1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ CƯƠNG LUẬN văn dạy học PHẦN TIẾNG VIỆT TRONG SÁCH NGỮ văn lớp 11

57 192 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 467,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức rõ tầm quan trọng của tiếng Việt nên từ lâu Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo đưa tiếng Việt vào giảng dạy trong nhà trường cho tất cả các bậc học.Nhưng đối với việc dạy học ph

Trang 1

QUI ƯỚC VIẾT TẮT VÀ NHỮNG KÝ HIỆU ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

SGK: Sách giáo khoa.

NXB: Nhà xuất bản.

THPT: Trung học phổ thông.

THCS: Trung học cơ sở.

: Học sinh trả lời/ thực hiện yều cầu của giáo viên

: Học sinh thảo luận nhóm

 Giáo viên yêu cầu thảo luận

: Giáo viên hỏi

: Giáo viên giảng

: Giáo viên nhận xét/ đánh giá

: Yêu cầu/ gọi học sinh trả lời câu hỏi

@: Giáo viên sử dụng bảng phụ, sơ đồ.

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tiếng Việt là môn cơ bản có vị trí và vai trò quan trọng trong nhà trường Nókhông chỉ cung cấp ngôn ngữ mà còn hình thành khả năng tư duy sáng tạo cho việctiếp nhận rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của học sinh Trong bài

“Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh: “Tiếng Việt của chúng ta rất giàu; tiếng ta giàu bởi đời sống muôn màu, đời sống tư tưởng và tình cảm dồi dào của dân tộc; bởi kinh nghiệm đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội, đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm, bởi những kinh nghiệm sống của bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước” [4, 336] Với

vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng như vậy, tiếng Việt rất cần sự quan tâm, giữ gìn

và phát triển để tăng thêm giá trị của nó Bên cạnh đó, tiếng Việt vừa là ngôn ngữ củadân tộc, vừa là phương tiện giao tiếp của con người trong đời sống xã hội, đòi hỏi mọingười phải nâng cao nhận thức và có trách nhiệm để góp phần cho nó ngày càng trởnên phong phú, đa đạng và hoàn thiện hơn

Nhận thức rõ tầm quan trọng của tiếng Việt nên từ lâu Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã chỉ đạo đưa tiếng Việt vào giảng dạy trong nhà trường cho tất cả các bậc học.Nhưng đối với việc dạy học phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn 11 khôngphải lúc nào cũng thuận lợi Vì vậy, việc dạy học cho học sinh phổ thông, sử dụngđúng tiếng mẹ đẻ vào các hoạt động giao tiếp là rất cần thiết của người giáo viên Mặtkhác, việc dạy học tiếng Việt cho học sinh là vấn đề thách thức, vì lúc này ngôn ngữvừa là phương tiện giao tiếp, vừa là công cụ tư duy Do đó muốn có khả năng chiếmlĩnh tri thức, đòi hỏi người học cần phải phát huy tính chủ động sáng tạo trong quátrình rèn luyện kĩ năng tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ đúng mục đích để đạt hiệu quả

trong quá trình giao tiếp Vì vậy, với đề tài: “Dạy học phần Tiếng Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 (tập một) Bộ cơ bản”, mong muốn giúp học sinh phát triển

năng lực sử dụng tiếng Việt trong học tập và trong giao tiếp

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu.

Đất nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay cần những người tự chủ,năng động và sáng tạo, những con người có khả năng giải quyết những vấn đề nảy sinhtrong cuộc sống xã hội Để đáp ứng yêu cầu này, dạy học trong các nhà trường Việt

Trang 3

Nam hiện nay đang có xu hướng chuyển mối quan hệ tác động giữa thầy và trò, từtruyền thống sang hiện đại, bằng cách tiếp cận dần các phương pháp dạy học lấy họcsinh làm trung tâm.

Theo quan niệm này thì trò tự kiểm tra kiến thức bằng chính hành động củamình Trong giờ học luôn diễn ra sự đối thoại giữa trò – trò, trò – thầy, hợp tác vớibạn, học bạn Thầy cố vấn, chỉ đạo, hướng dẫn, trò chủ động tích cực Học sinh tựđánh giá, tự điều chỉnh làm cơ sở để thầy cho điểm cơ động Sự tổ chức lớp học cơđộng đã góp phần đào tạo ra những con người chủ động, tích cực, sáng tạo

Đổi mới để phù hợp với thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Đổi mới để theo kịp nền giáo dục của các nước tiên tiến trên thế giới Chính vìvậy vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn đã được nhiều nhà giáo dục đề cập đến

Trong quyển “ Phương pháp dạy học Văn” (Phan Trọng Luân chủ biên), tác

giả đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích cực và tích cực hóa từng phương phápgiảng dạy trong từng phân môn: lí luận văn học, làm văn,…Đồng thời các tác giả cũng

nêu ra cách thức để vận dụng các phương pháp trên, bởi vì ”Mỗi phương pháp có vị trí

và tính năng riêng của nó, cần được vận dụng sáng tạo trong những bài học và trường

hợp cụ thể” [6; 90] Đặc biệt là các tác giả đã đề cao việc “phát huy tính chủ thể của

học sinh, chính là đáp ứng một đòi hỏi có ý nghĩa thời đại” [6;124] Đây là quyển sách

đầu tiên được đánh giá cao về mặt phương pháp luận, điều đó rất cần thiết cho quátrình giảng dạy Nhưng để vận dụng những phương pháp đó vào thiết kế một giáo ánthì vẫn còn một khoảng cách

Nếu như quyển “Phương pháp dạy học Văn” Phan Trọng Luận đã đưa ra những vấn đề mang ý nghĩa phương pháp luận trong dạy học Văn thì ở quyển sách “ Văn học giáo dục thế kỷ XXI” tác giả đưa ra những yêu cầu kiến nghị cần thiết về việc đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm trong nhà trường làm sao “để chủ thể học sinh dưới sự hướng dẫn của thầy, cảm nhận, khám phá, lĩnh hội, chiếm lĩnh tác phẩm” [7; 290],

