1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI AO NUÔI CÁ TRA BẰNG SINH KHỐI Moinasp. VÀ CÂY RAU DỪA (Jussiacea repens L.)

90 325 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, để đạt được sản lượng trung bình khoảng 200 tấn cá/ha với hệ số chuyển đổi thức ăn FCR là 1,6 cần sử dụng lượng thức ăn tối thiểu là 320 tấn và lượng chất hữu cơ thải ra môi trư

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

i

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI AO NUÔI CÁ TRA

BẰNG SINH KHỐI Moina sp VÀ CÂY RAU DỪA

(Jussiacea repens L.)

Tác giả

VĂN ĐỖ TUẤN ANH

Khóa luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ sư Nuôi Trồng Thủy

Sản

Giáo viên hướng dẫn:

ThS VÕ THỊ THANH BÌNH

ThS NGUYỄN PHÚC THƯỞNG ThS NGUYỄN THỊ THANH TRÚC

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 7 năm 2012

Trang 3

ii

TÓM T ẮT

Nước thải cá tra có nhiều chất hữu cơ lơ lửng và dưỡng chất dẫn đến nguy

cơ gây ô nhiễm khi thải vào môi trường với số lượng lớn không qua xử lý “So sánh hiệu quả xử lý nước thải cá tra bằng cây rau Dừa (Jussiaea repens L.) và

phiêu sinh động vật (Moina sp.)” nhằm tìm ra giải pháp sinh học hữu hiệu để xử

lý nước thải cá tra, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế cho người dân Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên Gồm bảy nghiệm thức với 3 lần lập lại Nghiệm thức 1, 2, 3 có sinh khối Moina lần lượt là 10, 20, 30 con/L nước thải,

nghiệm thức 4, 5, 6 có sinh khối rau Dừa lần lượt là 100, 200, 300 g/10L nước

thải và một nghiệm thức đối chứng với 20L nước thải Kết quả cho thấy Moina

và rau Dừa đều có thể phát triển trong môi trường nước thải cá tra Nước thải sau khi xử lý thì TSS dưới mức cho phép ở cột B (TSS < 100 mg/l) của bảng giá trị

giới hạn các thông số và nồng độ chất ô nhiễm theo TCVN 5945: 2005 Trong nghiên cứu, rau Dừa và Moina đều cho hiệu quả xử lý nước thải ao nuôi cá tra

Trang 4

iii

ABSTRACT

There are high organic matter and nutrients in wastewater of tra catfish ponds caused to the risk of pollutants being discharged into the environment without treatment "Comparision the effectiveness of wastewater treatment from

tra catfish ponds between aquatic plant (Jussiaea repens L.) and zooplankton (Moina sp.)” aim to find effective solutions to biological wastewater treatment

and bring economic benefits to farmers The experiment was completely randomized design; include seven treatments with three replications Treatment

of 1, 2, 3 were carried out Moinabiomass stocking 10, 20, 30 individual/L

respectively; and aquatic plant biomass 100, 200, 300g/10L respectively in treatment of 4, 5, 6 and a control with 20L wastewater The results showed the both of them can grow in wastewater After treated 12 days, the TSS below the permitted B level (TSS <100mg/L) according to TCVN 5945:2005 In the study,

aquatic plant and Moina have effective in the wastewater treatment

Trang 5

iv

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn:

• Ban Giám Hiệu cùng quý Thầy Cô giảng dạy tại Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

• Ban chủ nhiệm và quý thầy cô trong Khoa Thủy Sản

Đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô Võ Thanh Bình, cô Nguyễn Thị Thanh Trúc, thầy Nguyễn Phúc Thưởng đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều

kiện cho tôi hoàn thành tốt đề tài

Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến:

• Ba mẹ và gia đình đã động viên, hỗ trợ và là điểm tựa cho tôi trong suốt quá trình học tập

• Các bạn lớp DH08NT cùng các anh chị và các bạn ở trại thực nghiệm

đã chia sẽ, động viên và giúp đỡ tôi trong học tập và cả khi thực hiện

đề tài

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do điều kiện khách quan và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, mong độc giả thông cảm Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ Thầy Cô

và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 6

M ỤCLỤC

TRANGTỰA i

TÓMTẮT ii

ABSTRACT iii

LỜICẢMƠN ivMỤ CLỤC vDANH MỤCCÁCBẢNG viii

DANHMỤCCÁCBIỂUĐỒ ixDAN HMỤCCÁCHÌNH xChươngI M ỞĐẦU 1

1.1Đặtvấnđề 1

1.2Mụctiêuđềtài 2

Ch ươngII.TỔNGQUANTÀILIỆU 3

2.1 VàinétvềngànhNuôitrồngThủysảnvànghềnuôicátrahiệnnayởnước ta 3

2.1.1 Sựpháttriểncủa ngànhNuôitrồngThủysảnởnướcta 3

2.1.2Lịchsửnghềnuôicátra 4

2.1.3Tìnhhìnhnuôi và xuất khẩu cáTranhữngnămgầnđây 5

Trang 7

2.1.4 Vấn đề giảiquyếtnướcthảicátra 6

2.2 GiớithiệusơlượcvềMoinasp .8

2.2.1 Phânloại 8

2.2.2 Đặcđiểmphânbốvàkhảnăngthíchnghi 8

2.2.3 Đặcđiểmdinhdưỡng 9

2.2.4 Đặcđiểm sinhsản 10

2.2.5Vai trò của Moina đối với Nuôi trồng Thủy sản 12

2.2.6TìnhhìnhnghiêncứuvànuôiMoina 12

2.3 Giớithiệukháiquátvềcâyrau dừa(Jussiacea repensL.) 13

2.3.1 Phânloại 13

2.3.2Phânbố,đặcđiểmhìnhthái,côngdụng 13

2.3.3 Khảnănglọcnướccủathựcvậtthủy sinh–câyrau dừa… 14

2.4Mộtvàithôngsốđánhgiáônhiễmnướcthải 15

2.4.1 Nhu cầuoxysinhhóa(BOD) 15

2.4.2 Nhu cầuoxyhóahọc(COD) 15

2.4.3 Phốt–pho 16

2.4.4 Nitơ 17

2.4.5Tổngchấtrắnlơlửng(TSS) 17

Ch ươngIII.VẬTLIỆUVÀPHƯƠNGPHÁP NGHIÊNCỨU 19

3.1Thờigianvàđịađiểm 19

3.2 Khảo sátchấtlượngnướcmột sốaonuôicáTra 19

3.3 Phươngphápthínghiệm 19

3.3.1 Vật liệu 19

3.3.2Bốtríthínghiệm 20

3.3.3 Phươngphápphântíchcácchỉtiêu 21

Trang 8

3.3.4Theodõicácchỉtiêuvàxửlýsốliệu 29

ChươngIV.KẾTQUẢVÀTHẢOLUẬN 30

4.1 ĐánhgiáchấtlượngnướcthảiaonuôicáTra 30

4.2Sựpháttriển sinhkhốiMoinavàrauDừatrongthínghiệm 31

4.2.1 Sựpháttriển sinhkhốiMoina 31

4.2.2 Sựpháttriểncủa rauDừanước 33

4.3 Đánh giáhiệuquảxửlýnước thải ao cá tracủaMoinavàrau Dừa 33

4.3.1 ChỉtiêuBOD5 33

4.3.2 ChỉtiêuCOD 36

4.3.3 ChỉtiêuPhốt–photổng 38

4.3.4 XéttrênchỉtiêuNitơtổng 40

4.3.5 ChỉtiêuTSS 42

4.4 Nghiệm thức xửlýnước thải cá tra hiệu quả nhất ở MoinavàrauDừa 44

Ch ươngV.KẾTLUẬNVÀĐỀNGHỊ 46

5.1Kếtluận 4 6 5.2Đềnghị 4 6 TÀILIỆUTHAMKHẢO 47

PH ỤLỤC

Trang 9

DANHSÁCH CÁCB ẢNG

Trang

B ảng2.1:DiệntíchmặtnướcNuôitrồngThủysảnquacácnăm 3

B ảng2.2:Kimngạchxuấtkhẩuthủysản Việt Namgiaiđoạn2001đến2008 4

Bảng2.3:Sinh sảnvàtuổithọcủaMoinadubia 11

B ảng3.1:Kếtquảphântích 19

B ảng3.2:Sơđồbốtrícácnghiệmthức 21

B ảng4.1:GiátrịgiớihạncácthôngsốvànồngđộchấtônhiễmtheoTCVN 5945:2005 30

B ảng4.2:KếtquảphântíchcủanướcthảicáTratrướckhixửlý 31

Bảng4.3:PhầntrămtăngtrưởngtươngđốicủarauDừa 33

Bảng4.4:So sánh sự khác biệt BOD5về mặt thống kê trong từng nghiệm thức và giữa các nghiệm thức theo thời gian………35

B ảng 4.5:So sánh sự khác biệt COD về mặt thống kê trong từng nghiệm thức và giữa các nghiệm thức theo thời gian………37

B ảng 4.6: So sánh sự khác biệt Phốt-pho tổng về mặt thống kê trong từng nghiệm thức và giữa các nghiệm thức theo thời gian….……… 39

Bảng 4.7: So sánh sự khác biệt Nitơ tổng về mặt thống kê trong từng nghiệm thức và giữa các nghiệm thức theo thời gian….………41

Bảng 4.8: So sánh sự khác biệt TSS về mặt thống kê trong từng nghiệm thức và giữa các nghiệm thức trước theo thời gian.……… 43

Trang 10

DANHSÁCH CÁCBI ỂUĐỒ

Trang

Bi ểuđồ2.1:TìnhhìnhnuôicáTranhữngnămgầnđây 5

Bi ểuđồ2.2:KimngạchxuấtkhẩucáTratừ2003-2009 6

Biểu đồ 4.1: Hiệu quả xử lý tốt nhất ở nghiệm thức Moina………44

Bi ểu đồ 4.2: Hiệu quả xử lý tốt nhất ở nghiệm thức rau dừa……… 45

Trang 11

DANHSÁCH CÁCHÌNH

Trang

Hình2.1:Moinasp 8

Hình2.2:Raudừa…… 14

Hình2.3:Chutrìnhphốt-photrongaonuôicá 16

Hình2.4:ChutrìnhNitơtrongaonuôicá 17

Hình3.1:Thumẫunướcthínghiệm 20

Hình 3.2: Địa điểm bố trí thí nghiệm……… 21

Hình4.1:BiếnđộngsinhkhốiMoinatrongthínghiệm 32

Hình4.2:BiếnđộngcủaBOD5 ởcácnghiệmthứcMoina………… 34

Hình 4.3: Biến động của BOD5ở các nghiệm thức rau dừa………34

Hình4.4:BiếnđộngcủaCODởcácnghiệmthứcMoina 36

Hình 4.5: Biến động của COD ở các nghiệm thức rau dừa……… 36

Hình4.6:BiếnđộngcủaPhốt–photổngởcácnghiệmthứcMoina………… 38

Hình 4.7: Biến độngcủaPhốt–photổngởcácnghiệmthức rau dừa………38

Hình4.8:BiếnđộngcủaNitơ tổngởcácnghiệmthứcMoina………… 40

Hình 4.9: BiếnđộngcủaNitơ tổngởcácnghiệmthức rau dừa……… 40

Hình4.10:BiếnđộngcủaTSSởcácnghiệmthứcMoina………… 42

Hình 4.11: BiếnđộngcủaTSSởcácnghiệmthức rau dừa………

Trang 12

Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực vẫn còn tồn tại những hệ lụy từ việc nuôi cátraqui mô công nghiệp gây ra.Đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường nước do thải trực tiếp từ ao nuôi ra sông, kênh, rạch… không qua xử lý Điều này là một hiểm họa

rất lớn bởi vìnó chứa nhiều chất dinh dưỡng, cặn bã hữu cơ, mầm bệnh,…sẽ gây nhiễm bẩn nguồn nướcngọt dùng trong sinh hoạt cũng như các hoạt động nông nghiệp khác và cũng là nguy cơ phát sinh dịch bệnh ảnh hưởng đến đời sống con người

Trước thực tiễn trên, vấn đề được đặt ra là làm thế nào để phát triển nghề nuôi cá tra một cách bền vững, thân thiện với môi trường, mang lại nhiều lợi ích dân sinh thiết

thực Hiện nay, nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm hướng đến mục tiêu trên Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Đánh giá khả năng xử lý

nước thải ao nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)bằng sinh khối phiêu sinh động vật (Moina sp.) và cây thủy sinh rau dừa (Jussiacea repense L.)” nhằm góp phần

nhỏ trong việc tìm ra đối tượng sinh học xử lý nước thải có hiệu quả, lâu bền và đồng

thời tạo nguồn thu nhập cho người dân

Trang 13

1.2 Mục tiêu đề tài

 Đánh giá khả năng làm giảm ô nhiễm môi trường của phiêu sinh động vật

(Moina sp.) và cây rau d ừa(Jussiacea repense L.) dựa trên kết quả phân

tích các chỉ tiêu chất lượng nước (BOD, COD, Phosphorous tổng cộng, Nitrogen tổng cộng, TSS)

Trang 14

Chương II

2.1 Vài nét về ngành Nuôi trồng Thủy sản và nghề nuôi cá tra hiện nay ởnướcta 2.1.1 Sự phát triển của ngành Nuôi trồng Thủy sản ở nước ta

Nước Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, phía Đông và Đông Nam tiếp giáp với biển, đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo,hệ thống sông ngòi dày đặc kéo dài từ Bắc đến Nam nên có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển nghề cá Từ xưa người dân đã khai thác thủy sản làm kế sinh nhai nhưng đứng trước tình trạng nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt và nhu cầu thực phẩm ngày càng cao của con người thì Nuôi trồng Thủy sản ra đời

Bảng 2.1: Diện tích mặt nước Nuôi trồng Thủy sản qua các năm

<Nguồn: http://tttm.vecita.gov.vn/dstk.aspx?NewID=166E&CateID=95>

Từ Bảng 2.1cho thấy diện tích nuôi trồng Thủy sản hàng năm liên tục tăng Theo

Tổng cục Thủy sản thì năm 2011, tổng sản lượng thủy sản của cả nước ước đạt 5,2 triệu tấn, trong đó sản lượng khai thác ước đạt 2,2 triệu tấn, sản lượng nuôi trồng ước đạt 3 triệu tấn Điều này khẳng định sự phát triển của ngành Nuôi trồng Thủy sản và đóng góp quan trọng của nó vào tổng sản lượng thủy sản cả nước

B ảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam giai đoạn 2001 đến 2008

Trang 16

2.1.3 Tình hình nuôi và xuất khẩu cá tra trong những năm gần đây

Từ năm 1999,người nuôi hoàn toàn chủ động được nguồn giống nhờ việc sản

xuất giống nhân tạo thành công Kể từ đây nghề nuôi cá tra bước vào giai đoạn phát triển mới

Bi ểu đồ 2.1: Tình hình nuôi cá tra những năm gần đây

(Nguồn: Vasep, công ty chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội tổng hợp)

Biểu đồ 2.2: Kim ngạch xuất khẩu cá tra từ 2003-2009

Trang 17

(Nguồn: Vasep, công ty chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội tổng hợp)

Đến hết năm 2011, xuất khẩu cá tra đạt trên 600.000 tấn (tăng 3% so với năm 2010), mang về 1,8 tỷ USD và đã có mặt trên 130 quốc gia

Theo Quyết định phê duyệt “Quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra Vùng Đồng bằng sông Cửu Longđến năm 2010, định hướng đến năm 2020” thì đến năm 2020 diện tích nuôi cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long đạt 13.000 ha, sản lượng đạt 1.850.000 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 2,1 – 2,3 tỉ USD, đồng thời giải quyết việc làm cho khoảng 250.000 người lao động Có thể nói nghề nuôi cá tra ở nước ta đang từng bước phát triển có định hướng, chiến lược rõ ràng Trong tương lai

xuất khẩu thủy sản nói chung và xuất khẩu cá tra nói riêng vẫn là thế mạnh của đất nước

2.1.4 V ấn đề giải quyết nước thải cá tra

Để đáp ứng cho nhu cầu nuôi cá tra thâm canh, góp phần tăng năng suất vụ nuôi thì thức ăn công nghiệp ra đời, trong đó có chứa thành phần dinh dưỡng cao Đặc biệt

là giàu Nitơ và Phốt-pho là nguồn gốc gây phú dưỡng hóa ảnh hưởng đến môi trường Các nghiên cứu của Boyd (1985) cho thấycá da trơn chỉ hấp thu được 26,8% Nitrogen 30,1% Phốt-pho (P) và khoảng 25,5% chất hữu cơ đưa vào từ thức ăn Như vậy, để đạt được sản lượng trung bình khoảng 200 tấn cá/ha với hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR)

là 1,6 cần sử dụng lượng thức ăn tối thiểu là 320 tấn và lượng chất hữu cơ thải ra môi trường là 240 tấn Theo quy hoạch phát triển đến năm 2020 sản lượng cá tra nuôi trồng tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ là 1.850.000 tấn thì lượng chất thải tương ứng

là 2.205.200 tấn chất hữu cơ, trong đó có 563.347 tấn N; 14.652 tấn P Với lượng thải trên nếu không có giải pháp xử lý sẽ là hiểm họa đối với môi trường nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Tại Thái Lan, các nhà khoa học đã sử dụng giải pháp nuôi tuần hoàn cá da trơn trong điều kiện thí nghiệm, bao gồm nước thải từ bể nuôi cá tra chuyển sang bể nuôi

cá rô phi, sau 3-7 ngày được tuần hoàn lại vào bể nuôi cá tra, cho hiệu quả kinh tế và môi trường

Trang 18

Đại học Clemson - Mỹ cũng đã sử dụng hệ thống tuần hoàn để xử lý nước thải

từ khu nuôi cá da trơn và tận dụng chất dinh dưỡng trong nguồn nước thải để nuôi tảo thu sinh khối nhằm sử dụng cho các mục đích năng lượng

Ở Việt Nam, Thử nghiệm của Trường Đại học Cần Thơ sử dụng hệ thống đất ngập nước để xử lý nước thải trong nuôi cá tra cho thấy hiệu quả xử lý khá cao (sau thử nghiệm BOD giảm 84% so với ban đầu)

Bên cạnh những nghiên cứu của các nhà khoa học, bằng kinh nghiệm, dám nghĩ, dám làm, người dân nhiều vùng nuôi cá tra đã tận dụng nước thải cá tra đưa vào sản xuất và đem lại hiệu quả kinh tế cao Người dân ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang sử dụng nước thải từ hầm nuôi cá tra để tưới cho lúa với tỷ lệ 3 ha nuôi cá tưới cho 51 ha lúa cho hiệu quả rõ rệt Còn người dân xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nuôi trứng nước bằng nước thải cá tra với chi phí thấp lợi nhuận cao, góp phần xóa đói giảm nghèo

Để nuôi cá tra thâm canh phát triển bền vững, cần quan tâm hơn nữa vấn đề bảo

vệ môi trường nếu không thì chính suy thoái môi trường do nuôi cá sẽ tác động xấu trở lại nghề nuôi

2.2 Giới thiệu sơ lược về Moina sp

Trang 19

2.2.2 Đặc điểm phân bố và khả năng thích nghi

Moina là giáp xác râu ngành phân bố khắp nơi trên thế giới, sống chủ yếu trong các thủy vực nước ngọt Chúng thường tập trung thành đám dày đặc màu đỏ ở các ao,

hồ, đầm lầy, vũng nước, cửa cống rãnh nơi có nhiều chất hữu cơ Theo Rottmann và

ctv., (2003) thì Moina xuất hiện với mật độ cao ở các ao, hồ, đầm lầy có dòng chảy nhẹ và vũng nước tù đọng nơi có nhiều vật chất hữu cơ Chúng đặc biệt phát triển tốt

ở những vùng nước ấm

Chúng thường xuất hiện nhiều trong môi trường nước bẩn, đặc biệt là các hồ nước ngọt bị ô nhiễm, có nhiều vật chất hữu cơ phân hủy Chúng cũng có thể được tìm thấy ở các ao, hồ tù động, gần các khu chung cư nơi mà có nhiều chất thải hữu cơ

Moina là loài giáp xác rộng nhiệt, giới hạn chịu nhiệt của chúng là từ 5-310

C, nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển là 24-310C Chúng có thể chịu đựng được nhiệt độ cao hơn 320C trong một thời gian ngắn và khi nhiệt độ thấp tốc độ sinh sản sẽ chậm lại ( Rottman và ctv, 2003) Theo kết quả của Thanh (1982) thì nhiệt độ ảnh hưởng

đến số lượng con sinh ra và tuổi thọ của Moina (trích dẫn bởi Bùi Thị Kim Anh,

1998)

Moina hoàn toàn thích nghi với nguồn nuớc kém chất luợng Chúng có thể sống

nơi nồng độ oxy hoà tan từ 0 cho đến bão hoà Moina đặc biệt thích nghi với sự biến

đổi của nồng độ oxyvà thường sinh sôi với số lượng lớn trong môi trường nước ô nhiễm ở cống rãnh Moina đuợc cho là có vai trò quan trọng trong việc xử lý các hồ

chứa nước thải Chúng có thể sống sót trong môi trường nghèo oxy nhờ khả năng tổng

hợp Hemoglobin Sự hình thành Hemoglobin dựa trên mức độ oxy hoà tan trong nuớc, nhiệt độ cao và mật độ Moina cao ( Rottmann và ctv., 2003)

Moina thích ứng với biên độ pH rộng, có thể sống trong các thủy vực có độ pH

từ 6,5-8,5, và phát triển tốt ở môi trường kiềm có pH từ 7 đến 8 Trong nuôi Moina

người ta thường dùng vôi để tăng độ cứng và pH của môi trường nuôi Hàm lượng ammonia phải được giữ dưới 0,2 mg/l trong quá trình nuôi (FAO, 2006)

Theo Rottmann và ctv., (2003), Moina rất nhạy cảm với các chất hóa học và kim

loại, bột giặt, chất tẩy và những chất độc hại khác trong nước, do đó phải đảm bảo nguồn nước nuôi Moina không bị nhiễm các chất độc trên

Trang 20

Nắm được những đặc điểm về sự phân bố và các yếu tố lý hóa ảnh hưởng đến

Moina sẽ giúp người nuôi chủ động hơn trong sản xuất nhằm và thu được sinh khối cao hơn

2.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Theo Rottmann và ctv., (2003), thì chân ngực Moina có dạng hình lá, phủ rất

nhiều lông tơ Khi chân ngực chuyển động, sẽ tạo nên dòng nước cuốn theo những

phần tử thức ăn đến các phần phụ miệng và được nghiền bởi hàm trên trước khi đưa vào trong miệng Những chất không được tiêu hóa sẽ được đưa tới giữa hai hàm trên

và bị đẩy ra ngoài bởi các gai gốc chân ngực I

Moina là loài ăn lọc không chọn lọc Thức ăn của chúng là các loại vi khuẩn, men bia, vi tảo và mùn bã hữu cơ (thối rữa) Vi khuẩn và nấm men có giá trị dinh

dưỡng cao Số luợng Moina phát triển nhanh nhất khi luợng vi khuẩn, men bia và vi

tảo dồi dào Moina là một trong những sinh vật phù du có thể tiêu thụ tảo xanh

Microcystis aeruginosa(Rottmann và ctv., 2003) Ở Singapore, loài Moina micrura

nuôi trong ao hồ bón chủ yếu bằng phân gà hay phân heo đuợc sử dụng làm thức ăn chính cho cá bột của các loài cá cảnh nhiệt đới Ngoài ra, có thể dùng phân vô cơ như

NPK, DAP, Urê,… để nuôi Moina Nhưng tốt nhất nên dùng phân hữu cơ cho ao đất

hơn là bồn và hồ nhân tạo (Rottmann và ctv., 2003) Thực tiễn cho thấy phân hữu cơ tốt hơn phân hóa học vì phân hữu cơ cung cấp vi khuẩn, nấm, bã hữu cơ là thức ăn

cho Moina

Theo Vỹ (1995;trích bởi Phạm Nguyễn Hồng Nguyên, 2007) tốc độ lọc thức ăn

của giáp xác phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mật độ thức ăn, loại và kích thước thức

ăn đồng thời cũng phụ thuộc vào kích cỡ giáp xác, tình trạng sức khỏe của chúng.Bằng thực nghiệm người ta đã chứng minh rằng không phải nhiều thức ăn trong

môi trường nuôi là tốt cho sự phát triển của Moina mà phải tạo được mật độ thích hợp

và mỗi loại thức ăn khác nhau thì kích cỡ Moina trưởng thành sẽ khác nhau Theo kết

quả thí nghiệm của Nguyên (2007) và Hoài (2008) thì nuôi Moina bằng cám gạo với

lượng là 0,3g/l/ngày thì Moina đạt sinh khối cao nhất và kích thước nhỏ nhất so với

dùng thức ăn là men bánh mì hay bột đậu nành

Trang 21

Bên cạnh lượng thức ăn thì giá trị dinh dưỡng của thức ăn cũng quyết định đến

sự phát triển của Moina Nếu lượng vitamin trong khẩu phần ăn vượt quá nhu cầu của

Moina sẽ dẫn đến sự ức chế trong sinh sản và phát triển của chúng, tỷ lệ giữa tinh

bột/protein tốt nhất cho Moina trong khoảng 0,5/1 – 1,5/1 (Conklin và Provasoli,

1977)

Biết về đặc điểm dinh dưỡng và tìm được loại thức ăn phù hợp là hai yếu tố quan

trọng quyết định sự thành công trong nuôi Moina

2.2.4 Đặc điểm sinh sản

Trong điều kiện môi trường thuận lợi, Moina sinh sản đơn tính nghĩa là con cái

có thể sinh ra nhiều thế hệ con hoàn toàn là con cái và những thế hệ con cái này sẽ

tiếp tục sinh ra các thế hệ đơn tính cái Hình thức sinh sản này giúp phát triển nhanh chóng số lượng cá thể trong quần thể Đến khi môi trường không thuân lợi như thiếu thức ăn, nhiệt độ thấp,… thì sẽ xuất hiện con đực và chuyển sang sinh sản hữu tính cho ra trứng ở trạng thái tiềm sinh, tương tự như trứng Artemia, trạng thái này giúp

vượt qua điều kiện bất lợi của môi trường Trứng sẽ nở ra con cái khi điều kiện môi trường sống thuận lợi (Rottmann và ctv., 2003)

Trứng tiềm sinh hay trứng nghỉ được chứa trong một túi nhỏ (gọi là Ephippirium), mỗi túi có thể chứa khoảng một, hai trứng hoặc nhiều hơn nữa Trứng tiềm sinh có thể sống trong môi trường khô hạn hay trong điều kiện nhiệt độ thấp Vì

thế ta có thể thu trứng rồi bảo quản, khi cần gây nuôi Moina thì cho trứng vào môi

trường nước Khi đó trứng sẽ nở thành Moina con (Srijankul, 1985)

Theo Rottmann (2003) thì ở điều kiện tối ưu, Moina cái từ 4 - 7 ngày tuổi bắt đầu sinh sản với số luợng từ 4 - 22 con Mỗi lứa cách nhau từ 1,5 dến 2 ngày, mỗi con cái đẻ từ 2 - 6 lần trong đời Còn theo nghiên cứu của Dụng và ctv., (1998) cho biết

đặc điểm sinh sản và tuổi thọ của Moina dubia như sau:

Trang 22

Bảng 2.3: Sinh sản và tuổi thọ của Moina dubia

(Nguồn: theo Nguyễn Hữu Dụng và ctv., 1998)

Số lần đẻ Thời gian từ khi nở

Qua Bảng trên ta thấy rằng từ một cá thể Moina dubia có thể sinh ra khoảng 50

cá thể con Một mức độ sinh sản cao

Theo Rottmann và ctv., (2003), khi mật độ quần thể cao sẽ làm giảm sự sinh sản

ở Daphnia một cách đáng kể nhưng ở Moina thì không Số luợng trứng sinh ra ở

Dapnia magna sụt giảm mạnh khi mật độ từ 95-115 cá thể truởng thành trên 25-30 lít

Mật dộ nuôi thích hợp của Daphnia đuợc ghi nhận là 500 con/lít, còn đối với Moina là

5.000 cá thể/lít Theo một nghiên cứu khác của Tamaru và ctv., (2004) cho biết rằng mật độ Moina brachiata và Moina macrocopa có thể đạt đến 10.000 cá thể/lít trong điều kiện môi trường thuận lợi

Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển quần thể của Moina mà ta cần phải quan tâm

là lượng thức ăn cho Moina Việc cung cấp đầy đủ thức ăn là cần thiết vì nó kích thích

Moinasinh sản theo hình thức vô tính, do đó có rất ít số lượng trứng tiềm sinh được

tạo ra

Với đặc tínhsinh sản nhanh, có thể nuôi với mật độ cao, nguồn thức ăn cho

Moina r ẻ tiền nên nuôi thâm canh Moina là điều hoàn toàn có thể làm được

Trang 23

2.2.5 Vai trò của Moina đối với Nuôi trồng Thủy sản

Moina là thức ăn giàu dinh dưỡng và phù hợp với cỡ miệng của cá hương.Cách

thức di chuyển thụ động của Moina sẽ kích thích tập tính bắt mồi của cá con Nếu so

với Artemia thì Moina nhỏ hơn nhưng có giá trị protein cao hơn (Shirota, 1996; trích

bởi Bùi Thị Kim Anh,1998)

Theo Rottmann (2003), Moina tuy là loài giáp xác có kích thước nhỏ nhưng trong cơ thể chúng lại c hứa nhiều enzyme tiêu hoá (như Proteinases, Peptidases, Amylases), HUFA (Highly Unsaturated Fatty Acid là những acid amine thiết yếu mà

cơ thể cá, tôm không tự tổn g hợp được) Khi được tiêu thụ , Moina sẽ cung cấp nhiều

men tiêu hoá rất có lợi cho hoạt động của cơ thể tôm, cá

Tóm lại Moina là thức ăn rất quan trong trong sản xuất giống cá nước ngọt

2.2.6 Tình hình nghiên cứu và nuôi Moina

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu về Moina Một vài nghiên cứu tiêu biểu : dùng men bia kết hợp tảo Chlorella và phân gia cầm nuôi Moina (Nandy,

1977); dùng phân gia súc trộn với đất nuôi Moina (Bellosillo, 1937); dùng phân gia

cầm nuôi Moina (Ventura và Enderez, 1980); cây cỏ tươiủ mục nuôi Moina (Matsudaira, 1943); ảnh hưởng của thức ăn và nhiệt độ lên sinh khối Moina

macrocopa (Yi Long Xi và ctv., 2005); sức sinh sản và tăng trưởng của Moina

macrocopa khi sử dụng tảo ở các mật độ khác nhau (Fernando và ctv., 1991) …và còn rất nhiều thử nghiệm khác (Nguồn Srijankul và ctv., 1985)

Trước nền tảng là những nghiên cứu mang tính cơ bản thì các nghiên cứu ứng

dụng ngày càng nhiều Một số nghiên cứu: sử dụng Moina micrura như là một loại

thức ăn thay thế trực tiếp cho Artemia trong ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh (Alam

và ctv, 1983); sử dụng phân gà, phân heo nuôi Moina micrura ( Rottmann và ctv.,

2003); sử dụng nước thải hộ gia đình để nuôi Moina (Srijankul, 1985);…và còn nhiều

nghiên cứu khác nữa Hiện nay có nhiều nghiên cứu ứng dụng tính ăn lọc của Moina

để góp phần xử lý nước thải, giam ô nhiễm môi trường như: xử lý và tái sử dụng nước thải heo ( Siranee Sreesai và ctv., 2002) Kết quả của nghiên cứu này rất khả quan: sinh khối Moina tăng nhanh, tảo Chlorella, Nitơ tổng, Phốt-pho tổng giảm đáng kể

Trang 24

Đây có thể xem là một hướng nghiên cứu tiến đến sự bền vững và thân thiện với môi trường

Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, thức ăn,

các phương pháp gây nuôi Moina như: một vài đặc điểm sinh học và kết quả nuôi sinh

khối Moina dubia (Nguyễn Hữu Dụng và ctv., 1998); khả năng sử dụng tảo Chlorella nuôi sinh khối Moina sp (Trần Sương Ngọc, 2009); tìm hiểu ảnh hưởng của thức ăn đến mật độ và kích thước Moina sp (Mai Thu Hoài, 2011);…

Trên thực tế nhiều người dân ở nước ta đã thành công trong việc sản xuất Moina

và mang lại hiệu quả kinh tế cao Anh Lê Văn Thắng, ấp Khánh Bình, xã Khánh Hoà, huyện Châu Phú đã đào 3.000m2ao để chứa nước thải được thải ra từ 4 ao nuôi cá tra

có tổng diện tích là 1ha để nuôi trứng nước Tại thời điểm 2007, giá 5.000 đ/1kg trứng nước Trừ hết chi phí trong 3 tháng, anh thu được lợi nhuận là 15 triệu đồng Đây là

một cách làm hay vừa giảm ô nhiễm môi trường, vừa có thêm thu nhập (Nguồn: cổng thông tin sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh An Giang)

2.3 Giới thiệu khái quát về cây rau dừa(Jussiacea repens L.)

2.3.1 Phân loại

Bộ: Myratles

Họ: Jussiaeaceace

Giống: Jussiacea

Loài: Jussiacea repens L

Tên tiếng Việt: rau dừa nước, rau dừa, rau dừa, Du Long Thái

2.3.2 Phân bố, đặc điểm hình thái, công dụng

Rau dừa là loài nhiệt đới, mọc hoang và thường được tìm thấy hoặc trồng ở các

ruộng nước, ao hồ, đầm nước, mương rạch

Trang 25

Hình 2.2: Rau dừa

Rau dừa thuộc cây thân thảo, mọc bò, nổi trên mặt nước nhờ có phao xốp màu

trắng Thân mềm xốp có rễ ở các mấu Lá hình bầu dục, mọc so le Hoa trắng, có cuống dài, mọc ở nách lá, quả nang dài, có lông nhỏ, chứa nhiều hạt

Rau dừa là cây thuốc nam Theo y học cổ truyền rau dừa nước có vị ngọt nhạt, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng Thường dùng trị phù thũng, tiểu đục, tiểu buốt, tiểu rát, tiểu ra máu, ho khan, nóng sốt, lên ban sởi, mụn nhọt, áp xe dùng dưới dạng cây tươi hoặc phơi khô Trong đời sống, người dân thường hái lá và ngọn non để ăn với mắm kho, hay sử dụng nó là một vị trong các bài thuốc dân gian

2.3.3 Kh ả năng lọc nước của thực vật thủy sinh - cây rau dừa

Từ lâu người ta đã khám phá ra khả năng lọc nước tuyệt diệu của nhiều loài thực

vật, chúng được ví như một nhà máy lọc sinh học góp phần làm sạch môi trường.Một

số thủy sinh thực vật được biết đến như: lục bình, bèo Nhật bản, bèo Tai chuột, rau

Muống….Ứng dụng khả năng này ở Trung Quốc các nhà khoa học củaViệnHànlâmKhoa học Nông nghiệpQuảng Đông đã nghiên cứu sử dụng cây

Vetiver zizanioides được dùng trong xử lí nước thải từ trang trại heo Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng xử lý nước thải của cây thủy sinh

Và năm 2010 là đề tài nghiên cứu “Hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi bằng cây rau

ngổ (Enydra fluctuans Lour) và cây lục bình (Eichhoria crassipes)”, đăng trên Tạp

chí Khoa học Đất số 34/2010 Kết quả cho thấy, hiệu suất xử lý nước thải của rau ngổ

đối với độ đục là 96,94%; COD là 44,97%; Nitơ tổng là 53,60%, phốt-pho tổng là

Trang 26

33,56% Hiệu suất xử lý nước thải của lục bình đối với độ đục là 97,79%; COD là 66,10%; Nitơ tổng là 64,36%, phosphat tổng là 42,54% Rau ngổ và lục bình đều có khả năng thích nghi và phát triển tốt trong môi trường nước thải

Trong những năm gần đây các nhà khoa học Việt Nam đã tìm ra một loài cây

mới có khả năng lọc nước rất tốt Và bắt đầu có nhiều nghiên cứu về nó Đó chính là cây rau dừa (Jussiacea repens L.) Theo nghiên cứu của Võ Thị Mai Hương và Trần

Thanh Tùng (2008) về khả năng xử lý nước thải lò mổ của rau dừa nước thì rau dừa nước có khả năng sinh trưởng tốt trong nước thải lò mổ Đặc biệt rau dừa nước có khả năng loại bỏ NO3-

, NH4+, PO43-, COD, Coliform tổng số… rất cao Nước thải sau khi được xử lý bằng rau dừa nước có hầu hết các chỉ tiêu đạt chuẩn mặt nước Việt Nam

5949 - 1995 mức B Còn theo “So sánh hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi bằng rau dừa (Jussiaea repens L) và rau Muống (Ipomoea aquatica forssk)” của Trương Thị Nga và ctv (2007) thì rau dừa có khả năng xử lý tốt hơn rau Muống Việc tìm ra khả năng xử lý nước thải của cây rau dừa là một phát hiện mang tính ứng dụng cao Mở ra một triển vọng xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học

2.4 Một vài thông số đánh giá ô nhiễm nước thải

2.4.1 Nhu c ầu oxy sinh hóa (BOD)

Nhu cầu oxy sinh hóa là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hóa các chất hữu

cơ trong một khoảng thời gian xác định và được ký hiệu bằng BOD được tính bằng mg/L Chỉ tiêu BOD phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước thải BOD càng lớn thì nước thải (hoặc nước nguồn) bị ô nhiễm càng cao và ngược lại

Thời gian cần thiết để các vi sinh vật oxy hóa hoàn toàn các chất hữu cơ có thể kéo dài đến vài chục ngày tùy thuộc vào tính chất của nước thải, nhiệt độ và khả năng phân hủy các chất hữu cơ của hệ vi sinh vật trong nước thải Để chuẩn hóa các số liệu người ta thường báo cáo kết quả dưới dạng BOD5 (BOD trong 5 ngày ở 20o

C) Mức

độ oxy hóa các chất hữu cơ không đều theo thời gian Thời gian đầu, quá trình oxy hóa xảy ra với cường độ mạnh hơn và sau đó giảm dần

2.4.2 Nhu cầu oxy hóa học (COD)

Nhu cầu oxy hóa học được định nghĩa là lượng oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa hóa học các chất hữu cơ trong nước thành CO2 và nước Lượng oxy này tương

Trang 27

đương với hàm lượng chất hữu cơ có thể bị oxy hóa, được xác định khi sử dụng một tác nhân oxy hóa hóa học mạnh trong môi trường axit Chỉ số COD biểu thị cả lượng các chất hữu cơ không thể bị oxy hóa bằng vi sinh vật, do đó nó có giá trị cao hơn BOD Tỷ số COD/BOD luôn luôn lớn hơn 1 và nếu tỷ số này càng nhỏ thì xử lý sinh

học càng dễ Phép phân tích COD có ưu điểm là cho kết quả nhanh ( khoảng 3 giờ ) Nhu cầu oxy hóa học là một trong những chỉ tiêu đặc trưng dùng để kiểm tra ô nhiễm của nguồn nước thải và nước mặt, đặc biệt là các công trình xử lý nước thải

2.4.3 Ph ốt-pho

Phốt-pho là nguồn dinh dưỡng cho sự phát triển của thực vật phù du, là nhân tố giới hạn sự phát triển đối với thực vật phù du trong các thủy vực nước ngọt, đồng thời cũng là khoáng chất quan trọng trong thức ăn thủy sản Khi nồng độ Phốt-pho cao trong nước sẽ gây ô nhiễm

Hình 2.3: Chu trình phốt-pho trong ao nuôi cá (Nguồn: sách Quản lý chất lượng nướcao nuôi Thủy sản, Trương Quốc Phú, Vũ Ngọc

Út, Đại học Cần Thơ, 2011) Trong ao nuôi có cho ăn, sự phân hủy của thức ăn thừa và phân động vật liên tục cung cấp phốt-pho cho nước và đất là nhân tố quan trọng hấp thu phốt-pho, kiềm chế

sự phát triển quá mức của thực vật phù du Nhưng nếu lượng thức ăn cho vào ao quá

lớn thì hàm lượng phốt-pho dư thừa nhiều có thể gây hiện tượng tảo nở hoa

Trang 28

2.4.4 Nitơ

Nitơ có thể đi vào ao nuôi từ không khí ở dạng Nitơ phân tử và một số phân tử Nitơ có thể được cố định trong chất hữu cơ nhờ tảo lam và vi khuẩn Nước mưa rơi vào ao có chứa Nitrate Vài dạng khác nhau của Nitơ có thể đi vào ao qua cấp nước Nitơ vô cơ có thể được đưa vào thông qua phân bón và Nitơ hữu cơ qua thức ăn và phân hữu cơ

Hình 2.4: Chu trình Nitơ trong ao nuôi cá (Nguồn: sách Quản lý chất lượng nước ao nuôi Thủy sản, Trương Quốc Phú, Vũ Ngọc

Út, Đại học Cần Thơ, 2011) Nếu hàm lượng Nitơ trong ao nuôi quá nhiều rất dễ gây phú dưỡng, kích thích sự phát triển quá mức của thủy sinh thực trong ao nuôi, gây mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường nuôi và ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi

2.4.5 Tổng lượng chất rắn lơ lửng (TSS)

Chất rắn trong nước thải bao gồm các chất rắn lơ lửng, chất rắn có khả năng lắng, các hạt keo và chất rắn hòa tan Tổng các chất rắn (Total solid, TS) trong nước

thải là phần còn lại sau khi đã cho nước thải bay hơi hoàn toàn ở nhiệt độ từ 103 -

1050C Các chất bay hơi ở nhiệt độ này không được coi là chất rắn Tổng các chất rắn được biểu thị bằng đơn vị mg/L Tổng các chất rắn có thể chia ra làm hai thành phần:

chất rắn lơ lửng (có thể lọc được) và chất rắn hòa tan (không lọc được)

Trang 29

Chất rắn lơ lửng là các hạt nhỏ (hữu cơ hoặc vô cơ) trong nước thải Tổng lượng

chất rắn lơ lửng cho biết mức độ ô nhiễm của thủy vực

Trang 30

Chương III

3.1 Thời gian và địa điểm

Thời gian thực hiện: từ đầu tháng 8 đến ngày 26 tháng 12 năm 2011

Địa điểm thí nghiệm: trại thực nghiệm và phòng thí nghiệm Khoa Thủy sản

trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Khảo sát chất lượng nước một số ao nuôi cá tra

Tiến hành khảo sát chất lượng nước ở một số ao nuôi cá tra ở tỉnh Bến Tre, An Giang Kết quả phân tích chất lượng nước

Trang 31

Hình 3.1: Thu mẫu nước thí nghiệm

Moina: được mua tại tiệm cá cảnh số 994, đường Kha Vạn Cân, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Vì đề tài chỉ chú trọng đến hiệu quả xử lý nước và điều kiện

khách quan không cho phép chúng tôi định danh Moina

Cây rau dừa: được lấy từ huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre sau đó trồng trong các bể Composit trong khoảng thời gian 1 tháng trước khi tiến hành bố trí thí nghiệm.Chúng tôi đã chọn những cây tươi tốt, không bị sâu bệnh, tiến hành làm vệ sinh để làm giảm những chất bẩm trong môi trường bám vào cây sau đó để ráo nước mới cân

Bể kính: có kích thước 40cm x 30cm x 30cm Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã sử dụng 21 bể

Thiết bị: tủ ủ BOD, tủ sấy COD, máy đo quang phổ kế, nồi hấp vi sinh, chén sứ, máy Kjeldahl, bộ lọc nước…

3.3.2 B ố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được thực hiện: gồm 7 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lập lại 3

lần.Sinh khối thả ban đầu ở các nghiệm thức như sau:

Nghiệm thức 0 (0): nghiệm thức đối chứng, 20L nước thải

Nghiệm thức 1 (1): 10 con Moina/L nước thải

Nghiệm thức 2 (2): 20 con Moina/L nước thải

Nghiệm thức 3 (3): 30 con Moina/L nước thải

Nghiệm thức 4 (4): 10g rau dừa/L nước thải

Trang 32

Nghiệm thức 5 (5): 20g rau dừa/L nước thải

Nghiệm thức 6 (6): 30g rau dừa/L nước thải

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên theo phương pháp bốc thăm

Bảng 3.2:Sơ đồ bố trí các nghiệm thức

6.3 4.3 3.1 3.2 3.3 0.3 4.2 6.1 2.2 2.1 2.3 1.3 5.2 5.3 1.1 1.2 6.2 0.1 5.1 4.1 0.2

Hình 3.2: Địa điểm bố trí thí nghiệm

Trong suốt quá trình thí nghiệm chúng tôi theo dõi các bể nghiệm thức mỗi ngày, quan sát các bể ít nhất 3 lần 1 ngày (buổi sáng lúc 8h, chiều lúc 14h và tối lúc 20h) nhằm đánh giá cảm quan về sự phát triển của Moina và rau dừa, đồng thời để

đảm bảo các yếu tố bên ngoài (các yếu tố có thể kiểm soát) thuận lợi cho thí nghiệm

Vì kinh phí thực hiện đề tài có hạn, bắt đầu xuất hiện rau dừa chết ở ngày thứ 9

và lúc này sinh khối Moina cũng đã giảm nên chúng tôi dừng thí nghiệm ở ngày thứ 9

3.3.3 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu

Phương pháp đo BOD

Thu mẫu và bảo quản mẫu:

Sau khi bố trí thí nghiệm 24h thì tiến hành thu mẫu Sau đó 2 ngày thu mẫu 1 lần

Trang 33

Khuấy nhẹ, đều bể nghiệm thức, thu 100 ml nước mẫu, đựng trong chai nâu thủy tinh, bảo quản lạnh

Dung dịch H2SO4 1 N và NaOH 1 N để trung hòa mẫu có tính kiềm hoặc acid

Chu ẩn bị nước pha loãng

Nước pha loãng được chuẩn bị bằng cách thêm mỗi 1ml các dung dịch đệm phosphate, MgSO4 , CaCl2, FeCl3 cho mỗi lít nước cất sau đó sục khí hơn 2h, dung

dịch này pha xong dùng liền, không để lâu

Dung dich mẫu (đã được pha loãng hoặc không) được chia làm 2 Một dùng để

đo DO0 , một được cho vào chai nâu có nút nhám, đậy kín để vào tủ ủ ở nhiệt độ 200

C đến ngày thứ 5 thì lấy ra đo DO5

Tính kết quả

BOD (mg O2/l) = (DO0 – DO5) x f

Trang 34

DO5: hàm lượng oxy hòa tan đo sau 5 ngày ủ

f: hệ số pha loãng mẫu

Phương pháp đo COD

Thu và bảo quản mẫu

Sau khi bố trí thí nghiệm 24h thì tiến hành thu mẫu Sau đó 2 ngày thu mẫu 1

lần

Thu mẫu: khuấy nhẹ, đều bể nghiệm thức, thu 100ml nước mẫu

Nếu mẫu sau khi lấy về được phân tích ngay trong vòng 6h thì chỉ cần làm lạnh

Ag2SO4 trong H2SO4: cân 1g Ag2SO4 cho vào trong 100ml H2SO4 (d=1,84g/ml)

Để nguội 1-2 ngày cho hòa tan hoàn toàn Ag2SO4

Chỉ thị ferroin: hòa tan 1,485g 1,10 phenantroline và 0,695g FeSO4.7H2O trong một ít nước cất, thêm nước đến vạch 100ml

Ferrous ammonium sunfat (FAS) 0.1N: hòa tan 3,92g Fe(NH4)(SO4)2.6H2O trong 500ml nước cất; thêm 20ml H2SO4 (d=1.84g/ml) để nguội Chuyển vào bằng định mức 1000ml, thêm nước đến vạch Dung dịch này không bền phải kiểm tra lại

nồng độ mỗi ngày bằng chất chuẩn K2Cr2O7

Kiểm tra nồng độ FAS : lấy chính xác Vml dung dịch K2Cr2O7 0.1N thêm 2ml

H2SO4 đậm đặc và vài giọt chỉ thị ferroin Chuẩn độ bằng dung dịch FAS đến khi xuất

hiện màu nâu đỏ

Trang 35

Cho vào ống nghiệm có nút vặn, chiu nhiệt:

+ 1ml – 3ml dung dịch mẫu nguyên hoặc được pha loãng

+ 2ml dung dịch K2Cr2O7 0,1N

+ 3,5ml dung dịch Ag2SO4 trong H2SO4

Đậy nắp, lắc đều, cho lên giá để vào tủ sấy ở nhiệt độ 1500

C trong 2h

Sau thời gian phản ứng, lấy ống ra khỏi tủ, để nguội đến nhiệt độ phòng, chuyển toàn bộ dung dịch vào bình tam giác, tráng kỹ ống nghiệm bằng nước cất, gọp nước tráng vào bình tam giác

Thêm 2-3 giọt chỉ thị ferroin Dung dịch có màu xanh lam

Tiến hành chuẩn độ bằng dung dịch FAS 0,01N Ghi lại thể tích FAS đã dùng Lưu ý: làm mẫu trắng với 2 - 3 ml nước cất thay cho mẫu

Tính kết quả COD

COD (mg/l)= (V0 – V) x N x 8000 x f / Vmẫu

V0: thể tích dung dịch FAS dùng chuẩn độ mẫu trắng (ml)

V1: Thể tích dung dịch FAS dùng chuẩn mẫu (ml)

N: nồng độ FAS đã được kiểm tra

Vmẫu: thể tích mẫu đã sử dụng (ml)

f: hệ số pha loãng (nếu có)

Phương pháp đo Phốt – pho tổng

Trang 36

C trong 30ph

Chuẩn bị hóa chất

Acid sulfuric 5N: pha loãng 35ml acid sulfuric đậm đặc với 250 ml nước cất

Dung dịch Potassium antimonyl tartrate: hòa tan 1,3715g K(SbO)C4H4O6.1/2H2O trong 400 ml nước cất trong bình định mức

Dung dịch Ammonium molybdate: hòa tan 20g (NH4)6Mo7O24.4H2O trong 500ml nước cất Có thể bảo quản bằng cách trữ trong chai nhựa ở 4 0C, khi sử dụng đưa lại nhiệt độ phòng

Dung dịch Acid ascorbic 0,1M: hòa tan 1,76g acid ascorbic trong 100ml nước

cất Dung dịch này ổn định 1 tuần ở 4 0

C Có thể bảo quản ở ngăn đá tủ lạnh, khi sử

dụng làm tan băng , đưa lại nhiệt độ phòng

Hóa ch ất tổng hợp: tiến hành pha trộn các dung dịch sau đúng theo thứ tự :

+ 50ml acid sulfuric 5N

+ 5ml dung dịch Potassium antimonyl tartrate

+ 15ml dung dịch Ammonium molybdate

+ 30ml dung dịch Acid ascorbic 0.1M

Dung dịch hóa chất tổng hợp không được để quá 4h

Trang 37

Dung dịch phenolphthalein: hòa tan 0,5g phenolphthalein vào 50ml ethyl alcohol 95% và 50ml nước cất Thêm từng giọt NaOH 0,02N (lấy 0.04g NaOH pha với 50ml nước cất)

Dung dịch acid sulfuric: cho 600ml nước cất vào bình định mức có thể tích 1000ml Nhỏ từ từ 300ml H2SO4đậm đặc, sau đó thêm nước cất đến vạch định mức Dung dịch Kali persulphate: hòa tan 10g K2S2O8 vào 200ml nước cất Dung dịch này cần điều chế mới mõi ngày, khó bảo quản

Dung dịch NaOH: hòa tan 80g NaOH trong nước cất và định mức ở 1000ml trong bình định mức

Pha dãy đường chuẩn

Cần chuẩn bị dung dịch chuẩn phosphate:

Lấy 0,2195g KH2PO4 khan (sấy khô trong 2 h ở 1500

C) pha với nước cất thành 1000ml Dung dịch mẹ này có nồng độ là 50ppm Lấy 10ml dd mẹ định mức thành 100ml Ta được dung dịch chuẩn P có nồng độ 5ppm

Lấy 6 bình tam giác có vạch định mức 100ml để tiến hành làm dãy chuẩn như sau:

Trang 38

Chuẩn bị dãy chuẩn

Sau khi pha mẫu làm dãy chuẩn theo các nồng độ như trên thì ta cũng tiến hành làm như mẫu thường Vì đây chẳng qua là sự thay thế nước mẫu bằng nước cất

Trung hòa m ẫu

Sau khi trãi qua công phá mẫu ( mẫu đo, mẫu làm dãy chuẩn) bằng nồi hấp vi sinh Ta lấy ra để nguội đến nhiệt độ phòng, rồi nhỏ một và giọt phenolphthalein vào tất cả các bình tam giác Sau đó đặc lên bàn khuấy từ và thêm từ từ dung dung dịch NaOH đến khi xuất hiện màu hồng Sau đó tiến hành định mức tất cả các bình tam giác về thể tích 100ml (thêm nước cất)

Phân tích mẫu

Mẫu chuẩn và mẫu cần đo tiến hành cùng lúc và cách làm như nhau

Lấy 25ml nước từ 100ml nước trong bình tam giác (sau khi định mức) + 4ml hóa chất tổng hợp cho vào bình tam giác, lắc đều, để yên 10 ph không quá 30ph, thì tiến hành đo bằng máy quang phổ

Khuấy đều bể nghiệm thức cần thu mẫu, lấy 200ml nước mẫu

Mẫu nước được trữ lạnh

Dùng giấy lọc Whatman lọc 50 hoặc 100 ml nước mẫu Dùng kẹp đưa miếng

giấy lọc vào đĩa petri

Cân tổng trọng lượng đĩa và giấy lọc trước khi sấy (m1)

Tiến hành sấy ở 1050

C trong 24h

Sau đó cân tổng trọng lượng đĩa và giấy lọc sau khi sấy (m2)

Trang 39

TSS (mg/l) = ( m1 – m2 ) x 1000/ V

V: thể tích mẫu được lọc

Phương pháp đo Nitơ tổng

Thu và bảo quản mẫu

Sau khi bố trí thí nghiệm 24h thì tiến hành thu mẫu Sau đó 2 ngày thu mẫu 1

lần

Khuấy nhẹ, đều bể nghiệm thức, lấy 100ml nước mẫu

Giữ mẫu ở nhiệt độ 20C đến 50

Trang 40

Chưng cất NH3: mẫu sau khi phá xong cho vào máy chưng cất, cho vào bình hấp thu khoảng 25-30ml axit boric đã có chỉ thị hỗn hợp Lắp vào hệ thống máy chưng cất

và tiến hành chưng cất ammonia với thời gian chưng cất khoảng 5ph sau khi đã thêm khoảng 50-60ml NaOH 30% máy Sau khi chưng cất ta được dung dịch có màu xanh

Tiến hành chuẩn độ dung dịch thu được bằng HCl 0,1 N, kết thúc quá trình chuẩn độ dung dịch chuyển từ màu xanh sang màu hồng đỏ Ghi thể tích HCl 0,1 N tiêu tốn (V1)

Tiến hành phân tích mẫu trắng như trên nhưng thay mẫu bằng nước cất Ghi lại

ĐN: khối lượng phân tử N (14)

3.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và xử lý số liệu

Quan sát sự phát triển sinh khối của quần thể Moina (khuấy đều bể nghiệm thức,

lấy 20ml nước mẫu đổ vào một cái chén, đếm số lượng Moina bằng mắt thường, lập

lại 3 lần ở các vị trí khác nhau) và rau dừa (cân trọng lượng trước và sau thí nghiệm),

đo chỉ tiêu BOD5, COD, COD, Phốt-pho tổng, Nitơ tổng, TSS (APHA, 1985)

Xử lý số liệu:số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê MINITAB (dùng way ANOVA) và EXCEL

Ngày đăng: 26/05/2018, 13:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm