1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÔN TẬP THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, TẬP II, BAN CƠ BẢN

15 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 35,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bài thơ ngũ ngôn có Tiếng thu Lưu Trọng Lư, Ông Đồ Vũ Đình Liên, Em đi chùa Hương Nguyễn Nhược Pháp… Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, T.T.KH chủ yếu viết theo thể thơ th

Trang 1

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÔN TẬP THƠ MỚI TRONG

CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, TẬP II, BAN CƠ BẢN

Tác giả: Trần Thị Hằng GV: Trường THPT Hai Bà Trưng

I VỊ TRÍ CỦA THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1 Ở nhà trường phổ thông, Thơ mới là một mảng thơ hay, vì vậy so với các tác phẩm thơ

cổ, nhìn chung giáo viên, học sinh khá hứng thú Tuy nhiên, việc dạy học các tác phẩm Thơ mới ở trường trung học phổ thông hiện nay chưa đạt kết quả như mong muốn.Việc dạy học Thơ mới, ở mức độ nhất định còn theo sở thích, cảm tính, chưa kể đến những học sinh chuyên Khoa học tự nhiên Làm thế nào để việc ôn tập Thơ mới sao cho hiệu quả là việc bức thiết của nhà trường phổ thông hiện nay

1. Cấu trúc chương trình Thơ mới ở lớp 11

Sách giáo khoa Ngữ Văn 11,tập 2, ban cơ bản gồm các tác phẩm (kể cả các tác phẩm đọc thêm:

- Vội vàng – Xuân Diệu

- Tràng giang – Huy Cận

- Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử

- Tương tư – Nguyễn Bính

- Chiều xuân – Anh Thơ

II THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC THƠ MỚI Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Để có thể đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả ôn tập Thơ mới trong chương trình Ngữ Văn 11, tập 2, ban cơ bản, người viết đã tiến hành khảo sát thực trạng dạy học Thơ mới ở trường Qua khảo sát, người viết nhận thấy:

1 Về kiến thức các tác phẩm dài, phân phối thời gian ít

2 Học sinh thích Thơ mới nhưng ít hiểu biết hoặc hiểu biết hời hợt về khái quát về Thơ mới

3 Kỹ năng hệ thống hoá kiến thức trọng tâm và kỹ năng làm bài văn nghị luận xoay quanh các tác phẩm Thơ mới còn hạn chế

III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÔN TẬP THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, TẬP II, BAN CƠ BẢN

Trang 2

1 GIẢI PHÁP THỨ NHẤT: ÔN TẬP KHÁI QUÁT PHONG TRÀO THƠ MỚI (1932 – 1945)

1.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội

Một trào lưu văn học ra đời bao giờ cũng phản ánh những đòi hỏi nhất định của lịch sử xã hội.Bởi nó là tiếng nói, là nhu cầu thẩm mỹ của một giai cấp, tầng lớp người trong xã hội.Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tư sản Sự xuất hiện của hai giai cấp này với những tư tưởng tình cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùng với sự giao lưu văn học Đông Tây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời của Phong trào Thơ mới

1932-1945

1.2 Các thời kỳ phát triển của Phong trào Thơ mới

a Giai đoạn 1932-1935

Đây là giai đoạn diễn ra cuộc đấu tranh giữa thơ mới và thơ cũ Sau bài khởi xướng của Phan Khôi, một loạt các nhà thơ như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Vũ Đình Liên liên tiếp công kích thơ Đường luật, hô hào bỏ niêm, luật, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ …

b Giai đoạn 1936-1939

Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với thơ cũ trên nhiều bình diện, nhất

là về mặt thể loại Giai đọan này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn như Xuân Diệu (tập Thơ thơ 1938), Hàn Mặc Tử (Gái quê 1936, Đau thương 1937), Chế Lan Viên (Điêu tàn -1937), Bích Khê (Tinh huyết - 1939), … Đặc biệt sự góp mặt của Xuân Diệu, nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới, vừa mới bước vào làng thơ đã được người ta dành cho một chỗ ngồi yên ổn Xuân Diệu chính là nhà thơ tiêu biểu nhất của giai đoạn này.

