ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG ENZYME XYLANASE LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus, Sauvage 1878 Thực hiện bởi VŨ THỊ NGỌC NHUNG Khóa luận
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG ENZYME XYLANASE LÊN
SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA
CÁ TRA (PANGASIANODON HYPOPHTHALMUS)
NGÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN KHÓA: 2008 – 2012
SINH VIÊN THỰC HIỆN: VŨ THỊ NGỌC NHUNG
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG ENZYME XYLANASE LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus, Sauvage 1878)
Thực hiện bởi
VŨ THỊ NGỌC NHUNG
Khóa luận được đề trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng kỹ sư Nuôi Trồng Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn
PGS.TS LÊ THANH HÙNG
Th.S NGUYỄN THỊ THANH TRÚC
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 8/2012
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài “Ảnh hưởng của việc bổ sung enzyme xylanase lên sự tăng trưởng và
hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus, Sauvage 1878)
được tiến hành tại trại thực nghiệm của khoa Thủy Sản, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, thời gian thực hiện từ ngày 25/9/2011 đến ngày 12/1/2012
Thí nghiệm 1: Xác định hoạt tính enzyme xylanase thích hợp lên sự tăng trưởng, tỉ
lệ sống, hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra Thí nghiệm gồm năm nghiệm thức như sau:
Nghiệm thức A: hoàn toàn không bổ sung enzyme Xylanase (đối chứng)
Nghiệm thức B: thức ăn có bổ sung enzyme Xylanase với hoạt lực 150 FXU/kg
Nghiệm thức C: thức ăn có bổ sung enzyme Xylanase với hoạt lực 200 FXU/kg
Nghiệm thức D: thức ăn có bổ sung enzyme Xylanase với hoạt lực 250 FXU/kg
Nghiệm thức E: thức ăn có bổ sung enzyme Xylanase với hoạt lực 300 FXU/kg
Mỗi nghiệm thức được lặp lại 4 lần và được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên
Cá được tiến hành thí nghiệm với trọng lượng trung bình 8,97 ± 0,17 g/con Sau 12 tuần nuôi thí nghiệm cho ăn thức ăn viên nổi, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Tỉ lệ sống trung bình của cá tra trong các nghiệm thức A, B, C, D và E lần lượt là 97,91%; 97,92%; 97,50%; 96,67% và 97,91% Tỉ lệ sống trung bình các nghiệm thức sai khác không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05)
Trọng lượng trung bình cá tra sau 12 tuần thí nghiệm của các nghiệm thức A, B, C,
D và E lần lượt là 21,90 g/con; 27,50 g/con; 25,74 g/con; 27,37 g/con và 34,09 g/con Trọng lượng trung bình cá tra của 3 nghiệm thức B, C, D so với nghiệm thức đối chứng A khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê nhưng sự khác biệt của nghiệm thức E so với đối chứng lại có ý nghĩa về mặt thống kê với mức độ tin cậy 95%
Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (SGR) của cá tra trong các nghiệm thức A, B, C, D và
E lần lượt là 1,06 %/ngày; 1,31 %/ngày; 1,24 %/ngày; 1,31 %/ngày và 1,52 %/ngày Sự khác biệt của 3 nghiệm thức B, C, D so với nghiệm thức đối chứng A không có ý nghĩa về
Trang 4mặt thống kê nhưng sự khác biệt của nghiệm thức E so với đối chứng lại có ý nghĩa về mặt thống kê với mức độ tin cậy 95%
Hệ số biến đổi thức ăn (FCR) của các nghiệm thức A, B, C, D và E lần lượt là 1,90; 1,75; 1,85; 1,77 và 1,60 Sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05)
Hiệu quả sử dụng protein (PER) của các nghiệm thức A, B, C, D và E lần lượt là 1,89; 2,11; 1,95; 2,06 và 2,28 Sự khác biệt giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05)
Thí nghiệm 2: ảnh hưởng của việc bổ sung xylanase trong khẩu phần thức ăn lên
độ tiêu hóa của cá tra Sau khi kết thúc thí nghiệm 1, cá được cho ăn thức ăn chìm trong 2 tuần để đo độ tiêu hóa: thức ăn viên nổi dùng trong thí nghiệm 1 được xay nhuyễn và trộn thêm 0,5% chất đánh dấu Cr2O3, sau đó đem đi ép viên, sấy khô và được bổ sung xylanase tương ứng với các nghiệm thức Kết thúc thí nghiệm 2, cá được mổ để thu phân
đo độ tiêu hóa
Kết quả thí nghiệm cho thấy độ tiêu hóa thức ăn ADC của các nghiệm thức A, B,
C, D và E lần lượt là 70,07 %; 77,57 %; 88,94 %; 87,83 % và 87,65% Độ tiêu hóa thức
ăn ADC của 3 nghiệm thức C, D và E so với nghiệm thức đối chứng A khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê nhưng nghiệm thức B so với đối chứng lại khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê với mức độ tin cậy 95% Sự sai khác giữa các nghiệm thức C, D và
E không có ý nghĩa về mặt thống kê (P>0,05)
Dựa trên kết quả đạt được có thể kết luận việc bổ sung enzyme xylanase vào thức
ăn cho cá tra có khả năng cải thiện khả năng tăng trưởng thông qua việc cải thiện độ tiêu hóa
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến:
Cha mẹ đã nuôi con khôn lớn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con được học tập đến ngày hôm nay
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm khoa Thủy Sản cùng tất cả quý thầy cô trong khoa đã truyền đạt kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
PGS.TS Lê Thanh Hùng đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
Th.S Nguyễn Thị Thanh Trúc đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến cô Võ Thị Thanh Bình đã tận tình giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian thực tập
Cảm ơn các bạn trong và ngoài lớp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Do kiến thức còn hạn chế và một số thiếu sót không tránh khỏi khi thực hiện, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Trang 62.2 Xylanase Và Ứng Dụng Trong Công Nghệ Sản Xuất Thức Ăn Chăn Nuôi 7
Trang 8D ANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
ADC Apparent digestibility coefficient Độ tiêu hóa
DO Dissolved oxygen Hàm lượng ôxy hòa tan
EC European commission Ủy ban châu Âu
FCR Food conversion ratio Hệ số biến đổi thức ăn
FXU Fungal xylanase units Đơn vị xylanase
NSP Non-starch polysaccharide Polysaccharide phi tinh bột PER Protein efficiency ratio Hiệu quả sử dụng protein
SGR Specific Growth Ratio Hệ số tăng trưởng đặc biệt
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình/đồ thị Trang
Hình 2.4 Hai hướng nhìn vuông góc của cấu trúc xylanase từ Thermomyces lanuginosus
Hình 3.1 Thức ăn viên nổi các nghiệm thức dùng trong thí nghiệm 17
Đồ thị 4.1 Sự biến động nhiệt độ vào buổi sáng của quá trình tiến hành thí nghiệm 26
Đồ thị 4.2 Sự biến động nhiệt độ vào buổi chiều của quá trình tiến hành thí nghiệm 27
Đồ thị 4.3 Sự biến động pH vào buổi sáng của quá trình tiến hành thí nghiệm 27
Đồ thị 4.4 Sự biến động pH vào buổi chiều của quá trình tiến hành thí nghiệm 28
Đồ thị 4.5 Sự biến động DO vào buổi sáng của quá trình tiến hành thí nghiệm 28
Đồ thị 4.6 Sự biến động DO vào buổi chiều của quá trình tiến hành thí nghiệm 29
Đồ thị 4.7 Sự biến động ammonia tổng (NH3/NH4+) của quá trình tiến hành thí nghiệm 30
Trang 10DANH SÁCH CÁC B ẢNG
Bảng Trang
Bảng 2.2 Hàm lượng NSP và arabinoxylan trong một số loại ngũ cốc 10
Bảng 2.3 Ảnh hưởng của xylanase lên sự tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỉ lệ
Bảng 4.1 Giá trị trung bình của các chỉ tiêu môi trưởng trong 12 tuần thí nghiệm 25
Bảng 4.5 Trọng lượng cuối (g) của cá tra sau 12 tuần thí nghiệm 33
Bảng 4.8 Hiệu quả sử dụng protein (PER) trong thức ăn của cá tra thí nghiệm 34
Bảng 4.10 Độ tiêu hóa thức ăn của cá thí nghiệm 36
Trang 11
Cá tra được nuôi theo hình thức thâm canh nên thức ăn là thành phần có chi phí sản xuất cao nhất Bột cá là nguyên liệu truyền thống trong sản xuất thức ăn, nhưng nguồn cung cấp hạn chế và giá liên tục tăng Sản lượng bột cá của thế giới hằng năm khoảng 6 – 7 triệu tấn, sản lượng này không tăng trong vòng 20 năm qua và có xu hướng giảm (Lê Thanh Hùng, 2008) Chính vì vậy, việc thay thế bột cá bằng protein thực vật là một vấn
đề quan trọng cần phải nghiên cứu Tuy nhiên, khi sử dụng nguồn protein thực vật, một trong những vấn đề gặp phải là ngoài protein, thực vật còn chứa những chất xơ khó tiêu hóa như pectin, cellulose, hemicellulose, lignin… Đối với động vật có dạ dày đơn như cá, heo, gà thì chúng không thể nhận được bất kỳ lợi ích gì về dinh dưỡng từ chất xơ (Li,
2001 ; trích bởi Mai Anh Tuấn, 2011), do chúng không có enzyme nội sinh để thủy phân và tiêu hóa được (McDonald, 2002 ; trích bởi Mai Anh Tuấn, 2011) Xylan là một hemicellulose và là polysaccharide nhiều thứ hai trong tự nhiên chỉ sau cellulose
(Whistler và Richards, 1970; Collins và ctv., 2005; trích bởi Khwanchai Khucharoenphaisan, 2009) Do vai trò quan trọng của xylan và để khắc phục tình trạng kém tiêu hóa, một trong những giải pháp là bổ sung enzyme ngoại sinh xylanase vào thức
Trang 12ăn chăn nuôi Tuy nhiên, việc bổ sung enzyme xylanase vào thức ăn cho thủy sản, đặc biệt là cá tra vẫn chưa được nghiên cứu nhiều
Xuất phát từ thực tế trên và được sự phân công của khoa Thủy Sản, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của việc bổ
sung enzyme xylanase lên sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra
(Pangasianodon hypophthalmus, Sauvage 1878)” tại trại Thực Nghiệm Thủy Sản, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
1.2 Mục Tiêu Nghiên Cứu
Xác định hoạt lực bổ sung enzyme xylanase thích hợp đến khả năng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và độ tiêu hóa thức ăn của cá tra
Trang 13Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Tra
2.1.1 Phân loại
Bộ: Siluriformes
Họ: Pangasiidae
Giống: Pangasianodon
Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878)
Tên tiếng Anh: Tra catfish
Tên Việt Nam: cá Tra
2.1.2 Phân bố
Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mê Kông thuộc 4 nước Lào, Campuchia, Thái Lan
và Việt Nam Ở nước ta những năm trước đây khi chưa có cá sinh sản nhân tạo, cá bột và
cá giống được vớt trên sông Tiền và sông Hậu Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, ít gặp trong tự nhiên, do cá có tập tính di cư ngược dòng sông Cửu Long để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy
cá ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm (http://www.kythuatnuoitrong.com)
2.1.3 Đặc điểm hình thái
Cá tra là cá da trơn, thân dài, dẹp ngang, không vảy, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, đầu nhỏ vừa phải, mắt tương đối to, có hai đôi râu dài Vây lưng và vây ngực
có gai cứng (Phạm Văn Khánh, 2000)
Trang 14Hình 2.1 Hình thái ngoài của cá tra giống
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá tra là loài ăn tạp thiên về động vật, thích ăn mồi có nguồn gốc động vật và cũng
dễ dàng chuyển đổi loại thức ăn Trong vòng đời của cá, giai đoạn cá bột hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, ăn các loài động vật phù du có kích thước vừa cỡ miệng Dạ dày của cá phình to hình chữ U và co giãn được, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt (Phạm Văn Khánh, 2000)
Khi phân tích thức ăn trong ruột của cá đánh bắt ngoài tự nhiên, thành phần thức
ăn được tìm thấy như sau:
Trang 15Khi nuôi trong ao, cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn như mùn bã hữu cơ, cám, rau, động vật đáy, thức ăn hỗn hợp, phân động vật, (Phạm Văn khánh, 2000)
2.1.5 Điều kiện môi trường sống
2.1.5.1 Nhiệt độ
Cá là loài biến nhiệt nên nhiệt độ cơ thể chúng phụ thuộc vào nhiệt độ nước Nhiệt
độ nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất, cường độ bắt mồi, di cư, sinh sản, sinh trưởng của cá tra Trong phạm vi nhiệt độ giới hạn, sự trao đổi chất của cá diễn
ra ổn định nhịp nhàng Khi nhiệt độ tăng cao hoặc giảm quá giới hạn thích nghi thì cường
độ trao đổi chất tăng hoặc giảm gây ra rối loạn quá trình trao đổi chất bên trong cơ thể, làm tê liệt mọi hoạt động dẫn đến chết cá
Cá tra là loài chịu lạnh kém vì cá tra là một trong những loài cá đặc trưng phân bố vùng nhiệt đới Ở nhiệt độ 15oC thì cường độ bắt mồi của cá giảm nhưng cá vẫn sống Ở nhiệt độ 39oC cá sẽ bơi lội không bình thường Nhiệt độ tối ưu cho cá tra là 26 – 30o
C (Nguyễn Tuần, 2000; trích bởi Lê Bình Dương và Lê Trọng Hoàng, 2009)
2.1.5.4 Oxy hòa tan
Oxy hòa tan là yếu tố quan trọng cho việc duy trì sự sống của thủy sinh vật Nhu cầu oxy hòa tan cho các loài khác nhau tùy giống loài, giai đoạn sống, hoạt động sống
Cá tra có lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác Cá tra có cơ quan
hô hấp phụ nên chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy hòa tan, có thể sống ở những
Trang 16ao hồ chật hẹp Tiêu hao oxy của cá tra thấp hơn ba lần so với cá mè trắng (Hội nghề cá Việt Nam, 2004; trích bởi Lê Bình Dương và Lê Trọng Hoàng, 2009)
2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng
Trong tự nhiên cá tra có thể sống trên 20 năm, cỡ cá lớn nhất đã gặp dài 1,8 m Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, lúc còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài Cá ương trong ao sau 2 tháng đạt chiều dài từ 10 – 12 cm (14 – 15 gam) Từ khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với chiều dài cơ thể (http://www.kythuatnuoitrong.com)
2.1.7 Đặc điểm sinh sản
Trong tự nhiên, tuổi thành thục của cá tra từ 3 – 4 năm Vào mùa thành thục (từ tháng 4 trở đi) cá có tập tính bơi ngược dòng di cư tìm đến các bãi đẻ, nơi có điều kiện sinh thái phù hợp cho sự phát triển tuyến sinh dục và đẻ trứng Vì vậy, cá không đẻ tự nhiên ở phần sông Mekong của Việt Nam Bãi đẻ của cá nằm ở khu vực từ địa phận tỉnh Cratie của Campuchia trở lên Tại đây có thể bắt được những cá bố mẹ 15 kg với buồng trứng đã thành thục Tại bãi đẻ, cá bố mẹ đẻ trứng thụ tinh tự nhiên, trứng dính vào cây cỏ thủy sinh ven bờ Sau khi nở, cá bột trôi theo dòng nước về hạ lưu đến các vùng ngập nước ở Campuchia và xuôi theo sông Mekong về phía Việt Nam (Phạm Văn Khánh, 2000)
