1. Tính cấp thiết của đề tài (Urgency of the topic)Trong nền kinh tế thị trường, khi đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, tham gia tích cực vào các tổ chức kinh tế, tài chính thế giới; đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO, nhiều cơ hội mới đã mở ra cho sự phát triển kinh tế nước nhà. Song hành cùng những cơ hội đó là những thách thức vô cùng lớn, sự cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn, doanh nghiệp lớn của nước ngoài, có năng lực vốn mạnh mẽ, lợi thế về khoa học công nghệ kỹ thuật và trình độ quản lý. Với trình độ sản xuất còn hạn chế, tài chính còn nhỏ, trình độ quản lý còn yếu, nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh của các thương hiệu sản phấm Việt Nam trên thị trường Thế giới còn yếu, làm thế nào các doanh nghiệp Việt Nam có thể thâm nhập, phát triển và vươn xa ra thị trường quốc tế.Để đạt được mục đích phát triển lâu dài và bền vững, ngay từ bây giờ các doanh nghiệp trong nước cần phải cải thiện bài toán năng suất và chất lượng. Có thể nói, hiện nay chất lượng sản phẩm đang trở thành yếu tố cạnh tranh đóng vai trò ngày càng quan trọng. Một sản phẩm có chất lượng và có tính cạnh tranh đòi hỏi nó phải thỏa mãn được những nhu cầu tiêu dùng ngày càng phức tạp của khách hàng với chi phí thấp nhất có thế. Mà nhu cầu của người tiêu dùng thì luôn luôn thay đổi và đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng sản phẩm. Dựa vào những nhu cầu ấy, ta sản xuất những sản phẩm có những thuộc tính mà khách hàng mong muốn, đồng thời dự báo được xu hướng thay đổi nhu cầu của khách hàng trong tương lai để có thể có chiến lược nghiên cứu, sản xuất mới. Và trong quá trình sản xuất ấy, nhất thiết phải đảm bảo rằng từng khâu, từng giai đoạn sản xuất phải đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật về chất lượng. Muốn làm được điều này, khi xây dựng chính sách phát triến tổng thế, doanh nghiệp cần đưa ra chính sách chất lượng mà doanh nghiệp hướng đến là gì?; lập kế hoạch về các mục tiêu, yêu cầu chất lượng; đồng thời phải có hệ thống theo dõi, đánh giá các công việc liên quan đến toàn bộ quá trình sản xuất nhằm kiểm soát chất lượng một cách hiệu quả nhất.Công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong là một trong số các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương kinh doanh trong lĩnh vực vải các loại, may quần áo, in ấn. Nhận thấy vai trò quan trọng của công tác quản trị chất lượng sản phẩm, hơn nữa để theo kịp với nhịp độ phát triển của thời đại, ngay từ khi bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh công ty đã tiến hành lập kế hoạch và giám sát chặt chẽ chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên việc thực hiện công tác quản trị chất lượng sản phẩm của công ty vẫn còn tồn tại những hạn chế như: chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác quản trị chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa đề ra hệ thống các tiêu chí cụ thể trong quá trình kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm, nguồn vốn công ty còn hạn chế,...Với mong muốn được đóng góp ý kiến, đưa ra giải pháp để nâng cao công tác quản trị chất lượng sản phẩm của công ty, em quyết định lựa chọn đề tài “Quản trị chất lượng sản phẩm may mặc tại Công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài (Urgency of the topic)
Trong nền kinh tế thị trường, khi đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhậpkinh tế với khu vực và thế giới, tham gia tích cực vào các tổ chức kinh tế, tài chínhthế giới; đặc biệt sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chứcWTO, nhiều cơ hội mới đã mở ra cho sự phát triển kinh tế nước nhà Song hànhcùng những cơ hội đó là những thách thức vô cùng lớn, sự cạnh tranh gay gắt từcác tập đoàn, doanh nghiệp lớn của nước ngoài, có năng lực vốn mạnh mẽ, lợi thế
về khoa học công nghệ kỹ thuật và trình độ quản lý Với trình độ sản xuất còn hạnchế, tài chính còn nhỏ, trình độ quản lý còn yếu, nhiều doanh nghiệp trong nướcvẫn hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh của các thương hiệusản phấm Việt Nam trên thị trường Thế giới còn yếu, làm thế nào các doanhnghiệp Việt Nam có thể thâm nhập, phát triển và vươn xa ra thị trường quốc tế
Để đạt được mục đích phát triển lâu dài và bền vững, ngay từ bây giờ cácdoanh nghiệp trong nước cần phải cải thiện bài toán năng suất và chất lượng Cóthể nói, hiện nay chất lượng sản phẩm đang trở thành yếu tố cạnh tranh đóng vaitrò ngày càng quan trọng Một sản phẩm có chất lượng và có tính cạnh tranh đòihỏi nó phải thỏa mãn được những nhu cầu tiêu dùng ngày càng phức tạp của kháchhàng với chi phí thấp nhất có thế Mà nhu cầu của người tiêu dùng thì luôn luônthay đổi và đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng sản phẩm Dựa vào những nhucầu ấy, ta sản xuất những sản phẩm có những thuộc tính mà khách hàng mongmuốn, đồng thời dự báo được xu hướng thay đổi nhu cầu của khách hàng trongtương lai để có thể có chiến lược nghiên cứu, sản xuất mới Và trong quá trình sảnxuất ấy, nhất thiết phải đảm bảo rằng từng khâu, từng giai đoạn sản xuất phải đápứng được các yêu cầu kỹ thuật về chất lượng Muốn làm được điều này, khi xâydựng chính sách phát triến tổng thế, doanh nghiệp cần đưa ra chính sách chấtlượng mà doanh nghiệp hướng đến là gì?; lập kế hoạch về các mục tiêu, yêu cầuchất lượng; đồng thời phải có hệ thống theo dõi, đánh giá các công việc liên quanđến toàn bộ quá trình sản xuất nhằm kiểm soát chất lượng một cách hiệu quả nhất
Trang 2Công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong là một trong số các doanhnghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương kinh doanh trong lĩnh vực vải các loại, mayquần áo, in ấn Nhận thấy vai trò quan trọng của công tác quản trị chất lượng sảnphẩm, hơn nữa để theo kịp với nhịp độ phát triển của thời đại, ngay từ khi bắt đầuquá trình sản xuất kinh doanh công ty đã tiến hành lập kế hoạch và giám sát chặtchẽ chất lượng sản phẩm Tuy nhiên việc thực hiện công tác quản trị chất lượngsản phẩm của công ty vẫn còn tồn tại những hạn chế như: chất lượng nguồn nhânlực thực hiện công tác quản trị chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa đề ra hệ thốngcác tiêu chí cụ thể trong quá trình kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm, nguồnvốn công ty còn hạn chế, Với mong muốn được đóng góp ý kiến, đưa ra giảipháp để nâng cao công tác quản trị chất lượng sản phẩm của công ty, em quyết
định lựa chọn đề tài “Quản trị chất lượng sản phẩm may mặc tại Công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2 Mục đích cần tổng hợp và thể nghiệm kết quả (The objective of the research)
Hệ thống hóa một số khái niệm liên quan đến tên đề tài;
Khái quát những lý thuyết cơ bản về quản trị chất lượng sản phẩm trong cácdoanh nghiệp;
Phân tích, đánh giá thực trạng quản trị chất lượng tại Công ty TNHH MTVmay mặc Hồng Phong;
Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp quản trị chất lượng tại Công ty TNHHMTV may mặc Hồng Phong
3 Đối tượng và phạm vi tổng hợp và thể nghiệm kết quả (Research subject and domain of research)
- Đối tượng: Đề tài khóa luận tập trung tìm hiểu về vấn đề quản trị chấtlượng sản phẩm trong các doanh nghiệp nói chung và tại Công ty TNHH MTVmay mặc Hồng Phong nói riêng
- Phạm vi của đề tài:
+ Về chủ thể: Chủ thể tìm hiểu của đề tài quản trị chất lượng sản phẩm may
Trang 3mặc tại công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong;
+ Về không gian: Đề tài tổng hợp và thể nghiệm trong phạm vi công tyTNHH MTV may mặc Hồng Phong
+ Về thời gian: Đề tài được tổng hợp và thể nghiệm tại công ty từ tháng3/2017 đến tháng 8/2017 Số liệu sử dụng trong đề tài là số liệu lấy 3 năm gần đây(2014- 2016)
4 Phương pháp tổng hợp và thể nghiệm kết quả (Method of th Synthesis and Experimentation Results)
4.1 Phương pháp luận ( Methodology )
Để tiến hành những nội dung nghiên cứu, quan điểm thống nhất và xuyênsuốt trong quá trình nghiên cứu là quan điểm duy vật biện chứng và quan điểmduy vật lịch sử
- Phương pháp duy vật biện chứng được sử dụng khi coi Công ty TNHHMTV may mặc Hồng Phong hay công tác quản lý chất lượng sản phẩm may mặccủa công ty trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ vớicác sự vật, hiện tượng khác;