c Giai đoạn 1940-1945

Từ năm 1940 trở đi xuất hiện nhiều khuynh hướng, tiêu biểu là nhóm Dạ Đài gồm Vũ Hoàng Chương, Trần Dần, Đinh Hùng…; nhóm Xuân Thu Nhã Tập có Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đỗ Cung…; nhóm Trường thơ Loạn có Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê,…

1.3 Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào Thơ mới

a Tinh thần dân tộc sâu sắc

Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do

b Tâm sự yêu nước thiết tha

Có thể nói, tinh thần dân tộc là một động lực tinh thần để giúp các nhà Thơ mới ấp ủ lòng yêu nước Quê hương đất nước thân thương đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ

Đó là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp (Em đi Chùa Hương); hình ảnh làng chài nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh (Quê hương) v.v…

Trang 3

Bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ nói trên, Phong trào Thơ mới còn bộc lộ một vài hạn chế Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào bế tắc, không tìm được lối ra, thậm chí thoát ly một cách tiêu cực Điều đó đã tác động không tốt đến một bộ phận các nhà

Thơ mới trong quá trình nhận đường những năm đầu sau cách mạng tháng Tám.

1.4 Đặc điểm nổi bật của Phong trào Thơ mới

a Về nội dung

- Sự khẳng định cái Tôi

- Nỗi buồn cô đơn

- Cảm hứng về thiên nhiên và tình yêu

b Một số đặc sắc về nghệ thuật

- Về thể loại, ban đầu Thơ mới phá phách một cách phóng túng nhưng dần dần trở về với

các thể thơ truyền thống quen thuộc như thơ ngũ ngôn, thất ngôn, thơ lục bát Các bài thơ

ngũ ngôn có Tiếng thu (Lưu Trọng Lư), Ông Đồ (Vũ Đình Liên), Em đi chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp)… Các nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,

T.T.KH chủ yếu viết theo thể thơ thất ngôn, còn Nguyễn Bính, Thế Lữ lại dùng thể thơ lục bát v.v…

- Cách hiệp vần trong Thơ mới rất phong phú, ít sử dụng một vần (độc vận) mà dùng

nhiều vần như trong thơ cổ phong trường thiên: vần ôm, vần lưng, vần chân, vần liên tiếp, vần gián cách hoặc không theo một trật tự nhất định…

2 GIẢI PHÁP THỨ 2: HỆ THỐNG HOÁ KIẾN THỨC CƠ BẢN MỘT SỐ TÁC PHẨM THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, TẬP 2, BAN CƠ BẢN

BÀI THƠ: VỘI VÀNG (Xuân Diệu)

BÀI THƠ: TRÀNG GIANG (Huy Cận)

BÀI THƠ: ĐÂY THÔN VĨ DẠ (Hàn Mặc Tử)

I Vài nét về tác giả, tác phẩm

1 Tác giả

2 Tác phẩm

II Nội dung, nghệ thuật

1 Nội dung

2 Nghệ thuật

Trang 4

3.GIẢI PHÁP THỨ BA: RÈN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XOAY QUANH CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI ĐÃ HỌC.

KIỂU BÀI 1: PHÂN TÍCH/ CẢM NHẬN BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ

Công thức làm bài:

1 Mở bài:

- Giới thiệu tác giả

- Giới thiệu tác phẩm

- Giới thiệu đoạn trích (nếu đề yêu cầu phân tích/ cảm nhận một đoạn trích)

2 Thân bài:

a/ Phân tích/ cảm nhận bài thơ/ đoạn trích

- Đoạn 1

- Đoạn 2

- Đoạn 3

- Đoạn n

Phân tích / cảm nhận từ nghệ thuật để nhận ra nội dung

Chú ý:

- Kiểu bài phân tích thiên về tính khách quan

- Kiểu bài cảm nhận bộc lộ rõ yếu tố chủ quan (nhận xét, đánh giá, cảm xúc, tình cảm của người viết)

b/ Tổng hợp, đánh giá:

- Giá trị nội dung

- Đặc sắc nghệ thuật

3 Kết bài: Khẳng định giá trị của tác phẩm và vị trí của tác giả

Đề: Cảm nhận của em về 13 câu thơ đầu trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu?

