một hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triển của mối quan hệ giữa họ, nhờ đó xã hội xếp đặt và cho phép họ sống chung với nhau, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của họ

Theo Wikipedia Bách khoa toàn thư: Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và hoặc tôn giáo một cách hợp pháp Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu Hôn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình

ở hầu hết xã hội Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn

Hôn nhân phải là liên minh tự nguyện, bình đẳng trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ Đạo đức xã hội chủ nghĩa chống lại hôn nhân không có tình yêu, hôn nhân cưỡng bức vì động cơ vụ lợi Tình yêu không phải là điều kiện duy nhất của hôn nhân và hạnh phúc gia đình Nhưng hạnh phúc đích thực thì không thể

thiếu “bóng dáng” của tình yêu Bởi vậy, người ta thường đề cập tình yêu trước

và sau hôn nhân, thậm chí có người còn nói: cần tiếp tục tìm hiểu, khám phá, tiếp tục yêu sau hôn nhân

Nếu như trước kia thời phong kiến, hôn nhân đôi lứa là do cha mẹ sắp đặt thì hiện nay, hôn nhân đã có sự tiến bộ (hôn nhân tiến bộ) hơn cho phép người ta

tự do lựa chọn bạn đời Hơn nữa gia đình hợp pháp chỉ gồm một vợ một chồng Vấn đề quan trọng là hướng cho thanh niên lựa chọn bạn đời như thế nào, tuổi nào kết hôn là tốt nhất là điều cần bàn

Có thể nêu lên các tiêu chuẩn trong việc lựa chọn bạn đời trong thanh niên

để có thể đảm bảo một gia đình hạnh phúc như sau:

Thực sự yêu nhau - Có sự thống nhất về cuộc sống và các giá trị đạo đức và một sự hiểu biết về các đặc điểm của nhau - Có sự chín muồi - Có sức khỏe tốt -

Có kinh tế vững vàng và nghề nghiệp ổn định

Trang 35

Về tuổi kết hôn, ở nước ta theo luật định là nữ đủ 18 tuổi và nam đủ 20 tuổi Theo em cần định hướng cho thanh niên có thái độ và hành vi tốt đối với vấn đề này

Tóm lại: Việc trang bị cho thanh niên các kiến thức về tình bạn, tình yêu đôi lứa; tri thức về hôn nhân và đời sống gia đình thiết nghĩ có thể được thể hiện trong tám thông điệp của Trung ương Đoàn trong giáo dục SKSS cho thanh niên, vị thành niên như sau:

+ Tình bạn là thiêng liêng cao quý nếu ta biết giữ gìn

+ Điều quan trọng đối với chúng ta là học tập để ngày mai lập nghiệp + Yêu nhau xin hãy giữ gìn cho nhau

+ Nếu giữ được tình bạn, tình yêu trong sáng, chúng ta sẽ có mùa xuân

vĩnh cửu

+ Yêu em vì nết vì người Yêu em yêu cả khi cười đừng anh

+ Muốn có hạnh phúc bền lâu hãy nói “không” đúng lúc

+ Bạn hãy chọn tôi – bao cao su nếu không bạn bị nhiễm HIV

+ Vì sức khỏe lâu dài, chúng ta hãy bảo vệ mình khỏi mang thai ngoài ý

muốn và tránh các bệnh lây lan qua đường tình dục kể cả HIV/AIDS

Và một khẩu hiệu: “cho một tương lai tốt đẹp hơn ngay bây giờ hãy hành động vì SKSS thanh niên và vị thành niên”

1.2 Một số vấn đề về nhận thức

* Tổng quan về quá trình nhận thức:

Lý luận nhận thức được coi là học thuyết về khả năng nhận thức của con người, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức, con đường và phương pháp nhận thức , hiện nay, vấn đề nhận thức nhất là nhận thức khoa học vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển nhằm giúp con người càng hoàn thiện hơn khả năng nhận thức của mình trong việc hình thành bức tranh chung của thế giới hiện thực và tiến gần đến chân lý

Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, hành động) Nó có quan hệ mật thiết với hai mặt kia nhưng có điểm khác biệt về đối tượng, tính chất, nội dung, phương thức phản ánh và sản phẩm

Trang 36

Có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm nhận thức

Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình và kết quả phản ánh, tái tạo thực tiễn vào trong tư duy của con người” và “ sự tác động qua lại giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính làm cho nhận thức của con người càng chính xác hơn về đối tượng, càng tiến gần hơn chân lý khách quan” [18, tr.303-304]

Theo Nicky Hayes: “Nhận thức là tất cả cách hiểu thông tin tiếp nhận qua

các giác quan của cơ thể” [15, tr.37]

Theo Robert S Feldman: “nhận thức là quá trình tinh thần bậc cao qua đó chúng ta hiểu thế giới, xử lý thông tin, phán đoán, quyết định, và chia sẻ hiểu biết với người khác” [12, tr.308]

Xuất phát từ cách tiếp cận hoạt động liên quan đến các hiện tượng tâm lý của các nhà tâm lý Xô viết cũ, các nhà tâm lý học Việt Nam đã đưa ra các khái niệm nhận thức đa phần là tương đồng nhau Theo giáo sư Phạm Minh Hạc, giáo

sư Nguyễn Quang Uẩn, Hoàng Thị Thu Hiền: “Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình” [13], [16], [47]

Cũng có quan điểm cho rằng: “Nhận thức là hoạt động tâm lý của con người hướng vào đối tượng để nhận biết về nó tồn tại dưới dạng những tri thức” [10, tr.122] Với những cách tiếp cận về khái niệm nhận thức ở trên, theo em khi nói đến quá trình nhận thức thường đề cập các điểm sau:

- Đó là quá trình phản ánh, thu nhận thông tin (hiện thực khách quan; bản thân con người) Đây có thể xem điểm đặc trưng của quá trình nhận thức

- Là một quá trình tâm lý: có mở đầu, có diễn biến và có kết thúc Quá trình nhận thức của con người được nảy sinh từ yêu cầu thực tiễn và lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn chân lý

- Là một hoạt động tâm lý bởi vì nó có đối tượng là các “bài toán nhận thức” Hơn nữa mỗi một hành động nhận thức cụ thể bao giờ cũng hướng vào một mục đích nhất định và thực hiện bởi một hệ thống thao tác phù hợp

Trang 37

- Thông qua quá trình nhận thức con người không chỉ dừng lại ở việc nhận thức thế giới mà còn thực hiện nhiệm vụ lớn lao hơn là cải tạo thế giới

Chính vì vậy mà hoạt động dạy học và giáo dục là nhằm cho đối tượng nhận thức thực tiễn khách quan, hiểu bản chất và quy luật phát triển của sự vật hiện tượng, và giúp họ nắm được phương pháp nhận thức để tiếp tục khám phá, tìm hiểu thực tiễn hướng đến việc làm phong phú nhận thức của con người trong việc cảo tạo hiện thực và bản thân

Trong quá trình nhận thức có tác giả còn nêu lên hai loại quá trình nhận thức đó là: “ nhận thức khoa học của các nhà bác học nhằm tìm tòi sáng tạo ra cái mới cho nhân loại và hoạt động nhận thức của học sinh, sinh viên nhằm lĩnh

hội những kinh nghiệm văn hóa lịch sử của loài người” Vì vậy, theo cách hiểu

này trong chừng mực nào đó có thể hiểu quá trình nhận thức có hai loại cơ bản

là nhận thức khoa học và nhận thức thông thường Theo tác giả Bùi Mạnh Hùng:

“ nhận thức khoa học không chỉ có cấu trúc phức tạp mà còn có những đặc trưng riêng so với nhận thức thông thường và được thể hiện ở các dấu hiệu sau”:

- Thứ nhất: Mang tính khách quan, thông qua một quá trình được định hướng tự giác, tích cực, sáng tạo nhằm tiếp cận chân lý

- Thứ hai: Mang tính hệ thống, có luận cứu và sự sáng tạo tri thức khoa học mới

- Thứ ba: Luôn đòi hỏi yêu cầu cao về tính trừu tượng hóa, khái quát hóa

bề ngoài cụ thể, đơn lẻ, một cách trực tiếp các sự vật hiện tượng đến các thuộc

Trang 38

tính bản chất, bên trong, có quy luật trừu tượng và khái quát hàng loạt sự vật hiện tượng một cách gián tiếp Theo đó, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

có những đặc điểm khác biệt nhau về chất ở các mặt nội dung phản ánh, phương thức phản ánh, sản phẩm Trong hoạt động nhận thức, hai giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau V.I.Lênin đã tổng kết quy luật của hoạt động nhận thức như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [27, tr.189]

Liên quan đến quá trình nhận thức của SV trường Đại học Tây Bắc về SKSS, bản thân em muốn tìm hiểu nhận thức của SV qua việc biết, hiểu và từng bước vận dụng các tình huống về SKSS được thể hiện ở các nội dung SKSS:

- Nhận thức của SV về các nội dung cơ bản của SKSS;

1.3 Đặc điểm sinh lý, tâm lý - xã hội lứa tuổi thanh niên SV

* Đặc điểm sinh lý lứa tuổi thanh niên SV:

Ở lứa tuổi từ 18 đến 25 tuổi, hình thể thanh niên đã đạt đến mức độ hoàn chỉnh về cấu trúc và sự phối hợp các chức năng Điều này được thể hiện ở các nét chính sau:

- Chiều cao đạt 9/10 và đạt 2/3 trọng lượng của cơ thể trưởng thành

- Não bộ đã đạt trọng lượng tối đa (trung bình là 1400gram), số lượng tế thần kinh đạt mức cao nhất (14-16 tỉ)

- Hoạt động thần kinh cao cấp đã đạt mức trưởng thành Ở tuổi SV, nơron hoàn hảo hơn, cách ly tốt hơn, đốt nhánh nhiều, nhiều tế bào thần kinh có thể

Trang 39

nhận và gởi 1200 tin trước, sau Điều này làm cho trí tuệ SV vượt xa trí tuệ của học sinh phổ thông

- Đặc điểm quan trọng là các chức năng sinh sản bắt đầu quá trình phát triển đầy đủ Giới tính đã được phân biệt và phát triển đầy đủ ở mỗi giới

Bên cạnh đó, ở tuổi SV đây là giai đoạn phát triển ổn định, đồng đều về hệ

cơ xương, cơ bắp tạo nét đẹp hoàn mỹ ở người thanh niên Đồng thời các tố chất

về thể lực cũng phát triển mạnh tạo điều kiện cho những thành công rực rỡ cho đối tượng cả về lĩnh vực thể thao và nghệ thuật

* Đặc điểm tâm lý - xã hội lứa tuổi thanh niên SV

- Về mặt xã hội

Thanh niên SV là nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị, kế tục cho một đội ngũ trí thức có trình độ cao của xã hội Xã hội coi họ là một thành viên chính thức, một người trưởng thành

Nét đặc trưng của SV là hình thành con đường sống được thể hiện trong kế hoạch đường đời và tự xác định nghề nghiệp

+ Kế hoạch đường đời cũng chính là kế hoạch hoạt động của SV và nó được bắt đầu từ việc lựa chọn nghề nghiệp Mặc dù có nhiều tác động và rào cản nhất định nhưng việc lựa chọn của SV không chỉ đừng lại ở ý thích mà còn thể hiện trình độ đạo đức

+ Trong thời gian học tập, nghiên cứu và tu tưỡng rèn luyện ở trường đại học, do ảnh hưởng của nội dung các môn khoa học, việc tham gia phong trào xu hướng nghề nghiệp của SV được hình thành và phát triển Điều này thể hiện ở việc SV đã củng cố thái độ đối với nghề tương lai, có ý thức vươn lên làm chủ tri thức, hoàn thiện trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sau khi ra trường

- Về mặt tâm lý

Những đặc điểm tâm lý của thanh niên SV bị chi phối bởi những đặc điểm phát triển thể chất, môi trường và vai trò xã hội cụ thể mà họ đang sống và hoạt động Những đặc điểm tâm lý ỡ thanh niên SV rấtt phong phú, đa dạng và không đồng đều

* Sự thích nghi của SV với cuộc sống và hoạt động mới

Trang 40

Hoạt động học tập, hoạt động xã hội và môi trường sống của SV có những nét đặc trưng và đòi hỏi khác về chất so với lứa tuổi trước đó Do vậy muốn thực hiện tốt các mặt hoạt động của mình, SV phải thích nghi Quá trình thích nghi thể hiện ở các mặt sau:

+ Nội dung học tập mang tính chuyên ngành

+ Phương pháp học tập mới mang tính chất nghiên cứu khoa học

+ Môi trường sinh hoạt mở rộng phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế

+ Nội dung và cách thức giao tiếp với thầy cô giáo, bạn bè và tổ chức xã hội

* Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ của SV

Bản chất hoạt động nhận thức của những người SV trong các trường đại học, cao đẳng là đi sâu tìm hiểu những môn học, những chuyên ngành khoa học

cụ thể một cách chuyên sâu với mục đích trở thành chuyên gia về các lĩnh vực nhất định Vì lẽ đó, nét đặc trưng trong hoạt động học tập của SV là sự căng thẳng nhiều về trí tuệ, sự phối hợp của nhiều thao tác tư duy

Thời kỳ này sự phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự nâng cao năng lực trí tuệ, biểu hiện rõ nhất trong việc tư duy sâu sắc và rộng, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn, phức tạp hơn, có tiến bộ rõ rệt trong các lập luận lôgíc, trong việc lĩnh hội tri thức

Các nhà nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng hoạt động tư duy của thanh niên rất tích cực và có tính độc lập tư duy lý luận phát triển mạnh Họ có khả năng và rất ưa thích khái quát các vấn đề Sự phát triển của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo Nhờ khả năng khái quát, SV có thể tự mình phát hiện ra những cái mới Chính vì vậy với SV (cũng giống như lứa tuổi thanh niên nói chung) điều quan trọng là cách thức giải quyết vấn đề được đặt ra chứ

không phải là loại vấn đề nào cần giải quyết

Ở lứa tuổi này, trí tưởng tượng, sự chú ý và ghi nhớ đã phát triển thành khả năng hình thành ý tưởng trừu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu phát triển hiểu biết và học tập Một đặc trưng quan trọng trong phát triển trí tuệ của thời kỳ chuyển tiếp là “tính nhạy bén cao độ” SV có khả năng giải thích và gán ý nghĩa

Ngày đăng: 28/05/2018, 23:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Võ Kỳ Anh (chủ biên) (2004) cùng các tác giả khác, Tài liệu giáo dục giới tính, phòng chống tệ nạn mại dâm - Tài liệu lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giáo dục giới tính, phòng chống tệ nạn mại dâm - Tài liệu lưu hành nội bộ
2. Benjamin S. Bloom (1995), Nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục. Lĩnh vực nhận thức, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục. "Lĩnh vực nhận thức
Tác giả: Benjamin S. Bloom
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
3. Đặng Quốc Bảo, Trần Trọng Thuỷ (1998) cùng các tác giả khác, Giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản và đời sống gia đình, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Giáo dục dân số và KHHGĐ , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản và đời sống gia đình
4. Bộ Giáo dục & Đào tạo, Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA). Dự án VIE/97/913 (2000), Phương pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm về sức khỏe sinh sản vị thành niên, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm về sức khỏe sinh sản vị thành niên
Tác giả: Bộ Giáo dục & Đào tạo, Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA). Dự án VIE/97/913
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
5. Bộ Giáo dục và đào tạo (MOET) Dự án VIE/01/P11, Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) (2003), Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên (Tài liệu tự học dành cho giáo viên), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên (Tài liệu tự học dành cho giáo viên)
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo (MOET) Dự án VIE/01/P11, Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA)
Năm: 2003
6. Bộ Y tế, UNICEF, Tổng cục Thống kê, WHO (2004), Điều tra quốc gia vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra quốc gia vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY)
Tác giả: Bộ Y tế, UNICEF, Tổng cục Thống kê, WHO
Năm: 2004
7. Lê Thị Bừng (2003), “Quan niệm về sự chung thuỷ trong tình yêu của sinh viên hiện nay”, Tạp chí Tâm lý học, (6), tr.19-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về sự chung thuỷ trong tình yêu của sinh viên hiện nay”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Lê Thị Bừng
Năm: 2003
8. Nguyễn Hữu Châu(chủ biên) (2006) cùng các tác giả khác, Tài liệu tập huấn giáo viên về nội dung và phương pháp giáo dục dân số - Sức khỏe sinh sản trong nhà trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn giáo viên về nội dung và phương pháp giáo dục dân số - Sức khỏe sinh sản trong nhà trường
9. Nguyễn Hữu Châu (chủ biên) (2006) cùng các tác giả khác, Giáo dục dân số - Sức khỏe sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khóa trong nhà trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục dân số - Sức khỏe sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khóa trong nhà trường
10. Nguyễn Đình Chỉnh, Nguyễn Văn Lũy, Phạm Ngọc Uyển (chủ biên) (2006), Sư phạm học tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sư phạm học tiểu học
Tác giả: Nguyễn Đình Chỉnh, Nguyễn Văn Lũy, Phạm Ngọc Uyển (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
11. Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Quang Uẩn (1989), Tâm lý học, Vụ Đào tạo Bồi dưỡng Bộ Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thuỷ, Nguyễn Quang Uẩn
Năm: 1989
12. Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ (1988), Tâm lý học tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học tập 1
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1988
13. Hoàng Thị Thu Hiền (2002), Tâm lý học đại cương, Trường Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Hoàng Thị Thu Hiền
Năm: 2002
14. Nguyễn Thị Hiền (2007), “Một số vấn đề cơ bản của tâm lý học sƣ phạm đại học”, Tập bài giảng giáo dục học đại học dành cho các lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý đào tạo và giảng viên các trường đại học, cao đẳng( Tài liệu lưu hành nội bộ ), tr.50-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản của tâm lý học sƣ phạm đại học”, "Tập bài giảng giáo dục học đại học dành cho các lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý đào tạo và giảng viên các trường đại học, cao đẳng( Tài liệu lưu hành nội bộ )
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2007
15. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển Giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Tác giả: Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2001
16. Nguyễn Ánh Hồng (2003), “Quan niệm của sinh viên về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân”, Tạp chí Tâm lý học, (9), tr.18-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của sinh viên về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Ánh Hồng
Năm: 2003
17. Đào Trọng Hùng (2005), “Giáo dục giới tính cho học sinh tuổi vị thành niên là hết sức cần thiết”, Tạp chí Thế giới mới, (638), tr.4-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục giới tính cho học sinh tuổi vị thành niên là hết sức cần thiết”, "Tạp chí Thế giới mới
Tác giả: Đào Trọng Hùng
Năm: 2005
18. Bùi Mạnh Hùng (2006), “Tiếp cận một số vấn đề về nhận thức khoa học”, Tạp chí Triết học, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Mạnh Hùng (2006), “Tiếp cận một số vấn đề về nhận thức khoa học”
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng
Năm: 2006
19. Lê Hương (2006), “Một số nét tâm lý đặc trưng của lứa tuổi thanh niên”, Tạp chí Tâm lý học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nét tâm lý đặc trưng của lứa tuổi thanh niên”, "Tạp chí Tâm lý học
Tác giả: Lê Hương
Năm: 2006
20. Đặng Phương Kiệt (1998) (chủ biên), Đào Xuân Dũng và các tác giả khác, Sức khỏe sinh sản và tâm tính dục, Trung tâm khám chữa bệnh và tƣ vấn sức khỏe Ngọc Khánh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe sinh sản và tâm tính dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w