Thông thường, “Người câm” xuất phát từ việc không thể nói, sau đó được người khác hóa giải, cuối cùng là nhân vật ấy được trở lại với tiếng nói của mình.. Những nguyên ấy có thể là do mộ
Trang 1Mục lục
Lời nói đầu 3
Phần 1: Định nghĩa motif 4
Phần 2: Motif “Người câm” trong truyện “Thạch Sanh” 5
2.1 Định nghĩa motif “Người câm”: 5
2.2 Phạm vi xuất hiện của motif “Người câm” 5
2.3 Cách định danh motif “Người câm” 6
2.4 Cách xác dịnh motif “Người câm” 6
2.5 Cấu tạo của motif “Người câm” 7
2.6 Vẻ đẹp và giá trị của motif “Người câm” 8
Phần 3 Motif "Sự ra đời thần kì" và trong truyện Thạch Sanh 11
3.1 Định nghĩa motif "Sự ra đời thần kì" 11
3.2 Phạm vi xuất hiện của motif "Sự ra đời thần kì" 11
3.3 Cách định danh (gọi tên) motif "Sự ra đời thần kì" 12
3.4 Cách xác định motif "Sự ra đời thần kì" 13
3.5 Cấu tạo của motif "Sự ra đời thần kì" 15
3.6 Vẻ đẹp và giá trị của motif "Sự ra đời thần kì" trong truyện Thạch Sanh17 Kết luận 19
Phụ lục: Truyện Thạch Sanh 21
Tài liệu tham khảo 24
Trang 2Lời nói đầu
Văn học dân gian từ xưa đến nay luôn mang đến nguồn hứng khởi cho những ngòi bút đam mê khám phá Người ta tìm đến những nguồn hứng khởi ấy không chỉ qua hình ảnh, ngôn từ, nhân vật mà còn len sâu vào từng motif của tác phẩm Rồi người ta lại đào sâu, phân tíchnhững motif ấy để có thể thấy rõ hơn những tầng nghĩa sâu xa chưa được biết đến, những biểu tượng văn hoá, dân tộc của mỗi quốc gia
Nguyễn Bích Hà cho rằng: “Trước khi trở thành motif nó đã có một quá trình vận động Sau khi trở thành motif nó còn tiếp tục vận động Nói cách khác,
nó còn biến hóa, có thể phát triển thêm, biến đổi đi và cũng có thể biến mất hẳn” Có các motif giống nhau xuất hiện ở những nơi khác nhau trên thế giới, cũng là do sự tương đồng về hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, sinh hoạt ở các vùng Ví dụ như motif “hoá thân” trong truyện cổ tích Việt Nam, được lặp
đi lặp lại nhiều lần Tiêu biểu nhất cho motif này là nàng Tấm trong truyện
“Tấm Cám” với nhiều lần biến hoá, hồi sinh để trở lại kiếp người Nàng hoá thân thành quả thị, khung cửi… thể hiện khát vọng được sống, mong muốn chiến đấu và tiêu diệt cái ác, được hưởng trọn niềm vui, hạnh phúc với những gì mình có Motif “dũng sĩ diệt đại bàng cứu người” cũng là motif phổ biến trong truyện cổ tích Việt Nam Hình tượng người anh hùng Thạch Sanh cứu công chúa, nhưng bị người anh em kết nghĩa Lý Thông cướp công, cũng như hiện tượng trong xã hội thời bấy giờ Các motif thường gắn liền, gần gũi với đời sống của người lao động và khiến cho họ luôn phải suy ngẫm
Motif truyện kể đôi khi là những khái niệm rất đơn giản, thường gặp trong truyện kể truyền thống Bản thân của một motif cũng có thể là một mẫu kể ngắn, một sự việc đủ gây ấn tượng hoặc làm vui thích cho người nghe