- Phương pháp duy vật lịch sử là xem xét, đánh giá các sự vật, hiện tượngkinh tế - xã hội theo quan điểm lịch sử Trong đề tài, phương pháp nghiên cứu nàyđược sử dụng nhằm mục đích nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển củaCông ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong , tình hình sản xuất kinh doanh, tìnhhình lao động, tình hình tài sản và các quy luật vận động của nó trong quá trìnhsản xuất kinh doanh của công ty
4.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu (Method of collecting information and data )
4.2.1 Thông tin thứ cấp (Secondary information )
- Đây là các tài liệu, số liệu từ các công trình nghiên cứu trước được lựachọn sử dụng vào mục đích phân tích, minh họa rõ nét về nội dung nghiên cứu,nguồn gốc của các nguồn tài liệu này đã được chú thích rõ trong phần “Tài liệutham khảo” Nguồn tài liệu này bao gồm:
Trang 4+ Tài liệu từ sách báo như: Các sách lý luận từ sách giáo khoa đến sáchchuyên khảo, các công trình khoa học đã được xuất bản (các đề tài nghiên cứuthuộc các cấp, các luận văn, luận án), thông tin trên mạng internet, ;
+ Tài liệu, số liệu đã được công bố về kết quả hoạt động kinh doanh, tìnhhình sử dụng chi phí kinh doanh, các số liệu này thu thập từ báo cáo tổng kếthàng năm của Công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong;
Các thông tin thu thập được, cho biết tình hình nghiên cứu trong lĩnh vựcquản trị chất lượng sản phẩm, cung cấp lý luận cơ bản, cung cấp thông tin về t ìnhhình kinh doanh nói chung của công ty và thực trạng công tác quản lý chất lượngnói riêng tại công ty trong thời gian qua
4.2.2 Thông tin sơ cấp (Primary information )
Số liệu sơ cấp được thu thập từ việc điều tra các cá nhân, bộ phận trongCông ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong, các tổ chức kinh tế trong ngành kinhdoanh và đối thủ cạnh tranh của công ty
- Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp ghi lại có kiểm soát các
sự kiện hoặc các hành vi ứng xử của con người Gồm:
+ Quan sát trực tiếp và gián tiếp bằng phiếu hỏi đã được thiết kế sẵn;
+ Quan sát ngụy trang và công khai
- Phương pháp phỏng vấn, điều tra: Đề tài đã tiến hành điều tra bằng phiếuhỏi được thiết kế sẵn đối với người lao động trong công ty để nhận thấy thái độ, ýkiến của người lao động về các chính sách quản lý, về chất lượng sản phẩm Điềunày giúp nhà quản lý dễ dàng đưa ra các chính sách phù hợp để hoàn thiện côngtác quản lý chất lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm của công ty
Các số liệu này được sử dụng để phân tích về thực trạng công tác quản lýchất lượng tại Công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong
4.3 Phương pháp xử lý thông tin ( Information processing method )
- Lựa chọn, loại bỏ những thông tin kém giá trị, phương pháp cơ bản là sosánh các nguồn tài liệu với nhau
- Tính toán lại số liệu trên cơ sở tôn trọng số liệu gốc, dùng phần mềm
Trang 5Excel tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu như số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân.
4.4 Phương pháp phân tích (Analytical methods )
- Phương pháp so sánh: Là phương pháp xem xét một chỉ tiêu dựa trên việc
so sánh một chỉ tiêu cơ sở, qua đó xác định xu thế biến động của tiêu chuẩn cầnphân tích như: so sánh biến động về cơ cấu lao động, về doanh thu, chi phi giữacác năm,
- Phương pháp mô tả: Là phương pháp dùng để diễn đạt và giải thích thôngtin đã thu thân được thông qua kết quả xử lý thông tin như mô tả về số lao động,doanh thu đạt được, chi phi bỏ ra hàng năm của công ty
5 Dự kiến những đóng góp của đề tài (The contributions of the thesis)
Hệ thống hóa một số khái niệm, lý thuyết cơ bản về quản trị chất lượng sảnphẩm trong các doanh nghiệp;
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị chất lượng sản phẩm tạiCông ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong và đưa ra một số đề xuất, kiến nghịnhằm hoàn thiện chất lượng sản phẩm tại Công ty
6 Kết cấu của đề tài (Structure of graduation paper)
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận Khóa luận bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan những vấn đề cần giải quyết đối với tên đề tài Khóa luận;Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị chất lượng sản phẩm trong cácdoanh nghiệp;
Chương 3: Thực trạng công tác quản trị chất lượng sản phẩm tại Công tyTNHH MTV may mặc Hồng Phong;
Chương 4: Nhận xét, kết luận và khuyến nghị về công tác quản trị chấtlượng sản phẩm tại Công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
ĐỐI VỚI TÊN ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN 1.1 Giải thích từ, cụm từ có trong tên đề tài (Interpretation of words, cum words named in the subject )
1.1.1 Theo nghĩa phổ thông ( In the universal sense )
- Sản phẩm: sản phẩm là kết quả của các hoạt động hoặc quá trình tập hợp
các nguồn lực và hoạt động có liên quan với nhau đế biến đầu vào thành đầu ra
- May mặc: Là thực hiện và hoàn thành công nghệ cuối cùng đưa ra sản
phẩm của ngành Vải sợi tới tay người tiêu dùng
- Công ty: là một tổ chức sản xuất, kinh doanh do nhiều thành viên cùng
góp vốn, cùng chia lợi nhuận hoặc cùng chịu lỗ, tương ứng với phần vốn góp
- Công ty TNHH: là công ty chỉ chịu trách nhiệm trong một giới hạn (hữu
hạn) nào đó về vốn, về nghĩa vụ phải trả và các vấn đề liên quan đến hoạt động
SX, KD của công ty
- MTV: là một cá nhân hoặc một tổ chức
- Công ty TNHH MTV: là công ty TNHH do MTV (có thể là cá nhân hoặc
tổ chức) chịu trách nhiệm chính đối với các hoạt động SXKD của công ty
1.1.2 Theo lĩnh vực đào tạo ( lĩnh vực kinh doanh và quản lý ) (By field
of training )
- Quản trị: là việc thực hiện các hành vi quản trị quá trình kinh doanh đểduy trì, phát triển công việc kinh doanh của một hoặc một số doanh nghiệp trongmột ngành nào đó
Trang 7- Chất lượng : Chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với
một tập hợp các yêu cầu hay tiêu chuẩn, quy cách đã xác định trước
- Công ty: Khái niệm “Công ty” (company theo tiếng Anh hay compagnie
theo tiếng Pháp) được sử dụng từ khoảng thế kỷ thứ 17 ở Châu Âu, dùng để chỉ sựhợp tác, liên kết của các cá nhân, các thương gia để thực hiện các hoạt động kinhdoanh Khái niệm “công ty” được áp dụng không hoàn toàn giống nhau trong luậtpháp mỗi quốc gia, nhưng nhìn chung, “công ty” có thể được hiểu là sự liên kếtcủa hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lý nhằm cùngtiến hành các hoạt động để đạt mục tiêu chung nhất định” (Kubler)
Dưới quan điểm pháp luật, công ty là sự liên kết của nhiều cá nhân hoặcpháp nhân, kết quả của sự liên kết này tạo ra một tổ chức được pháp luật thừanhận Việc hình thành một công ty là một sự kiện pháp lý: Công ty phải có tên gọiriêng, tên công ty được đặt theo các quy định cụ thể của luật pháp từng quốc gia;Phải có tài sản do các chủ sở hữu góp vào, tài sản của công ty có sự độc lập tươngđối với tài sản của các chủ sở hữu tùy thuộc vào từng loại hình công ty và phápluật của từng nước Khi đã góp tài sản vào công ty, tài sản đó trở thành tài sảnchung chứ không phải là tài sản của chủ sở hữu, tuy nhiên các chủ sở hữu vẫn cóquyền với phần góp của mình trong công ty Tỷ lệ vốn góp của chủ sở hữu trongcông ty có thể là căn cứ trong việc ra quyết định kinh doanh của công ty; Mục tiêucủa công ty là tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận; Công ty phải
tự chịu trách nhiệm về nợ phải trả và nghĩa vụ tài sản, nghĩa vụ thuế với ngân sáchtheo các quy định cụ thể của từng nước
Theo Luật Doanh nghiệp của Việt Nam, công ty hay doanh nghiệp là các tổchức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kýkinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh
- Công ty TNHH: là công ty trong đó các thành viên góp vốn và chịu trách
nhiệm về nợ phải trả của công ty trong phạm vi số vốn góp Công ty trách nhiệmhữu hạn có một số đặc trưng sau: Có tư cách pháp nhân đầy đủ; Các thành viên cóthể là cá nhân hoặc pháp nhân, chịu trách nhiệm hữu hạn về nợ phải trả của công
Trang 8ty; Vốn góp được chia thành các phần nhưng không nhất thiết phải bằng nhau, vốngóp của các thành viên thường được ghi trong điều lệ công ty chứ không phải trênchứng chỉ giống như công ty cổ phần Khả năng chuyển nhượng, thay đổi sở hữuvốn bị hạn chế so với công ty cổ phần; Công ty TNHH thường không được huyđộng vốn trong công chúng, thường bị giới hạn số lượng thành viên nhằm đảmbảo sự nhất trí trong quản lý doanh nghiệp.