“không phải bản thân thầy tự khám phá, rung cảm rồi truyền đạt và học sinh theo khuôn mẫu cảm thụ phân tích của thầy” [7; 290] Đóng góp quan trọng của quyển sách này là tác giả đã đưa ra phương hướng “đổi mới thiết kế giờ học tác phẩm văn chương” Tác giả cho rằng: “Bản thiết kế giờ học không là một đề cương của nội dung cần truyền thụ qua lời diễn giảng của giáo viên” [7; 311]; “kết cấu giờ học là kết cấu của những tình huống học tập và hệ thống thao tác tương ứng chứ không phải là việc

Trang 4

sắp xếp những việc làm của giáo viên trên lớp để truyền thụ từ một phía cho học sinh Tiến trình giờ dạy do vậy là tiến trình hoạt động thực sự của bản thân chủ thể học sinh Thời gian chủ yếu phải dành cho hoạt động của học sinh” [7; 311] Với quan

niệm đó, mặc dù tác giả chưa đi vào thiết kế một bài dạy cụ thể nào nhưng cũng thểhiện một điều là quan niệm của tác giả đã thay đổi: từ mô hình soạn giáo án cũ (là đềcương chi tiết mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hết nội dung cần truyền đạt mà khônghướng đến hoạt động của học sinh) và giờ học không phải là thầy tự độc thoại mà từ

sự tham gia đóng góp xây dựng bài của học sinh Học sinh là chủ thể của quá trình dạyhọc

Tác giả Trịnh Xuân Vũ trong cuốn “Văn chương và phương pháp dạy văn chương” đưa ra quan điểm:”Muốn cải cách phương pháp, trước hết phải vượt qua một khoảng cách từ tư tưởng lí luận đến phương pháp ứng dụng để xây dựng một hệ phương pháp riêng, tích cực, hiện đại với các đặc điểm riêng biệt của nó” [10; 115].

Đồng thời tác giả đưa ra một số phương pháp dạy học như:

- “Hệ phương pháp hiện đại là hệ phương pháp học của trò chứ không phải là

hệ phương pháp dạy của thầy”[10; 116].

- “Hệ phương pháp hiện đại sử dụng hình thức “giao tiếp, đối thoại, tranh luận” của trò chứ không sử dụng hình thức “ độc thoại” của thầy”[10;120].

- “Hệ phương pháp hiện đại là phương pháp dạy học phát triển có định hướng khoa học, chứ không phải hệ phương pháp dạy học kiềm hãm, gặp lại thầy, gặp lại sách giáo khoa” [10; 122].

- “Hệ phương pháp hiện đại là hệ phương pháp dạy học tích cực Đó là việc tạo ra các mối liên hệ qua lại giữa chủ thể trò và đối tượng tác phẩm” [10;124].

Đây cũng là những kiến nghị và đồng thời cũng là những đóng góp quan trọngcho việc đổi mới phương pháp giảng dạy để cho chúng ta thấy được sự cần thiết phảiđổi mới phương pháp dạy học Nhưng, để ứng dụng các phương pháp ấy một cách cụthể thì tác giả chưa đề cập đến

Tiếp theo trong quyển “Dạy học Văn ở trường phổ thông” của Nguyễn Thị Thanh Hương đã đề cập tới vấn đề: “Đổi mới phương pháp dạy của giáo viên văn học khi học sinh là trung tâm” Trong đó: “Dạy và học cũng là một khoa học, nó đòi hỏi

có phương pháp riêng phù hợp với quá trình giảng dạy và học sinh do giáo viên chỉ đạo, nhờ đó mà học sinh lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo nhằm từng bước

Trang 5

hoàn thiện về nhân cách” [5;162] Ngoài ra tác giả còn nêu lên thực trạng của phương pháp dạy học truyền thống “ Thầy cô là tất cả, là nguồn kiến thức Do vậy người giáo viên thường che lấp tài liệu học tập, người học sinh trở thành đối tượng, thành khách thể của quá trình nhận thức, thành đối tượng, thành “bình chứa” để giáo viên rót kiến thức Kết quả là học sinh khi đào tạo ra sẽ trở nên thiếu sáng tạo, thụ động trong cuộc sống, trong công việc, bởi vì trong nhà trường họ đã có thói quen học vẹt, học theo điệu sáo” [5;164] Cuối cùng tác giả đưa ra kết luận là: “ Mục đích của phương pháp học văn mới là làm sao để chủ thể người học dưới sự hướng dẫn của người thầy, tự cảm nhận, khám phá tác phẩm để tạo ra được một sự phát triển toàn diện về trí tuệ, năng lực, nhân cách người học” [5; 178] Đây là một đóng góp quan trọng của tác giả

trong việc đổi mới phương pháp dạy học – lấy học sinh làm trung tâm

Nếu các nghiên cứu trên trình bày những vấn đề lí luận chung về phương pháp

dạy học văn thì Lê A trong quyển “Phương pháp dạy học Tiếng Việt”, đề cập đến phương pháp dạy tiếng Việt, cho rằng: “Phương pháp dạy tiếng không chỉ giải quyết vấn đề “dạy cái gì” mà còn cần phải giải quyết vấn đề “dạy như thế nào” Các phương pháp dạy học tiếng Việt cần phải giải quyết mà câu hỏi thứ hai đề ra” [1; 62].

Và tác giả cũng giới thiệu quan niệm về phương pháp dạy học: “Phương pháp dạy học

là cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực” [1; 62] Tác

giả cho rằng khi giáo dục học nghiên cứu và đề xuất hệ thống phương pháp dạy học

nói chung thì “Đó là hệ thống có tính chất khái quát và tổng hợp Từng bộ môn lại vận dụng hệ thống đó trên cơ sở đặc trưng môn học và những đặc thù của quá trình tổ chức dạy học môn học đó” [1; 62] Đối với môn Tiếng Việt đặc trưng của môn học

này gồm hai bộ phận: tri thức về ngôn ngữ học như một ngành khoa học nghiên cứu vềngôn ngữ và Tiếng Việt với tư cách là một công cụ giao tiếp xã hội nên việc học tiếng

Việt là “học cơ cấu hệ thống tiếng Việt gồm các bộ phận hợp thành như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; là học các quy tắc sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp xã hội và các sản phẩm tạo ra trong quá trình đó – các kiểu ngôn bản khác nhau” [1; 13] Chính

định hướng này mà việc xác định các phương pháp dạy học để giảng dạy cho mônTiếng Việt ở trường THPT phải căn cứ vào các đặc trưng trên Ngoài ra, tác giả cònchỉ ra những cơ sở để xác định phương pháp dạy học môn Tiếng Việt Đó là căn cứvào những cơ sở trong tiềm năng ngôn ngữ và thực tiễn sử dụng ngôn ngữ của người

Trang 6

học Và những cơ sở trong vốn kiến thức mà người học tích lũy được trong nhàtrường Trong tài liệu này tác giả đã phân chia khá cụ thể những phương pháp dạy họccho từng phân môn cụ thể của môn Tiếng Việt Trong đó có phương pháp dạy nhữngvấn đề lí thuyết chung về tiếng Việt và ngôn ngữ, phương pháp dạy học từ ngữ,phương pháp dạy học ngữ pháp, phương pháp dạy phong cách học Đây là công trìnhnghiên cứu góp phần xác định phương pháp phù hợp, để việc giảng dạy tiếng Việt đạthiệu quả cao.

Tiếp theo là công trình nghiên cứu của nhóm giảng viên trường Đại học Cần

Thơ về “Lí luận dạy học Ngữ Văn” Mục tiêu của bài giảng này là lấy học sinh làm

trung tâm trong quá trình dạy học, điều này được thể hiện rõ nhất là trong năm định

hướng dạy học của Marzano: “Phương pháp dạy học tích cực là tích hợp thường xuyên các mối quan hệ giáo dục như: trò – lớp – thầy trong quá trình dạy học, trong

đó, trò là chủ thể[3; 28] Đặc biệt là phần hai của bài giảng, các tác giả đã hệ thốnglại một số phương pháp dạy học Ngữ Văn trong nhà trường như: phương pháp đàmthoại, phương pháp đọc tác phẩm, phương pháp diễn giảng,…Và trong từng phươngpháp có ví dụ minh họa cụ thể, giúp người đọc, người học có thể nắm bắt vấn đề mộtcách nhanh chóng Đây là bài giảng được nhiều người đánh giá cao và theo tôi đây làgiáo trình hoàn chỉnh nhất về cơ sở lí luận chung cho việc áp dụng các phương phápdạy học tích cực, hiện đại vào giảng dạy Văn

Nếu như bài giảng “Lí luận dạy học Ngữ Văn” nêu lên cơ sỏ lý luận chung và

một số phương pháp dạy Văn trong nhà trường, phạm vi tương đối rộng thì ở chuyên

đề “Tổ chức học hợp tác trong dạy học Ngữ Văn” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam

đã cụ thể hóa phương pháp dạy học hiện đại là “học hợp tác” Trong chuyên đề này

tác giả nêu khái niệm cũng như lý do và những yêu cầu cần lưu ý khi tổ chức dạy họcthảo luận nhóm Thực chất của phương pháp này còn tương đối mới trong dạy họcnhất là dạy học Ngữ Văn, vì thế sự ra đời của chuyên đề này là một đóng góp quantrọng cho xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện đại theo quan điểm lấy họcsinh làm trung tâm trong quá trình dạy học

Dù ở nhiều mức độ khác nhau nhưng hầu hết các tác giả đều cho chúng ta thấyđược vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu cấp thiết đòi hỏi cần phải có sựcải cách kịp thời nhất là trong xu hướng hiện nay, nội dung và mục đích dạy học thayđổi (gần đây nhất là sự cải cách sách giáo khoa) thì mỗi giáo viên đứng lớp phải thay

Trang 7

đổi phương pháp dạy sao cho phù hợp Điều đáng ghi nhận của những công trình trênlà: đây thật sự là những công trình nghiên cứu có giá trị về mặt phương pháp luận choviệc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường hiện nay Vấn đề còn lại tùy thuộcvào khả năng vận dụng thành công những phương pháp đó vào việc thiết kế bài giảngđạt hiệu quả.

3 Mục đích nghiên cứu.

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được các yêu cầu sau:

- Nắm được những nét cơ bản của lý luận dạy học hiện đại

- Tìm hiểu chương trình SGK lớp 11, đặc biệt là chương trình tiếng Việt lớp 11(tập một) Bộ cơ bản

- Thiết kế một số giáo án trên cơ sở vận dụng lý luận dạy học hiện đại, theo xuhướng tích cực hóa vai trò của học sinh trong học

- Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng (1tiết).

- Phong cách ngôn ngữ báo chí (2 tiết).

5 Phương pháp nghiên cứu.

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã thực hiện các nghiên cứu sau:

- Phân tích chương trình SGK lớp 11 tập 1

- Tổng hợp các kiến thức về phương pháp dạy học

- Vận dụng các phương pháp dạy học vào việc soạn những bài giáo án lớp 11(tập một)

- Trong quá trình thực hiện, chúng tôi còn sử dụng những phương pháp như:phân tích, chứng minh, đối chiếu, so sánh,…

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI GIẢNG TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 (TẬP MỘT) BỘ CƠ BẢN

1 CÁC ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC CỦA MAZANO.

1.1 Thái độ và sự nhận thức tích cực với việc học.

Để học sinh có thể đạt kết quả cao trong học tập, phải rèn luyện cho các em thái

độ và sự nhận thức tích cực về việc học Có nghĩa là giáo viên phải biết những yếu tốnào chi phối thái độ và nhận thức của học sinh về việc học, từ đó có những tác độngtích cực vào các em Những nhân tố đó là: không khí học tập và nhiệm vụ học tập

Không khí học tập bao gồm: không khí vật lý (nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh,mùi vị trong lớp học) và không khí tâm lí (quan hệ thầy – trò , trò – trò) Nếu khôngkhí vật lý phụ thuộc vào những yếu tố khách quan, điều kiện cơ sở vật chất của nhàtrường, thì không khí tâm lí phụ thuộc vào chủ quan của người thầy Người thầy vàolớp với một nét mặt vui tươi, giọng nói ấm áp, hài hước một chút sẽ tạo cho các emmột tâm lí thoải mái khi bước vào giờ học Giáo viên nên để học sinh tự do trao đổivới mình, với bạn bè về các vấn đề liên quan đến bài học Tuy nhiên, khi trao đổi giáoviên phải bao quát lớp, không để các em nói chuyện riêng Thầy với trò vừa có khoảngcách lại vừa gần gũi Giáo viên phải làm cho học sinh thấy mình đang ở trong mộtkhông khí hòa đồng mọi người cùng chung một mục đích là khám phá kiến thức

Để học sinh có thái độ và sự nhận thức tích cực, cần cho các em thấy rõ nhiệm

vụ học tập của mình Học để làm gì? Những bài tập các em làm, những câu hỏi các emtrả lời, sẽ có ứng dụng như thế nào? Giải đáp được những câu hỏi đó tự các em sẽ cóthái độ học tập đúng đắn, các em sẽ có niềm tin và cảm thấy yên tâm khi được tin cậy

Từ đó việc học tập của các em sẽ đạt kết quả cao hơn

1.2 Thu nhận và tổng hợp kiến thức.

Mục đích của việc dạy học là truyền đạt kiến thức cho học sinh Mazano chia

ra hai kiến thức là kiến thức thông báo và kiến thức quy trình Kiến thức thông báo lànhững kiến thức mà học sinh cần hiểu, cần biết

- Kiến thức thông báo (sự kiện, khái niệm, định nghĩa,…) và được thực hiệnqua 3 giai đoạn: Xây dựng ý nghĩa, sắp xếp ý, ghi nhớ kiến thức

Trang 9

Nếu như kiến thức thông báo giúp học sinh cần hiểu, cần biết thì kiến thứcquy trình sẽ cung cấp cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức ấy vào cách giải bàitập, viết văn.

- Kiến thức quy trình (cách làm các thí nghiệm, cách làm một bài tập, cáchđặt câu,…) cũng thực hiện qua 3 giai đoạn: xây dựng mô hình, định hình kiến thức,thu nhận kiến thức

Giáo viên không đem sẵn kiến thức cho học sinh mà dạy cho học sinh cách tự

chiếm lĩnh kiến thức Theo tác giả Lê Phước Lộc trong cuốn “Lý luận dạy học” thì:

Để tiếp thu tốt kiến thức thông báo, giáo viên phải giảng cho học sinh hiểu khái niệm,sắp xếp lại các thông tin sao cho nó hệ thống và logic cho nhau Cuối cùng là làm chohọc sinh ghi nhớ kiến thức bằng cách tóm tắt thông tin hoặc so sánh các thông tin

Để tiếp thu tốt kiến thức qui trình, giáo viên phải xây dựng và giảng giải quitrình hoặc các bước thao tác cho học sinh Sau đó, luyện tập để hình thành chúng trongđầu và nhập tâm bằng cách cho học sinh luyện tập ở nhà

1.3 Mở rộng và tinh lọc kiến thức.

Nếu phương pháp dạy học truyền thống lấy thuộc lòng làm cơ sở cơ bản đểđánh giá học sinh thì phương pháp dạy học hiện đại đánh giá cao sự suy nghĩ, tư duyđộc lập của các em Vì vậy, việc mở rộng và tinh lọc kiến thức là rất cần thiết Sự vật,hiện tượng luôn luôn có sự biến đổi Do đó, có những kiến thức, kĩ năng hôm trước làmới nhưng hôm sau nó trở nên lạc hậu Giáo viên phải hình thành cho các em thóiquen tư duy sáng tạo, không ngừng mở mang kiến thức sách vở mà còn phải học kiếnthức từ đời sống thực tế Vừa mở rộng, vừa tinh lọc tức là phải chắt lọc những kiếnthức, kĩ năng cần thiết Bởi vậy, không phải kiến thức nào học sinh cũng nhớ hết, giáoviên phải dạy cho học sinh biết chọn lọc những gì quan trọng để nhớ

1.4 Sử dụng kiến thức có hiệu quả.

Mục đích cuối cùng của quá trình dạy học là dạy cho học sinh cách hành động

để trưởng thành Tức là, các em phải biết vận dụng những gì mình học được sao cho

có hiệu quả Do vậy, trong suốt quá trình dạy học giáo viên luôn phải trả lời câu hỏi:Chúng ta học vấn đề này để làm gì? Và ứng dụng vấn đề này như thế nào? Dạy chohọc sinh sử dụng kiến thức có hiệu quả là mục đích cuối cùng, cao nhất của quá trìnhdạy học Định hướng này cho phép học sinh vừa vận dụng được kiến thức đã học, vừahình thành được những kinh nghiệm riêng Để ứng dụng tốt định hướng này đòi hỏi

Trang 10

giáo viên phải xây dựng một kế hoạch, một giáo án thật kĩ lưỡng và ủng hộ nhiệt tìnhcủa học sinh Có thể nói, đây là định hướng quan trọng nhất trong các định hướng dạyhọc của Mazano.