Hướng dẫn làm bài:

1 Mở bài:

- Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới (Hoài Thanh)

Trang 5

- Xuất xứ: Nằm trong tập Thơ thơ – là tập thơ đầu tay của nhà thơ Xuân Diệu, ngay khi mới ra đời đã gây được tiếng vang lớn Vội vàng là một trong những bài thơ xuất sắc nhất

của tập thơ

- Bài thơ thể hiện cái tôi khao khát giao cảm với cuộc đời cũng như quan niệm sống độc

đáo, mới mẻ của tác giả 13 câu thơ đầulà tôi say đắm với cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế.

2 Thân bài

a Cảm nhận khổ thơ: Tình yêu thiết tha cuộc sống trần thế

- Mở đầu bài thơ là khổ thơ ngũ ngôn thể hiện cái ước muốn kỳ lạ của thi sĩ, là ước muốn quay lại quy luật của tự nhiên:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đi đừng bay đi

+ Đây là 4 câu thơ của ước muốn.Điệp ngữ tôi muốn được nhắc lại hai lần Sau hàng ngàn năm của văn học phi ngã, thơ mới luôn khẳng định cái tôi cá nhân, Xuân Diệu

mở đầu khẳng định bằng cái tôi ước muốn.

+ Nhà thơ muốn tắt nắng, buộc gió Nắng, gió là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu,

bất biến trong vũ trụ.Ước muốn này sẽ trở nên phi lí vì khó có thể thực hiện được

+ Các từ cho, đừng điệp trong câu 2, 4:

Cho màu đừng nhạt mất

Cho hương đừng bay đi

Điệp từ này gợi cảm giác van nài, khẩn khoản Cảm hứng thơ đã xuất hiện ý thơ

của tác giả: nhà thơ muốn tắt nắng, buộc gió để nắng đừng phai màu, để gió đừng thổi, để hương còn giữ mãi Hoá ra cách nói tắt nắng, buộc gió không phải vì ghét nó mà là cách

nói rất thơ, rất lãng mạn để thể hiện một niềm vui yêu vô cùng, say đắm vô cùng của thi nhân yêu vô cùng những màu, những hương của cuộc đời và nâng niu, trân trọng và giữ gìn trong vòng tay, trong tâm hồn tha thiết yêu của mình

- Thi sĩ say đắm với cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế:

+ Từ của nối liền 4 câu thơ trên với 9 câu thơ dưới, Xuân Diệu muốn

tắt nắng, buộc gió để giữ hương sắc của cuộc đời

+ Điệp ngữ: này đây điệp lại nhiều lần gợi cảm giác hân hoan, sung sướng, hạnh

phúc vô cùng Ở đây có sự giàu có phong phú đến mức thừa thãi, đến mức tuyệt

vời của hương sắc mà nhà thơ muốn níu giữ.Này đây hiện hữu hương sắc của

cuộc sống không phải quá khứ, nơi khác mà ở ngày đay, trong lúc này.Một lần

Trang 6

nữa cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế hiện hữu cả ở không gian và thời gian.Sau điệp ngữ này là bức tranh cuộc sống hiện ra