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ, nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực và cá cái Bắt đầu phân biệt được cá đực cái từ giai đoạn II, từ các giai đoạn sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa Tỉ lệ % trọng lượng tuyến sinh dục trên trọng lượng cơ thể đã bỏ qua nội quan được gọi là hệ số thành thục Hệ số thành thục của cá tra khảo sát được trong tự nhiên từ 1,76 – 12,94 (cá cái) và từ 0,83 – 2,1 (cá đực) cỡ cá từ 8 – 11 kg (Nguyễn Văn Trọng, 1989) Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt 19,5% (http://www.kythuatnuoitrong.com)
Trong sinh sản nhân tạo, người ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hằng năm) Cá tra có thể tái phát dục sau 2,5 – 3
Trang 17tháng nuôi Cá tra trong tự nhiên không gặp tình trạng tái phát dục Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200.000 trứng đến vài triệu trứng Sức sinh sản tương đối có thể là 135.000 trứng/kg cá cái Kích thước của trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính Trứng sắp đẻ
có đường kính trung bình 1 mm, khi đẻ ra trứng trương nước thì đường kính trứng có thể
là 1,5 – 1,6 mm (http://www.kythuatnuoitrong.com )
2.2 Xylanase Và Ứng Dụng Trong Công Nghệ Sản Xuất Thức Ăn Chăn Nuôi
2.2.1 Xylan
2.2.1.1 Giới thiệu xylan và dẫn xuất arabinoxylan
Xylan là polymer không đồng nhất, mạch thẳng, gồm các đơn phân D – xylose được liên kết với nhau bằng liên kết ß – 1,4 – glycoside Xylan đa dạng về cấu trúc và khối lượng phân tử Trong tự nhiên, chúng được thay thế một phần bằng acetyl 4 – 0 – methyl – D – glucuronosyl và arabinofuranosyl tạo thành cấu trúc polymer không đồng nhất Ở cây gỗ rắn, xylan có công thức O – acetyl – 4 – O – methylglucuron – oxylan Arabino – 4 – O – methylglucuroxylan tìm thấy trong cây gỗ mềm, arabinoxylan rất điển hình trong cây cỏ và thực vật bình thường khác Tác động của xylan về mặt cấu trúc vẫn còn chưa rõ ràng bởi những khó khăn trong việc tách chiết xylan từ nguyên liệu trong tự nhiên mà không bị biến đổi hay mất đi một số cấu trúc ban đầu của xylan cũng như sự liên kết của nó với các thành phần khác (Collins, 2005)
Hình 2.2 Cấu trúc hóa học của xylan (http://en.wikipedia.org/wiki/File:Xylan.svg) Xylan là thành phần chính cấu tạo nên hemicellulose của thành tế bào thực vật và
là một trong số hợp chất polysaccharide quan trọng nhất trong tự nhiên (Aspinall , 1959;
Trang 18tạo thành pha giữa giữa lignin và các hợp chất polysaccharide khác (Öhgren, 2007) Xylan cũng là một trong những polysaccharid phổ biển nhất trong các loài thực vật thông thường, chiếm 30% tổng trọng lượng khô trong sinh khối thực vật nhiệt đới Với cây gỗ mềm ở vùng ôn đới, xylan ít phổ biến hơn và chiếm khoảng 8% tổng trọng lượng khô (Coughlan, 1993) Như vậy, xylan đã trở thành một trong những thành phần có trong thức
ăn chăn nuôi
Hình 2.3 Thành phần của vách tế bào thực vật (www.impextraco.com)
Arabinoxylan là những polysaccharide được tìm thấy trong cám và các hạt ngũ cốc như lúa mì, lúa mạch, cám gạo, lúa gạo, cao lương, bắp (Avitech, 2002; trích dẫn bởi Dương Thanh Liêm, 2008) Mặc dù, polysaccharide là thành phần nhỏ có trong ngũ cốc, nhưng là thành phần quan trọng trong thành tế bào thực vật Vách tế bào mỏng bao phủ nội nhũ tinh bột và lớp aleurone có trong các loại ngũ cốc chủ yếu là arabinoxylan (60 – 70%), ngoại trừ vách tế bào nội nhũ lúa mạch (20%) và gạo (40%) (Fincher và Stone, 1986; trích dẫn bởi Sinha và ctv., 2011)
Cấu trúc phân tử của arabinoxylan gồm một mạch chính xylan với arabinofuranose (L-arabinose có 5 nguyên tử dạng vòng) được gắn ngẫu nhiên với các đơn vị xylose bằng liên kết α1→2 hay α1→3 trong suốt chiều dài chuỗi (http://www.scientificpsychic.com)
Trang 19L-Hình 2.4 Cấu trúc Arabinoxylan (http://www.scientificpsychic.com)
Arabinoxylan dễ dàng hòa tan trong nước nóng khoảng 80oC, dễ dàng tách chiết
và kết tủa trong dung dịch ethanol (Cleemput và ctv., 1993; trích bởi Mai Anh Tuấn, 2011) Những đơn vị arabinose kết hợp với nước tạo thành hỗn hợp có độ nhớt cao như khối bột nhào (Durham, 1925; trích bởi Mai Anh Tuấn, 2011) Arabinixylan có độ nhớt cao do tính hòa tan trong nước và cũng là vấn đề quan trọng trong việc sử dụng lúa mì và các loại ngũ cốc khác trong sản xuất thức ăn, việc tăng arabinose sẽ tăng độ nhớt cao khi tan trong nước và chúng có thể hút nước và tăng trọng lương gấp mười lần (Fincher và Stone, 1986; trích dẫn bởi Sinha và ctv., 2011)
2.1.1.2 Nguồn cung cấp xylan
Các loại thức ăn khác nhau thì khác nhau về hàm lượng xylan
Bảng 2.1 Hàm lượng xylan trong các nguyên liệu thức ăn (www.fam-system.com)
Trang 20Arabinoxylan là được tìm thấy trong cám và các hạt ngũ cốc như lúa mì, lúa mạch, cám gạo, lúa gạo, cao lương, bắp (Avitech, 2002; trích dẫn bởi Dương Thanh Liêm, 2008) Vách tế bào mỏng bao phủ nội nhũ tinh bột và lớp aleurone có trong các loại ngũ cốc chủ yếu là arabinoxylan (60 – 70%), ngoại trừ vách tế bào nội nhũ lúa mạch (20%) và gạo (40%) (Fincher và Stone, 1986; trích dẫn bởi Sinha và ctv., 2011)
Bảng 2.2 Hàm lượng NSP (Non-starch polysaccharide) và arabinoxylan trong một số loại
toàn cần một lượng lớn enzyme xylanase (Polizeli và ctv., 2005)
Trang 21Hình 2.4 Hai hướng nhìn vuông góc của cấu trúc xylanase từ Thermomyces lanuginosus được vẽ bằng chương trình MOLSCRIPT và Raster 3D (Gruber et al, 1998)
Xylanase tiết ra từ vi sinh vật được chia làm hai họ enzyme thủy phân chính: họ 10
và họ 11 dựa trên trình tự tương đồng của amino acid (Krengel, 1996) Xylanase thuộc họ
10 nhìn chung có khối lượng phân tử lớn (>30 kDa), đa dạng và phức tạp hơn (có thể thủy phân cellulose và xylan), trong khi xylanase thuộc họ 11 có khối lượng phân tử nhỏ hơn (khoảng 20 kDa) và đặc hiệu hơn đối với xylan (Degefu, 2003; Collin, 2005)
2.2.2.2 Cơ chế tác động
Theo Collins (2005), sự phân hủy sinh học bộ khung cấu tạo nên xylan phụ thuộc chủ yếu vào hai lớp enzyme: endo – 1,4 – ß - xylanase (EC 3.2.1.8), lớp enzyme này thủy phân liên kết 1,4 – ß - glucoside nối các xylose và ß – xylosidases (EC 3.2.1.37), lớp enzyme này thủy phân xylobiose và xylooligosaccharid ngắn nhờ hoạt động của enzyme endo – xylanase Các enzyme loại mạch nhánh chẳng hạn như α – glucuronidase và α – L – arabinifuranosidase và esterase chẳng hạn như acetylxylan esterases và ferulyl và p – coumaroyl esterase sẽ loại bỏ mạch nhánh acetyl và mạch nhánh phenol
Trang 22Hình 2.5 Sự phân giải xylan của các enzyme (Khwanchai Khucharoenphaisan, 2009)
Các kí hiệu: Ac: nhóm acetyl; Ara: α – arabinofuranose;
MeGlcA: α – 4 – O – methylglucuronic acid; Xyl: xylose
2.2.2.3 Nguồn gốc xylanase
Xylanase có trong nhiều loài sinh vật trong tự nhiên, ở sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân chuẩn và đã được tìm thấy cả trong vi khuẩn ở nước, nấm, tảo biển, côn trùng Cho đến nay, hầu hết xylanase được chiết xuất từ vi khuẩn và nấm (Degefu, 2003; Collin, 2005; Paloheimo, 2010) Trong đó, nấm sợi là nguồn vi sinh vật tiềm năng nhất để chiết xuất xylanase với hàm lượng cao Trong nhiều thập kỉ gần đây, xylanase còn được tách chiết từ nấm gây bệnh trên các cây ngũ cốc nói riêng và vi sinh vật gây bệnh thực vật nói
chung (Degefu, 2003)
2.2.2.4 Độ hoạt động của xylanase
Độ hoạt động của xylanase trong thức ăn thương mại được diễn tả là “đơn vị xylanase” Mỗi đơn vị của thức ăn (thông thường là trên mỗi kg) thì tùy vào công ty sản
Trang 23xuất xylanase mà có thể diễn tả bằng nhiều cách như U, XU, AXC, FXU Các sản phẩm thương mại thường diễn tả FXU trên mỗi gram hay ml sản phẩm
Một đơn vị FXU được định nghĩa là lượng enzyme giải phóng 7,8 micromol đường xylose từ arabinoxylan của lúa mì trong một phút tại pH = 6 và nhiệt độ 50o
C (Sulhattin Yasar, 2009)
2.2.2.5 Ứng dụng của xylanase
Xylanase được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Xylanase hỗ trợ quá trình tẩy trắng trong công nghiệp sản xuất giấy thay vì phải sử dụng các hóa chất độc hại; xylanase tham gia quá trình xử lý rác thải nông, lâm nghiệp (Krisana, 2004); trong công nghiệp sản xuất bánh, xylanase được dùng để làm tăng độ phồng và giảm độ dính của bánh; xylanase được dùng trong công nghiệp sản xuất đồ uống, sản xuất nhiên liệu (Degefu, 2003; Kheng, 2004)
Một trong những ứng dụng quan trọng của xylanase là được dùng để bổ sung vào thức ăn chăn nuôi Sự có mặt của xylanase trong thức ăn chăn nuôi làm giảm độ nhớt trong đường tiêu hóa, giảm rối loạn tiêu hóa, tăng cường hấp thu thức ăn, nhờ vậy cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột, giúp phân thải ra khô hơn (Bedford, 1992; Beauchemin, 1996; Brzozowski, 2004; Rehman, 2009)
Tuy vậy, việc ứng dụng bổ sung xylanase vào thức ăn thủy sản chưa được chú ý và quan tâm nhiều Việc bổ sung enzyme xylanase vào thức ăn cho thủy sản đã được thực
hiện trên một số loài như: cá rô hu (Labeo rohita), cá rô phi (Oreochromis niloticus)
Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy enzyme xylanase có ảnh hưởng tích cực đến tăng trọng và độ tiêu hóa của cá thí nghiệm
S S Bhatt và ctv (2010) đã tiến hành thí nghiệm trêm cá cá rohu giống (Labeo rohita), gồm 2 nghiệm thức với 3 lần lặp lại, 25 con cá rô hu giống có trọng lượng trung bình 5,30 ± 0,15 gram được nuôi trong bể kính 150 lít cho mỗi lần lặp lại Cá được cho ăn 2% trọng lượng thân/ngày, cho ăn 2 lần/ngày Nghiệm thức đối chứng, thức ăn được làm
từ bánh dầu đậu phộng và cám gạo (1:1), trộn thêm 2% chất kết dính Sau đó, thức ăn được đem đi ép viên và sấy khô ở 50oC Nghiệm thức thức ăn thí nghiệm được trộn thêm
Trang 24enzyme xylanase được sản xuất từ Aspergillus foetidus (MTCC 4898) với hoạt lực 184
U/g Cá được cho ăn trong 30 ngày và cân 1 lần/tuần Kết quả thí nghiệm cho thấy nghiệm thức thức ăn có bổ sung xylanase cho tăng trọng (WG) và hệ số tăng trưởng đặc biệt (SGR) cao hơn so với đối chứng có ý nghĩa về mặt thông kê (P<0,05) Riêng kết quả
về hệ số biến đổi thức ăn (FCR) và tỉ lệ sống (SR) cho sự khác nhau không có ý nghĩa về
mặt thống kê ở mức độ tin cậy 95% (S S Bhatt và ctv, 2010)
Bảng 2.3 Ảnh hưởng của xylanase lên sự tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỉ lệ
sống của cá rô hu Labeo rohita (S S Bhatt và ctv, 2010)
Chỉ tiêu Nghiệm thức đối chứng Nghiệm thức thí nghiệm
Trên cá rô phi Oreochromis niloticus, thí nghiệm được thực hiện tại Trung Quốc
vào năm 2006 bởi Wang Jun-li và ctv Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức: Thức ăn sử dụng
nguyên liệu cơ bản là lúa mì (nghiệm thức đối chứng) và được thêm enzyme xylanase vào với các hàm lượng khác nhau 0,05%; 0,10% và 0,15% Mỗi nghiệm thức được chia thành
5 lần lặp lại và mỗi lần lặp lại bao gồm 40 cá rô phi (Oreochromis niloticus) đực được
nuôi trong lồng nổi 75 ngày.Trọng lượng ban đầu của cá thí nghiệm là 106,16 ± 16,77 gram Kết quả cho thấy xylanase đã thúc đẩy sự tăng trưởng của cá rô phi Tilapia nilotica
Tăng trọng của nghiệm thức đối chứng là 258,24%, các nghiệm thức bổ sung xylanase 0,05% và 0,10% lần lượt cao hơn đối chứng là 8,25% và 17,45% có ý nghĩa về mặt thống
kê (P<0,01).Độ tiêu hóa thức ăn của nghiệm thức đối chứng là 67,35%, các nghiệm thức
có bổ sung xylanase 0,05%; 0,10% và 0,15% tăng 7,69%; 11,00% và 2,87% tương ứng
Trang 25Như vậy, độ tiêu hóa trong ba nhóm có bổ sung xylanase là cao hơn có ý nghĩa về mặt
thống kê so với đối chứng (P<0,01) (Wang Jun-li và ctv., 2006)
Trang 26Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Nghiên Cứu
Thời gian thực hiện: từ ngày 25/9/2011 đến ngày 12/1/2012
Địa điểm: trại thực nghiệm, khoa Thủy Sản, trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
3.2 Vật Liệu Thí Nghiệm
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cá dùng cho nghiên cứu là cá tra (Pangasianodon hypophthalmus), được mua và
vận chuyển từ trại sản xuất giống ở Củ Chi, có chất lượng tốt, bơi lội nhanh nhẹn Sau khi được mua về, cá được thả vào bể nuôi dưỡng trước khi tiến hành thí nghiệm Sau đó lựa chọn những con cá có chất lượng tốt, kích cỡ đồng đều để tiến hành thí nghiệm
để khô tự nhiên sau đó áo dầu nành (10 ml/kg thức ăn) bên ngoài
Trang 27Hình 3.1 Thức ăn viên nổi các nghiệm thức dùng trong thí nghiệm
3.2.3 Enzyme sử dụng
Hình 3.2 Enzyme dùng trong thí nghiệm
Enzyme sử dụng cho thí nghiệm là endo – 1, 4 – β – xylanase từ xạ khuẩn
Thermomyces lanuginosus , được sản xuất bằng cách lên men chìm nấm Aspergillus oryzae đã được cải thiện về mặt di truyền Sản phẩm của công ty DSM có tên thương mại
Trang 28là Ronozyme® WX (L), mã sản phẩm là 04 8574 8, dạng lỏng, màu vàng xám, hoạt lực
650 FXU/ml sản phẩm
3.2.4 Dụng cụ và nguyên liệu thí nghiệm
− Hệ thống gồm 20 bể composite dung tích 500 lít
− Cá tra giống có trọng lượng trung bình 8 – 10 gam
− Thức ăn viên nổi của công ty Gò Đàng Vĩnh Long
− Chất đánh dấu Chromic oxyde Cr2O3
− Máy ép, sấy thức ăn
− Nhiệt kế thủy ngân
− Bộ test nhanh DO, pH của công ty Đức Tín
− Cân điện tử, vợt, lưới, thau nhựa và một số dụng cụ khác có liên quan
Hình 3.3 Nhiệt kế, bộ test DO, pH dùng trong thí nghiệm
3.2.5 Nguồn nước
Thí nghiệm được bố trí trong các bể composite đặt ngoài trời Nước máy có chứa chlorine được cấp vào bể chứa Sau khi để lắng sẽ được bơm trực tiếp vào bể nuôi qua hệ thống ống dẫn nước
Trang 293.3 Phương Pháp Bố Trí Thí Nghiệm
3.3.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, với 4 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức Các nghiệm thức được kí hiệu là A, B, C, D, E tương ứng với hoạt lực enzyme Xylanase có trong các nghiệm thức lần lượt là 0 FXU/kg, 150 FXU/kg, 200 FXU/kg, 250 FXU/kg và 300 FXU/kg Thí nghiệm được bố trí trong 20 lô
là 20 bể composite đặt ngoài trời, dung tích bể 500 lít, với số lượng cá 60 con/bể 5 nghiệm thức như sau:
Nghiệm thức A: nghiệm thức đối chứng, cho ăn thức ăn không bổ sung enzyme Xylanase Nghiệm thức B: cho ăn thức ăn bổ sung enzyme Xylanase với hoạt lực 150 FXU/kg Nghiệm thức C: cho ăn thức ăn bổ sung enzyme Xylanase với hoạt lực 200 FXU/kg Nghiệm thức D: cho ăn thức ăn bổ sung enzyme Xylanase với hoạt lực 250 FXU/kg Nghiệm thức E: cho ăn thức ăn bổ sung enzyme Xylanase với hoạt lực 300 FXU/kg
Hình 3.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Trang 30Hình 3.5 Hệ thống bể bố trí thí nghiệm Thức ăn các nghiệm thức sau khi trộn enzyme và áo dầu được đem đi phân tích thành phần dinh dưỡng tại Bộ Môn Dinh Dưỡng, khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Cá được cho ăn 2 lần mỗi ngày vào lúc 8 giờ và 15 giờ 30 phút, cho ăn tối đa Sau khi cho ăn 2 giờ, tiến hành vớt và đếm thức ăn thừa, dựa vào trọng lượng khô của mỗi viên thức ăn để tính lượng ăn thừa theo trọng lượng khô Từ đó có thể kiểm soát lượng ăn của cá và tính hiệu quả sử dụng thức ăn Trong 4 tuần đầu thí nghiệm tiến hành thay nước
1 lần/tuần và 8 tuần sau thay nước 2 lần/tuần Kết thúc 12 tuần thí nghiệm cho ăn thức ăn viên nổi, tiến hành cho ăn thức ăn chìm có trộn Cr2O3 trong 2 tuần để tiến hành mổ cá thu phân đo độ tiêu hóa
Trang 31Bảng 3.1 Công thức thức ăn thí nghiệm
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi môi trường
Trong suốt thời gian thí nghiệm, các yếu tố môi trường được kiểm soát chặt chẽ cho phù hợp với sự phát triển của cá thí nghiệm Chúng tôi theo dõi một số chỉ tiêu sau đây:
Nhiệt độ (o
C) được đo hàng ngày bằng nhiệt kế
pH được đo hàng ngày bằng test kit
DO được đo vào 2 ngày/tuần bằng test kit
Hàm lượng NH3/NH4+ được đo 1 lần/tuần bằng máy quang phổ kế
3.3.3 Phương pháp thu nhập số liệu
Trước khi bố trí thí nghiệm, cá được cân tổng trọng lượng 60 con/bể và bố trí ngẫu nhiên vào bể Cá được cho ăn 2 lần mỗi ngày vào lúc 8 giờ và 15 giờ 30 phút, cho ăn tối
đa Sau khi cho ăn 2 giờ, tiến hành vớt và đếm thức ăn thừa, dựa vào trọng lượng khô của mỗi viên thức ăn để tính lượng ăn thừa theo trọng lượng khô Từ đó có thể kiểm soát lượng ăn của cá và tính hiệu quả sử dụng thức ăn Cứ bốn tuần cân và đếm tổng số cá một lần ở mỗi bể để theo dõi các chỉ tiêu về tăng trưởng, tỉ lệ sống
Trang 32Sau 12 tuần ăn thức ăn viên nổi, cá được luyện cho ăn thức ăn chìm có trộn chất đánh dấu chromide oxide (Cr2O3) trong 2 tuần Sau đó, toàn bộ cá được mổ và thu phân đoạn ruột sau, khoảng 2 cm Phân được giữ trong tủ đông ở nhiệt độ -80oC, rồi đem sấy
105oC đến khi trọng lượng không đổi Hàm lượng chromic oxide trong phân và thức ăn chìm được phân tích tại bộ môn Thủy Nông, khoa Nông Học, trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
3.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi cá
Tăng trọng (Weight gain)
WG = W2 – W1 Với W1: trọng lượng cá đầu thí nghiệm
W2: trọng lượng cá sau thí nghiệm
Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/ngày) (Specific growth rate)
SGR = [Ln(W2) – Ln(W1)] x 100/ T Với Ln(W1): logarit nepe của trọng lượng cá đầu thí nghiệm
Ln(W2): logarit nepe của trọng lượng cá sau thí nghiệm
T : thời gian thí nghiệm
Hệ số biến đổi thức ăn (Food conversion ratio)
FCR =Lượng thức ăn khô sử dụng / Tăng trọng cá thí nghiệm
Hiệu quả sử dụng protein (Protein efficiency ratio)
PER = (W2 – W1) / Protein trong thức ăn sử dụng
Lượng ăn tuyệt đối (g/con/ngày) (Feed intake)
FI = Tổng lượng thức ăn sử dụng / (Tổng số cá x Tổng số ngày thí nghiệm)
Tỷ lệ sống của cá sau thí nghiệm (%) (Survival rate)
SR = N2/N1 x 100 Với N1: số lượng cá bắt đầu thí nghiệm
N2: số lượng cá kết thúc thí nghiệm
Trang 33Độ tiêu hóa thức ăn
Độ tiêu hóa thức ăn là khả năng tiêu hóa và hấp thu của loại thức ăn đó Các nhà dinh dưỡng học có một định nghĩa về độ tiêu hóa tạm thời ADC (Apparent digestibility coefficient) như sau:
sự bài tiết và tiêu hóa các dưỡng chất; (4) Có thể được định lượng hàm lượng trong phân
và thức ăn một cách dễ dàng (Lê Thanh Hùng, 2008)
Độ tiêu hóa ADC được tính theo công thức:
ADC = 100 – 100 x (%A / %B)
Với %A = % chất đánh dấu có trong thức ăn (tính theo trọng lượng khô)
%B = % chất đánh dấu có trong phân (tính theo trọng lượng khô)
Chất đánh dấu Cr2O3 trong phân và thức ăn được phân tích theo phương pháp: Công phá Crom tổng số bằng dung dịch HNO3 và HCLO4 (1:1) trong 3,5 giờ, sau đó đo dịch trích bằng máy hấp thụ nguyên tử, quy trình được thực hiện bởi phòng thí nghiệm bộ môn Thủy Nông, khoa Nông Học, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
3.4 Phương Pháp Phân Tích Và Xử Lí Số Liệu
Số liệu các thông số môi trường (pH, DO, nhiệt độ, NH3/NH4+), các chỉ tiêu về tăng trưởng (WG, SGR), hệ số biến đổi thức ăn (FCR), hiệu quả sử dụng protein (PER), tỉ
lệ sống và độ tiêu hóa (ADC) được xử lí bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2007 Số
Trang 34liệu được phân tích theo trắc nghiệm LSD với độ tin cậy 95% bằng phần mềm STATGRAPHICS Plus 3.0 để so sánh sự khác nhau giữa các nghiệm thức
Trang 35Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các Thông Số Môi Trường
Thí nghiệm được bố trí trong bể composite đặt ngoài trời và thời gian tiến hành thí nghiệm diễn ra trong khoảng giao mùa nên các yếu tố môi trường có sự biến động lớn
Bảng 4.1 Giá trị trung bình của các chỉ tiêu môi trường trong 12 tuần thí nghiệm
Trang 36Đồ thị 4.1 Sự biến động nhiệt độ vào buổi sáng của quá trình tiến hành thí nghiệm
Do thí nghiệm được bố trí trong khoảng giao mùa nên có sự biến động nhiệt độ lớn Ở tuần thứ 7, nhiệt độ xuống thấp đột ngột là do ảnh hưởng của thời tiết xấu, trời râm mát cả ngày và có mưa thường xuyên Ở ba tuần cuối cùng của thí nghiệm là thời điểm đầu tháng 12, trời chuyển lạnh nên chúng tôi có dùng bạt để giữ ấm cho cá vào ban đêm, nhiệt độ có cải thiện nhưng vẫn thấp Mặc dù vậy, theo quan sát của chúng tôi thì cá vẫn bơi lội và phát triển bình thường
Trang 37Đồ thị 4.2 Sự biến động nhiệt độ vào buổi chiều của quá trình tiến hành thí nghiệm 4.1.2 pH
Đồ thị 4.3 Sự biến động pH vào buổi sáng của quá trình tiến hành thí nghiệm
Cũng như nhiệt độ thì yếu tố pH cũng có sự biến động nhưng ổn định hơn pH buổi sáng trong khoảng từ 6 – 6,3 và buổi chiều pH trong khoảng 6 – 6,96 Nhìn chung, sự biến động này không lớn pH thích hợp cho cá trong khoảng 7 – 8 (Phạm Văn Khánh, 2000) Nhưng theo quan sát của chúng tôi, cá vẫn bơi lội, phát triển bình thường, cá tra cũng là loài có khả năng chịu được điều kiện khắc nghiệt tốt nên có thể kết luận pH không ảnh hưởng đến kết quả của quá trình thí nghiệm
Trang 38Đồ thị 4.4 Sự biến động pH vào buổi chiều của quá trình tiến hành thí nghiệm
4.1.3 Hàm lượng oxy hòa tan (DO)
Hàm lượng DO trung bình vào buổi sáng cao nhất là 2,81 mg/l và thấp nhất là 0,63 mg/l Vào buổi chiều, hàm lượng DO trung bình cao nhất là 4,56 mg/l và thấp nhất là 1,63 mg/l
Đồ thị 4.5 Sự biến động DO vào buổi sáng của quá trình tiến hành thí nghiệm
Chúng tôi nhận thấy tuần thứ 8 và thứ 9 của thí nghiệm, hàm lượng DO buổi sáng
và buổi chiều đều thấp và biến động ít Nguyên nhân là do thời điểm này trời ít nắng và hầu như râm mát suốt buổi chiều Trong sáu tuần giữa của thí nghiệm, DO trung bình vào
Trang 39buổi sáng của thí nghiệm thấp hơn những tuần còn lại Điều này có thể do mật độ tảo cao, tảo hô hấp vào ban đêm thải nhiều CO2 và cần nhiều O2 hơn Tuy nhiên, cá tra là loài có
cơ quan hô hấp phụ nên chúng có thể sống trong điều kiện oxy hòa tan rất thấp Trong điều kiện tự nhiên, cá luôn đớp khí để bổ sung lượng oxy thiếu hụt do quá trình trao đổi khí ở mang không đáp ứng đủ oxy cho hoạt động của cơ thể cá Vì vậy, hàm lượng DO không ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm
Đồ thị 4.6 Sự biến động DO vào buổi chiều của quá trình tiến hành thí nghiệm
4.1.4 Ammonia tổng (NH 3 /NH 4 + )
Hàm lượng ammonia tổng trong quá trình thí nghiệm dao động trung bình từ 0,010 mg/l đến 0,088 mg/l Theo Nguyễn Phú Hòa (2000), hàm lượng ammonia thích hợp cho tôm cá nên ở mức giới hạn thấp hơn 0,1 mg/l Chúng tôi nhận thấy hàm lượng ammonia trung bình của các nghiệm thức trong suốt quá trình thí nghiệm vẫn đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cá tra
Trang 40Đồ thị 4.7 Sự biến động ammonia tổng (NH3/NH4+) của quá trình tiến hành thí nghiệm
4.2 Thành Phần Sinh Hóa Của Thức Ăn Các Nghiệm Thức
Thức ăn viên nổi sau khi được phun enzyme và áo dầu 10 ml/kg thức ăn sẽ được
lấy 200 gram đem phân tích thành phần sinh hóa tại bộ môn Dinh Dưỡng, khoa Chăn Nuôi – Thú Y, trường ĐH Nông Lâm TPHCM Kết quả phân tích được trình bày trong bảng 4.2
Bảng 4.2 Thành phần sinh hóa của thức ăn các nghiệm thức