1.5 Hình thành thói quen tư duy tích cực.

Trong những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường, học sinh được học rất nhiềukiến thức của những môn khoa học tự nhiên đến những môn khoa học xã hội và nhânvăn Học sinh không thể nhớ hết tất cả những kiến thức đó mà chỉ nhớ những kiếnthức thường xuyên phải sử dụng Do đó, hình thành thói quen tư duy cho học sinh làmột việc rất quan trọng Thói quen tư duy bao gồm: Tư duy phê phán, tư duy tự điềuchỉnh và tư duy sáng tạo Giáo viên phải có những biện pháp cụ thể để giúp các emhình thành thói quen tư duy Giáo viên có thể lấy ví dụ thực tế hoặc hướng dẫn họcsinh trong tình huống cụ thể để giúp các em hình thành thói quen Tập cho các emquen với việc lập kế hoạch, khi làm một việc nào đó hoặc khi mình sai, cố gắng tìm rađiểm sai để sửa là cách tốt nhất để rèn luyện thói quen tư duy tự điều chỉnh Ra nhữngbài tập khó là cách tốt nhất để rèn luyện tư duy sáng tạo Bởi vì, nó đòi hỏi học sinhphải biết vận dụng tất cả những kiến thức có liên quan đến vấn đề, từ đó sáng tạo racách giải quyết vấn đề Bên cạnh đó, đối thoại và tranh luận giúp học sinh phát triển tưduy sáng tạo và tư duy phê phán

Trên đây là năm định hướng trong quá trình dạy học của Mazano, một nhà giáodục người Mỹ Tuy, năm định hướng này của một nhà giáo dục người nước ngoài,nhưng nó có ý nghĩa tác dụng rất lớn đối với các giáo viên Việt Nam, nếu họ biết vậndụng nó vào quá trình dạy học của mình Điều quan trọng là biết vận dụng, kết hợp cácđịnh hướng vào từng nội dung bài học cho thích hợp

2 CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN.

2.1 Diễn giảng.

Diễn giảng là phương pháp trình bày, thông báo có hệ thống một vấn đề mớicho học sinh Học sinh tiếp thu kiến thức sau đó tái hiện lại kiến thức đó Đây làphương pháp dạy học cổ xưa nhất Ở Việt Nam, cho đến nay, phương pháp này vẫnđược sử dụng chủ yếu trong dạy học, nhất là dạy các môn khoa học xã hội

Chúng ta vẫn thường gọi phương pháp này là phương pháp dạy học truyềnthống Nếu trong một giờ dạy, giáo viên chỉ áp dụng phương pháp này thì học sinh sẽthụ động, không phát huy được tính chủ động tích cực của các em Lượng kiến thức

Trang 11

thầy truyền đạt rất nhiều nhưng trò lại dễ quên Nhưng nếu biết vận dụng, kết hợp cácphương pháp này với phương pháp khác thì đây lại là phương pháp có nhiều ưu điểm,

đó là:

- Giúp học sinh nắm được kiến thức một cách có hệ thống, tiết kiệm thời gian

- Không đòi hỏi những phương tiện dạy học đặc biệt

- Giáo viên không tốn nhiều công sức cho việc chuẩn bị bài

2.2 Đàm thoại.

Đàm thoại là phương pháp giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh trảlời hoặc trao đổi, tranh luận với nhau dưới sự chỉ đạo của thầy, qua đó tiếp cận kiếnthức Trong điều kiện thiếu phương tiện, đồ dùng dạy học thì việc sử dụng câu hỏi làmột trong những cách thức tiện lợi nhất để kích thích học sinh học tập một cách tíchcực

Phương pháp này đòi hỏi giáo viên chuẩn bị giáo án một cách kĩ lưỡng, nhất là

về hệ thống câu hỏi Các câu hỏi vừa phải có tính hệ thống, tập trung vào nội dung bàihọc, đảm bảo tính gợi mở lại vừa phải rõ ràng, ngắn gọn Không những thế, khi họcsinh đàm thoại với nhau, giáo viên còn phải họat động tích cực, chỉ đạo làm sao đểcông việc nhịp nhàng với nhau, nhắc nhở học sinh làm đúng công việc của mình vì khiđàm thoại học sinh dễ nói chuyện riêng Học sinh đàm thoại cũng là một cơ hội đểgiáo viên phần nào hiểu hơn về phẩm chất, tính cách đặc biệt là năng lực của các em

Từ đó, điều chỉnh phương pháp giảng dạy và giáo dục của mình Khi sử dụng phươngpháp này, giáo viên phải chú ý đến lượng kiến thức của bài học và từng thể loại cụ thể.Nên áp dụng hình thức học tập theo nhóm để kết hợp cho học sinh đàm thoại với nhau

và học sinh đàm thoại với thầy

2.3 Trực quan.

Trực quan là một trong những nguyên tắc dạy học cơ bản Ông cha ta có câu

“Trăm nghe không bằng mắt thấy” Học sinh đã được nghe giảng, đã được nghe ý kiếncủa bạn bè Để các em khắc sâu bài học, giáo viên nên dùng phương pháp trực quan

Có được nhìn, các em mới hình dung rõ vấn đề Có nhiều cách làm để làm phương tiệntrực quan như: sử dụng tranh ảnh, vật thật, sử dụng biểu bảng, mô hình Để có đượctranh ảnh, vật thật giáo viên phải chú ý sưu tập, tìm kiếm Nếu không, có thể sử dụngbiểu bảng, mô hình Những phương tiện trực quan này, giáo viên có thể tự làm được.Điều quan trọng khi sử dụng phương pháp này là phải vận dụng ở nội dung hợp lý

Trang 13

sáng tạo, linh hoạt để có thể tạo cho lớp học một không khí học tập sôi động và tíchcực.

Tóm lại: mỗi phương pháp đều có những ưu và nhược điểm riêng Nếu biết kếthợp các phương pháp, phát huy tối đa những ưu điểm, hạn chế tối thiểu những nhượcđiểm thì giờ học sẽ sinh động và đạt kết quả sẽ cao hơn

Trang 14

CHƯƠNG 2 SOẠN GIÁO ÁN CÁC BÀI TIẾNG VIỆT TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 (TẬP MỘT) BỘ CƠ BẢN

1 Cấu trúc chương trình tiếng Việt.

Chương trình tiếng Việt bậc THPT là sự nối tiếp kiến thức của chương trìnhTHCS dựa trên sự nối tiếp của hệ thống kiến thức (từ đơn giản đến phức tạp) với mụctiêu tạo nên sự dễ dàng trong việc tiếp nhận tri thức ở học sinh Ví dụ:

Ở THCS, về từ, học sinh cần phải tiếp nhận những tri thức đơn giản về từ như:những kiến thức cơ bản về từ, các loại từ, sự phát triển của từ,…Còn ở chương trìnhTHPT, học sinh sẽ ôn lại những kiến thức về từ và đi sâu vào việc nghiên cứu vềnhững vấn đề cao hơn về tiếng Việt Mặt khác, những kiến thức về phong cách chứcnăng ngôn ngữ được đưa vào trong chương trình THPT Điều đó xuất phát từ nhu cầuthực tế của cuộc sống, cụ thể là do lúc học sinh tiếp xúc thường xuyên với các loại vănbản mang tính chất mẫu mực Việc đưa những kiến thức này vào chương trình giúphọc sinh có vốn hiểu biết và áp dụng chúng vào cuộc sống

1.1 Chương trình Tiếng Việt ở THCS

- Từ mượn.

- Nghĩa của từ

- Từ nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ.

- Chữa lỗi dùng từ (2

- Từ ghép.

- Từ láy.

- Đại từ.

- Từ Hán Việt (2 tiết).

- Quan hệ từ.

- Chữa lỗi về quan hệ từ.

- Từ đồng nghĩa.

- Từ trái

- Cấp độ khái quát của nghĩa

từ ngữ.

- Trường từ vựng.

- Từ tượng hình, từ tượng thanh.

- Từ địa phương và biệt ngữ xã

- Sự phát triển của từ vựng (2 tiết).

- Trau dồi vốn từ.

- Tổng kết từ vựng

Trang 15

- Trợ từ, thán từ.

- Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (2 tiết).

- Dùng cụm chủ vị để mở rộng câu.

- Câu ghép.

- Câu nghi vấn.

- Câu cầu khiến.

- Câu cảm thán.

- Câu trần thuật.

- Câu phủ định.

- Lựa chọn trật tự từ trong câu (2 tiết).

Trang 16

Dấu câu

- Ôn tập về dấu câu (dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm thán).

- Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy).

- Dấu chấm lửng và dấu chấm phẩy.

- Dấu gạch ngang.

- Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm.

- Dấu ngoặc kép.

Văn bản

- Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp.

- Các thành phần biệt lập (2 tiết).

- Nghĩa tường minh và hàm ý (2 tiết).

Hội

thoại

- Hành động nói

(2 tiết).

- Hội thoại (2 tiết).

- Các phương châm hội thoại (2 tiết).

- Chương trình địa phương.

- Ôn tập Tiếng

- Ôn tập phần Tiếng Việt.

- Ôn tập phần Tiếng Việt.

- Ôn tập và kiểm tra phần Tiếng Việt.

- Ôn tập và

- Chương trình địa phương.

- Ôn tập phần Tiếng Việt.

Trang 17

Ôn tập

Việt.

- Kiểm tra Tiếng Việt.

- Tổng kết phần Tiếng Việt.

- Chương trình địa phương.

kiểm tra phần Tiếng Việt (2 tiết).

- Chương trình địa phương.

- Kiểm tra phần Tiếng Việt.

- Chương trình địa phương

- Ôn tập phần Tiếng Việt.

- Tổng kết về ngữ pháp (2 tiết).

- Kiểm tra phần Tiếng Việt.

1.2 Chương trình tiếng Việt 11

Khái quát Đặc điểm loại hình của tiếng Việt (2 tiết)

Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (2 tiết)

Từ Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng

Ngữ Thực hành về thành ngữ, điển cố

Câu

Nghĩa của câu (2 tiết) Thực hành về lựa chọn các bộ phận Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản

Phong cách chức năng

ngôn ngữ

Phong cách ngôn ngữ báo chí (2 tiết) Phong cách ngôn ngữ chính luận (2 tiết)

Ôn tập Ôn tập phần Tiếng Việt

2 Soạn giáo án các bài tiếng Việt lớp 11 (tập một)

1 Bài: TỪ NGÔN NGỮ CHUNG ĐẾN LỜI NÓI CÁ NHÂN

(Số tiết 2, tiết 1)

I MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

1 Kiến thức

Trang 18

- Hiểu được mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung của xã hội và lời nói riêng của

2 Kiểm tra bài cũ: Không có

3 Dạy bài mới

3.1 Lời vào bài

Như chúng ta đã biết, xã hội sẽ không thể nào tồn tại được nếu không có sựxuất hiện của ngôn ngữ Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi thông tin, traođổi tư tưởng tình cảm và từ đó tạo lập các mối quan hệ xã hội Hay ngôn ngữ làphương tiện giao tiếp chung của xã hội mà mỗi cá nhân đều phải sử dụng để “phát tin”

và “nhận tin” dưới các hình thức nói và viết Như vậy, ngôn ngữ chung của xã hội vàviệc vận dung ngôn ngữ vào từng lời nói cụ thể của mỗi cá nhân ra sao, bài học hômnay chúng ta đi tìm hiểu qua bài “Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân”

3.2 Nội dung cơ bản và cách giảng dạy cụ thể

Thời

gian Nội dung lưu bảng Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

Trang 19

10’ I Ngôn ngữ - tài sản

chung của xã hội.