+ Bức tranh chan chứa xuân tình được nhìn bằng trái tim mê đắm, khao khát

được tận hưởng, chiêm ngưỡng, chiếm lĩnh:

ong bướm này đây tuần tháng mật vừa là mật ngọt của thiên nhiên, hoa trái vừa

liên tưởng đến tuần trăng mật của đời người Tuần trăng mật là thời gian ngọt ngào nhất, nồng nàn nhất của những ý vị yêu đương.Thông qua sự liên tưởng này, với Xuân Diệu thời gian của đời người hình như lúc nào cũng là tuần trăng mật của lứa đôi, lúc nào cũng ngọt ngào nhất

hoa đồng nội xanh rì/ lá cành tơ phơ phất: vẻ đẹp tràn đầy sức sống, một màu xanh tràn đầy sức sống với những sắc hương hoa Từ láy phơ phất, tơ phơ, cụm

từ nhiều thanh bằng cành tơ phơ phất đã gợi hình ảnh những cành lá nõn nà,

non tơ, mềm mại đung đưa trong gió, gợi vẻ yếu đuối, mong manh khiến người

ta muốn nâng niu, giữ gìn

yến anh – khúc tình si: tiếng hót của chim chóc được Xuân Diệu cụ thể hoá qua

hình ảnh của chim yến và chim anh Chim yến và chim anh là loài chim biểu tượng của tình yêu lứa đôi, hạnh phúc (loài chim luôn bay cùng nhau).Tiếng hót

của của chúng không chỉ hiện lên với âm thanh véo von, ríu rít mà còn là khúc tình si mê đắm của lứa đôi.

ánh sáng chớp hàng mi/ Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa Nếu văn học trung

đại, thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp thì đến với thơ mới, Xuân Diệu ông quan niệm hoàn toàn khác: còn người là chuẩn mực của cái đẹp, thiên nhiên

muốn đẹp thì phải trong sự so sánh với con người (Lá liễu dài như một nét mi) Trong bài thơ này, anh sáng ấy không phải toả ra từ mặt trời mà toả ra từ

sau cái chớp mắt của hàng mi thiếu nữ Sau cái chớp mắt ấy ánh sáng toả khắp nơi đem đến tình yêu, sự sống cho khắp thế gian Nên nhà thơ đón đợi ánh sáng

như thần Vui hằng gõ cửa.Chúng ta có thể cảm nhận cái bồn chồn bên trong

trong nghe tiếng gõ của bên ngoài.Đó là xúc cảm niềm yêu của nhà thơ Niềm yêu của nhà thơ không muốn bỏ lỡ một ngày, một giờ, một khoảng khắc của một ngày mới, những nhiều vui mới, say đắm mới

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần, câu thơ 8 chữ ngắt 3/5 trọng tâm ngon.Tháng giêng ngon - ẩn dụ chuyển đổi cảm giác mùa xuân tuyệt vời, tuổi trẻ tuyệt vời So sánh có sắc thái nhục cảm như một cặp môi gần, gợi cái mê

đắm, quyến rũ, mê đắm Tất cả cuộc đời ấy như đang trong tầm tay, giữ tuổi trẻ tuyệt vời nhất Bức tranh chan chứa xuân tình, bức tranh làm nên niềm đắm say, khao khát tận hưởng là nguyên nhân cho ước muốn nhà thơ thể hiện trong bốn câu đầu

Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa, câu thơ ngắt nhịp 3/5 với dấu chấm ngắt giữa

dòng giống như ngừng lặng sau những xúc cảm Nhà thơ sung sướng vì vẻ đẹp cuộc sống

Trang 7

nơi trần thế, ngay lập tức thi nhân đã ngừng lặng vì cảm giác “vội vàng một nửa” Một nửa sung sướng, một nửa vội vàng Nhà thơ vừa sung sướng vừa vội vàng Nhà thơ vừa khao khát yêu, khao khát sống vừa lo âu, hoài nghi, chán nản vì cuộc đời ngắn ngủi

=>Thông qua phép điệp từ, điệp ngữ, láy vần, điệp thanh, hoán dụ, ẩn dụ, có cả sự chi phối của quan niệm con người là chuẩn mực cái đẹp, Xuân Diệu làm nổi bật bức tranh hình ảnh cuộc đời tràn đầy âm thanh, màu sắc, tràn đầy nồng nàn tình yêu khiến cho bức tranh thiên nhiên như cựa quậy, sinh sôi vận động đầy hương sắc khiến cho thi nhân vừa

mê đắm, vừa lo sợ sao phải giữ gìn nó cho nó khỏi tuột khỏi tầm tay

b Tổng hợp, đánh giá:

- Đoạn thơ thể hiện sống mới mẻ, vội vàng, cuồng nhiệt, cuống quýt như chạy đua với

thời gian để tận hưởng màu sắc, hương vị, vẻ đẹp của cõi trần gian và cũng là thể hiện cái tôi ham sống, muốn tận hưởng cuộc sống,…

- Sử dụng nghệ thuật điệp từ, điệp ngữ, các tính từ mạnh cộng với nghệ thuật liệt kê để

thể hiện nhịp sống hối hả, sôi nổi, cuồng nhiệt gấp gáp, cuống quýt của tác giả Thể thơ

tự do, ngôn từ hết sức táo bạo và đầy sáng tạo là một thành công đặc sắc của Xuân Diệu

3 Kết bài:

Đoạn thơ thể hiện một khát vọng sống thiết tha, mãnh liệt rất trần đời.Một hương vị lạ góp phần làm đa dạng sự mới mẻ trong phong trào thơ mới Dù rằng thơ Xuân Diệu mang một phong cách rất Tây nhưng nhìn chung lầu thơ của ông được xây dựng trên mảnh đất thơ ca truyền thống Sự tiếp thu những tư tưởng mới, biết hoà nhập nhưng không hoà tan là nét chung rất đáng ngợi ca khâm phục của Xuan Diệu nói riêng và các

nhà thơ mới nói chung Vì thế Xuân Diệu xứng đáng là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới (Hoài Thanh).

KIỂU BÀI 2: CHỨNG MINH MỘT Ý KIẾN

Công thức làm bài:

1/ Mở bài:

- Giới thiệu tác giả

- Giới thiệu tác phẩm

- Trích dẫn ý kiến

2/ Thân bài:

a Giải thích ý kiến: 5 – 7 dòng, tìm từ khóa, giải thích từ đó để xem ý kiến muốn truyền tải đến người đọc điều gì?

b Chứng minh ý kiến: dùng lí lẽ, dẫn chứng làm sáng tỏ ý kiến

Trang 8

c Bàn luận về ý kiến:

- Ý kiến đúng hay sai?

- Vì sao lại có ý kiến như vậy?

3/ Kết bài:

- Khẳng định lại vấn đề, đánh giá về tác phẩm và vị trí của tác giả

Đề :Cái “tôi” Xuân Diệu trong bài thơ Vội vàng (Theo Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo

dục Việt Nam)

Hướng dẫn làm bài

1 Mở bài

- Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới (Hoài Thanh)

- Xuất xứ: Nằm trong tập Thơ thơ – là tập thơ đầu tay của nhà thơ Xuân Diệu, ngay khi mới ra đời đã gây được tiếng vang lớn Vội vàng là một trong những bài thơ xuất sắc nhất

của tập thơ

- Bài thơ thể hiện cái tôi say đắm với cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế; cái tôi cảm nhận mới mẻ về thời gian; cái tôi khao khát mãnh liệt và có tâm thế sống cuồng nhiệt tích cực.

2 Thân bài:

2.1 Giải thích: Cái tôi:là dấu ấn, là vân tay, là một biểu hiện của phong cách nhà thơ thể

hiện trong tác phẩm

2.2 Phân tích, cảm nhận về cái tôi trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

a Cái “tôi” say đắm với cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế: biểu hiện:

* Cái “tôi” ước muốn của Xuân Diệu (4 câu đầu)

٭Cái tôi say đắm với cuộc sống tươi đẹp nơi trần thế: (9 câu tiếp)

b Cái tôi quan niệm tích cực về thời gian và tuổi trẻ

(Từ câu 14 đến câu 30)

c Cái tôi khao khát tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời (9 câu cuối)