Bài thuyết trình xin trình bày những sự hiểu biết về motif “Người câm”
và motif “Sự ra đời thần kì” trong truyện Thạch Sanh trên cơ sở lí thuyết cũng như những nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Bích Hà trong hai công trình cùng tên Trong đó, nhóm thuyết trình cũng đã chỉ ra, phân tích và làm rõ những đặc điểm của từng loại motif Nhóm thuyết trình hi vọng sẽ mang thêm những hiểu biết mới về motif nói chung cũng như hai loại motif trong bài
Trang 3Phần 1: Định nghĩa motif
Motif là một công thức có tính ước lệ, biểu trưng nghệ thuật của một cốt truyện và thường được lặp đi lặp lại để ghi nhận những ấn tượng về thực tại đặc biệt mạnh mẽ, quan trọng và lặp đi lặp lại nhiều lần, nó là một đơn vị trần thuật đơn giản nhất, bằng hình tượng và cũng là những mẫu khái quát sơ khởi có đặc điểm là tính đồng nhất và giống nhau
Thuật ngữ motif thường có quan hệ giữa đề tài và cốt truyện Motif có thể
là hạt nhân của cốt truyện Đề tài-cốt truyện có thể được coi là sự kết hợp của những motif
Một số định nghĩa khác về motif:
*Theo từ điển Văn học (bộ mới):
“Motif trong tiếng Pháp là motif, tiếng Đức là motive, tiếng Lating là moveo có nghĩa là chuyển động Còn trong tiếng Trung Quốc là mẫu đề, từ ngữ chỉ thành tố bền vững mang tính hình thức và nội dung của văn bản văn học"
Trong văn học dân gian, motif là yếu tố không thể phân chia nhỏ hơn của văn bản, ngôn bản, là những sự vật, hình ảnh, đơn vị nhỏ nhất của cốt truyện dân gian
Các motif thường chuyển dịch theo thời gian, thay đổi hàm nghĩa qua từng thời đại Các motif văn học, gần giống motif thần thoại luôn đi vào kinh nghiệm tinh thần của văn học nhân loại
*Theo Nguyễn Tấn Đắc, Stith Thompson đã viết trong Standard Dictionary of Folklore: “Motif là thuật ngữ chỉ bất kì một phần nào mà ở một tiết (item) có thể phân tích ra được Trong nghệ thuật dân gian có motif của hình phác họa (deign), là những hình mẫu khác theo một kiểu cách riêng biệt nào đó Trong âm nhạc và bài hát dân gian cũng có những khuôn nhạc giống nhau thường trở lại luôn Lĩnh vực mà motif được nghiên cứu nhiều nhất và phân tích cẩn thận nhất là truyện kể dân gian như truyện cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại, ballad" [Nguyễn Tấn Đắc, 2001, tr.26-27]
Motif truyện kể đôi khi là những khái niệm rất đơn giản, thường gặp trong truyện kể truyền thống Bản thân của một motif cũng có thể là một mẫu kể ngắn và đơn giản, một sự việc đủ gây ấn tượng hoặc làm vui thích cho người nghe Thuật ngữ motif muốn trở thành một phần thật sự của truyện thì bản thân
Trang 4nó phải làm cho người ta nhớ và lặp đi lặp lại, nó phải khác với cái chung
chung.
Phần 2: Motif “Người câm” trong truyện “Thạch Sanh”
2.1 Định nghĩa motif “Người câm”:
“Câm” ở đây được hiểu dưới hai góc độ Thứ nhất, câm là cách hiểu thiên
về bệnh lí Còn cách hiểu thứ hai, câm là sự câm lặng Và motif “Người câm” được hiểu theo cách này Tức là tình tiết câm lặng của nhân vật câm xuất hiện với mật độ khá dày đặc trong cốt truyện và có quan hệ khắng khít với nhân vật chính Tuy không phải là tình tiết trung tâm của câu chuyện, nhưng “sự câm lặng” chính là chi tiết ấn tượng đóng góp cho nhân vật Cũng như những motif khác, motif “Người câm” ở đây được vận động, phát triển và chuyển hóa Thông thường, “Người câm” xuất phát từ việc không thể nói, sau đó được người khác hóa giải, cuối cùng là nhân vật ấy được trở lại với tiếng nói của mình
Trong truyện cổ, sự câm lặng của nhân vật chỉ mang tính chất nhất thời
Có nghĩa là, nhân vật câm sẽ nói năng trở lại sau một thời gian nhân vật chính trải qua những gian nan, thử thách nghiệt ngã và nhận về niềm vinh quang, hạnh phúc
2.2.Phạm vi xuất hiện của motif “Người câm”
Hiện tượng “Người câm” là một hiện tượng khá phổ biến trong truyện cổ tích thần kỳ Trong số 80 truyện mà tác giả Nguyễn Bích Hà đã nghiên cứu thì
có đến 11 truyện xuất hiện motif này
Motif “Người câm” có ý nghĩa nhất định cho sự phát triển cho cốt truyện Không chỉ ở một kiểu truyện, đơn cử như kiểu truyện dũng sĩ như “Thạch Sanh”, mà motif này còn tồn tại trong nhiều kiểu truyện khác Có chăng chỉ khác một ít về hình thức để phù hợp với cốt truyện, còn nội dung cùng với những sự vận động, tồn tại, phát triển vẫn như thế
2.3.Cách định danh motif “Người câm”
Motif được định danh từ những đặc điểm của nhân vật Motif “Người câm” cũng không ngoại lệ Nó cũng được gọi tên trên chính sự câm lặng của nhân vật Cho dù nguyên nhân dẫn đến việc câm của những truyện khác nhau đều không giống nhau Những nguyên ấy có thể là do một lời nguyền: Cô gái có lời nguyền từ kiếp trước là không bao giờ nói chuyện với đàn ông, kể cả với cha mình (truyện Sốp Bờ Sách); Do thực hiện điều cấm kỵ: Cô gái khi về nhà chồng phải thực hiện một lời dặn: Khi nào cái kéo buộc chỉ của mẹ không tự mở thì không được nói Vì vậy cô đã im lặng trong ba năm (truyện Lauslam) Người vợ
Trang 5ngậm trong miệng một viên ngọc để chồng qua biển Chị phải im lặng cho đến khi về đến đất liền (Sự tích con sam); Do bị phù phép: Cô gái đẹp do bị phù phép nên bị câm và trở nên xấu xí (Truyện mồ côi và ba con tinh); Do giấu trong mình một điều bí mật, khi điều bí mật chưa được bộc lộ thì nhân vật không thể nói được Người vợ chờ chồng vào giải thoát cho mình nên im lặng không nói không cười (truyện “Ai mua hành tôi”) Người thiếu nữ chưa gặp được người yêu thương mình thật sự (truyện Tam phủ công đồng), cô gái chưa gặp được ý trung nhân (truyện Thạch Sanh)
Như vậy, dù nguyên nhân của motif có khác nhau đi chăng nữa nhưng tất
cả đều hướng về trung tâm của sự việc Đó chính là “sự câm” của nhân vật Và người ta định danh cho motif dựa trên điều đó
2.4 Cách xác dịnh motif “Người câm”
Motif “Người câm” có thể dễ dàng nhận thấy qua nhân vật và những tình tiết quen thuộc Nhân vật câm thường là những cô gái đẹp có thể do một lời nguyền, do thực hiện điều cấm kỵ, bị phù phép hoặc do điều bí mật chưa thể bộc lộ Kết thúc của motif này là cô gái hết câm, cười nói vui vẻ cùng mọi người và kết hôn hay trở lại và hạnh phúc với người mình yêu thương Và kết thúc ấy đã phần nào làm tăng sự hấp dẫn cũng như đáp ứng đúng sự đón đợi của độc giả
Trong công trình của mình, tác giả đã xác định motif “Người câm” bằng cách đọc nhiều truyện, sau đó tập hợp những câu chuyện có cùng motif để xác định chúng Sau đây là một số ví dụ do tác giả dẫn chứng để làm rõ cho cách xác định motif “Người câm” của mình
Đó là nàng công chúa trong truyện “Thạch Sanh”, sau những ngày mong đợi “ý trung nhân” đến nỗi “rầu rĩ mặt hoa suốt ngày không nói không cười”,
“tự nhiên nàng đứng dậy cười nói huyên thuyên Câu đầu tiên của nàng là xin vua cha cho gọi người gảy đàn vào cung” ngay khi nghe thấy tiếng đàn của Thạch Sanh vạch rõ tội ác của Lý Thông (cướp đoạt công lao và hãm hại Thạch Sanh) Truyện kết thúc với hạnh phúc của công chúa kết hôn cùng chàng Thạch Sanh
Đó còn là cô gái xinh đẹp ở truyện “Ai mua hành tôi” hay là “Lọ nước thần” từ khi bị nhà vua bắt về cung, nàng không cười không nói nhưng đến khi nhận ra được giọng nói của chồng mình qua tiếng rao thân thuộc, khuôn mặt của nàng mỗi lúc một tươi hơn, gặp lại chồng nàng đã cười nói vui vẻ
Trang 6Với những nhân vật do giấu mình trong một điều bí mật: hạnh phúc bị chia cắt, bị chiếm đoạt, phải xa người mình yêu thương cho nên nhân vật hóa câm hay giả câm Và nhân vật hết câm khi gặp lại chồng, vợ chồng đoàn tụ và cùng sống hạnh phúc còn kẻ gian ác phải trả giácho hành động tàn nhẫn của mình
Còn nàng công chúa ở truyện “Làm cho công chúa nói được” khi chứng kiến việc làm, hành động ngốc ngếch của một chàng trai tên gọi Mồ côi, cô đã nói được Ở truyện này, dù công chúa không bị lời nguyền, không bị phù phép cũng không do giữ một bí mật nào đó, nhưng nàng vẫn có biểu hiện của sự câm lặng Chính Mồ Côi là nhân vật hóa giải điều đó và kết thúc bằng việc công chúa nói được và chàng trai ngốc ấy đã trở thành phò mã
2.5 Cấu tạo của motif “Người câm”
Ở công trình của mình, tác giả Nguyễn Bích Hà đã đưa ra và phân tích ba lược đồ kết cấu của motif “Người câm” theo tứ tự từ đơn giản đến phức tạp
Đầu tiên, một lược đồ đơn giản nhất, có thể thấy ở những truyện “Tam phủ công đồng”; “Làm cho công chúa nói được”; “Sốp Bờ Sách”, … Đó là “Cô gái đẹp bị câm – gặp chàng trai – chàng trai tìm cách hoặc tìm thuốc chữa – hết câm – kết hôn”
Tiếp đến là kết cấu trong các truyện “Lọ nước thần”; “Cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán”: “Cô gái đẹp bị chiếm đoạt – câm lặng – chàng trai giao tranh với kẻ chiếm đoạt – chiến thắng – hết câm – kết hôn (hoặc kết hôn lại)”
Cuối cùng là kết cấu phức tạp hơn với nhiều tình tiết ly kỳ, hấp dẫn hơn
mà “Thạch Sanh” hay “Chàng Sính” là những đại diện cho kết cấu này Kết cấu được tóm lược như sau: “Cô gái đẹp bị chiếm đoạt – chàng trai giao tranh với
kẻ chiếm đoạt – cô gái được giải phóng – hứa hẹn kết hôn – chia tay – câm – chữa câm và bất lực – gặp lại chàng trai (hoặc tín vật của chàng trai) – hết câm – bí mật được bộc lộ - kết hôn”
Và tác giả cũng đã phân tích sâu hơn motif “Người câm” trong truyện Thạch Sanh Kết cấu truyện được xâu chuỗi qua cách hành động:
Cô gái thoát nạn trở về
Cô gái bị câm
Mọi người tìm cách chữa nhưng không khỏi
Trang 7Dũng sĩ xuất hiện
Cô gái hết câm
Các hành động ấy cũng được tác giả thể hiện qua sơ đồ:
Cô gái thoát nạn trở về
Cô gái bị câm > Mọi người cứu chữa Dũng sĩ xuất hiện > Cô gái hết câm
2.6 Vẻ đẹp và giá trị của motif “Người câm”
Có thể nói, motif dù lớn hay nhỏ vẫn có đóng góp nhất định cho giá trị của tác phẩm Bên cạnh những vẻ đẹp của nhân vật, của hành động hào hiệp trừ gian diệt bạo, motif “Người câm” còn thể hiện giá trị nhân đạo rất sâu sắc Nó đại diện cho tiếng nói và phẩm chất cũng như những ước mong của nhân dân thông qua những tình tiết trong motif này Bài phân tích của tác giả Nguyễn Bích Hà cũng đã làm rõ điều đó Không chỉ trong tác phẩm văn học, mà ngay chính trong cuộc sống thường nhật, chúng ta cũng có thể bắt gặp “sự câm” hoặc không được nói – một trong những yếu tố của motif “Người câm” Đơn cử như nghi lễ phồn thực của một số địa phương Việt Nam, ở đó có tục tắt đèn đuốc cho trai gái tự do trên những thửa ruộng khô, và một điều cấm kỵ trong tục ấy là thực hiện trong bóng tối và không được nói Điều này đã thể hiện một phong tục
xa xưa của người Việt ta cũng như bày tỏ những sự mong muốn về một vụ mùa bội thu cũng như ước nguyện con cháu đầy đàn của những người tham gia nghi lễ
Như đã trình bày bên trên, motif “Người câm” không khó tìm Và trong
số 11 tác phẩm có sự xuất hiện motif này như đã trình bày, tác giả bài nghiên cứu cũng đã phân tích những giá trị của nó từ một số tác phẩm Trước hết là thần thoại Hi Lạp với truyện “Chàng Ooc phê”, câu chuyện cảm động của một người chồng xuống tận nơi âm phủ, trải biết bao gian nan để tìm vợ làm thấu động âm gian Thế nhưng kết thúc truyện không đẹp bởi vì chàng đã phạm phải điều cấm kỵ là không được quay lại và không được nói Từ đó, chúng ta có thể nhìn thấy được phần nào những chi tiết của motif “Người câm”, dù kết cục không như sự đón đợi, nhưng truyện cũng đã thể hiện được tình yêu sâu sắc, thủy chung, trọn nghĩa chồng vợ của nhân vật
Tiếp nữa là “Những con thiên nga”, một truyện cổ tích của Đức, cũng là việc phải câm lặng để thực hiện mong ước Ở đây là việc cô em gái đi tìm cây
Trang 8tầm ma và dệt áo cho mười hai người anh đã bị phù phép thành những con thiên nga để trở lại hình người Và tình yêu thương của người em đến những người anh của mình đã được gửi gắm qua đó Truyện cổ thường có những điều cấm
kỵ trong đó có việc ‘cấm nói” Điều này liên quan đến những nghi lễ mang tính thiêng liêng quan hệ đến sinh, lão, bệnh, tử của đời người Người chết không được nói, người sống vào cõi chết không được nói và trước khi bắt đầu hồi sinh, người ta cũng không được nói Theo nghiên cứu của V Ia Prop, cái chết là sự câm lặng hoàn toàn và khi hồi sinh, người ta sẽ cất tiếng nói Và bài nghiên cứu cũng đã cho ví dụ cụ thể về điều đó Cô gái con Tạo mường trong “Sự tích con chẫu chàng” sau khi hồi sinh từ lá thuốc của người em, và lời nói đầu tiên đánh dấu cho sự biến đổi giữa sự sống và cái chết là tiếng gọi “mẹ ơi”
Trở lại với truyện cổ tích thần kì, đa số nhân vật câm đều là những người phụ nữ xinh đẹp, hiền dịu, nết na Đó là người vợ trong “Lọ nước thần”, con gái
Tể tướng trong “Mồ côi và ba con tinh”, công chúa trong “Làm cho công chúa nói được”, … Nếu như sự câm lặng liên quan đến sự sinh sản và hồi sinh, thì chắc chắn, những nhân vật nữ ấy là đại diện cho điều đó Truyện cổ có rất nhiều nguyên do để cho những nhân vật nữ phải câm lặng mà phần trên đã được đề cập Riêng ở “Thạch Sanh”, Quỳnh Nga và việc gặp gỡ Thạch Sanh là một bí mật và cũng là nguyên nhân chính khiến công chúa phải câm để giữ kín bí mật
đó Việc một công chúa quyền quý trao tặng quả tú cầu kén chồng cho ý trung nhân và quyết định chọn chàng làm phò mã là một hành động rất đẹp Đẹp ở quyền tự do yêu và quyền được chọn lựa hạnh phúc của chính bản thân mình Đẹp ở sự vượt thoát khỏi lễ giáo phong kiến của công chúa để mong ước về một hạnh phúc bình dị đời thường Điều đó cũng thể hiện được quan điểm của người dân xưa về hôn nhân và mối quan hệ cha con trong gia đình phụ quyền ngày xưa – con cái phải nghe theo sự sắp đặt của đấng sinh thành
Câm trong truyện cổ không là vĩnh viễn mà đó chỉ là chất xúc tác cho những hành động, những tình tiết, những gian nan và thành quả của những nhân vật khác làm để hóa giải hiện tượng câm ấy Câm ở đây giống như những nút thắt của sự việc và nhân vật chính trong truyện là người tháo nút Khi hóa giải được những thắt nút ấy, các nhân vật sẽ đón nhân được hạnh phúc đích thực Một ví dụ cho lí giải trên, cô gái trong “Sốp Bờ Sách”, vì lời nguyền không bao giờ nói chuyện với đàn ông nên cô phải câm lặng với cha mình Chính Sốp Bờ Sách đã hóa giải lời nguyền, cô đã phải nói bốn lần với chàng và không còn câm lặng Hay cô gái Lauslam có thể say sưa nói và hát lên nỗi lòng của mình sau khi đi qua rừng, gà gáy, cái kéo bật mở Đó là những kết thúc đẹp Bên cạnh đó
Trang 9còn có những kết thúc không mong muốn, nhân vật phải chết hoặc phải trả giá đắt do không thực hiện được điều cấm kỵ Truyện “Con sam” là một đại diện cho loại này Nhân vật đã không thực hiện việc phải câm lặng khi bay trên biển cho nên phải trả giá bằng việc rơi mất vật thiêng và phải chết Truyện cổ tích Nhật Bản cũng có một câu chuyện thuộc dạng đó – truyện “Xứ mộng của Jinnai” Chàng trai đến và sống hạnh phúc với người phụ nữ khác tại xứ mộng
mơ Vì không giữ được sự câm lặng về bí mật mà người phụ nữ ấy cấm chàng nói với những căn vặn của vợ mình, chàng đã phải chết
Còn với những câu chuyện mà nhân vật nữ phải câm lặng để giữ bí mật, người giải thoát cho sự câm lặng đó chính là đối tượng của những nỗi nhớ niềm thương, cũng là nguyên nhân trực tiếp Đó là người chồng trong “Ai mua hành tôi”, sự xuất hiện của anh chàng trong bộ dạng người bán hành đã làm người vợ bỗng nói nói cười cười sau bao ngày im thin thít Đó là “tiếng đàn Thạch Sanh” – tín hiệu của người yêu đã làm Quỳnh Nga nói cười trở lại
Tất cả những điều trên đều tập trung vào những nhân vật với việc giữ gìn những bí mật thầm kín của bản thân mình Đó là những hành động đẹp, xuất phát từ những tâm hồn đẹp Sự chung thủy trước sau như một của Quỳnh Nga, của cô gái trong “Ai mua hành tôi” là đại diện cho những phẩm chất đẹp của những người phụ nữ Việt xưa Những gian nan, vất vả của các nhân vật phải câm lặng trong “Những con thiên nga”, trong “chàng Ooc Phê” cũng vô cùng đẹp Nó thể hiện nhân cách, tấm lòng nhân hậu, vị tha, thủy chung, son sắt cũng như sự trân quý tình cảm gia đình, tình anhh em, tình vợ chồng, … Tất cả làm nên vẻ đẹp của motif “người câm” cũng như giá trị nhân đạo đáng trân trọng của motif này đã cống hiến cho kho tàng văn học dân gian Việt Nam
3 Motif "Sự ra đời thần kì" và trong truyện Thạch Sanh
3.1 Định nghĩa motif "Sự ra đời thần kì"
Như đã trình bày, motif là đơn vị tham gia cấu tạo nên cốt truyện, được hình thành ổn định và bền vững, được sử dụng phổ biến và lặp đi lặp lại trong các sáng tác văn học, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian nhằm thể hiện một tư tưởng, một quan niệm nào đó của tác giả
Motif "Sự ra đời thần kì" là loại motif thường xuất hiện ở các câu chuyện dân gian trên toàn thế giới Motif này nói về yếu tố ra đời của nhân vật chính không giống như cách tự nhiên của con người Đó không phải là kết quả trực tiếp của hành vi giao phối giữa nam và nữ mà nhân vật được ra đời dựa trên sự xúc tác với các yếu tố kỳ ảo, huyền bí như vật thần, sự hỗ trợ của thần linh Yếu
Trang 10tố này cứ lặp đi lặp lại bền vững, luôn luôn xuất hiện ở từng cốt truyện kể dân gian
3.2 Phạm vi xuất hiện của motif "Sự ra đời thần kì"
Motif "Sự ra đời thần kì" rất phổ biến trong các loại truyện kể dân gian,
Vể thể loại nó không chỉ xuất hiện trong cổ tích thần kì mà cả trong thần thoại, truyền thuyết, thậm chí trong sử thi về các nhân vật anh hùng, dũng sĩ Về mặt lãnh thổ, motif này không bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, nó phổ biến rộng khắp trong trên toàn thế giới
Trong công trình của PGS.TS Nguyễn Bích Hà, tác giả đã khảo sát trên mười truyện đến từ nhiều quốc gia, dân tộc khác nhau Tiêu biểu đó là:
Con trai của mặt trời – Việt Nam
Ivan bọt nước – Nga
Sọ dừa – Việt Nam
Von Vông và Sô Ri Vồng – Campuchia
Chàng rắn – Việt Nam
Thánh Dóng – Việt Nam
Lạc Long Quân –Việt Nam
Chú bé trái đào – Nhật Bản
Thạch Sanh – Việt Nam
Người vợ cóc – Việt Nam
Theo Propp nhận định: "Motif này không chỉ thấy có trong truyện cổ tích
mà theo sự phán đoán hiện nay thì quan niệm về sự thụ thai trinh khiết phổ biến trong mọi tôn giáo trên thế giới – từ những tôn giáo nguyên thủy và xưa nhất cho tới những tôn giáo sau này, kể cả đạo Thiên Chúa"
Thạch Sanh là một truyện cổ tích Việt Nam điển hình về sự ra đời thần kì hay nói cách khác, truyện Thạch Sanh chứa đựng motif "Sự ra đời thần kì" của nhân vật Điều đó đủ cho chúng ta thấy rằng tầm quan trọng của motif "Sự ra đời thần kì" và phạm vi phổ biến rộng rãi của nó trên toàn thế giới