- Ngôn ngữ chung là ngôn

ngữ được một cộng đồng

xã hội sử dụng thống nhất

để giao tiếp

- Ngôn ngữ chung của

người Việt Nam là tiếng

Việt

- Tính chung trong ngôn

ngữ cộng đồng được biểu

hiện qua những yếu tố:

- Giới thiệu bài mới

 Để việc giao tiếp của mọingười trong cộng đồng xã hộidiễn ra dễ dàng, thuận lợi, cầnphải làm gì ?

 + 

- Để việc giao tiếp của mọingười trong cộng đồng xã hộidiễn ra dễ dàng, đòi hỏi nhữngngười tham gia giao tiếp phải cóphương tiện chung Phương tiện

gọi là tiếng mẹ đẻ, “thứ của cải

vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí

Minh)

 Tính chung trong ngôn ngữcộng đồng dược biểu hiện quanhững yếu tố nào?

 + 

 Học sinhtrả lời

 Học sinhtrả lời

 Học sinhtrả lời

Trang 20

+ Các âm và các thanh

(phụ âm, nguyên âm,

thanh điệu)

+ Các tiếng (âm tiết) tạo

bởi các âm và thanh

sang nghĩa phát sinh

II Lời nói – sản phẩm

riêng của cá nhân

- Lời nói cá nhân là sản

phẩm của một người nào

đó vừa có yếu tố quy tắc

chung của ngôn ngữ, vừa

mang sắc thái riêng và

phần đóng góp riêng của

cá nhân

- Những biểu hiện của tính

 Tính chung trong ngôn ngữcộng đồng còn thể hiện quanhững quy tắc và phương thứcnào?

 Em hiểu thế nào là lời nói cánhân?

Trang 21

riêng trong lời nói cá

 Dựa vào đâu mà em xác nhậntên của từng bạn?

+

- Tuy rằng mỗi người khi nóivẫn dung các âm, các thanhchung thuộc ngôn ngữ của cộngđồng nhưng giọng nói mỗingười có một vẻ riêng

 Từ vựng của mỗi ngôn ngữ

là tài sản chung của mọi người,nhưng mỗi cá nhân ưa chuộng

và quen dùng những từ ngữ nhấtđịnh

+ Ví dụ: Cùng nói về cái “chết”,nhưng mỗi người có cách dùng

từ khác nhau như: chết, mất, bỏmạng, hi sinh,…

- Từ ngữ là vốn chung, quenthuộc của toàn xã hội, nhưng ởlời nói cá nhân có sự chuyểnđổi, sáng tạo trong nghĩa từ,trong kết hợp từ ngữ, trong việctách từ, gộp từ, chuyển loại từhoặc trong sắc thái phong cách

Trang 22

+ Việc tạo ra các từ mới.

(Anh Thơ, Chiều xuân)

Các từ ngữ trong đoạn thơ trênđều là từ ngữ trong vốn từ vựngchung, nhưng có những kết hợp

do sự sáng tạo riêng của cá nhân

nhà thơ: dùng các từ ngữ biếng lười, nằm mặc kết hợp vời từ

đò, từ đứng kết hợp với từ quán

theo biện pháp nhân hóa Tácdụng: làm cho các vật vô trithành như có hồn, cảm xúc

 Những từ này lúc đầu do cánhân dùng Sau đó được cộngđồng chấp nhận và tự nhiên trởthành tài sản chung

+ Ví dụ: các từ ốp lát, sân chơi

trong các câu sau đều là những

từ mới được tạo ra và được sửdụng trong những năm gần đây:

 Công ti nhận xây dựng các

lò kính, nhà máy gạch ốp lát

cao cấp, sứ vệ sinh cao cấp, (Báo Quân đội nhân dân)  Còn APEC, có thể gọi là

sân chơi của thế kỷ XXI, nơi mà

ASEAN có nhiều thành viên của mình tham gia, là một thực thể

Trang 23

+ Việc vận dụng linh hoạt,

sáng tạo quy tắc chung,

đó Còn trong hai câu thơ

của Nguyễn Khuyến,

hợp tác quốc tế kiểu mới.

(Báo Sài Gòn giải phóng)

 Tìm vài ví dụ về việc tạo ra từmới ?

 Thảo luận nhóm 2 học sinh

để trả lời câu hỏi

 Phân tích việc vận dụng linhhoạt, sáng tạo những quy tắcchung ở 2 ví dụ SGK ?

 Yêu cầu học sinh trả lời

 Gọi học sinh nhận xét, bổsung

 Nhận xét

 Biểu hiện cụ thể nhất của lờinói cá nhân là phong cách ngônngữ cá nhân của nhà văn Ta gọichung là phong cách

 Đọc và trả lời bài tập 1?

 Yêu cầu học sinh trả lời

 Gọi học sinh nhận xét, bổsung

 Thảo luận nhóm 2 học sinh(2’) làm bài tập 2

 Yêu cầu học sinh trả lời

 Gọi học sinh nhận xét, bổ

 Học sinhtrả lời

 Học sinhthảo luậnnhóm

 Học sinhtrả lời

 Học sinhtrả lời

 Học sinhtrả lời

 Học sinhtrả lời

 Học sinhthảo luậnnhóm

 Học sinhtrả lời

Trang 24

mặt đất, đâm toạc – chân

mây) đi trước bộ phận chủ

ngữ (rêu từng đám, đá

mấy hòn).

 Sự sắp xếp này tạo nên

âm hưởng mạnh cho câu

 Gọi học sinh hoàn thành sơ đồ

 Nhận xét

 Dặn dò học sinh chuẩn bị tốt cho bài tiếp theo

2 Bài: TỪ NGÔN NGỮ CHUNG ĐẾN LỜI NÓI CÁ NHÂN

(Số tiết 2, tiết 2)

I MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

1 Kiến thức

Trang 25

- Giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung của xã hội và lờinói của cá nhân.