Công ty TNHH bao gồm công ty TNHH MTV và công ty TNHH hai thànhviên trở lên TNHH của các nhà đầu tư được giới hạn trong phạm vi số vốn đã đầu
tư vào công ty Nhà đầu tư có thể yên tâm đầu tư vào công ty vì trong trường hợpxấu nhất công ty thất bại hoặc phá sản, họ chỉ mất tối đa là số vốn đầu tư, tài sản
cá nhân của nhà đầu tư sẽ không bị ảnh hưởng gì Điều này cho thấy đã có sự táchbiệt giữa tài sản, vốn của công ty với tài sản của cá nhân nhà đầu tư trong vấn đềchịu trách nhiệm về các khoản nợ phải trả Mô hình công ty đối vốn hoàn chỉnh đãxuất hiện chính từ những yếu tố pháp lý này
- Công ty TNHH MTV: Theo quy định tại điều 73 Luật Doanh nghiệp
số Luật số 68/2014/QH13 của Quốc hội có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm
2015, công ty TNHH MTV là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làmchủ sở hữu; Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tàisản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
1.1.3 Theo chuyên ngành đào tạo (Ngành quản trị kinh doanh) ( By training)
- Quản trị: Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát
những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lựckhác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
- Chất lượng: Chất lượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc
tính đáp ứng yêu cầu
- Công ty TNHH MTV: là công ty do một tổ chức làm chủ sở hữu, chủ sở
hữu của công ty phải là một pháp nhân nhưng không được phát hành cổ phiếu
Đây là loại hình đặc biệt của công ty TNHH, việc thành lập, hoạt động của
Trang 9loại hình công ty này cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp.
Chủ sở hữu của công ty TNHH MTV có thể là các công ty TNHH, công ty
cổ phần, công ty nhà nước, các tổ chức Đảng, Đoàn thể, Mặt trận tổ quốc, Hội liênhiệp phụ nữ… (được quy định cụ thể trong Luật doanh nghiệp)
Bên cạnh các quy định về chịu trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu của công
ty TNHH MTV còn bị ràng buộc bởi một số quy định khác liên quan đến vốn gópnhư: Chủ sở hữu không trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công
ty, cũng không được rút lợi nhuận của công ty khi công ty không thanh toán đượccác khoản nợ phải trả đến hạn Tuy nhiên luật doanh nghiệp cũng quy định chủ sởhữu của công ty TNHH MTV có thể được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộvốn điều lệ cho tổ chức và cá nhân khác
1.2 Xác định những nội dung cơ bản cần phải giải quyết theo đề tài ( Identify the basic content that needs to be addressed by topic )
Trong giới hạn của một khóa luận tốt nghiệp, em đã thực hiện đề tài:
“Quản trị chất lượng sản phẩm may mặc tại Công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong” qua một số nội dung cơ bản sau:
- Các khái niệm, kết luận chủ yếu có liên quan đến đề tài;
- Các loại hình cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp và sự so sánh giữacác loại hình cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp;
+ So sánh sự khác biệt giữa cơ quan quản lý hành chính nhà nước và cơquan quản lý nhà nước;
+ So sánh sự khác biệt giữa doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp TNHH,doanh nghiệp cổ phần, hộ sản xuất kinh doanh;
+ So sánh sự khác biệt giữa doanh nghiệp và cơ quan ;
- Những đặc trưng cơ bản của cơ quan hoặc đơn vị hoặc doanh nghiệpthực tập;
- Thực trạng tạo động lực cho người lao động tại doanh nghiệp thực tập vànhững nhận xét, đánh giá, kết luận và khuyến nghị đối với công tác này tại Công
ty TNHH MTV Hồng Phong
Trang 10Tóm lại, đối với đề tài: “ Quản trị chất lượng sản phẩm may mặc tại Công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong” thì mục tiêu là tìm hiểu, so sánh
công tác quản trị chất lượng tại công ty với lý thuyết cơ bản nhằm đánh giá tìnhhình thực tế về chất lượng sản phẩm trong công ty TNHH MTV may mặc HồngPhong
Từ đó, cán bộ quản trị chất lượng góp phần giúp cho lãnh đạo công ty nắmbắt được tình hình chất lượng sản phẩm, nhu cầu của thị trường để có giải pháp tácđộng kịp thời nhằm thúc đẩy quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm, ổn định chấtlượng, đem lại mục tiêu như đã định cho công ty
1.3 Kết luận chương 1 (Concludes chapter 1)
Toàn chương em đã trình bày cụ thể các khái nệm liên quan đến đề tài, xácđịnh những mục tiêu cụ thể cho đề tài làm cơ sở cho các chương sau
Trang 11CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Tổng hợp những mệnh đề, khái niệm và kết luận chung chủ yếu có liên quan đến đề tài (Synthesis of general clauses, concepts, and conclusions
is primarily concerned with the topic)
2.1.1 Khái niệm cơ bản về quản trị chất lượng sản phẩm (The basics of product quality management)
2.1.1.1 Quản trị (Administration)
Thuật ngữ quản trị được giải thích bằng nhiều cách khác nhau và có thể nói
là chưa có một định nghĩa nào được tất cả mọi người chấp nhận hoàn toàn Mary
Parker Follett cho rằng “quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua ngườikhác” Định nghĩa này nói lên rằng những nhà quản trị đạt được các mục tiêu của
tổ chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thực hiện chứ khôngphải hoàn thành công việc bằng chính mình
Định nghĩa giải thích tương đối rõ nét về quản trị được James Stoner và
Stephen Robbins trình bày như sau: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tồ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” Một định nghĩa khác được nhiều người chấp nhận nhất là “Quản trị là sự tác động
có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những kết quả cao nhất với mục tiêu đã định trước” Khái niệm này chỉ ra rằng một hệ
thống quản trị bao gồm hai phân hệ:
(1) Chủ thể quản trị hay phân hệ quản trị;
(2) Đối tượng quản trị hay phân hệ bị quản trị Giữa hai phân hệ này baogiờ cũng có mối liên hệ với nhau bằng các dòng thông tin
2.1.1.2 Khái niệm về sản phẩm (Concept of the product)
Theo TCVN ISO 8402: Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hoặc quá
Trang 12trình tập hợp các nguồn lực và hoạt động có liên quan với nhau để biến đầu vàothành đầu ra.