2.3 Bàn luận, đánh giá

- Cái tôi Xuân Diệu thể hiện qua bài thơ rất điển hình cho thời đại thơ mới Sự hình thành

của cái tôi này do nhiều yếu tố chi phối, nhưng quan trọng nhất do bản thân thi sĩ luôn là

người khát khao giao cảm với cuộc đời

- Liên hệ cái tôi trong thơ Huy Cận, trong thơ Hàn Mặc Tử,…

Trang 9

3 Kết bài

Qua bài thơ, chúng ta thấy được cách thể hiện tâm trạng của Xuân Diệu trong bài thơ Vội vànglà rất mới, rất lạ, rất Xuân Diệu, xưa nay chưa từng có Hình ảnh và ngôn ngữ thơ rất

mới lạ và táo bạo, nhưng chính cái táo báo ấy mới giúp tác giả thể hiện cái tôi trữ tình trong bài thơ, mới bày tỏ hết sự nồng nàn say đắm của lòng yêu Bài thơ như lời giục giã yêu đương, lời kêu gọi tuổi trẻ hãy sống cho sôi nổi và mãnh liệt Qua đó tác giả giúp chúng ta khám phá ra chân giá trị của cuộc đời mà nếu sống hời hợt, nông nổi thì khó nhận ra được

KIỂU BÀI 3: KIỂU BÀI SO SÁNH

Công thức làm bài:

1 Mở bài:

- Giới thiệu 2 tác giả và 2 tác phẩm

- Giới thiệu 2 đoạn thơ/ 2 chi tiết/ 2 nhân vật/ 2 hình tượng nghệ thuật/ …

2 Thân bài:

a/ Cảm nhận về 2 đoạn văn/ đoạn thơ/ chi tiết/ nhân vật/ hình tượng nghệ thuật/ …

Trình bày về từng đối tượng theo các ý như sau:

- Giới thiệu vị trí, diễn biến dẫn đến đoạn thơ/ chi tiết… (tóm tắt ngắn gọn)

- Cảm nhận về đoạn thơ/ chi tiết/ nhân vật/ hình tượng nghệ thuật/…

- Đánh giá

+ Giá trị nội dung tư tưởng được truyền tải

+ Đặc sắc nghệ thuật

b/ So sánh

- Điểm chung (giống nhau)

+ Về nội dung

+ Về nghệ thuật

- Điểm riêng (khác nhau)

+ Về nội dung

+ Về nghệ thuật

c) Lí giải

Trang 10

- Vì sao giống?

- Vì sao khác? (Thường căn cứ vào: hoàn cảnh sáng tác, phong cách nghệ thuật của tác giả)

3 Kết bài

- Khẳng định vấn đề

- Khẳng định giá trị của tác phẩm và vị trí của tác giả

Đề : Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn thơ sau:

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

( Trích Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11, tập 2)

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

( TríchTràng giang của Huy Cận, Ngữ văn 11, tập 2)

Hướng dẫn làm bài

1 Mở bài

- Hàn Mặc Tử là nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới, cuộc đời bi thương, hồn thơ phong phú, kì lạ, sức sáng tạo mạnh mẽ, luôn bộc lộ một tình yêu đau đớn hướng về trần

thế Đây thôn Vĩ Dạ là thi phẩm xuất sắc thể hiện tấm lòng thiết tha đến khắc khoải của

nhà thơ với thiên nhiên và cuộc sống.Khổ thơ trên là khổ 2 cảu bài thơ đó là cảnh mây trời, sông nước xứ Huế và dự cảm chia xa

- Huy Cận là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới và thơ sau Cách mạng tháng Tám, hồn thơ đậm chất cổ điển, giàu suy tưởng, triết lí, nổi bật về cảm hứng thiên nhiên, tạo

vật Tràng giang là một bài thơ xuất sắc thể hiện nỗi buồn sầu trước tạo vật mênh mông,

hoang vắng, đồng thời bày tỏ một lòng yêu nước kín đáo.Khổ thơ trên là khổ thơ 1 của bài thơ đó là bức tranh sông nước buồn vắng

2 Thân bài

Ngày đăng: 28/05/2018, 21:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w