- Có ý thức sử dụng lời nói cá nhân đạt hiệu quả giao tiếp

II CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

2 Kiểm tra bài cũ

Câu hỏi: Ngôn ngữ chung là gì? Em hiểu thế nào là lời nói cá nhân? Nêu

những biểu hiện của tính riêng trong lời nói cá nhân?

3 Dạy bài mới

3.1 Lời vào bài

Ở bài học hôm trước chúng ta đã tìm hiểu khái niệm ngôn ngữ chung và lời nói

cá nhân Ngoài ra còn tìm hiểu về những biểu hiện của tính chung trong ngôn ngữcộng đồng và tính riêng trong lời nói cá nhân Vậy mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung

và lời nói cá nhân ra sao? Hôm nay chúng ta sẽ đi tìm hiểu điều đó

3.2 Nội dung cơ bản và cách giảng dạy cụ thể

Thời

gian Nội dung lưu bảng Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

- Kiểm tra bài cũ

- Vào bài mới

Trang 26

10’ III Quan hệ giữa ngôn

ngữ chung và lời nói cá

nhân

+ Ngôn ngữ chung là

phương tiện để mỗi cá

nhân sử dụng tạo ra lời nói

của mình và lĩnh hội lời

nói của những cá nhân

khác

+ Lời nói cá nhân là sự

hiện thực hóa những yếu

 + + Ví dụ: Câu nói của Bác Hồkhi người đến thăm đơn vị láimáy bay của anh hùng Cốc

“Làm thế nào để các cháu có nhiều Cốc nữa”.

+ Bác đã dựa vào cấu tạo củacâu C+V+ Bổ ngữ Song Bácmuốn nhấn mạnh phương châmhành động của bộ đội nên đãthực hiện cách đảo phần câu

Cách đảo này rất sáng tạo Mặtkhác, Bác không nói “để cónhiều tấm gương như anh hùngCốc” mà Bác nói ngắn ngọn:

 Học sinh trảlời

 Học sinh trảlời

 Học sinh trảlời

Trang 27

trên thân thể con người

sang nghĩa chỉ nơi giao

nhau của hai bức tường

tạo nên một góc Đây là

nghĩa chuyển được tạo ra

từ phương thức ẩn dụ (tức

là dựa vào quan hệ tương

đồng giữa hai đối tượng

được gọi tên)

+ Trong câu thơ của Hồ

Xuân Hương, “xuân” vừa

chỉ mùa xuân, vừa chỉ sức

sống và nhu cầu tình cảm

của tuổi trẻ

+ Trong câu thơ của

Nguyễn Du, “xuân” trong

“cành xuân” để chỉ vẻ đẹp

của người con gái trẻ tuổi

+ Trong câu thơ của

“Có nhiều Cốc nữa”.

 Đọc và trả lời câu 1?

 Gọi học sinh trình bày

 Yêu cầu học sinh khác nhận xét, bổ sung

 + 

 Đọc và trả lời câu 2?

 Gọi học sinh trình bày

 Yêu cầu học sinh khác nhận xét, bổ sung

 + 

 Học sinh trảlời

 Học sinh trảlời

 Học sinh trảlời

 Học sinh trảlời

Trang 28

Nguyễn Khuyến, “xuân”

trong “bầu xuân” chỉ chất

men nồng của rượu ngon,

đồng thời cũng có nghĩa

bóng chỉ sức sống dạt dào

của cuộc sống, tình cảm

thắm thiết của bạn bè

+ Trong câu thơ của Hồ

Chí Minh, từ “xuân” đầu

tiên có nghĩa gốc chỉ mùa

xuân đầu tiên trong năm,

từ “xuân” thứ hai chỉ sức

sống, tươi đẹp

Bài tập 3:

a Trong câu thơ

của Huy Cận, “mặt trời”

được dùng với nghĩa gốc

(chỉ một thiên thể trong vũ

trụ), nhưng dùng theo

phép nhân hóa nên có thể

“xuống biển” (hoạt động

của con người)

b Trong câu thơ

của Tố Hữu, “mặt trời”

thứ hai với nghĩa ẩn dụ,

chỉ đứa con của mẹ: Đối

với người mẹ, đứa con là

 Thảo luận nhóm 2 học sinh(2’), làm bài tập 3

 Gọi học sinh trình bày

 Yêu cầu học sinh khác nhận xét, bổ sung

 + 

 Học sinh thảo luận nhóm

 Học sinh trảlời

Ngày đăng: 28/05/2018, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Ngữ Văn 11 tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam – 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 11 tập 1
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam – 2011
3. Th.s Nguyễn Minh Chính – Ts. Nguyễn Thị Hồng Nam – Th.s Trần Đình Thích, Bài giảng Lí luận dạy học Ngữ Văn, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Lí luận dạy học Ngữ Văn
4. Phạm Văn Đồng, Về văn hóa văn học nghệ thuật, NXB Văn hóa Sài Gòn – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hóa văn học nghệ thuật
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn – 2005
5. Nguyễn Thị Thanh Hương, Dạy học Văn ở trường phổ thông, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Văn ở trường phổ thông
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội – 2001
6. Phan Trọng Luận – Trương Dĩnh – Nguyễn Thanh Hùng – Trần Thế Phiệt, Phương pháp dạy học Văn, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Văn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội – 2005
7. Phan Trọng Luận, Văn học giáo dục thế kỷ XXI, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội – 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học giáo dục thế kỷ XXI
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia HàNội – 2002
8. Nguyễn Thị Hồng Nam, Bài giảng Tổ chức dạy học hợp tác trong dạy học Ngữ Văn, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Tổ chức dạy học hợp tác trong dạy học Ngữ Văn
9. Lê Xuân Soan, Thiết kế bài dạy Ngữ Văn 11 tập 1, NXB Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài dạy Ngữ Văn 11 tập 1
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh – 2007
10. Trịnh Xuân Vũ, Văn chương và phương pháp giảng dạy văn chương, NXB Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương và phương pháp giảng dạy văn chương
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh – 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w