Nguồn lực ở đây được hiểu là nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực và thôngtin
2.1.2 Chất lượng sản phẩm (Product quality)
2.1.2.1 Một số quan điểm về chất lượng sản phẩm (Some views on product quality)
* Quan điểm siêu việt: Chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất củasản phẩm;
* Quan điểm xuất phát từ sản phẩm: Chất lượng được phản ánh bởi cácthuộc tính đặc trưng của sản phẩm;
* Quan điểm của nhà sản xuất: Chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của mộtsản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hay tiêu chuẩn, quy cách đã xác định trước;
* Quan điểm của người tiêu dùng: Chất lượng là sự phù họp của sản phẩmvới mục đích sử dụng của người tiêu dùng
Định nghĩa về chất lượng sản phẩm của ISO: Chất lượng là mức độ thỏamãn của một tập hợp các thuộc tính đáp ứng yêu cầu
2.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng (Factors affecting quality)
Các yếu tố ảnh hưởng có thể chia thành hai nhóm : các yếu tố bên ngoài vàcác yếu tố bên trong
a) Nhóm các yếu tố bên ngoài
a1) Chính trị pháp luật
Việt Nam là nước xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế chính trị tương đối ổnđịnh Tình hình chính trị khá phù hợp để Việt Nam chuyển sang quản lý kinh tếtheo cơ chế thị trường Việt Nam thiết lập mối quan hệ ngoại giao nhiều nước trênthế giới, giúp cho các doanh nghiệp nói chung và cho ngành may nói riêng có cơhội quan hệ thương mại với nước ngoài, đổi mới công nghệ sản xuất, mở rộng thịtrường tiêu thụ hàng hóa
Hệ thống pháp luật của nước ta ngày càng hoàn thiện hơn hoạt động quản
Trang 13lý nhà nước ngày càng được cải thiện Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuấthàng xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu hoặc sản phẩm kinh doanh ngành hàng sửdụng nhiều lao động nữ, nhưng trong thực tế điều này chưa thực hiện nên gây rấtnhiều khó khăn khi tham gia hội nhập quốc tế so với các nước bạn Nước ta vẫnchưa có một cơ chế thị trường hoàn hảo, chưa quy định pháp luật cạnh tranh,chống bán phá giá, hàng giả hàng nhái… Quyền lợi của nhà kinh doanh chânchính chưa được đảm bảo Khi tham gia vào thị trường thế giới lại phải chịu tácđộng những văn bản pháp lý trong và ngoài nước như mã hàng , nhãn hiệu…
a2) Kinh tế
Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng quan tâm nhiều vấn đềchất lượng trong cuộc sống Mặt khác, thị trường tiêu thụ chủ yếu của các xínghiệp các nước có nền kinh tế phát triển, người tiêu dùng ở các nước này có nhucầu cao về chất lượng, về tính tiện lợi an toàn khi sử dụng sản phẩm Để đáp ứngnhu cầu của người tiêu dùng, khách hàng, đòi hỏi xí nghiệp phải quan tâm ngàycàng nhiều hơn đến hoạt động quản trị chất lượng sản phẩm Nhu cầu chất lượngcuộc sống con người không chỉ gói gọn trong cuộc sống cá nhân mà còn cả chấtlượng xã hội Người sử dụng sản phẩm không chỉ đòi hỏi chất lượng cao mà cònphải bảo vệ môi trường sống Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất của nước ta trongnhững năm gần đây có sự phát triển nhiều mặt Điều đó cho phép các doanhnghiệp nước ta nói chung và công ty nói riêng có điều kiện phát triển sản phẩm cóchất lượng cao hơn, khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn
Nhu cầu của nền kinh tế
Chất lượng sản phẩm luôn bị chi phối, ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện
và nhu cầu nhất định của nền kinh tế Tác động này thể hiện như sau
- Đòi hỏi của thị trường:
Thay đổi theo từng loại thị trường, các đối tượng sử dụng, sự biến đổi củathị trường Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải nhạy cảm với thịtrường để tạo nguồn sinh lực cho quá trình hình thành và phát triển các loại sảnphẩm Điều cần chú ý là phải theo dõi, nắm chắc, đánh giá đúng đòi hỏi của thị
Trang 14trường, nghiên cứu, lượng hóa nhu cầu của thị trường để có các chiến lược và sáchlược đúng đắn.
- Trình độ kinh tể, trình độ sản xuất: Đó là khả năng kinh tế (tài nguyên,
tích lũy, đầu tư ) và trình độ kỹ thuật (chủ yếu là trang thiết bị công nghệ và các kỹnăng cần thiết) có cho phép hình thành và phát triển một sản phẩm nào đó có mứcchất lượng tối ưu hay không Việc nâng cao chất lượng không thể vượt ra ngoài khảnăng cho phép của nền kinh tế
- Chính sách kinh tế:
Hướng đầu tư, hướng phát triển các loại sản phẩm và mức thỏa mãn cácloại nhu cầu của chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng đến chấtlượng sản phẩm
- Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật: Trong thời đại ngày nay, khi khoa
học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì trình độ chất lượng của bất
kỳ sản phẩm nào cũng gắn liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học kỹthuật, nhất là sự ứng dụng các thành tựu của nó vào sản xuất Kết quả chính củaviệc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất là tạo ra sự nhảy vọt về năng suất,chất lượng và hiệu quả
Các hướng chủ yếu của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiệnnay là:
+ Sáng tạo vật liệu mới hay vật liệu thay thế;
+ Cải tiến hay đổi mới công nghệ;
+ Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới.
Hiệu lực của cơ chế quản lý kinh tế:
Chất lượng sản phẩm chịu tác động, chi phối bởi các cơ chế quản lý kinh tế,
kỹ thuật, xã hội như:
- Kế hoạch hóa phát triển kinh tế;
- Giá cả;
- Chính sách đầu tư;
- Tổ chức quản lý về chất lượng.
Trang 15a3) Văn hóa xã hội
Văn hóa xã hội tác động đến ngành may gồm văn hóa xã hội ở Việt Nam vàcác nước quan hệ mua bán với Việt Nam Đối với khách hàng là người trong nướctrình độ nhận thức ngày càng cao Những đòi hỏi về cái đẹp cái thẩm mỹ ngàycàng hoàn thiện hơn, mối giao lưu giữa thành thị và nông thôn, giữa các dân tộcngày càng mở rộng nên con người quan tâm nhiều đến hình thức Đối với thịtrường nước ngoài, mỗi quốc gia có đặc điểm văn hóa xã hội khác nhau, ảnhhưởng tâm lý tiêu dùng hàng dệt may của khách hàng Hiện tại các doanh nghiệpchưa có những thông tin về yếu tố xã hội của khách hàng quốc tế nên ít nhiều ảnhhưởng đến chất lượng sản phẩm
a4) Công nghệ
Khoa học kỹ thuật phát triển, máy móc thiết bị ngành dệt may đã có nhữngphát triển lớn, Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để cải tiến, đổi mới công nghệ,doanh nghiệp có khả năng tạo ra sản phẩm có chất lượng ngày càng cao hơn
b) Nhóm yếu tố bên trong
Trong nội bộ doanh nghiệp, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượngsản phẩm có thể được biểu thị bằng qui tắc 4M, đó là:
b1) Men: Con người, lực lượng lao động trong doanh nghiêp
Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật trong những năm qua tăng khámạnh về chất lượng cả số lượng Được đào tạo bài bản có kiến thức có tay nghềgắn bó với công việc Trình độ tay nghề trong các khâu then chốt khá vững vàng.Thể hiện:
- Để nâng cao chất lượng lao động, lãnh đạo công ty đã có sự quan tâmđáng kể đến công tác huấn luyện, đào tạo và giáo dục lao động Hàng năm, công
ty tổ chức đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề và thi nâng bậc cho công nhân.Ngoài ra công nhân được huấn luyện về công tác an toàn, vệ sinh lao động, phòngchống cháy nổ Bên cạnh những lần tổ chức tập trung hoạt động huấn luyện, đàotạo còn được thực hiện trong quá trình sản xuất Trong tổ sản xuất luôn có sự kếthợp giữa công nhân tay nghề cao, nhiều kinh nghiệm với công nhân có tay nghề
Trang 16thấp Công nhân giỏi tay nghề sẽ kèm cặp Cán bộ kỹ thuật, cán bộ phân xưởng, tổsản xuất thường xuyên kiểm tra hướng dẫn công nhân làm việc đúng kỹ thuật,đúng quy trình Việc bồi dưỡng nâng cao tay nghề góp phần nâng cao chất lượngsản phẩm trong quá trình sản xuất.
- Để nâng cao ý thức nhận thức của người lao động về tầm quan trọng củatiết kiệm, việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, công ty thực thi nhiều biện pháp giáodục tuyên truyền thông qua hoạt động của các tổ chức đoàn thể và trách nhiệmgiáo dục người lao động của cán bộ quản lý trong quá trình sản xuất
b2) Methods: Phương pháp quản trị, công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và
tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
Việc áp dụng ISO trong quản lý sản xuất cho phép công ty kiểm soát quátrình sản xuất, đặc biệt dòng lưu chuyển sản phẩm từ nguyên phụ liệu đầu vào đếnsản phẩm cuối cùng, Tuy nhiên, do mức độ áp dụng chưa triệt để nên hiệu quả đạtđược chưa cao
Ngay từ khi mới được thành lập lãnh đạo công ty đã ban hành quy chế tổchức công ty, quy định chức năng nhiệm vụ cho từng bộ phận, làm cơ sở cho côngtác quản lý, điều hành công ty Tuy nhiên, mức độ phân định còn chưa rõ ràng cụthể nên chưa được người lao động nhận thức đầy đủ dẫn đến tình trạng khôngthống nhất trong hoạt động nên có tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, ảnh hưởng tiêucực đến các hoạt động sản xuất kinh doanh và trong hoạt động quản lý chất lượng
và chất lượng sản phẩm
Công tác quản lý, điều hành sản xuất được thực hiện đến tổ sản xuất Bêncạnh đó lực lượng cán bộ kỹ thuật thường xuyên theo sát hoạt động sản xuất Việcphân công lao động, tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng nhờ vậy được thựchiện chặt chẽ hơn, sâu sắc hơn Tuy nhiên do trình độ lao động thấp, năng lựcquản lý điều hành của cán bộ tổ, phân xưởng còn hạn chế
Hoạt động kiểm tra chất lượng được bộ phận KCS và cán bộ kỹ thuật thựchiện trong suốt quá trình sản xuất, trên từng sản phẩm, kịp thời phát hiện, sửachữa hoặc loại bỏ các sai hỏng, khuyết tật trước khi nghiệm thu Nhưng mặt khác,
Trang 17điều đó đã làm gây tâm lý ỷ lại làm suy giảm ý thức tự kiểm tra sản phẩm trongcông nhân.
b3) Machines: Khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của doanh nghiệp
Máy móc thiết bị là cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty phản ánh năng lựcsản xuất hiện có và trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của Công ty Đầu tư trangthiết bị là điều kiện quan trọng để tăng sản lượng nâng cao năng suất lao động,tăng chất lượng đồng thời làm giảm giá thành sản phẩm
Công ty có quy trình công nghệ máy móc thiết bị tương đối hiện đại, máymoc thiết bị sản xuất và được đưa vào sử dụng nên hiệu quả sử dụng tương đốicao Nhưng cần bổ sung các thiết bị máy móc của các nước chuyên việt về dệtmay để nâng cao năng suất Trong quá trình sản xuất, tổ cơ khí có trách nhiệmthưởng xuyên theo dõi, kiểm tra, sửa chữa hàng hóa, đảm bảo đáp ứng các yêu cầusản xuất và chất lượng sản phẩm
b4) Materials: Vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo
yật tư, nguyên nhiên yật liệu của doanh nghiệp
Trong 4 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất
2.1.2.3 Các chỉ tiêu phản ảnh chất lượng sản phẩm (Indicators reflect product quality)
Trong thực tiễn ta gặp rất ít sản phẩm chỉ có một chỉ tiêu chất lượng, màthường có rất nhiều chỉ tiêu khác nhau Ta có thể tập họp một số chỉ tiêu sau để
đánh giá chất lượng sản phẩm.
- Nhóm chỉ tiêu sử dụng: Đây là nhóm chỉ tiêu chất lượng sản phẩm mà
người tiêu dùng khi mua hàng hay sử dụng để kiểm tra, đánh giá chất lượng sảnphẩm hàng hoá
- Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật - công nghệ: Bằng cách nào ta có thể kiểm tra,
đánh giá về giá trị sử dụng của sản phẩm Ta sẽ không có kết luận gì về chất lượngsản phẩm hàng hoá nếu như không nghiên cứu một số chỉ tiêu quan trọng sau:
+ Chỉ tiêu về cơ lý hoá như khối lượng, thông số kỹ thuật, các thông số về
độ bền, độ tin cậy, độ chính xác, an toàn khi sử dụng và sản xuất mà hầu như
Trang 18mọi sản phấm đều có Các chỉ tiêu này thường được quy định trong văn bản tiêuchuẩn của cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, họp đồng kinh tế ;
+ Chỉ tiêu về sinh hoá như mức độ ô nhiễm đến môi trường, khả năng toảnhiệt, giá trị dinh dường, độ ẩm, độ mài mòn, Tuỳ vào từng mặt hàng cụ thể vàthành phần mỗi chỉ tiêu chiếm mà ta tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu này ở một mức
độ nhất định, đặc biệt chú ý đến các chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng tới chất lượngsản phẩm
- Nhóm chỉ tiêu hình dáng trang trí thẩm mỹ: Các chỉ tiêu này bao gồm: chỉ
tiêu về hình dạng sản phẩm, sự phối họp các yếu tố tạo hình, tính chất đường nét,hoa văn, màu sắc thời trang
Đây là nhóm các chỉ tiêu mà chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào ý kiến chủquan của nhiều người, khó được lượng hoá và vì yậy đòi hỏi cán bộ kiểm nghiệmhay người tiêu dùng phải có kinh nghiệm, am hiểu thẩm mỹ Phần lớn các sảnphẩm mang đặc trưng này là các sản phẩm về nghệ thuật, tranh ảnh, quần áo thờitrang, đồ trang sức
- Nhóm các chỉ tiêu kinh tế.
Mục tiêu lớn nhất của quản trị chất lượng là: Bảo đảm chất lượng của đồ ánthiết kế sản phẩm và tuân thủ nghiêm đồ án ấy trong sản xuất, tiêu dùng sao chotạo ra những sản phẩm thoả mãn nhu cầu của xã hội, thoả mãn thị trường với chiphí xã hội tối thiểu
Để đạt được mục tiêu trên nhiều tác giả đã đưa ra những định nghĩa khácnhau về quản trị chất lượng
Trong các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật (JIS) có định nghĩa về quản trị chấtlượng như sau: “Hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiếtkiệm những hàng hoá có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượngthoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng
Giáo sư tiến sĩ Kaoru Ishikawa, một chuyên gia của Nhật về quản trị chấtlượng, cho rằng: “Quản trị chất lượng có nghĩa là nghiên cứu triển khai, thiết kếsản xuất và bảo dưỡng một sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho
Trang 19người tiêu dùng và bao giờ cũng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng ”.
Định nghĩa của Philip B.Crosby: “ Quản trị chất lượng là một phương tiện
có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần củamột kế hoạch hành động”
Theo ISO - 9000: “Quản trị chất lượng là các phương pháp hoạt động được
sử dụng nhằm đáp ứng các yêu cầu về chất lượng”
Mặc dù còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau song ta có thể khái quát hoá
bằng một hệ thống các hoạt động, các biện pháp và quy định hành chính, xã hội,
kinh tế - kỹ thuật dựa trên các thành tựu của khoa học hiện đại, nhằm sử dụng tối
ưu những tiềm năng để đảm bảo, duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng
nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của xã hội với chi phí nhỏ nhất”.
2.1.3 Vai trò của quản trị chất lượng sản phẩm (The role of product quality management)
Quản lý chất lượng có vai trò rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay bởi vìquản lý chất lượng một mặt làm cho chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãntốt hơn nhu cầu khách hàng và mặt khác nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý
Đó là cơ sở để chiếm lĩnh, mở rộng thị trường, tăng cường yị thế, uy tín trên thịtrường Quản lý chất lượng cho phép doanh nghiệp xác định đúng hướng sảnphẩm cần cải tiến, thích hợp với những mong đợi của khách hàng cả về t ính hữuích và giá cả
Sản xuất là khâu quan trọng tạo thêm giá trị gia tăng của sản phẩm hoặcdịch vụ Về mặt chất, đó là các đặc tính hữu ích của sản phẩm phục vụ nhu cầucủa con người ngày càng cao hơn Về mặt lượng, là sự gia tăng của giá trị tiền tệthu được so với những chi phí ban đầu bỏ ra Giảm chi phí trên cơ sở quản lý sửdụng tốt hơn các yếu tố sản xuất mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm cho doanhnghiệp hoạt động có hiệu quả hơn Để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, cóthể tập trung vào cải tiến công nghệ hoặc sử dụng công nghệ mới hiện đại hơn.Hướng này rất quan trọng nhưng gắn với chi phí ban đầu lớn và quản lý không tốt
sẽ gây ra lãng phí lớn Mặt khác, có thể nâng cao chất lượng trên cơ sở giảm chi
Trang 20phí thông qua hoàn thiện và tăng cường công tác quản lý chất lượng Chất lượngsản phẩm được tạo ra từ quá trình sản xuất Các yếu tố lao động, công nghệ và conngười kết họp chặt chẽ với nhau theo những hình thức khác nhau Tăng cườngquản lý chất lượng sẽ giúp cho xác định đầu tư đúng hướng, khai thác quản lý sửdụng công nghệ, con gnười có hiệu quả hon Đây là lý do vì sao quản lý chấtlượng được đề cao trong những năm gần đây.
