Vì vậy, đề tài này được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu ứng dụng Bacillus subtilis để kiểm soát một số nấm bệnh gây hư hỏng quả thanh long trong quá trình bảo quản.. Từ những quả than
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG Bacillus subtilis TRONG
BẢO QUẢN THANH LONG
Sinh viên thực hiện : HOÀNG MỘNG THÚY NHI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG Bacillus subtilis TRONG
BẢO QUẢN THANH LONG
Tháng 7/ 2012
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Ban Giám hiệu trường đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm
Bộ Môn Công nghệ sinh học, cùng tất cả quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập tại trường
Xin cảm ơn quý Công ty TNHH Gia Tường đã tạo điều kiện tốt nhất cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến ThS Nguyễn Như Nhứt, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, góp ý và không ngừng quan tâm, động viên em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các anh chị đang làm việc tại Chi nhánh Công ty TNHH Gia Tường tỉnh Bình Dương đã nhiệt tình giúp đỡ và chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận
Các bạn lớp CNSH 34 đã luôn bên em, giúp đỡ, động viên, chia sẻ cùng em trong thời gian thực tập cũng như trong suốt những năm học vừa qua Đồng cảm ơn những bạn sinh viên đang thực hiện khóa luận tốt nghiệp tại Chi nhánh Công ty TNHH Gia Tường tỉnh Bình Dương đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên, chia sẻ cùng em trong suốt thời gian thực tập
Cha mẹ, bậc sinh thành đã sinh ra và nuôi dưỡng em, các anh chị em trong gia đình luôn quan tâm, ủng hộ em học tập và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên thực hiện
HOÀNG MỘNG THÚY NHI
Trang 4ii
TÓM TẮT
Thanh long là một loại trái cây có giá trị kinh tế cao Hiện nay, quá trình trồng, sản xuất thanh long còn gặp nhiều vấn đề, trong đó có sự thất thoát hư hỏng trong quá trình bảo quản do nhiều loại nấm bệnh Vì vậy, đề tài này được thực hiện với mục tiêu
nghiên cứu ứng dụng Bacillus subtilis để kiểm soát một số nấm bệnh gây hư hỏng quả
thanh long trong quá trình bảo quản
Từ những quả thanh long bị hư hỏng sau khi bảo quản, phân lập các nấm bệnh trên môi trường Potato Glucose Agar (PGA) và kiểm tra khả năng gây hư hỏng bằng
cách gây nhiễm nhân tạo Sau đó sử dụng các chủng Bacillus subtilis (Ba01, Ba02,
Ba06, Ba23 và Ba36) đối kháng với các chủng nấm bệnh trên đĩa thạch môi trường
PGA để chọn chủng Bacillus subtilis thích hợp và nuôi cấy tăng sinh chủng này trên
môi trường nước chiết giá đậu đường peptone với các thay đổi thành phần môi trường
đã làm giảm mức độ hư hỏng, thất thoát thanh long trong quá trình bảo quản
Trang 5iii
SUMMARY
Pitahaya is a fruit with high economic value Nowadays, the process of planting and producing pitahaya is having many problems, including loss or damaged by fungal diseases during storage So this research was carried in order to find out the
application of Bacillus subtilis to control some fungal diseases on pitahaya during
storage
From pitahaya was damaged after the storage, the fungus was isolated on Potato Glucose Agar medium (PGA) and tested capable of causing damage by artificial
infection Then, we used Bacillus subtilis strains (Ba01, Ba02, Ba06, Ba23, and Ba36)
was used compete the fungus strains on PGA agar medium to select a appropriate
Bacillus subtilis strain and proliferate this strain on peptone sugar bean extract water
medium with and varied shaking speed
The results of isolation showed that 6 different fungal strains (NB 3.6, NB 4.2, NB 4.7, NB 5.3, NB 5.5 and NB 5.6) might cause the damage of pitahaya The fungal
strains (NB 5.3, NB 5.5 and NB 5.6) were well controlled by B subtilis strain Ba02 Suitable conditions to proliferate B subtilis strain Ba02 were cultured peptone sugar
bean extract water medium supplemented with 0.1% NH4H2PO4 in 48 hours and agitated at 175 rpm Bacterial broth obtained having density of 65,3 x 107 CFU/ml could inhibit the development of the above pathogens during storage of pitahaya This has reduced the extent of damage, loss of pitahaya during the storage
Trang 6
PGA: Potato Glucose Agar
TSA: Trypticase Soya Agar
TSB: Tryticase Soya Broth
ALG: tốc độ tăng trưởng của sợi nấm
MT1: môi trường PGA
MT3: môi trường nước chiết giá đậu đường peptone
Trang 7v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
SUMMARY iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Yêu cầu đề tài 1
1.3 Nội dung thực hiện 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sơ lược về thanh long 3
2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của thanh long 3
2.1.2 Các giống thanh long hiện có ở Việt Nam 3
2.1.3 Đặc tính sinh thái của thanh long 4
2.1.4 Lợi ích của thanh long 5
2.1.5 Một số bệnh hại thanh long 5
2.1.6 Bảo quản thanh long 6
2.1.6.1 Các hiện tượng vật lý xảy ra khi bảo quản 6
2.1.6.2 Các hiện tượng sinh lý, sinh hóa xảy ra trong quá trình bảo quản 7
2.1.6.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bảo quản thanh long 7
2.2 Sơ lược về nấm bệnh hại thanh long 8
2.2.1 Nguồn gốc phát sinh của nấm bệnh 8
2.2.2 Sự lan truyền và xâm nhiễm của nấm gây bệnh 9
2.2.2.1 Sự lan truyền của nấm gây bệnh 9
2.2.2.2 Quá trình xâm nhiễm của nấm gây bệnh 9
2.2.3 Chu trình gây bệnh của nấm 10
2.2.4 Một số loại nấm gây hư hỏng trong quá trình bảo quản thanh long 10
Trang 8vi
2.2.4.1 Fusarium sp 10
2.2.4.2 Colletotrichum gloeosporioides 11
2.2.4.3 Nấm Phomopsis sp 12
2.2.4.4 Nấm Alternaria sp 12
2.3 Sơ lược về vi khuẩn Bacillus subtilis 13
2.3.1 Lịch sử phát hiện Bacillus subtilis 13
2.3.2 Đặc điểm phân loại của vi khuẩn Bacillus subtilis 13
2.3.2.1 Vị trí phân loại Bacillus subtilis 13
2.3.2.2 Đặc điểm phân bố Bacillus subtilis 13
2.3.3 Đặc điểm hình thái Bacillus subtilis 14
2.3.4 Đặc điểm nuôi cấy Bacillus subtilis 14
2.3.5 Khả năng kiểm soát sinh học của Bacillus subtilis 15
2.3.6 Một vài ứng dụng của Bacillus subtilis 15
2.3.6.1 Ứng dụng B subtilis trong công nghệ sản xuất enzyme và kháng sinh 15
2.3.6.2 Ứng dụng Bacillus subtilis trong thực phẩm 16
2.3.6.3 Ứng dụng Bacillus subtilis trong y học 16
2.3.7 Ứng dụng của Bacillus subtilis trong bảo quản nông sản sau thu hoạch 16
2.4 Các biện pháp bảo quản thanh long 18
2.4.1 Biện pháp vật lý 18
2.4.2 Biện pháp sinh học 18
2.4.3 Biện pháp hóa học 19
Chương 3 VẬT LIỆU PHƯƠNG PHÁP 20
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
3.2 Vật liệu nghiên cứu 20
3.2.1 Chủng giống nghiên cứu 20
3.2.2 Vật liệu sử dụng 20
3.2.3 Thiết bị và dụng cụ 20
3.3 Phương pháp 20
3.3.1 Phương pháp phân lập nấm bệnh 20
3.3.1.1 Môi trường phân lập 20
3.3.1.2 Mẫu phân lập 21
3.3.1.3 Cách tiến hành 21
Trang 9vii
3.3.2 Phương pháp kiểm tra khả năng gây hư hỏng của nấm bệnh 21
3.3.2.1 Nguyên tắc 21
3.3.2.2 Cách tiến hành 21
3.3.3 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng của sợi nấm 22
3.3.4 Phương pháp cấy trung gian Bacillus lên đĩa thạch 22
3.3.5 Phương pháp cấy trung gian nấm bệnh lên đĩa thạch 22
3.3.6 Phương pháp xác định hiệu quả đối kháng của Bacillus đối với nấm bệnh 22
3.3.6.1 Nguyên tắc 22
3.3.6.2 Cách tiến hành 23
3.3.7 Phương pháp xác định mật độ tế bào vi khuẩn bằng phương pháp đếm
khuẩn lạc 23
3.3.7.1 Nguyên tắc 23
3.3.7.2 Cách tiến hành 23
3.3.7.3 Cách tính 24
3.3.8 Phương pháp ly tâm thu nhận sinh khối của Bacillus subtilis 24
3.3.8.1 Cách thực hiện 24
3.3.8.2 Cách tính 24
3.3.9 Phương pháp nuôi cấy lỏng để thu nhận sinh khối Bacillus subtilis 24
3.3.10 Khảo sát các điều kiện ảnh hưởng đến sự nuôi cấy tăng sinh B subtilis 25
3.3.10.1 Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ lắc 25
3.3.10.2 Khảo sát ảnh hưởng nồng độ glucose 25
3.3.10.3 Khảo sát ảnh hưởng nồng độ peptone 25
3.3.10.4 Khảo sát ảnh hưởng nguồn nitrogen vô cơ bổ sung 26
3.3.11 Thử nghiệm khả năng kiểm soát nấm bệnh trên quả thanh long của
canh trường Bacillus subtilis 26
3.3.11.1 Chuẩn bị mẫu thí nghiệm 26
3.3.11.2 Tiến hành thí nghiệm 26
3.3.12 Thử nghiệm bảo quản canh trường chứa sinh khối vi khuẩn B subtilis 28
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Phân lập nấm gây hư hỏng từ trái thanh long bị nhiễm bệnh qua quá
trình bảo quản 28
3.4.2 Kiểm tra khả năng gây bệnh của các nấm phân lập được 28
Trang 10viii
3.4.3 Khảo sát tốc độ tăng trưởng của các nấm phân lập được 28
3.4.4 Khảo sát khả năng ức chế nấm bệnh của các chủng Bacillus subtilis 28
3.4.5 Khảo sát ảnh hưởng của một số điều kiện nuôi cấy đến sự phát triển
của chủng Bacillus subtillis chọn lọc 28
3.4.5.1 Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ lắc 28
3.4.5.2 Khảo sát ảnh hưởng nồng độ glucose 29
3.4.5.3 Khảo sát ảnh hưởng nồng độ peptone 29
3.4.5.4 Khảo sát ảnh hưởng nguồn nitrogen vô cơ bổ sung 29
3.4.6 Đánh giá hiệu quả kiểm soát nấm bệnh của canh trường chứa sinh khối
Bacillus chọn lọc trên trái thanh long 29
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Phương pháp phân lập nấm bệnh 30
4.2 Tốc độ tăng trưởng của các chủng nấm gây bệnh 30
4.3 Khảo sát khả năng ức chế nấm bệnh của các chủng Bacillus subtilis 34
4.4 Ảnh hưởng của một số điều kiện nuôi cấy lên sự tăng sinh của
chủng Bacillus subtilis Ba02 35
4.4.1 Ảnh hưởng của tốc độ lắc 35
4.4.2 Ảnh hưởng của nồng độ glucose 36
4.4.3 Ảnh hưởng của nồng độ peptone 36
4.4.4 Ảnh hưởng của nguồn nitrogen vô cơ bổ sung 37
4.5 Thử nghiệm bảo quản thanh long 38
4.6 Thử nghiệm bảo quản canh trường chứa sinh khối B subtilis Ba02 41
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 11ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Các chủng B subtillis được dùng trong nghiên cứu 20
Bảng 3.2 Thí nghiệm thử nghiệm khả năng kiểm soát nấm bệnh trên trái thanh
long của canh trường Bacillus subtilis 27
Bảng 4.2 Tốc độ tăng trưởng của các chủng nấm bệnh trên môi trường PGA 30
Bảng 4.1 Đặc điểm của các chủng nấm bệnh qua quá trình phân lập nấm bệnh
trên trái thanh long 31
Bảng 4.1 (tt) Đặc điểm của các chủng nấm bệnh qua quá trình phân lập
nấm bệnh trên trái thanh long 32
Bảng 4.3 Hiệu quả kiểm soát nấm bệnh của chủng B subtilis Ba02 trên quả
thanh long sau 10 ngày bảo quản 39
Trang 12x
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Cây, trái và hoa thanh long 3
Hình 2.2 Các giống thanh long hiện có ở Việt Nam 4
Hình 2.3 Sơ đồ biểu thị sự lan truyền của nấm bệnh 9
Hình 2.4 Sơ đồ biểu thị chu trình gây bệnh của nấm 10
Hình 2.5 Thanh long bị thối do Fusarium sp 11
Hình 2.6 Thanh long bị bệnh thán thư 11
Hình 2.7 Thanh long bị thối do nấm Phomopsis sp 12
Hình 2.8 Thanh long bị thối do nấm Alternaria sp 13
Hình 2.9 Tế bào Bacillus subtilis được nhuộm Gram 14
Hình 2.10 Một số dạng hình thái tế bào và khuẩn lạc của Bacillus subtilis 14
Hình 4.1 Hiệu quả đối kháng của các chủng B subtilis34với các chủng nấm bệnh 34
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện mật độ tế bào Bacillus subtillis trongquá trình
tăng sinh do ảnh hưởng của tốc độ lắc 35
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện mật độ tế bào Bacillus subtillis trong quátrình
tăng sinh do ảnh hưởng của nồng độ glucose 36
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện mật độ tế bào Bacillus subtillis trong quátrình
tăng sinh do ảnh hưởng của nồng độ peptone 37
Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện mật độ tế bào Bacillus subtillis trong quátrình
tăng sinh do ảnh hưởng của nguồn nitrogen vô cơ bổ sung 38
Hình 4.6 Hiệu quả kiểm soát nấm bệnh của chủng B subtilis Ba02 40
Hình 4.7 Hiệu quả kiểm soát nấm bệnh của chủng B subtilis Ba02 40
Hình 4.8 Hình biểu hiện sự thay đổi mật độ tế bào theo thời gian bảo quản
chế phẩm chứa canh trường B subtilis Ba02 41
Trang 13đối kháng Trichoderma sp., Chaetomium spp đã quản lý được nhiều nấm gây bệnh như Helminthosporium, Fusarium, Pyricularia, Pythium, Phytophythora Ngoài ra, các loài nấm men (Saccharomyces cerevisiae), vi khuẩn (Bacillus subtilis) và xạ khuẩn đã
được thử nghiệm và ứng dụng khả năng ức chế hoạt động gây hư hỏng, giảm chất
lượng nông sản trên thế giới Trong đó, Bacillus subtilis là vi sinh vật được ứng dụng
rộng rãi nhất và đã cho những kết quả rất khả quan Tuy nhiên, ở nước ta việc ứng
dụng Bacillus subtilis trong chế phẩm sinh học dùng trong bảo quản thanh long còn hạn chế Vì vậy, đề tài được thực hiện với mục tiêu “Nghiên cứu ứng dụng Bacillus
subtilis trong bảo quản thanh long”
1.2 Yêu cầu đề tài
Nghiên cứu ứng dụng Bacillus subtilis để kiểm soát một số nấm bệnh gây hư hỏng
quả thanh long trong quá trình bảo quản
Trang 142
1.3 Nội dung thực hiện
Phân lập chủng nấm bệnh gây hư hỏng trên quả thanh long qua quá trình bảo quản Kiểm tra khả năng gây hư hỏng của các nấm bệnh đã được phân lập trên quả thanh long và xác định tốc độ tăng trưởng của các chủng nấm bệnh đã phân lập được
Xác định khả năng đối kháng của một số chủng Bacillus subtilis đối với nấm bệnh trên môi trường thạch đĩa nhằm tìm ra chủng Bacillus subtilis thích hợp có thể kiểm
soát các nấm bệnh đã phân lập được
Khảo sát các ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy lên sự tăng sinh của chủng Bacillus
subtilis đã chọn lọc
Thử nghiệm ứng dụng canh trường chứa sinh khối chủng Bacillus subtilis chọn lọc
để ức chế sự phát triển của các nấm bệnh đã phân lập được trên quả thanh long
Xác định mật độ tế bào có trong canh trường Bacillus subtilis sau khi nuôi cấy theo
thời gian bảo quản
Trang 153
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về thanh long
2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của thanh long
Cây thanh long (tên tiếng Anh là Pitahaya hay còn gọi là Dragon fruit) thuộc họ xương rồng, có nguồn gốc ở các vùng sa mạc thuộc Mêhico và Colombia (Nguyễn Văn Kế, 1997) Theo Vũ Công Hậu (1987), họ xương rồng có tới 250 loài đã được
trồng để lấy trái Trong đó có 3 chi quan trọng nhất là Opuntin (xương rồng hình vợt),
Hylocereus và Lemairecereus, có nguồn gốc ở các sa mạc Mêhico
Thanh long được du nhập vào Việt Nam cách nay trên 100 năm bởi người Pháp nhưng chỉ mới bắt đầu được sản xuất như hàng hóa từ năm 1990 Hiện nay thanh long được trồng nhiều ở Bình Thuận, Long an, Tiền Giang và xuất khẩu ra các thị trường Trung quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Campuchia, Lào, Nhật Bản, một số nước Châu Âu, Nam Mỹ, Canada (Đỗ Quốc Tấn, 2006)
Hình 2.1 Cây, trái và hoa thanh long (lucdien.com, bbc.co.uk)
2.1.2 Các giống thanh long hiện có ở Việt Nam
Tại Việt Nam, giống thanh long hiện nay được trồng phổ biến ở một số địa phương có vỏ đỏ ruột trắng và giống vỏ đỏ ruột đỏ (Phan Ngọc Liễu và ctv, 2000)
Thanh long ruột trắng Hylocereus undatus là loại giống được trồng phổ biến tại
Bình Thuận, Tiền Giang và Long An Đây cũng là giống được tiêu thụ phổ biến trên thị trường nội địa và xuất khẩu Giống này có thịt trắng, chắc, khá ngọt, ít chua năng suất cao, phẩm chất ngon và có trọng lượng trung bình từ 200 – 500 g Khi trái chín
có vỏ màu hồng hoặc đỏ thẩm Vỏ có những vảy dài, phân bố đều khắp (gọi là tai) Khi quả chín, vỏ có thể bóc đi dễ dàng như vỏ chuối Thịt quả là một khối trắng như thạch, vị ngọt hơi chua, khi ăn hạt bị nhai vỡ nên có vị xương rồng (Đoàn Hữu Tiến và
Tạ Minh Tuấn, 2000)
Trang 164
Thanh long ruột đỏ H polyrhizus là giống nhập nội, sinh trưởng mạnh, trái hơi dài,
kích thướt trái trung bình, nhiều tai, thịt trái có màu đỏ đậm, hạt đen, to, thịt trái hơi mềm và vỏ dày (Đoàn Hữu Tiến và Tạ Minh Tuấn, 2000)
Thanh long vỏ vàng ruột trắng Selenicereus magalani cũng là giống nhập nội, sinh
trưởng mạnh hơn thanh long ruột đỏ Trái có dạng tròn, kích thướt trung bình, có nhiều tai, thịt trái có màu trắng ngà hơi vàng, hạt nhiều, to, có màu đen và năng suất thấp
Hình 2.2 Các giống thanh long hiện có ở Việt Nam Thanh long ruột trắng Hylocereus undatus (a), (s4.zetaboards.com); thanh long ruột đỏ H polyrhizus (b), (ards.com); thanh long vỏ vàng ruột
trắng Selenicereus magalani (c), (s4.zetaboards.com.)
2.1.3 Đặc tính sinh thái của thanh long
Cây thanh long có nguồn gốc nhiệt đới, chịu hạn giỏi, nhưng không chịu được giá lạnh, được trồng ở những vùng nóng Một số loài chịu được nhiệt độ từ 50oC đến
55oC, thích hợp khi trồng ở những nơi có cường độ ánh sáng mạnh, khi bị che nắng cây sẽ ốm yếu và lâu cho quả Cây mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám, bạc màu (Bình Thuận), đất phèn (Tp.Hồ Chí Minh), đất đỏ latosol (Đồng Nai) Chúng có khả năng thích ứng với các độ chua (pH) khác nhau nhưng chịu đựng độ mặn kém (Nguyễn Văn Kế, 1997; Mai Văn Quyền và ctv, 2005)
Khi trồng thanh long nên chọn các đất có tầng canh tác dày tối thiểu 30 – 50 cm
để có năng suất cao nên tưới và giữ ẩm cho cây vào mùa nắng (Vũ Công Hậu, 1996; Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv, 2006)
Theo Obregon (1996), Nerd và Mizrahi (1997) và Paull (2000) Trên thế giới, thanh long thường được trồng thương phẩm với các loại khác nhau là thanh long ruột
trắng (Hylocereus undatus) và thanh long ruột đỏ hay tím (H costaricensis) được trồng ở Nicaragua và Guatemala, thanh long ruột đỏ (H polyrhizus) trồng ở Israel Giống thanh long vàng (H undatus) trồng ở Mexico và châu Mỹ Latin Một giống thanh long vàng khác (Selenicereus magalani) có nguồn gốc Trung và Nam Mỹ, được
trồng với diện tích nhỏ
Trang 175
2.1.4 Lợi ích của thanh long
Thanh long là loại cây ăn trái nhiệt đới rất phù hợp với điều kiện ngoại cảnh và xã hội ở nước ta Chúng là cây chịu hạn, không kén đất, là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đầu tư thấp, nhanh cho thu hoạch, tận dụng được sức lao động nhàn rỗi
Do đó, thanh long còn được mệnh danh là là cây xóa đói giảm nghèo Sản phẩm trái thanh long có ưu thế cạnh tranh cao vì đây là loại cây ăn trái chưa phát triển nhiều ở ngay trong nước và khu vực Châu Á Mặt khác, cây thanh long ít bị sâu bệnh tấn công
so với các cây trồng khác nên việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật rất hạn chế Đây chính là lợi thế đảm bảo mức độ an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng, cho người
sản xuất và hạn chế ô nhiễm môi trường (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2006)
Thanh long là loại cây ăn quả xuất khẩu có mức thời gian đầu tư thấp, trong chỉ một năm trồng cây đã cho trái Trái thanh long có nhiều ưu điểm như ngon, đẹp mắt, dễ ăn, bảo quản
lâu, được chế biến thành nhiều sản phẩm, có trái quanh năm và có lợi cho sức khỏe
Các sản phẩm từ trái thanh long khá đa dạng như thanh long đóng hộp, thanh long nha đam, rượu vang thanh long Ngoài ra, vỏ thanh long ruột đỏ có thể chế ra màu thực phẩm để sản xuất rượu vang và son môi Hạt khô ép lấy dầu để phục vụ cho
ngành y dược Phần thịt trái có thể dùng để chế ra nước giải khát cao cấp
Thành phần dinh dưỡng có trong 100 g phần ăn được của trái thanh long có cacbohydrat
9 - 14 g, protein 0,16 - 0,5 g, chất béo 0,1 - 0,6 g, chất xơ 0,3 - 0,9 g, canxi 6 – 10 mg, sắt 0,3 - 0,7 mg, phosphor 13 - 16 mg, vitamin B3 0,2 - 0,45 mg và vitamin C4 4 – 25 mg
Thanh long có tác dụng mát gan, nhuận trường, bổ sung chất xơ thích hợp cho người ăn kiêng, trị bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường, béo phì, viêm phế quả Trong thanh long ruột đỏ chứa hợp chất trị ung thư và các độc tố gây bệnh khác Hoa thanh
long phơi khô nấu nước uống dùng chữa bệnh tiểu đường
2.1.5 Một số bệnh hại thanh long
Ở Hoa Kỳ, trên thanh long thường xuất hiện một số loại bệnh gây hư hại như thối
thân do vi khuẩn Xanthomonas campestris và bệnh thán thư do nấm Colletotrichum
gây hại trên cành và trái thanh long làm thất thoát năng suất, chất lượng Các loại nấm
như Fusarium oxyporum, Dothiorella sp gây nên các bệnh trên cành (Crane, 2006,
trích dẫn bởi Nguyễn Mạnh Hùng và ctv, 2008)
Trên cành thanh long thường xuất hiện những đốm màu nâu, vết bệnh khi già có
đường kính khoảng 0,5 cm bệnh do nấm Botryosphahaeria dothidea gây nên, nấm này
Trang 186
cũng gây nên bệnh đốm vàng trên trái nhưng ít phổ biến Ngoài ra, trên thanh long còn
có các bệnh như chết cây do tác nhân là nấm Fusarium spp., Pythium spp (Valencia,
2003, trích dẫn bởi Nguyễn Mạnh Hùng và ctv, 2008)
Theo Phạm Văn Biên và ctv (2005), trên trái thanh long, ở phần bên ngoài và bên trong có một số vi sinh vật ký sinh gây hại sẽ làm giảm phẩm chất và thời gian bảo
quản Bệnh thối đốm trái do nấm Fusarium lateritium là đối tượng gây hại quan trọng
cho trái thanh long ở giai đoạn chín và giai đoạn sau thu hoạch
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (2008), bệnh đốm nâu do nấm là bệnh rất phổ
biến Bệnh ảnh hưởng nhiều đến sự sinh trưởng và ra hoa đậu trái của thanh long
Theo Nguyễn Văn Hòa và ctv ( 2006), trên cây thanh long thường xuất hiện các
bệnh: thán thư (Collectotrichum), thối trái (Fusarium sp.), thối bẹ (Alternaria sp.), thối
bẹ (Fusarium sp.), nám cành (Macssonina agaves), đốm nâu (Gloeosporium agaves), đốm đen (Ascochyta sp.), nấm bồ hóng (Capnodium sp.), đốm vòng vàng mùa mưa,
trong đó phổ biến nhất là các bệnh thán thư, thối bẹ, thối trái
Theo Trần Thị Việt Hà (2004), trên trái thanh long sau thu hoạch thường xuất hiện
bệnh thối trái do các nấm khác nhau như nấm Alternaria sp., Phomopsis sp., Vollutela sp., Diplodia sp và Fusarium sp
Theo Lê Văn Tố và ctv (2000), trên trái thanh long sau thu hoạch có một số nấm
bệnh sau: Alternaria alternate; A cheiranth; Aspergillus avenaceus; A awamori; A
clavatus; A flavu; A fumigates; A oryzae; A niger; A tubingensis; Curvularia lunna;
C oryzae; Cladosporium oxysporium; Corynespora abelvata; Fusarium semitectum;
F lateritium; Haplariopsis fagicola; Mucor hiernalis; Penicillium charlesii
2.1.6 Bảo quản thanh long
Thanh long là trái hô hấp ít biến đổi nên bảo quản được lâu Theo Lê Văn Tố và ctv (2000), nhiệt độ thịt trái thanh long 280C, độ ẩm 70%, thời gian tồn trữ là 7 ngày
Ở nhiệt độ thịt trái 50
C, thanh long có thể bảo quản được 30 ngày
2.1.6.1 Các hiện tượng vật lý xảy ra khi bảo quản
Bay hơi nước là một trong những nguyên nhân làm thanh long bị héo tai, héo trái, giảm khối lượng, chất lượng, rút ngắn thời gian bảo quản (tổ chức Lương Thực và Nông Nghiệp Liên Hiệp Quốc, 1992) Sự mất nước thay đổi trong quá trình bảo quản: giai đoạn đầu mạnh, giai đoạn giữa chậm lại, giai đoạn cuối trái càng chín nên càng mất hơi nước mạnh Độ ẩm, nhiệt độ, độ chín của trái, thương tật do côn trùng, nấm
Trang 192.1.6.2 Các hiện tượng sinh lý, sinh hóa xảy ra trong quá trình bảo quản
Sự chín của quả là sự là sự chuyển từ trạng thái chưa ăn được sang trạng thái ăn được, là nguyên nhân gây hư hỏng và rút ngắn thời gian bảo quản trái tươi (Nguyễn Văn Thoại và ctv, 1982) Trong quá trình chín tinh bột và protopectin bị thủy phân, lượng acid và chất chát đều giảm, protein tăng lên (Trần Minh Tâm, 2002)
Các thành phần hóa học của rau quả luôn luôn thay đổi trong quá trình bảo quản như: vị ngọt, vị chua, mùi thơm và hợp chất khoáng Sự thay đổi này tùy thuộc vào từng loại rau quả khác nhau Hàm lượng đường thay đổi nhiều trong quá trình chín của quả Lượng acid tổng số sẽ giảm dần trong quá trình chín do quá trình decarboxy hóa Hàm lượng tannin giảm, hương thơm tăng và các chất màu được tạo thành (Nguyễn Văn Thoại và ctv, 1982) Lượng đường trong trái tăng, những chất có hoạt tính kháng bệnh như alkaloid, phenol và tannin đều bị giảm, nên trái cây rất dễ bị nhiễm bệnh (Agrios, 1988; Karban và Kue, 2000)
Tốc độ biến đổi các thành phần hóa học tỷ lệ thuận với cường độ hô hấp (Nguyễn Văn Thoại và ctv, 1982) Thanh long là loại trái cây có cường độ hô hấp thấp (Nguyễn Văn Thoại và ctv, 1982), nên tốc độ biến đổi thành phần hóa học không nhanh như các loại trái cây khác như chuối, bơ (Hopkirk và ctv, 1994)
2.1.6.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bảo quản thanh long
Nhiệt độ: Trái thanh long có nhiệt độ bảo quản thích hợp là 5 - 100C, theo Lê Văn
Tố và ctv (1999) nhiệt tối ưu là 50C và Thái Thị Hòa (2001) là 6 - 70C Do đó, trong quá trình bảo quản lạnh sau xử lý, nên chọn nhiệt độ bảo quản là 50C
Ẩm độ: Theo Lê Văn Tố và ctv (1999), với thanh long ẩm độ bảo quản tối ưu nhất
ở nhiệt độ thịt trái 50
C là 90 - 95%, nhiệt độ thịt trái 280C là 70% Theo Nguyễn Thị Hòa, (2002), bảo quản thanh long ở ẩm độ 95 - 100% Trái thanh long được bao trái bằng bao PE có đục lỗ thì bảo quản lâu hơn so với trái thanh long không bao trái (Nguyễn Vũ Hồng Hà, 2002; Lê Văn Tố và ctv, 2000)
Trang 208
Ảnh hưởng của vi sinh vật: Giai đoạn trước thu hoạch nếu đồng ruộng không được
vệ sinh (Darvas, 1982), có nhiều nguồn bệnh (Hallman, 1990) và đồng thời trái cây bị thương do côn trùng, chim, chuột, canh tác không đúng cách (Nguyễn Thơ, 2002; Ana, 1990; Cooke, 2002; Jacobi và Wong, 1992) thì khi thời tiết thuận lợi cho bệnh (ẩm độ cao là điều kiện cho nấm phát triển, nhất là khi trời mưa) đồng ruộng có mầm bệnh sẵn
sẽ bám vào trái đến khi thu hoạch (Coastes, 1993) Giai đoạn trong khi thu hoạch, các yếu tố gây ảnh hưởng đến chất lượng thanh long trong quá trình bảo quản như thời gian thu hoạch (Darvas, 1982; Hopkirk và ctv, 1994) trước và khi thu hoạch gặp trời mưa, cách thức thu hoạch, điều kiện vệ sinh trong thu hoạch (Nguyễn Thơ, 2002; Ana, 1990; Cooke, 2002; Jacobi và Wong, 1992) giai đoạn sau thu hoạch, việc vệ sinh kém, làm tổn thương cơ học do vận chuyển, nhiệt độ, ẩm độ, hóa chất xử lý, đóng gói không thích hợp, thời gian bảo quản quá lâu (Nguyễn Thơ, 2002; Ana, 1990; Cooke, 2002; Johnson và Sangchote, 1993)
Sự tổn hại vật lý, hóa học: Tổn hại vật lý là những ảnh hưởng của các tác nhân như côn trùng châm chích, chim chóc, chuột (Booth và Burden, 1983) hay những va đập, rung lắc trong quá trình thu hái, vận chuyển và đóng gói Tổn hại hóa học là những ảnh hưởng do hóa chất phun từ đồng ruộng như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, dinh dưỡng, chất điều hòa tăng trưởng và chất bảo quản Những tổn thương này ảnh hưởng đến quá trình hô hấp, dẫn đến tăng hô hấp và sinh nhiệt làm mỹ quan trái giảm và trái
dễ bị hư hỏng trong bảo quản do vi sinh vật gây ra (Ana,1990)
2.2 Sơ lược về nấm bệnh hại thanh long
2.2.1 Nguồn gốc phát sinh của nấm bệnh
Vi sinh vật tồn tại khắp mọi nơi trong môi trường; tùy vào điều kiện ngoại cảnh
mà chúng có thể có nhiều hay ít Với những vi sinh vật gây bệnh trên cây trồng thì chúng có thể tồn tại trong không khí ngoài môi trường dưới những dạng bào tử thể; hoặc tồn tại sẵn trong đất; hay trong chính cây con cây giống kí chủ Khi gặp điều kiện thuận lợi nấm bệnh sẽ lan truyền gây bệnh, ngoài ra chúng còn tồn tại trên một cơ thể trung gian (từ cá thể trung gian sẽ truyền bệnh qua cây kí chủ chính khi có điều kiện thuận lợi)
Trang 219
2.2.2 Sự lan truyền và xâm nhiễm của nấm gây bệnh
2.2.2.1 Sự lan truyền của nấm gây bệnh
Nấm lan truyền bằng cách phát tán bào tử Sự lan truyền chủ động hay bị động phụ thuộc vào đặc điểm sinh học của mỗi loại nấm và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường theo hình sau đây:
Hình 2.3 Sơ đồ biểu thị sự lan truyền của nấm bệnh (Trịnh Thị Hồng, 2007)
Sự lan truyền chủ động của túi bào tử được diễn ra nhờ sự tăng cao áp suất trong túi bào tử, đẩy nắp nhỏ ở đỉnh túi và phóng vào không khí Trong khi đó, sự lan truyền thụ động của bào tử hoàn toàn phụ thuộc vào cường độ, tốc độ mưa, gió Sự lan truyền của nấm chịu ảnh hưởng của các yếu tố đất, hạt giống, cây giống, cây nhiễm bệnh, tàn
dư bệnh
2.2.2.2 Quá trình xâm nhiễm của nấm gây bệnh
Đầu tiên bào tử tiếp xúc bề mặt ký chủ và nảy nầm bằng cách sinh ra ống mầm sau
khi phát triển thành sợi nấm (nảy mầm trực tiếp) hoặc nảy mầm từ một bào tử ban đầu tạo ra nhiều bào tử nhỏ, các bào tử nhỏ tiếp tục nảy ra ống mầm và theo kiểu bào tử
nảy mầm sinh ra cơ quan sinh sản Tiếp theo ống mầm tiến hành xâm nhập bề mặt mô
ký chủ qua bề mặt nguyên vẹn, qua vết thương cơ giới, khí khổng hay thủy khổng Sau
đó, nó phân hủy cấu trúc tế bào, các hợp chất hữu cơ khó tan của mô ký chủ thành chất dễ tan để hấp thụ dinh dưỡng bằng các loại enzyme, chất sinh trưởng và độc tố của chính nấm bệnh
Bào tử nấm
Lan truyền chủ động
Lan truyền thụ động
Bào tử hữu tính từ quả thể đĩa, quả thể tự phóng vào trong không khí
Mưa và nước tưới làm bào tử bắn tung tóe ra
Trang 2210
2.2.3 Chu trình gây bệnh của nấm
Quá trình gây bệnh của nấm được biểu hiện theo hình dưới đây:
Hình 2.4 Sơ đồ biểu thị chu trình gây bệnh của nấm (Trịnh Thị Hồng, 2007)
2.2.4 Một số loại nấm gây hư hỏng trong quá trình bảo quản thanh long
2.2.4.1 Fusarium sp
Fusarium sp có kích thước khuẩn lạc trên môi trường Potato Glucose Agar (PGA)
là 0,9 - 1,6 cm sau 3 ngày nuôi cấy Đại bào tử dài có hình cong lưỡi liềm hay thẳng,
có một mỏ nhọn tại đỉnh đầu Có hay không có bàn chân Tiểu bào tử ít được thấy,
hình elip Kích thước của bào tử ban đầu là: 64 - 72 x 5 - 7 µm (69,23 x 5,82 µm), tiểu
bào tử là: 2 - 3 x 5 - 6 µm (2 - 5 µm) trên môi trường để lâu ngày có màu cam nhạt Bệnh ít thấy vào mùa khô, thường gặp vào mùa mưa Trái càng neo lâu trên cây tỷ
lệ bệnh càng cao Thích hợp với thời tiết ấm, môi trường ẩm ướt Triệu chứng bệnh do nấm này gây ra trên quả thanh long là gây các vết bệnh hình tròn nhỏ màu trắng xám,
có hoặc không có đốm màu đen nằm rải rác trên mặt và trong vỏ quả Bệnh phát triển
ăn sâu vào mô quả gây thối quả
Gây bệnh
Sản sinh tạo ra cá thể mới Xâm nhiễm
Phát tán, tiếp xúc
Kiểu bảo tồn
Nguồn bệnh
Giai đoạn ký sinh
Giai đoạn bảo tồn
Trang 2311
Hình 2.5 Thanh long bị thối do Fusarium sp (a); đại bào tử của nấm Fusarium sp (b);
tiểu bào tử của nấm Fusarium sp (c) (Trần Thị Việt Hà, 2004)
2.2.4.2 Colletotrichum gloeosporioides
Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra là một bệnh quan
trọng và rất phổ biến trên nhiều loại trái cây như xoài, cam, đu đủ, bơ, dâu tây, chuối,
nho, thanh long, đặc biệt trên trái xoài Nấm C gloeosporioides thuộc ngành nấm bất
toàn, sinh sản bằng bào tử, trên môi trường PGA có khuẩn lạc màu trắng xám đến xám đậm Mặt dưới khuẩn lạc có màu trắng đến xanh đậm khi già thì màu trở nên đậm hơn
Bào tử nấm C gloeosporioides có màu hồng da cam nhạt Bào tử thẳng, trong suốt,
thường đơn nhân, dài 9 – 24 µm (Sutton, 1980) rộng 3 - 4,5 µm (Sutton, 1980) hoặc lên đến 6 µm (von Arx, 1957)
Bệnh phát triển và lây lan mạnh trong điều kiện thời tiết mưa và ấm Nó là tác nhân gây bệnh quan trọng và phức tạp trên quả dâu tây, quả xoài, thanh long cũng như nhiều loại trái khác
Triệu chứng bệnh do nấm này gây ra trên các loại trái cây thường là ban đầu làm cho trái có những vết bệnh màu nâu đen, sau đó phát triển lớn dần và lẫn vào nhau Thịt trái phần bên dưới chỗ bị bệnh chai đi và dính với vỏ khi lột Bệnh làm cho trái chín háp, hoặc làm hư hỏng trong thời gian tồn trữ, bảo quản, và thu hoạch (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Bệnh biểu hiện triệu chứng thường thấy đặc trưng khi trái chín (M.B Dickman, 1993)
Hình 2.6 Thanh long bị bệnh thán thư (a), (kythuatnuoitrong.com) ; Bào tử của Colletotrichum
gloeosporioides (b) , (weedimages.org)
Trang 24
12
2.2.4.3 Nấm Phomopsis sp
Khuẩn lạc nấm Phomopsis longicolla khi được nuôi cấy trên môi trường PGA có
tơ giống như lông, màu trắng, mặt dưới môi trường nuôi cấy thì không màu Cơ quan sinh sản lớn, có màu đen và trải rộng Cơ quan sinh sản điển hình có đặc điểm không kết chặt và có thể nằm sâu hoàn toàn trong một trong môi trường Bào tử sơ khởi của nấm trong suốt, dạng hình thoi đến hình elip hoặc dạng giọt Khi được nhuộm với DAPI (4 ,6 - diamidino – 2 - phenylindole) cho thấy bào tử sơ khởi của nấm là bào tử đơn nhân Bào tử thứ phát và quả thể dạng chai của nấm không xuất hiện cả trong môi trường PGA lẫn môi trường nước yến mạch agar từ một đến mười tuần ở 250C ở chu
kỳ sáng là 12 giờ (Li và Bradley, 2001)
Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết ẩm ướt và có độ ẩm cao Triệu
chứng bệnh do nấm này gây ra là trên vỏ xuất hiện một số lượng lớn các đốm nhỏ, song chúng không sắp xếp theo một kiểu riêng biệt nào
Hình 2.7 Thanh long bị thối do nấm Phomopsis sp (a) (Trần Thị Việt Hà, 2004); bào tử anpha
của nấm Phomopsis (b) kiểu 1, (c) kiểu 2 , (Li và Bradley, 2001)
2.2.4.4 Nấm Alternaria sp
Alternaria sp là tác nhân gây bệnh thối trên thanh long và gây ra hiện tượng trái
sớm đổi màu Triệu chứng bệnh không hình thành cho đến sau khi thu hoạch và bắt đầu phát triển trở thành vấn đề trong lưu trữ
Bệnh phát triển tốt nhất trong suốt thời kỳ có thời tiết mát và ẩm Bệnh trải qua mùa đông trong đất hoặc trên cây sống bị nhiễm bệnh và có thể tồn tại trong vòng một năm Triệu chứng bệnh do nấm này gây ra là những đốm màu nâu và đen trên đầu của trái cây và gây thối bên trong Bệnh bám trên những mảnh vỡ thực vật để vượt qua mùa đông, sau đó bệnh được phát tán bằng gió, mưa
c
b
a
Trang 2513
Hình 2.8 Thanh long bị thối do nấm Alternaria sp (a);
bào tử nấm Alternaria sp (b) (Trần Thị Việt Hà, 2004)
2.3 Sơ lược về vi khuẩn Bacillus subtilis
2.3.1 Lịch sử phát hiện Bacillus subtilis
Bacillus subtilis được phát hiện đầu tiên trong phân ngựa năm 1941 bởi tổ chức y
học Nazi của Đức Lúc đầu được sử dụng chủ yếu là để phòng bệnh lỵ cho các binh sĩ Đức chiến đấu ở Bắc Phi Việc điều trị phải đợi đến những năm 1949 - 1957, khi
Henrry và các cộng sự tách được chủng thuần khiết của Bacillus subtilis Từ đó
“subtilis therapy” có nghĩa là "thuốc subtilis" ra đời trị các chứng viêm ruột, chống tiêu chảy trong rối loạn tiêu hoá Ngày nay, vi khuẩn này đã trở nên rất phổ biến, được
sử dụng rộng rãi trong y học, chăn nuôi, thực phẩm (Lý Kim Hữu, 2005)
2.3.2 Đặc điểm phân loại của vi khuẩn Bacillus subtilis
2.3.2.1 Vị trí phân loại Bacillus subtilis
Theo phân loại của Bergey (1994) Bacillus subtilis thuộc:
Bộ: Bacillales
Họ: Bacillaceae
Giống: Bacillus
Loài: Bacillus subtilis
2.3.2.2 Đặc điểm phân bố Bacillus subtilis
Vi khuẩn Bacillus subtilis hầu hết là vi khuẩn hoại sinh, chúng phân bố hầu hết
trong tự nhiên Phần lớn chúng cư trú trong đất, thông thường đất trồng trọt chứa khoảng 10 - 100 triệu CFU / g Đất nghèo dinh dưỡng ở vùng sa mạc, vùng đất hoang
thì vi khuẩn Bacillus subtilis rất hiếm Nước và bùn cửa sông cũng như ở nước biển cũng có mặt bào tử và tế bào Bacillus subtilis (Vũ Thị Thứ, 1996)
Trang 2614
2.3.3 Đặc điểm hình thái của Bacillus subtilis
B subtilis là trực khuẩn nhỏ, hai đầu tròn, Gram dương, kích thước 0,5 - 0,8 m x
1,5 - 3 m, đứng đơn lẻ hoặc thành chuỗi ngắn, có khả năng di động, có 8 - 12 lông, sinh bào tử hình bầu dục nhỏ hơn tế bào vi khuẩn và nằm giữa tế bào, kích thước từ 0,8 - 1,8 m Bào tử phát triển bằng cách nảy mầm, không kháng acid, có khả năng chịu nhiệt, chịu ẩm, tia tử ngoại, tia phóng xạ (Tô Minh Châu, 2000)
Hình 2.9 Tế bào Bacillus subtilis được nhuộm Gram ( en.wikipedia.org)
2.3.4 Đặc điểm nuôi cấy Bacillus subtilis
Bacillus subtilis phát triển ở điều kiện hiếu khí, nhiệt độ tối ưu là 370C, có khả năng phát triển yếu trong môi trường thiếu oxy, thích hợp nhất với pH bằng 7,0 - 7,4
và phát triển không giống nhau trên nhiều môi trường khác nhau như:Trên môi trường thạch đĩa TSA khuẩn lạc của nó dạng tròn, rìa răng cưa không đều, có tâm sẫm màu, màu vàng xám, đường kính 3 – 5 mm Sau 1 - 4 ngày bề mặt nhăn nheo, màu hơi nâu
Trên môi trường thạch nghiêng TSA thì Bacillus subtilis dễ mọc, tạo thành màu xám,
rìa nhăn gợn sóng Trên môi trường gelatin nó phát triển và làm tan chảy gelatin Trên môi trường thạch khoai tây nó phát triển đều, màu vàng lấm tấm hạt.Trên môi trường
canh TSB Bacillus subtilis phát triển làm đục môi trường, tạo màng nhăn, lắng cặn kết
lại như vẩn mây ở đáy, lắc lên khó tan đều
Hình 2.10 Một số dạng hình thái tế bào và khuẩn lạc của Bacillus subtilis
(A) B subtilis dưới kính hiển vi; (B) Các dạng khuẩn lạc B subtilis
trên môi trường LB agar (Zhang và ctv, 2008)
Trang 2715
2.3.5 Khả năng kiểm soát sinh học của Bacillus subtilis
Các vi sinh vật đối kháng có nhiều phương thức đối kháng khác nhau bao gồm việc tiết ra hợp chất kháng sinh hoặc cạnh tranh dinh dưỡng và không gian (Charles L Wilson và ctv, 1991; Mari và ctv, 1996) Ngoài ra, chúng cũng có thể ký sinh trực tiếp
và cảm ứng sự kháng cự của vật chủ đối với mầm bệnh làm, giảm hoạt động enzyme của mầm bệnh (Zimad và ctv, 1996)
Cơ chế kháng của các loại nấm và vi khuẩn đối với nấm bệnh rất đa dạng Chẳng
hạn hiện tượng nấm Trichoderma ký sinh nấm bệnh được Weindling gọi hiện tượng
“Giao thoa sợi nấm” (Cyder, 1976) Nấm Trichoderma còn có khả năng tiết ra các chất
kháng sinh có khả năng gây độc cho nấm gây bệnh (Agrowcal và ctv, 1979)
Đối với vi khuẩn Bacillus sp., hoạt động kháng chủ yếu do vi khuẩn có khả năng
tiết ra các chất kháng sinh, đa số là các amino acid dạng chuỗi và dạng vòng (Loeffler
và ctv, 1986) Các dòng Bacillus sp còn có khả năng sản xuất ra chất kháng sinh như: fentcin, zwittermycin, kanosamin Đối với B subtilis, việc ức chế nấm và tác nhân gây
bệnh khác là do chúng có khả năng tiết ra hỗn hợp gồm nhiều lipopeptide (được gọi là Serenade) để làm thủng vách tế bào và màng tế bào chất của các nhân gây bệnh, do đó, ngăn chặn sự phát triển nấm và tác nhân gây bệnh
Bên cạnh đó, Bacillus sp còn có khả năng tạo ra các enzyme thủy phân bao gồm
các enzyme cellulase, chitinase và β - 1,3 - glucanase (Marten và ctv, 2000) Chính các enzyme này có thể phân giải vách tế bào và thành phần bệnh trong nấm gây hại
2.3.6 Một vài ứng dụng của Bacillus subtilis
2.3.6.1 Ứng dụng B subtilis trong công nghệ sản xuất enzyme và kháng sinh
Bacillus có thể tổng hợp được nhiều loại enzyme cần thiết cho quá trình sống để
thích ứng với hoàn cảnh và điều kiện môi trường như: amylase, hemicellulase, glucanase, protease, phytase Do đó, nó có thể được dùng để sản xuất và ứng dụng các enzyme này với quy mô công nghiệp
Từ Bacillus có thể thu được nhiều kháng sinh chống được nhiều loại vi trùng gây
bệnh như: Subtilin (Zuber và ctv, 1993), Bacillin (Foster và Woodruff, 1946), Fengycin (Vanittanakom và ctv, 1986), Aminopoluols (Milner và ctv, 1996)
Trang 2816
2.3.6.2 Ứng dụng Bacillus subtilis trong thực phẩm
Trong công nghệ thực phẩm, B subtilis được dùng để lên men thực phẩm và tạo nhiều thực phẩm chức năng Trong đó, B subtilis Natto được dùng để len men đậu
tương, tạo sản phẩm Natto, một loại thực phẩm truyền thống ở Nhật
2.3.6.3 Ứng dụng Bacillus subtilis trong y học
Trong y học thì B subtilis được ứng dụng để làm thuốc nhỏ mũi BASUBIN có khả
năng điều trị 85 - 100% bệnh nhân đỡ bệnh nhiều hoặc hết triệu chứng bệnh so với nhóm PLACEBO chỉ có 33 - 40% sau hai tuần theo dõi (Đỗ Thị Hồng Tươi, Hội Nghị Khoa Học Công Nghệ Tuổi Trẻ Các Trường Đại Học Y Dược Việt Nam lần thứ XIII) Năm 1971, khoa vệ sinh y học bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) đã nghiên cứu sản xuất
B subtilis dùng để trị bệnh tiêu chảy tốt ở người
2.3.7 Ứng dụng của Bacillus subtilis trong bảo quản nông sản sau thu hoạch
Tổn thất rau xanh và trái cây sau thu hoạch thì khá cao khoảng từ 10 - 40 % phụ thuộc vào từng loại rau quả và kỹ thuật được sử dụng để bảo quản ở các công ty sản xuất lương thực thực phẩm (Arras và Arru, 1999; Wilson và Wisniewski, 1994) Nhiều tổn thất mà nguyên nhân chủ yếu là do nấm bệnh (Wilson và Wisniewski, 1989), Chúng lây nhiễm vào vật chủ thông qua vết thương trong quá trình thu hoạch, vận chuyển và chế biến Như trong trường hợp đối với trái táo, tổn thất sau thu hoạch phần
lớn là do nấm Penicillium expansum (mốc xanh) và Botrytis cinerea (mốc xám)
Trước đây, các thuốc diệt nấm hóa học như Benomyl và Iprodione đã được sử dụng để kiểm soát các nấm bệnh này Tuy nhiên, hiệu quả của các thuốc diệt nấm ngày càng giảm do sự xuất hiện ngày càng tăng các mầm bệnh có khả năng kháng thuốc Hơn nữa, chúng còn tồn đọng lại trong tàn dư cây trồng và sản phẩm Mặt khác, về vấn đề môi trường, nó chứa đựng các mối nguy hiểm khó kiểm soát và lường trước được Chính vì vậy mà cần phải tìm biện pháp thay thế để giải quyết vấn đề này (Smilanick, 1994)
Trong những năm gần đây, biện pháp kiểm soát bằng sinh học đã được nghiên cứu tìm hiểu như là một biện pháp thay thế hiệu quả và phù hợp với xu hướng phát triển bền vững vì có thể khắc phục được nhược điểm của biện pháp hóa học và bước đầu đã
có những kết quả khả quan và hứa hẹn mang lại những kết quả to lớn hơn nữa trong tương lai
Trang 2917
Có nhiều loài vi sinh vật đƣợc sử dụng để kiểm soát nấm bệnh nhƣ nấm men, nấm
mốc, xạ khuẩn, vi khuẩn Trong đó, Bacillus sp là vi khuẩn đã đƣợc nghiên cứu, sử
dụng nhiều và đã có những kết quả nhất định Năm 1984, Pursey và Willson đã sử
dụng thành công B subtilis để kiểm soát bệnh thối nâu trên một số trái có hạt B
subtilis đã kiểm soát đƣợc nấm Lasiodiplodia theobromae gây bệnh thối nâu trên quả
mơ, quả đào, quả mận và quả xuân đào Cũng năm này, Singh và Deverall đã sử dụng
B subtilis để kiểm soát nấm Penicillium digitatum gây ra bệnh mốc xanh, Geotrichum candidum Link gây bệnh thối chua; Botryodiplodia theobromae, Phomopsis citri
Fawc và Alternaria citri Ell.&Pierce gây bệnh thối cuốn trên trái cam, quýt; nấm
Penicillium italicum và mốc xám trên trái cam và quýt Utkhede và Sholberg (1986) đã
sử dụng B subtilis để kiểm soát nấm Botrytis cinerea gây ra bệnh thối trái trên quả anh
đào
Năm 1995, Korsten và De Jager tiến hành thí nghiệm khảo sát khả năng đối kháng
của một số chủng Bacillus chọn lọc đối với một số nấm bệnh gây bệnh trên trái bơ Báo cáo kết quả cho thấy bốn chủng Bacillus (B246, B247, B248 và B249) cho đối kháng làm ức chế sự phát triển của các nấm bệnh Colletrichum gloeosporioides,
Phomopsis perseae, Drechslera setariae, Psetalotiopsis versicolor và Fusarium solani
gây hại cho quả bơ
Năm 1996, Mari và cộng sự đã thành công trong việc kiểm soát nấm Botrytis
cinerea là tác nhân gây bệnh mốc xám trên quả lê Đến năm 2001, Jiang và cộng sự đã
sử dụng B subtillis kiểm soát thành công nấm Alternaria alternatr (Er.Keissler) gây ra bệnh thối trái vải Govender và cộng sự (2005) đã sử dụng B subtillis để kiểm soát nấm Collectotrichum gloeosporioides gây ra bệnh thán thƣ và nấm Dothiorella
gregaria gây bệnh thối cuống trên xoài
Năm 2006, Yang và cộng sự đã thành công khi dùng B subtillis kiểm soát nấm
Alternaria alternate gây ra bệnh thối quả dƣa xạ; Demoz và Korsten cũng dùng B subtillis để kiểm soát nấm Botryodiplodia theobromae Pat gây ra bệnh thối cuốn trên
trái bơ
Năm 2009, Kim và cộng sự đã phân lập đƣợc dòng B subtillis CMB32 từ đất có khả năng kiểm soát bệnh thán thƣ do nấm Collectotrichum gloeosporioides gây ra
Trang 30là kéo dài thời gian bảo quản thực phẩm, an toàn cho người tiêu dùng và góp phần ngăn chặn sự lây lan nhiều dịch bệnh và nhược điểm của phương pháp này là khó vận hành, giá cả cao và không làm mất các độc tố vi sinh (Dương Phú Sĩ, 2011)
Đối với thanh long phương pháp vật lý đang được sử dụng hiện nay là phương pháp chiếu xạ Phương pháp chiếu xạ là công nghệ sử dụng năng lượng bức xạ ion hóa
để xử lý thực phẩm nhằm nâng cao chất lượng vệ sinh và an toàn thực phẩm Thực phẩm chiếu xạ đã được chứng minh là lành tính và mang lại những lợi ích kinh tế - xã hội to lớn Tuy nhiên cũng giống như các công nghệ chế biến và bảo quản thực phẩm bằng hoá học hoặc bằng nhiệt, công nghệ chiếu xạ thực phẩm cũng đòi hỏi cơ sở chiếu
xạ và cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm phải tuân thủ những yêu cầu nhất định về liều chiếu, quy cách sản phẩm và điều kiện lưu kho, vận chuyển và chế biến thực phẩm sau khi chiếu xạ (www.tcvninfo.org.vn)
Ví dụ hiện nay đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng vi sinh vật đối kháng để kiểm soát nấm bệnh gây hư hỏng nông sản trong quá trình bảo quản Podile và Prakash (1996) đã
dùng Bacillus subtilis AF 1 để kiểm soát nấm Aspergillus niger, Biles và ctv (1990) dùng nấm men US-7 để kiểm soát nấm Bostrytis, Momein và ctv (2011) đã khảo sát
Trang 3119
hiệu quả đối kháng của hai chủng Trichoderma harzianum đối với Lycopersicon
esculentum là tác nhân gây hại trên quả cà chua Ưu điểm của phương pháp này là an
toàn cho con người khi sử dụng và ít gây ô nhiễm môi trường tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm trên phương pháp này vẫn có một số nhược điểm là khó có thể sử dụng kết hợp với các phương pháp khác, hiệu lực chậm, không ổn định, khó áp dụng do điều kiện thời tiết và chi phí cao (Dương Phú sĩ, 2011)
2.4.3 Biện pháp hóa học
Đây là phương pháp cũng thường được ứng dụng để bảo quản nông sản do ưu điểm của chúng là cho tác dụng nhanh và hiệu quả cao khi sử dụng Song, hiện nay chúng có xu hướng hạn chế sử dụng do những nguy hiểm tiềm ẩn do làm mất an toàn cho sản phẩm Phương pháp này sử dụng các hợp chất hóa học như: chất kháng sinh, chất oxy hóa (SO2, acid propionic), CO2 Ưu diểm cho tác dụng nhanh, hiệu quả cao, giá thành rẻ, dễ sử dụng và sản xuất Tuy nhiên mang tính tự phát, chưa có hệ thống,
có thể tạo ra những vi sinh vật đối kháng mạnh với các kháng sinh sử dụng tạo ra những dịch bệnh khó điều trị, sự tồn đọng trong sản phẩm gây mất an toàn thực phẩm
đó là những nhược điểm của phương pháp này (Dương Phú sĩ, 2011)
Đối với thanh long phương pháp bảo quản bằng ozon là phương pháp hóa học đang được sử dụng rộng rãi Nước ozon hay còn gọi là dung dịch anolyte được tạo từ hợp chất muối, nước, qua điện phân, có tác dụng làm sạch, giữ tươi và khử các chất độc hại trong thực phẩm Từ lâu nó đã được các nước tiên tiến sử dụng trong việc bảo quản hoa quả, trong chế biến thủy sản, vô khuẩn bệnh viện, khử trùng giống Ở Việt Nam, công nghệ bảo quản sử dụng anolyte cũng đã được áp dụng ở một số nơi (trong bảo quản hoa quả, phòng dịch cúm gà, vô trùng bệnh viện) Một trong những ứng dụng thành công nhất của anolyte là bảo quản thanh long ở Bình Thuận và nho ở Ninh Thuận Anh Tô Văn Hòa, người đi tiên phong trong công nghệ này ở xã Hàm Hiệp, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, cho biết quả thanh long được phun anolyte
có thể tươi lâu đến 20 ngày, so với chỉ 5 ngày nếu không bảo quản, quả chín sớm hơn bình thường một chút, lại không bị ruồi đục (loại sâu mà khách hàng Nhật Bản rất dị ứng) (www.dost-dongnai.gov.vn)
Trang 3220
Chương 3 VẬT LIỆU PHƯƠNG PHÁP
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ 31/1/2012 đến 30/06/2012 tại Chi nhánh Cty TNHH Gia Tường tỉnh Bình Dương, kho C2 – lô D – tổng kho Sóng Thần – Dĩ An – Bình Dương
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Chủng giống nghiên cứu
- Các chủng Bacillus subtillis được cung cấp từ phòng thí nghiệm của Chi nhánh
công ty TNHH Gia Tường tỉnh Bình Dương
Bảng 3.1 Các chủng B subtillis được dùng trong nghiên cứu
Ba01 Bacillus subtilis
Ba02 Bacillus subtilis
Ba06 Bacillus subtilis
Ba23 Bacillus subtilis
Ba36 Bacillus subtilis
- Các chủng nấm được phân lập từ mẫu trái thanh long có triệu chứng nhiễm bệnh trong quá trình bảo quản
3.2.2 Vật liệu sử dụng
- Trái thanh long không có biểu hiện bệnh
- Trái thanh long đã có nhiễm bệnh qua quá trình bảo quản
Trang 333.3.1.3 Cách tiến hành
Mô tả đặc điểm bệnh của trái và chụp hình mẫu bệnh trước khi phân lập Khử trùng vị trí cần phân lập bằng cồn 70% trong 5 giây Dùng dao cắt mẫu thành những miếng nhỏ khoảng 25 mm² Sau đó rửa lại mẫu với nước cất khử trùng 2 - 3 lần Thấm lên khăn giấy vô trùng Cấy lên môi trường thạch đĩa PGA có bổ sung kháng sinh rồi đem ủ đĩa ở 28oC trong 2 - 3 ngày để nấm bệnh mọc lên
Các khuẩn lạc riêng biệt trên đĩa được cấy lên các đĩa petri chứa môi trường PGA riêng biệt và được làm thuần bằng cách cấy chuyền từ đĩa chứa môi trường PGA này qua đĩa chứa môi trường PGA khác Sau khi nấm bệnh đã được làm thuần thì chụp hình ghi nhận đặc điểm khuẩn lạc và cấy chuyền qua môi trường thạch nghiêng PGA
3.3.2.2 Cách tiến hành
Mẫu thanh long không bị bệnh được khử trùng bề mặt với cồn 70ºC trong 5 giây Sau đó dùng kim chích vô trùng châm vào bề mặt trái khoảng 10 lỗ trên một vùng khoảng 3 x 3 mm Lỗ có độ sâu khoảng 0,5 - 1 mm
Tiến hành thu dịch huyền phù bào tử bằng cách dùng nước cất vô trùng hòa vào đĩa nấm bệnh sau một vài ngày nuôi cấy tùy theo từng loại nấm bệnh, dùng que cấy móc cạo bề mặt khuẩn lạc để hòa bào tử vào nước Pha loãng bào tử để đạt mật độ 107
tế bào / ml Sau đó dùng pipet hút 100 µl dịch này cho vào ngập vết thương đã được
Trang 343.3.3 Phương pháp xác định tốc độ tăng trưởng của sợi nấm
Nuôi cấy nấm bệnh trên đĩa chứa môi trường PGA bằng cách cấy khối thạch chứa sinh khối nấm bệnh từ đĩa nấm bệnh ngay giữa đĩa chứa môi trường PGA mới Đo đường kính khuẩn lạc của nấm bệnh cho đến khi nấm bệnh sau 6 ngày nuôi cấy
Cách tính tốc độ tăng trưởng đường kính trung bình (ALG, average linear growth) theo công thức:
ALG = (F3 - F1) / ΔT (mm/ngày)
Trong đó:
ALG: tốc độ tăng trưởng của sợi nấm
F1: đường kính khuẩn lạc nấm bệnh trung bình sau 1 ngày nuôi cấy
F3: đường kính khuẩn lạc nấm bệnh trung bình sau 6 ngày nuôi cấy
ΔT: khoảng thời gian khác nhau giữa 2 lần xác định đường kính (ngày), 5
ngày
3.3.4 Phương pháp cấy trung gian Bacillus lên đĩa thạch
Các đĩa chứa môi trường nước chiết giá đậu - đường peptone agar được chuẩn bị (được khử trùng)
Từ giống B subtilis trên thạch nghiêng, cho 9 ml nước cất vô trùng vào ống để tạo
dịch huyền phù rồi đem đi vortex, sau đó hút 100 µl dịch huyền phù này cho vào đĩa chứa 20 ml môi trường giá đậu trải đều rồi đem ủ ở nhiệt độ phòng trong hai ngày
3.3.5 Phương pháp cấy trung gian nấm bệnh lên đĩa thạch
Dùng que cấy móc lấy sinh khối nấm bệnh cấy vào chính giữa đĩa petri chứa môi trường PGA Sau đó đem ủ trong khoảng thời gian thích hợp cho từng loại nấm
3.3.6 Phương pháp xác định hiệu quả đối kháng của Bacillus đối với nấm bệnh
Trang 3523
3.3.6.2 Cách tiến hành
Đĩa đối kháng (chứa môi trường PGA) được cấy nấm bệnh (đã chuẩn bị ở mục
3.3.5) và Bacillus (đã chuẩn bị ở mục 3.3.4) cùng một lúc bằng cách đục khối thạch chưá sinh khối nấm bệnh và khối thạch chứa sinh khối Bacillus Sau đó, cấy hai khối
thạch vào đĩa cách mép đĩa petri 1,5 cm và đối xứng với nhau qua tâm đĩa petri
Đĩa đối chứng được tiến hành tương tự nhưng chỉ cấy nấm bệnh chứ không cấy vi sinh vật
Các đĩa nuôi cấy được ủ ở nhiệt độ phòng cho đến khi khuẩn lạc nấm bệnh ở địa đối chứng đã mọc đấy đĩa
Cách tính hiệu quả đối kháng của vi sinh vật với nấm bệnh:
Hiệu quả ức chế được tính theo công thức:
Dđc – D I(%) = x 100
Dđc Trong đó:
I: hiệu quả ức chế (%)
D: đường kính khuẩn lạc nấm bệnh trung bình trên đĩa đối kháng (cm)
Dđc: đường kính khuẩn lạc nấm bệnh trung bình trên đĩa đối chứng (cm)
3.3.7 Phương pháp xác định mật độ tế bào vi khuẩn bằng phương pháp đếm khuẩn lạc
3.3.7.1 Nguyên tắc
Cho phép xác định số lượng tế bào vi sinh vật còn sống hiện diện trong mẫu Mỗi
tế bào sống là một tế bào có khả năng phân chia tạo thành khuẩn lạc trên môi trường chọn lọc
3.3.7.2 Cách tiến hành
Dùng nước muối sinh lý vô trùng pha loãng mẫu tuần tự thành dãy các nồng độ thập phân (10-1, 10-2, 10-3, 10-4, 10-5, 10-6, 10-7) Dùng pipetman và đầu tip vô trùng chuyển dịch chứa giống đã pha loãng vào bề mặt đĩa pettri chứa môi trường nước chiết giá đậu đường peptone agar
Dùng que cấy trang để trang cho dịch khuẩn đều trên bề mặt của môi trường Đậy nắp rồi ủ ở nhiệt độ phòng Sau 48 giờ, tiến hành quan sát và đếm khuẩn lạc
Trang 36V: thể tích dịch mẫu cấy vào trong môi trường đĩa (ml) fi: độ pha loãng tương ứng
i: trung bình các đĩa tại một nồng độ
3.3.8 Phương pháp ly tâm thu nhận sinh khối của Bacillus subtilis
3.3.8.1 Cách thực hiện
Đầu tiên cân khối lượng không của các ống ly tâm bằng cân phân tích Thực hiện
cân dịch canh trường vi khuẩn sau khi tăng sinh bằng cân phân tích và các ống ly tâm sao cho khối lượng của các ống ly tâm là như nhau ở tất cả các ống Sau đó, cho vào máy ly tâm với tốc độ 4000 vòng/10 phút Khi ly tâm xong đổ bỏ phần nước bên trên
và lấy phần cặn phía dưới đem cân sinh khối
3.3.8.2 Cách tính
Khối lượng sinh khối của Bacillus subtilis được tính theo công thức:
A = C - B Trong đó:
A: khối lượng sinh khối tươi (g)
B: khối lượng ống ly tâm không chứa dịch vi khuẩn
C: khối lượng ống ly tâm có chứa cặn sinh khối vi khuẩn
3.3.9 Phương pháp nuôi cấy lỏng để thu nhận sinh khối Bacillus subtilis
Lấy 10ml dung dịch nước muối sinh lý 0,85% vô trùng để huyền phù tế bào trong ống giống được giữ trên môi trường thạch nghiêng Pha loãng huyền phù tế bào sao cho đạt 107 CFU/ml Cấy 1 ml huyền phù tế bào đã pha loãng ở trên vào các erlen chứa 50 ml môi trường nước chiết giá đậu - đường peptone (đã được hấp khử trùng)
Trang 3725
Mẫu thử không cũng tương tự mẫu thử thật nhưng thay 1 ml dịch huyền phù bằng
1 ml nước muối sinh lý vô trùng
Nuôi cấy lắc ở nhiệt độ phòng trong hai ngày Sau khi nuôi cấy lắc, đem đi ly tâm
ở 4000 vòng/10 phút rồi cân sinh khối để xác định khối lượng vi sinh vật có trong canh trường
3.3.10 Khảo sát các điều kiện ảnh hưởng đến sự nuôi cấy tăng sinh Bacillus subtilis
3.3.10.1 Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ lắc
Tiến hành nuôi cấy lỏng vi khuẩn Bacillus subtilis chọn lọc theo mục 3.3.9 để thu
nhận sinh khối ở chế độ nuôi cấy lắc liên tục trong 48 giờ, với tốc độ lắc được thay đổi như sau: 125 vòng/phút, 150 vòng/phút, 175 vòng/phút, 200 vòng/phút và 225 vòng/phút Sau đó thu nhận dịch canh trường và đem cân khối lượng sinh khối theo mục 3.3.8 Dựa vào khối lượng sinh khối có trong canh trường để chọn ra tốc độ lắc thích hợp Thí ngiệm lặp lại 3 lần ở mỗi tốc độ lắc
3.3.10.2 Khảo sát ảnh hưởng nồng độ glucose
Các hợp chất hữu cơ xây dựng nên cơ thể vi sinh vật đều là các hợp chất có chứa
carbon Glucose là nguồn cung cấp carbon cho Bacillus subtilis trong môi trường nên
nó sẽ có ảnh hưởng cho sự sinh trưởng và phát triển của vi khuẩn này Đối với
Bacillus subtilus ở nồng độ glucose 4,5% thì vi khuẩn này có khả năng tăng sinh là cao
Trang 3826
3.3.10.4 Khảo sát ảnh hưởng nguồn nitrogen vô cơ bổ sung
Nguồn nitrogen vô cơ bổ sung có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển
và tăng sinh của các chủng Bacillus subtilis Do đó, tôi tiến hành nuôi cấy chủng
Bacillus subtilis chọn lọc theo phương pháp nuôi cấy lỏng để thu nhận sinh khối trên
môi trường có bổ sung các nguồn nitrogen vô cơ bổ sung ở dạng muối vô cơ như
NH4Cl, NH4NO3, (NH4)2SO4 và NH4H2PO4 với tỷ lệ 0,1% Mẫu thử không là mẫu chỉ chứa nguồn peptone mà không bổ sung các nguồn nitrogen vô cơ bổ sung Sau khi nuôi cấy 48 giờ, thu canh trường và đem xác định khối lượng sinh khối bằng phương pháp ly tâm theo mục 3.3.8 Dựa vào khối lượng sinh khối có trong canh trường để chọn ra nguồn nitrogen vô cơ bổ sung thích hợp Thí nghiệm lặp lại 3 lần ở mỗi nguồn nitrogen vô cơ bổ sung
3.3.11 Thử nghiệm khả năng kiểm soát nấm bệnh trên quả thanh long của canh
trường Bacillus subtilis
3.3.11.1 Chuẩn bị mẫu thí nghiệm
Các quả thanh long tốt, không có triệu chứng bệnh, được rửa với cồn 700C trong
30 giây Sau đó, ngâm thanh long trong nước ấm 550C trong 5 phút
Thí nghiệm tạo vết thương + xử lý + nấm bệnh: các trái đã chuẩn bị được tạo vết thương bằng cách dùng kim chích vô trùng châm vào bề mặt trái khoảng 10 lỗ trên một vùng khoảng 3 x 3 mm Lỗ có độ sâu khoảng 0,5 - 1 mm Tiếp tục dùng kim vô trùng lấy 20 l bào tử nấm bệnh của 3 chủng nấm bệnh là NB 5.3, NB 5.5, NB 5.6 vào vết thương đã được tạo (mỗi chủng nấm bệnh đều tiến hành các thí nghiệm xử lý như bảng 3.2)
Đem tất cả các trái này cho vào bịch nilon cột chặt và bảo quản ở nhiệt độ lạnh (100C) Hàng ngày kiểm tra triệu chứng bệnh của các quả thanh long, chụp hình và ghi nhận kết quả