2.1.4 Nội dung của quản trị chất lượng sản phẩm (Content of product quality management)
Quản lý chất lượng trước đây có chức năng rất hẹp, chủ yếu là hoạt động
kiểm tra kiểm soát, nhằm đảm bảo chất lượng đúng tiêu chuẩn thiết kế đề ra Ngày
nay, quản lý chất lượng được hiểu đầy đủ, toàn diện hơn bao trùm tất cả nhữngchức năng cơ bản của quá trình quản lý
Quản trị chất lượng được thực hiện một cách liên tục thông qua triển khaivòng tròn quản lý hay còn gọi là bánh xe Deming (vòng tròn PDCA) Dưới góc độquản trị vòng tròn PDCA là trình tự cần thiết khi thực hiện bất cứ một công việcnào như tổ chức một buổi họp, đi dự một hội thảo, sắp xếp nhân sự trong phònglớn hơn như xây dựng chính sách chất lượng trong doanh nghiệp
2.2 Các loại hình cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp (tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần…) (Types of agencies, non-business units and enterprises)
2.2.1 Sơ đồ về mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ ( Diagram on the relationship between state management agencies, non-business units, enterprises and households engaged in production and business )
Sơ đồ về mối quan hệ được thể hiện tại ( Phụ lục 01 ) Sơ đồ 2.1: Sơ đồ về
mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp và
hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ
2.2.2 So sánh sự khác biệt giữa cơ quan quản lý hành chính nhà nước
và cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước, giữa cơ quan quản lý nhà nước và
Trang 21đơn vị sự nghiệp công lập ( Compare the differences between state administrative agencies and state management agencies, between state management agencies and public service delivery agencies )
2.2.2.1 So sánh sự khác biệt giữa cơ quan quản lý hành chính nhà nước và
cơ quan quản lý nhà nước ( Compare the differences between state administrative bodies and state management agencies )
- Cơ quan quản lý hành chính nhà nước: Là cơ quan quản lí Nhà nước (CQ
QLNN) và là tổ chức mang quyền lực Nhà nước được thành lập và có thẩm quyềntheo quy định của Pháp luật; là các cơ quan thuộc Bộ máy Nhà nước;
Bộ máy Nhà nước là hệ thống các cơ quan từ Trung ương đến địa phương,được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất Ở Việt Nambao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và các cơ quan trực thuộc ĐảngCộng sản Việt Nam và các cơ quan đại diện nước ngoài và các tổ chức quốc tế như
tại Sơ đồ 2.1 Trong đó:
+ Cơ quan lập pháp, bao gồm:
(1) Quốc hội: Là cơ quan quyền lực cao nhất, có quyền lập hiến và lập pháp,quyết định những chính sách đối nội, đối ngoại và các nhiệm vụ lớn của đất nước,giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước;
(2) Hội đồng nhân dân các cấp: tỉnh, huyện và xã;
+ Cơ quan tư pháp, bao gồm:
(1) Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao;
(2) TAND cấp tỉnh, cấp huyện và Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấphuyện;
+ Cơ quan hành pháp, bao gồm:
(1) Trung ương: Chính phủ, Bộ và các cơ quan ngang bộ Trong đó:
(1.1) Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước;
(1.2) Bộ, bao gồm các bộ: Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Tư pháp, Tàichính, Công thương, Lao động thương binh và xã hội, Giao thông vận tải, Xâydựng, Thông tin và truyền thông, giáo dục và đào tạo, Nông nhiệp và phát triển
Trang 22nông thông, Kế hoạch và đầu tư, Nội vụ, Y tế, Khoa học và công nghệ, Văn hóa-thểthao và du lịch, Tài nguyên và môi trường…;
(1.3) Cơ quan ngang bộ: bao gồm 4 cơ quan ngang bộ: Thanh tra chính phủ,Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Uỷ ban dân tộc, Văn phòng chính phủ;
(2) Địa phương: Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
(gọi chung là UBND cấp tỉnh); Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố trực thuộc tỉnh(gọi chung là UBND cấp huyện); Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung
là HĐND cấp xã);
+ Cơ quan trực thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam: Trung ương (TW) Đảng,
Ban cán sự Đảng ở bộ, ngành TW; BCH đảng bộ các cấp: tỉnh, huyện, xã và tươngđương; các tổ chức chính trị-xã hội của Đảng (Mặt trận, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh,Công đoàn, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân trực thuộc Đảng Cộngsản Việt Nam lãnh đạo theo quy định của Hiến pháp.Vị trí và vai trò lãnh đạo củaĐảng Cộng Sản Việt Nam luôn được khẳng định với tính pháp lí ngày càng vữngchắc (nhất là trong Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992) Hiến pháp 2013 quyđịnh: "Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời
là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…"
- Trong các CQ QLNN nêu trên đều bao gồm:
(1) Cơ quan quản lý hành chính nhà nước (CQ QLHCNN) là CQ QLNN từTrung ương đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắcchung, thống nhất;
(2) Cơ quan chuyên môn thuộc CQ QLHCNN, là cơ quan giúp việc cho CQQLHCNN;
* Sự khác biệt giữa cơ quan QLHCNN và cơ quan chuyên môn thuộc cơ quan QLHCNN: Cả 02 loại trên đều là CQ QLNN Tuy nhiên,
CQ QLHCNN là tổ chức mang quyền lực Nhà nước…, còn cơ quan
Trang 23chuyên môn trực thuộc CQ QLHCNN, là cơ quan giúp việc cho CQ QLHCNN theo thẩm quyền…
2.2.2.2 So sánh sự khác biệt giữa cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (Compare differences between state management agencies and public service delivery agencies )
- Như trên đã trình bày, CQ QLHCNN là tổ chức mang quyền lực Nhà nước
được thành lập và có thẩm quyền theo quy định của Pháp luật Bao gồm các cơquan thuộc Bộ máy Nhà nước Bộ máy Nhà nước là hệ thống các cơ quan từ Trungương đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung,thống nhất
- Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL): Là đơn vị do Nhà nước thành lập,
có tư cách pháp nhân và thực hiện dịch vụ công do Nhà nước giao hoặc đặt hàng;
Hiện nay ở nước ta có các loại hình ĐVSNCL: Không tự chủ hoặc tự chủmột phần, hoặc tự chủ hoàn toàn
* Như vậy: Sự khác biệt giữa cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp
công lập là hoạt động QLNN (CQQLNN) và thực hiện dịch vụ công.
2.2.2.3 So sánh sự khác biệt giữa các đơn vị sự nghiệp công lập và đơn vị
sự nghiệp ngoài công lập (Compare differences between public service delivery units and non-public service delivery units )
Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị thuộc sở hữu Nhà nước, có tư cách phápnhân; còn đơn vị sự nghiệp ngoài công lập là đơn vị thuộc sở hữu tư nhân và đều doNhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập
2.2.3 So sánh sự khác biệt giữa cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập với Công ty, Doanh nghiệp tư nhân và với Hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ (Compare the differences between state management agencies, public service delivery units with companies, private enterprises and households with production and business services )
Cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp Nhà nước (tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ hay 51% vốn điều lệ hoặc có cổ
Trang 24phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn): là tổ chức (cơ quan hoặc đơn vị sự nghiệp,hoặc doanh nghiệp Nhà nước) thuộc sở hữu của Nhà nước, có tư cách pháp nhân và
do Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập;
Công ty gồm công ty cổ phần và công ty TNHH, thuộc sở hữu tư nhân, đăng
ký và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đồngthời có tư cách pháp nhân;
* Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
(1) Được thành lập hợp pháp;
(2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
(3) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằngtài sản đó;
(4) Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập
Doanh nghiệp tư nhân là: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp;
Hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ: Là tổ chức kinh tế tự chủ, không có tư
cách pháp nhân vì không có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịutrách nhiệm bằng tài sản đó; đồng thời không nhân danh mình tham gia các quan
tự tổ chức sản xuất kinh doanh dịch vụ theo định hướng phát triển kinh tế của Nhànước, của địa phương và theo quy định của pháp luật Hộ sản xuất kinh doanh dịch
vụ không chỉ độc lập tự chủ về kinh doanh mà còn tự chủ trong quản lý và tiêu thụsản phẩm Do đó họ luôn luôn tích cực khai thác tiềm năng trí tuệ và năng lực sản
Trang 25xuất kinh doanh dịch vụ của mình để tổ chức hoạt động kinh tế một cách phong phú
và đa dạng, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, từng bước nâng cao đời sống, mở rộngsản xuất, tăng tích lũy chính cho bản thân mình và xã hội
Do vậy, sự khác nhau cơ bản nhất giữa giữa cơ quan quản lý nhà nước, đơn
vị sự nghiệp công lập và công ty là tổ chức có tư cách pháp nhân nên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn; còn DTTN và hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ không có tư cách pháp nhân nên phải chịu trách nhiệm vô hạn.
2.2.4 So sánh sự khác biệt giữa Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư nhân và Hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ (Compare the difference between joint stock companies, limited liability companies, private enterprises and households production and business services )
- Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn
+ Công ty cổ phần: Là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh
nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông Trongcông ty cổ phần, số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằngnhau gọi là cổ phần Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông
Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu Chỉ cócông ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu Như vậy, cổ phiếu chính là một bằngchứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổđông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu Công ty cổ phần là một trong loạihình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và nhất là để niêm yết trên thị trườngchứng khoán;
Bộ máy các công ty cổ phần được cơ cấu theo luật pháp và điều lệ công ty vớinguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệuquả;
Công ty Cổ phần phải có Đại hội đồng Cổ đông, Hội đồng Quản trị và BanĐiều hành Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc tổchức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban Kiểm soát
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp
Trang 26nhân được pháp luật thừa nhận (Luật Doanh nghiệp) Chủ sở hữu công ty và công ty
là hai thực thể pháp lý riêng biệt Trước pháp luật, công ty là pháp nhân, chủ sở hữucông ty là thể nhân với các quyền và nghĩa vụ tương ứng với quyền sở hữu công ty.Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp có không quá 50 thành viêncùng góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và cácnghĩa vụ tài chính khác trong phạm vi nghĩa vụ tài sản của công ty;
Đặc điểm pháp lý của công ty TNHH:
(1) Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng kýkinh doanh; Chủ sở hữu công ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng biệt; Trướcpháp luật, công ty là pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các quyền vànghĩa vụ tương ứng với quyền sở hữu công ty;
(2) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản kháccủa doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;
(3) Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần đểhuy động vốn;
(4) Với bản chất là công ty đóng, việc chuyển nhượng vốn góp của thànhviên công ty TNHH bị hạn chế, các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn khimuốn chuyển nhượng vốn góp trước hết phải ưu tiên cho các thành viên khác củacông ty
- Doanh nghiệp tư nhân, hộ sản xuất kinh doanh dịch vụ: (đã trình bày tại
vụ đều có thể thực hiện
Trang 272.2.5 So sánh sự khác biệt giữa doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương mại (Compare the differences between manufacturing and commercial enterprises )
- Doanh nghiệp sản xuất: Là doanh nghiệp sử dụng lực lượng sản xuất và tư
liệu sản xuất kết hợp với công nghệ phù hợp (khoa học kỹ thuật) để sản xuất ra sảnphẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu của thị trường;
- Doanh nghiệp kinh doanh thương mại: Là doanh nghiệp được thành lập với
mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực lưu thônghàng hoá bao gồm đầu tư tiền của, công sức và tài năng vào lĩnh vực mua bánhàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường nhằm thu lợi nhuận
2.2.6 So sánh sự khác biệt giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
và doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước (Compare the differences between foreign invested enterprises and domestic invested enterprises )
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp do nhà đầu tư
nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh
nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại (Khoản
6 Điều 3 của Luật Đầu tư);
Pháp luật hiện hành quy định tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nướcngoài hoặc tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tưnước ngoài thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các loại hìnhcông ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định củaLuật Doanh nghiệp
Bên cạnh các quy định của pháp luật áp dụng chung, phù hợp với các camkết quốc tế mà Việt Nam là thành viên và để thuận lợi cho công tác quản lý đầu tư,pháp luật về doanh nghiệp và về đầu tư áp dụng riêng đối với đầu tư nước ngoài vềlĩnh vực đầu tư có điều kiện, về quy định trong việc thành lập công ty cổ phần,doanh nghiệp tư nhân, về thủ tục đầu tư, về đầu mục hồ sơ dự án đầu tư và về địađiểm thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước: Là doanh nghiệp do nhà đầu tư
Trang 28trong nước thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư của Việt Nam mua cổ phần, sáp nhập,mua lại…
* Như vậy, sự khác biệt cơ bản nhất giữa 02 loại DN này là: doanh nghiệp
do nhà đầu tư Việt Nam hay của nước ngoài thành lập…
2.3 Đặc trưng cơ bản của cơ quan/ đơn vị/ doanh nghiệp trong phạm vi của đề tài (Basic characteristics of agencies, units, enterprises within the scope of the topic)
2.3.1 Loại hình cơ quan hoặc đơn vị hoặc doanh nghiệp thực tập (Type
of institution or unit or business practice)
- Đơn vị thực tập của em là: Công ty TNHH MTV may mặc Hồng PhongNguồn vốn ban đầu do Cá nhân bỏ ra Lợi nhuận tích lũy hàng năm và vốn
sử dụng hàng năm là do hoạt động của Công ty tạo ra và thường biến động quacác năm
- Loại hình đơn vị: Công ty TNHH MTV hoạt động trong lĩnh vực Sản xuấthàng may mặc; Bán buôn vải, hàng may sẵn, giày dép; In ấn
Thuộc loại hình công ty TNHH MTV do tư nhân làm chủ, công ty TNHHMTV may mặc Hồng Phong mang đặc trưng của loại hình công ty này như:
+ Cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ vàcác nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanhnghiệp Giữa tài sản của công ty với tài sản của các chủ sở hữu có sự độc lập cả vềmặt pháp lý và mặt kế toán Công ty trách nhiệm hữu hạn là các đơn vị độc lập cả
về kê toán, cả về pháp lý, tự chịu trách nhiệm về nợ phải trả và nghĩa vụ thuế…độc lập hoàn toàn với tài sản của chủ nhân
+ Chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đếnhoạt động của công ty nên các quyết định được đưa ra nhanh chóng và kịp thời,không mất nhiều thời gian để thảo luận và đưa ra quyết định về các vấn đề quantrọng như ở loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần.Đồng thời, do có tư cách pháp nhân nên chủ sở hữu công ty TNHH MTV chỉ chịu
Trang 29trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công tynên ít gây rủi ro cho chủ sở hữu.
+ Việc huy động vốn của công ty bị hạn chế do không có quyền phát hành
cổ phần Công ty chỉ có thể tăng số vốn góp của thành viên sáng lập hoặc bổ sungthành viên mới
Bên cạnh các quy định về chịu trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu của công
ty TNHH MTV còn bị ràng buộc bởi một số quy định khác liên quan đến vốn gópnhư: Chủ sở hữu không trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công
ty, cũng không được rút lợi nhuận của công ty khi công ty không thanh toán đượccác khoản nợ phải trả đến hạn Tuy nhiên luật doanh nghiệp cũng quy định chủ sởhữu của công ty TNHH MTV có thể được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộvốn điều lệ cho tổ chức và cá nhân khác
2.3.2 Đặc trưng về hoạt động ngành nghề của công ty (Characteristics of the company's industry)
Công nghệ dệt may thường được gắn với giai đoạn phát triển ban đầu củanền kinh tế và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình công nghiệp hoá ở nhiều nước.Ngành công nghệ dệt may có khả năng tạo nhiều việc làm cho người lao động,tăng thu lợi nhuận để tích luỹ làm tiền đề phát triển cho các ngành công nghiệpkhác, góp phần nâng cao mức sống và ổn định tình hình chính trị xã hội
Công nghệ dệt may có liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của các ngànhcông nghiệp khác Khi dệt may là ngành công nghiệp hàng đầu của nền kinh tế, nó
sẽ cần một khối lượng lớn nguyên liệu là sản phẩm của các lĩnh vực khác và vì thếtạo điều kiện để đầu tư và phát triển các ngành kinh tế này Ngược lại, côngnghiệp dệt lớn mạnh sẽ là động lực để công nghiệp may và các ngành khác sửdụng sản phẩm dệt làm nguyên liệu phát triển theo
Vai trò của ngành dệt may đặc biệt to lớn đối với kinh tế của nhiều quốc giatrong điều kiện buôn bán hàng hoá quốc tế Xuất khẩu hàng dệt may đem lạinguồn thu ngoại tệ lớn để mua máy móc thiết bị, hiện đại hoá sản xuất, làm cơ sởcho nền kinh tế cất cánh
Trang 30Hiện nay, công nghệ dệt may đang góp phần phát triển nông nghiệp vànông thôn, là phương tiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nông nghiệpsang kinh tế công nghiệp.
Hàng dệt may có một số đặc trưng nổi bật sau đây:
- Sản phẩm dệt may là loại sản phẩm có yêu cầu rất phong phú, đa dạng tuỳthuộc vào đối tượng tiêu dùng Người tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tụctập quán, tôn giáo, khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu, về giới tính, tuổi tác… sẽ
có nhu cầu rất khác nhau về trang phục Nghiên cứu thị trường để nắm vững nhucầu của từng nhóm người tiêu dùng trong các bộ phận thị trường khác nhau có ýnghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm
- Sản phẩm dệt may mang tính thời trang cao, phải thường xuyên thay đổimẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng nhu cầu thích đổi mới, độc đáo
và gây ấn tượng của người tiêu dùng Do đó để tiêu thụ được sản phẩm, việc amhiểu các xu hướng thời trang là rất quan trọng
- Một đặc trưng nổi bật trong buôn bán sản phẩm dệt may trên thế giới làvấn đề nhãn mác sản phẩm Mỗi nhà sản xuất cần ra được một nhãn hiệu thươngmại của riêng mình Nhãn hiệu sản phẩm theo quan điểm xã hội thường là yếu tốchứng nhận chất lượng hàng hoá và uy tín của người sản xuất Đây là vấn đề cầnquan tâm trong chiến lược sản phẩm vì người tiêu dùng không chỉ tính đến giá cả
- Thu nhập bình quân đầu người, thói quen tiêu dùng, cơ cấu tỉ lệ chi tiêucho hàng may mặc trong tổng thu nhập dân cư và xu hướng thay đổi cơ cấu tiêudùng trong tổng thu nhập… có tác động lớn đến xu hướng tiêu thụ hàng dệt may.Với các thị trường có mức thu nhập bình quân, tỉ lệ chi tiêu cho hàng may mặc
Trang 31cao, yêu cầu về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng…sẽ trở nên quan trọng hơn cácyếu tố về giá cả.
2.4 Sơ đồ tổng quát về mối quan hệ trong hoạt động quản lý, quản trị nói chung giữa các tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài hệ thống của Công ty (General diagram of relationships in management activities, general management between organizations and individuals inside and outside the system of the Company)
Công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong chịu sự quản lý của Sở Kếhoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương và sự quản lý hành chính huyện Tứ kỳ
Theo sơ đồ tổng quát về mối quan hệ trong hoạt động quản lý, quản trị nóichung giữa các tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài hệ thống của Công ty TNHH
MTV may mặc Hồng Phong (Phụ lục 02) cho thấy, công ty có đối tượng quản lý
là hoạt động cần được quản trị (Chịu sự tác động trực tiếp từ Chủ thể quản trị Giám đốc công ty như: các phòng ban; người lao động và TSCĐ, hàng hóa nguyênliệu, thiết bị; có khách thể quản lý là cơ quan, tổ chức chịu sự tác động hay chịu sựđiều chỉnh của chủ thể quản trị, thông qua quan hệ theo hợp đồng như: các kháchhàng, nhà cung cấp, đối tác
-2.5 Tóm tắt chương 2 (Summary of Chapter 2)
Từ cơ sở phân tích, trình bày các khái niệm có liên quan đến đề tài ởchương 1 làm nền tảng và cơ sở phân tích và so sánh chương 2
Trong chương 2 em đã trình bày cụ thể các nội dung cơ sở lý luận về côngtác quản trị chất lượng: Các khái niệm quản trị, chất lượng, sản phẩm,…
Đồng thời em cũng đã trình bày cụ thể về các loại hình cơ quan, đơn vị sựnghiệp bao gồm: So sánh giữa cơ quan hành chính Nhà nước và các cơ quan quản
lý Nhà nước, So sánh doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty Cổ phần và
hộ kinh doanh,… Từ đó để thấy được đặc trưng riêng biệt của đơn vị em đangthực tập là loại hình Công ty TNHH MTV may mặc Hồng Phong
Trang 32CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
TẠI CÔNG TY TNHH MTV MAY MẶC HỒNG PHONG
3.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của cơ quan hoặc đơn
vị, hoặc doanh nghiệp, hoặc hộ sản xuất (Outline the process of formation and development of the agency or unit, or enterprise, or household)
- Tên Công ty: CÔNG TY TNHH MTV MAY MẶC HỒNG PHONG
Tiền thân là Công ty Cổ phần Thương mại & Sản xuất công nghiệp ViệtAn
- Địa chỉ: 226 Lê Lai – Ngô Quyền – Hải Phòng, nay chuyển về Thôn LaTỉnh, Thị trấn Tứ Kỳ, Huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương
- Mã số thuế: 0800995925 - Cấp ngày 23/12/2014
- Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số: 0213004573 do Sở kế hoạch
và đầu tư tỉnh Hải Dương cấp ngày 23/12/2014
- Vốn điều lệ của Công ty: 2.000.000.000 đồng;
- Ngày bắt đầu hoạt động: 01/01/2015
- Người đại diện pháp luật: Giám đốc Ngô Thị Thùy
3.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy trong hoạt động quản lý, quản trị giữa các tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài hệ thống của Công ty (Organizational chart
of the organization in management and management activities between organizations and individuals inside and outside the Company's system)
Về bộ máy tổ chức quản lý, quản trị: Hiện nay Công ty TNHH MTV maymặc Hồng Phong thực hiện tổ chức, quản lý, quản trị giữa các tổ chức, cá nhân
bên trong và bên ngoài như hệ thống (Phụ lục 02) Ngoài ra xem xét riêng mô
hình tổ chức bộ máy hoạt động quản lý, quản trị trong mối quan hệ nội tại của
Trang 33công ty ta có các biểu hiện qua: Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý, quản trị
( Phụ lục 03)
+ Giám đốc: Là người đại diện pháp nhân của Công ty và là người tổ chức
bộ máy, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm toàn bộ các hoạt động sản xuấtkinh doanh của toàn Công ty Do vậy, Giám đốc phải là người linh hoạt, năngđộng và có trình độ và tầm nhìn bao quát sâu rộng để đáp ứng được yêu cầu bảotoàn và phát triển của Công ty sao cho đạt hiệu quả;
+ Phó giám đốc: Là người giúp việc cho Giám đốc, hỗ trợ điều hành kinh
doanh của Công ty và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về tất cả công việc củamình được phân công;
+ Phòng Kinh doanh: Có chức năng phát triển thị trường theo định hướng
chủ trương kế hoạch do ban giám đốc đề ra Cụ thể bộ phận này phải khai tác tối
đa và quản lý tốt các khách hàng hiện có và khách hàng tiềm năng của Công ty,phối hợp hoạt động với các phòng ban để tối ưu hóa hoạt động kinh doanh củamình, nâng cao tầm hiểu biết về thị trường hàng hóa, đồng thời phụ trách khâu bánhàng Đồng thời, tham mưu giúp giám đốc trong lĩnh vực kinh tế hợp đồng, kếhoạch sản xuất, thiết bị xe, máy thi công, cung ứng vật tư, tổ chức quản lý hệthống kho hàng của công ty;
+ Phòng Kế toán tài chính: Phòng có nghĩa vụ thực hiện nghiêm túc chế độ
quản lý kinh tế, ghi chép đảm bảo sự chính xác của số liệu, lập và tổ chức thựchiện các kế hoạch tài chính, quản lý tập trung nguồn vốn, phân giao cho các đơn vịtrực thuộc theo nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, quan hệ với các cơ quan tín dụng,ngân hàng tham gia cùng các phòng ban giải quyết thanh toán, quyết định thựchiện công tác bảo toàn và phát triển vốn;
+ Phòng quản lý vật tư – hàng hóa: Có nhiệm vụ quản lý tài sản của công
ty, tham mưu giúp giám đốc trong công tác quản lý hàng hóa – vật tư, thiết bị xâylắp, giám sát chất lượng công trình xây dựng, quản lý kỹ thuật, tiến độ, biện phápthi công và an toàn lao động
+ Phòng Quản trị Nhân sự:
Trang 34● Kiểm tra qui trình quản lý chất lượng trong quá trình sản xuất;
● Tổng hợp và báo cáo tình hình chất lượng hàng tháng;
● Quản lý và giám sát việc thực hiện các nội qui về cấp phát vật tư, nguyênphụ liệu sản xuất;
● Phổ biến và hướng dẫn đến từng tổ sản xuất các yêu cầu về chất lượngsản phẩm;
● Phát hiện kịp thời những sai hỏng và đề xuất biện pháp sửa chữa;
● Lập biên bản những trường hợp sai qui trình kỹ thuật và qui rõ tráchnhiệm thuộc về ai;
● Tham gia giải quyết đơn khiếu nại của khách hàng về chất lượng sảnphẩm;
● Kiểm tra 100% chất lượng từng bước công việc trong sản phẩm của mã hàng;
● Kiểm tra lại 100% các sản phẩm không đạt chất lượng mà kiểm hóa đãcho tái chế cho đến khi hàng đạt chất lượng
3.3 Sơ đồ tổ chức hoạt động nghiệp vụ chuyên môn giữa các tổ chức
và cá nhân ở trong và ngoài hệ thống đối với Công ty (Organization chart of professional operations between organizations and individuals inside and outside the system for the Company)
Về bộ máy hoạt động nghiệp vụ chuyên môn: Hiện nay Công ty TNHHMTV may mặc Hồng Phong thực hiện tổ chức, quản lý, quản trị giữa các tổ chức,
cá nhân bên trong và bên ngoài như hệ thống (Phụ lục 02, Phụ lục 03) Ngoài ra
xem xét riêng mô hình tổ chức bộ máy nghiệp vụ chuyên môn trong mối quan hệ
nội tại của công ty ta có các biểu hiện qua: Sơ đồ 3.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy