Một phần là do thị phần nghêu và cá rô phi Việt Nam nhập vào Mỹ là rất thấp so với tôm, cá tra, cá ngừ là các sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ lực của nước ta... Trong chiến lược phát tri
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC GIÁ CỦA HAI SẢN PHẨM NGHÊU VÀ CÁ RÔ PHI TRÊN CÁC THỊ TRƯỜNG
TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2011
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
Niên khóa: 2008 - 2012
- Thành phố Hồ Chí Minh -
Trang 2NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư ngành
Chế biến thủy sản
Giáo viên hướng dẫn:
TS.NGUYỄN MINH ĐỨC
-Thành phố Hồ Chí Minh- Tháng 06/2012
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trong thời gian học tập tại trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, tôi đã học hỏi nhiều kinh nghiệm và kiến thức quý báu Với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
- Gia đình, người thân đã tạo điều kiện học tập cho con
- Các giảng viên trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh và các Thầy Cô trong khoa Thủy sản đã tận tình giảng dạy và truyền đạt nhiều kiến thức quý báo trong suốt thời gian học tập
- Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Minh Đức, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này
- Cảm ơn lớp DH08CT và những bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận này
- Cảm ơn Ban quản lý chợ nông sản Bình Điền đã nhiệt tình giúp đỡ tôi
Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến của Thầy Cô, cùng các bạn để đề tài hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Mai Hương
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Phân tích sự tương tác giá của hai sản phẩm nghêu và cá rô phi trên các thị trường trong giai đoạn 2008-2011” được thực hiện từ tháng 2/2012 đến tháng 7/2012 Đề tài sử dụng các mô hình phân tích hồi qui đa biến đối với giá của các sản phẩm ở các thị trường và tỷ giá đô la Mỹ trong giai đoạn 2008-2011 Từ đó phân tích sự biến động giá các sản phẩm trên các thị trường và sự tác động qua lại giữa chúng Ngoài ra đề tài còn phân tích sự tương tác giữa giá tôm, cá tra, cá ngừ, nghêu, cá rô phi Việt Nam xuất sang thị trường Mỹ và mức tiêu thụ lên thị phần nghêu và cá rô phi Việt Nam trên thị trường này
Kết quả quá trình nghiên cứu có thể được tóm tắt: Giá nghêu và giá cá rô phi ở các thị trường có tác động với nhau Hầu hết các tác động là tỉ lệ thuận và tính chất hai chiều Trong đó các tác động về giá của các sản phẩm ở nhóm thị trường xuất khẩu lớn hơn nhiều so với nhóm giá thị trường nội địa Bên cạnh đó sự tăng giảm của giá đô la Mỹ cũng có tác động đến giá các sản phẩm đặc biệt là ở thị trường xuất khẩu Ngoài ra kết quả phân tích sự tác động của giá và mức tiêu thụ lên thị phần của nghêu và cá rô phi Việt Nam trên thị trường Mỹ là không đáng kể Một phần là do thị phần nghêu và cá rô phi Việt Nam nhập vào Mỹ là rất thấp so với tôm, cá tra, cá ngừ là các sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ lực của nước ta
Trang 5MỤC LỤC
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách chữ viết tắt và kí hiệu vii
Danh sách các bảng viii
Danh sách biểu đồ, sơ đồ ix
Chương 1GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Bối cảnh và đặt vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Chương 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Một số khái niệm cơ bản 3
2.1.1 Các khái niệm về giá 3
2.1.2 Tầm quan trọng của giá: 3
2.1.3 Giá trong mối quan hệ cung - cầu 4
2.1.3.1 Cung và các yếu tố ảnh hưởng đến đường cung 4
2.1.3.2 Cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến đường cầu 5
2.1.4 Liên kết dọc trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản 6
2.1.5 Khái niệm thị trường 9
2.1.6 Thương mại quốc tế 11
2.2 Tình hình chung về ngành thủy sản thế giới 11
2.2.1 Nhu cầu thủy sản thế giới 11
2.2.2 Nguồn cung thủy sản thế giới 12
2.2.3 Một số khó khăn đang gặp phải của ngành thủy sản thế giới 13
2.2.4 Dự báo tình hình thủy sản thế giới tới năm 2015 13
2.3 Tình hình thủy sản Việt Nam 14
2.3.1 Tình hình sản xuất thủy sản Việt Nam 15
Trang 62.4 Giới thiệu chung về ngành sản xuất và thương mại nghêu và cá rô phi Việt Nam
hiện nay 20
2.4.1 Tình hình sản xuất và thương mại nghêu Việt Nam 20
2.4.2 Tình hình sản xuất và thương mại cá rô phi Việt Nam 23
Chương 3CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Cơ sở lý luận 26
3.2 Phương pháp nghiên cứu 27
3.2.1 Mô tả số liệu 27
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Thống kê mô tả sự biến động giá của nghêu và cá rô phi trên cá thị trường giai đoạn 2008 – 2011 29
4.1.1 Sự biến động giá nghêu trên các thị trường 29
4.1.2 Sự biến động giá cá rô phi trên các thị trường 31
4.2 Sự tương tác giá nghêu và cá rô phi giữa các thị trường 34
4.2.1 Sự tương tác giá nghêu giữa các thị trường 34
4.2.1.1 Sự tương tác giá nghêu ở các thị trường khác và giá nghêu tại trại nuôi35 4.2.1.2 Sự tương tác giá nghêu ở các thị trường khác và giá nghêu tại chợ 36
4.2.1.3 Sự tương tác giá nghêu ở các thị trường khác và giá nghêu xuất khẩu tại Việt Nam 37
4.2.1.4 Sự tương tác giá nghêu ở các thị trường khác và giá nghêu xuất khẩu Mỹ 38
4.2.2 Sự tương tác giá cá rô phi giữa các thị trường 42
4.2.2.1 Sự tương tác giá cá rô phi ở các thị trường khác và giá cá rô phi tại trại nuôi 42
4.2.2.2 Sự tương tác giá cá rô phi ở các thị trường khác và giá cá rô phi tại chợ 43
4.2.2.3 Sự tương tác giá cá rô phi ở các thị trường khác và giá cá rô phi xuất khẩu tại Việt Nam 44
Trang 74.2.2.4 Sự tương tác giá cá rô phi ở các thị trường khác và giá cá rô phi xuất
khẩu Mỹ 45
4.3 Thị phần và các tác động của giá các sản phẩm khác và mức tiêu thụ lên thị phần nghêu và cá rô phi Việt Nam trên thị trường Mỹ 50
4.3.1 Thị phần nghêu, cá rô phi trên thị trường Mỹ 50
4.3.2 Tác động của giá các sản phẩm và mức tiêu thụ lên thị phần nghêu và cá rô phi trên thị trường Mỹ 52
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC lix
Trang 8DANH SÁCH CH Ữ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
(Hiệp Hội Chế Biến và Xuất Khẩu Thủy Sản Việt Nam)
VNĐ Đơn vị tiền tệ đồng Việt Nam
WTO World Trade Organization
(Tổ Chức Thương Mại Thế Giới)
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG Bảng 4.1 Mô hình tương tác của giá nghêu ở các thị trường khác với giá nghêu tại trại
nuôi 35
Bảng 4.2 Mô hình tương tác của giá nghêu ở các thị trường khác với giá nghêu tại chợ36 Bảng 4.3 Mô hình tương tác của giá nghêu ở các thị trường khác với giá nghêu xuất
khẩu tại Việt Nam 37
Bảng 4.4 Mô hình tương tác của giá nghêu ở các thị trường khác với giá nghêu xuất
Bảng 4.8 Mô hình tương tác của giá cá rô phi ở các thị trường khác với giá cá rô phi
xuất khẩu tại Việt Nam 44
Bảng 4.9 Mô hình tương tác của giá cá rô phi ở các thị trường khác với giá cá rô phi
Việt Nam xuất sang Mỹ 45
Bảng 4.10 Mô hình tương tác giá cá rô phi theo sự sai khác giá trong một giai đoạn
giữa các thị trường 48 4.3 Thị phần nghêu, cá rô phi trên thị trường Mỹ và tác động của giá cá tra, tôm, cá ngừ
ở Mỹ nhập từ Việt Nam đến thị phần này 50
Bảng 4.11 Tỷ lệ sản lượng nghêu và cá rô phi nhập vào Mỹ trên tổng sản lượng hai đối
tượng này được nhập vào Mỹ 50
Bảng 4.12 Mô tả thị phần và giá trung bình các đối tượng thủy sản chủ lực của nước ta
xuất sang Mỹ giai đoạn 2008-2011 51
Bảng 4.13 Kết quả quả mô hình phân tích tác động của giá các sản phẩm và mức tiêu
dùng ở thị trường Mỹ lên thị phần nghêu và cá rô phi Việt Nam trên thị trường này 52
Trang 10DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tổng sản lượng thủy sản và cơ cấu sản lượng nuôi trồng và khai thác giai
đoạn 2005-2011 (nghìn tấn) 16
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam qua các năm từ 2003-2011 (tỷ USD) 17
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chính năm 2011 về giá trị 19
Biểu đồ 2.4 Thị trường xuất khẩu chính năm 2011 về phần trăm giá trị 20
Biểu đồ 2.5 Thị trường xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ năm 2011 (GT) 21
Biểu đồ 2.6 Giá trị và sản lượng nghêu Việt Nam nhập vào Mỹ từ 2000 – 2011 22
Biểu đồ 2.7 Giá trị và sản lượng cá rô phi Việt Nam nhập vào thị trường Mỹ từ năm 2000-2011 24
Biểu đồ 4.1 Giá nghêu Việt Nam trên các thị trường theo từng tháng từ năm 2008- 2011 30
Biểu đồ 4.2 Giá cá rô phi Việt Nam trên các thị trường theo từng tháng từ năm 2008-2011 32
Sơ đồ 3.1 Chuỗi giá trị tổng quát sản phẩm thủy sản Việt Nam 26
Sơ đồ 4.1 Kết quả phân tích sự tương tác giá nghêu Việt Nam giữa các thị trường 39
Sơ đồ 4.2 Sự tương tác tác giá nghêu giữa các thị trường theo mô hình độ sai khác giá một giai đoạn 41
Sơ đồ 4.3 Kết quả tương tác giá cá rô phi giữa các thị trường 46
Sơ đồ 4.4 Kết quả tương tác giá cá rô phi giữa các thị trường theo mô hình sự sai khác giá trong một giai đoạn 49
Trang 11Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 B ối cảnh và đặt vấn đề nghiên cứu
Động vật thủy sản là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và có thị trường tiêu thụ rộng lớn Mức tiêu thụ thủy sản trên thế giới ngày càng cao và đã vượt quá khả năng cung cấp hiện tại Sự mất cân bằng trong quan hệ cung - cầu đã đẩy giá hàng thủy sản lên và kích thích việc tìm kiếm các giải pháp để làm tăng sản lượng thủy sản Trong đó, đầu tư cho việc nuôi trồng, chế biến thủy sản là giải pháp được lựa chọn nhiều nhất Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của ngành này, các nhà sản xuất đã bao lần lao đao, khốn đốn trước những biến động lớn về giá của sản phẩm thủy sản Trường hợp được mùa mất giá hay được giá mất mùa luôn là nỗi ám ảnh của các nhà sản xuất Trong chiến lược phát triển của thủy sản Việt Nam bên cạnh mặt hàng xuất khẩu chủ lực là tôm và cá tra thì nghêu và cá rô phi cũng là hai trong những đối tượng thủy sản được coi là một thế mạnh mũi nhọn cần tập trung phát triển phụ vụ nhu cầu tiêu thụ, xuất khẩu mang lại nhiều ngoại tệ cho đất nước, tác động tích cực đến tốc độ tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam trong những năm qua
Trong thời gian qua cá rô phi đã có sự phát triển nhanh cả về sản lượng và giá trị đến không ngờ Trong khi giá một số mặt hàng thủy sản luôn có nhiều biến động lớn thì giá các sản phẩm cá rô phi có xu hướng tăng đều tạo tâm lý tốt cho người nuôi và doanh nghiệp Hơn nữa sản phẩm cá rô phi hiện nay đã bước lên vị trí thứ tư trong danh sách các sản phẩm thủy sản được tiêu dùng tại Mỹ và trong vài năm tới rất có khả năng sẽ tăng lên hạng nhất Không những tăng trưởng mạnh tại thị trường Mỹ mà
cá rô phi cũng đang trở thành một loài được ưa chuộng tại nhiều thị trường lớn khác trên thế giới nhất là khi cá tra, basa đang dần trở nên bão hoà
Trong khi đó, xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ, đặc biệt là nghêu sau thời gian tăng vọt lại đang có xu hướng chậm dần về sản lượng đi đôi với sự biến động mạnh về giá, chịu những tác động lớn từ nguồn cung nguyên liệu, điều kiện thời tiết tự nhiên,
Trang 12và mang đậm tính mùa vụ Trong năm 2011 nhuyễn thể hai mảnh vỏ là mặt hàng duy nhất trong nhóm hàng thủy hải sản xuất khẩu chủ lực giảm 11,7% về giá trị so với năm trước Giá trị xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn điều bị sụt giảm do thiếu nguồn cung nguyên liệu
Tuy sản lượng và giá trị của hai sản phẩm này đều có xu hướng tăng trưởng, nhưng luôn biến động Một trong những yếu tố tạo nên sự biến động này chính là giá cả Giá
cả được hình thành không chỉ dựa vào các yếu tố đầu vào, chi phí sản xuất mà còn chịu ảnh bởi nhiều yếu tố khác như: quan hệ cung - cầu trên từng thị trường cụ thể, các sản phẩm thay thế khác, vị thế thị trường của từng sản phẩm…Do vậy tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “PHÂN TÍCH SỰ TƯƠNG TÁC GIÁ CỦA HAI SẢN PHẨM NGHÊU VÀ CÁ RÔ PHI TRÊN CÁC THỊ TRƯỜNG TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2011”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu và phân tích sự biến động giá tại trại nuôi, giá tại chợ, giá xuất khẩu và giá xuất sang thị trường Mỹ và sự tương tác giữa chúng đối với hai đối tượng nghêu và
cá rô phi trong giai đoạn 2008-2011
Ngoài ra đề tài còn phân tích sự tác động của tỷ giá đô la Mỹ lên giá nghêu và cá rô phi trên các thị trường nghiên cứu
Xác định sự tác động của giá các mặt hàng thủy sản Việt Nam và mức tiêu thụ đối với thị phần cá rô phi và nghêu Việt Nam trên thị trường Mỹ
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1 Các khái niệm về giá
Dựa vào chuỗi giá trị hàng hóa ta có giá bán buôn và giá bán lẻ (Lê Xuân Sinh, 2010)
- Giá bán buôn: là mức giá quy định cho mỗi đơn vị hàng hóa dựa trên số lượng lớn hàng hóa được thay đổi, buôn bán giữa người bán và người mua Nhóm người tham gia là các nhà kinh doanh nhỏ, các đại lý và các nhà phân phối
- Giá bán lẻ: là mức giá quy định cho mỗi đơn vị hàng hóa thông qua việc buôn bán trực tiếp giữa người bán và người tiêu dùng với số lượng ít Loại giá này được thể hiện tiêu biểu ở các siêu thị, các cửa hàng, các chợ…Qua đó sản phẩm được trao đổi trực tiếp giữa người bán và người mua không thông qua bất cứ một hợp đồng kinh tế nào Theo góc độ của người mua hay người bán, Nguyễn Minh Đức cho rằng:
- Theo quan điểm của người mua, giá cả là số lượng tiền mà họ phải trả để nhận được một số lượng hàng hóa hay dịch vụ nhất định để có thể sử dụng hay chiếm hữu hàng hóa hay dịch vụ đó
- Theo quan điểm của người bán, giá cả là phần thu nhập hay doanh thu mà họ nhận được khi tiêu thụ một đơn vị hay số lượng sản phẩm hay dịch vụ nhất định
2.1.2 Tầm quan trọng của giá:
- Giá là một yếu tố quan trọng trong thị trường Nó có sức ảnh hưởng lớn đến đường cung - cầu thị trường Cung hay cầu sẽ tăng hay giảm theo sự thay đổi giá của chính sản phẩm đó theo một hệ số co giãn tương đối nhất định
- Giá là một trong bốn biến số quan trọng của chiến lược marketing-mix (marketing hỗn hợp: sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến thương mại) Chiến lược về giá là một chiến lược quan trọng và không dễ thực hiện, nó là yếu tố quyết định thu nhập, lợi
Trang 14nhuận của nhà sản xuất cũng như sự lựa chọn sản phẩm đó trên thị trường của người tiêu dùng
- Giá cả là một yếu tố mang tính cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường, là căn cứ quan trọng để giúp cho doanh nghiệp có phương pháp kinh doanh, nhận biết và đánh giá các cơ hội kinh doanh
- Internet và công nghệ liên quan đang nhanh chóng thay đổi các khái niệm và các yếu tố quyết định giá trị sản phẩm cho khách hàng Một trong những lý do chính đằng sau sự thay đổi là tính minh bạch, công khai của thông tin về giá qua Internet cho phép người tiêu dùng tiếp cận với giá cả hàng hóa một cách dễ dàng, chính xác Xóa bỏ các
thông tin một chiều, độc quyền về giá của nhà sản xuất
2.1.3 Giá trong mối quan hệ cung - cầu
2.1.3.1 Cung và các yếu tố ảnh hưởng đến đường cung
Cung là khối lượng hàng hóa, dịch vụ mà các chủ thể đem bán ra trên thị trường trong một thời kì nhất định, tương ướng với mức giá cả, khả năng sản xuất, chi phí sản xuất xác định (Nguyễn Minh Đức, 2009)
Yếu tố ảnh hưởng đến đường cung:
Công nghệ: công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng xuất, giảm chi phí lao động trong quá trình chế tạo sản phẩm Khi mà chúng ta cải tiến công nghệ, tức là góp phần tăng khả năng sản xuất, khối lượng hàng hóa tăng lên so với lao động thủ công dẫn đến cung tăng lên
Giá cả của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường (đầu ra): khi giá cả hàng hóa và dịch
vụ trên thị trường tăng lên thì cung sẽ tăng lên và ngược lại
Chi phí sản xuất: nếu chi phí sản xuất thấp, người ta sẽ sản xuất nhiều hơn thì cung tăng lên, còn khi chi phí sản xuất tăng cao thì cung sẽ giảm đi
Chính sách thuế: Chính sách thuế của nhà nước ta có ảnh hưởng quan trọng đến quyết định sản xuất của các nhà sản xuất do đó ảnh hưởng đến việc cung sản phẩm Khi mà mức thuế cao sẽ làm cho phần thu nhập còn lại cho người sản xuất ít đi và họ không có ý muốn cung hàng hóa nữa, khi đó lượng cung sẽ giảm Ngược lại mức thuế thấp sẽ khuyến khích các nhà sản xuất mở rộng sản xuất và cung sẽ tăng lên
Trang 15Khả năng sinh lợi của sản phẩm thay thế: khi khả năng sinh lợi của sản phẩm thay thế tăng, nhà sản xuất có thể sẽ chuyển qua sản xuất những sản phẩm thay thế này Điều này làm chuyển dịch về nguồn cung
Sự kì vọng về giá của các sản phẩm trong tương lai: khi người sản xuất kì vọng giá sản phẩm sẽ tăng trong tương lai gần, họ sẽ không sẵn sàng bán sản phẩm ra thị trường làm lượng cung suy giảm
Trong các yếu tố đó, giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng tới lượng cung của hàng hóa và dịch vụ đó Cung tỷ lệ thuận với giá cả Giá
cả cao thì cung lớn và ngược lại giá cả thấp thì cung giảm
2.1.3.2 Cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến đường cầu
Cầu được thể hiện ở số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua
và có khả năng mua trong một thời kì tương ứng giá cả, thu nhập và các biến cố kinh
tế xác định Người tiêu dùng ở đây bao gồm nhân dân, các doanh nghiệp nhà nước và
cả người nước ngoài Tiêu dùng bao gồm cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân (Nguyễn Minh Đức, 2009)
Các yếu tố ảnh hưởng đến đường cầu:
Thu nhập người tiêu dùng: là một yếu tố quan trọng xác định cầu Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng Khi thu nhập tăng lên dẫn đến
sự tăng về cầu đối với các loại hàng hóa, tức là cầu tăng và ngược lại Tuy nhiên thu nhập tăng có thể làm giảm cầu đối với hàng hóa thứ cấp và ngược lại, thu nhập giảm
có thể làm tăng nhu cầu đối với loại hàng hóa này
Giá của loại hàng hóa liên quan:
+ Hàng hóa thay thế: là hàng hóa có thể sử dụng thay hàng hóa khác Ví dụ: cá tra
và cá rô phi là hai loại hàng hóa thay thế Khi giá của một loại hàng thay đổi thì cầu đối với loại hàng hóa kia cũng sẽ thay đổi Cụ thể khi giá cá tra tăng lên thì cầu đối cá
rô phi tăng lên
+ Hàng hóa bổ sung: là hàng hóa sử dụng đồng thời hàng hóa khác Ví dụ: cá cảnh
và ao nuôi cá cảnh là hai loại hàng hóa bổ sung Đối với hàng hóa bổ xung khi giá của một hàng hóa tăng lên thì cầu đối với hàng hóa bổ sung kia sẽ giảm đi Cụ thể khi giá
cá cảnh tăng lên thì cầu đối với ao nuôi cá cảnh giảm
Trang 16Thị hiếu của người tiêu dùng: thị hiếu có ảnh hưởng lớn đến cầu của người tiêu dùng, thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với hàng hóa hay dịch
vụ Thị hiếu của người tiêu dùng thường liên quan đến thành phần gia đình, độ tuổi, giới tính, phong tục tập quán và tín ngưỡng Điều đó có nghĩa là khi người tiêu dùng thích hàng hóa hay dịch vụ nào thì cầu về loại hàng hóa và dich vụ đó sẽ tăng, và ngược lại
Các chương trình tiếp thị, khuyến mãi… có thể làm tăng giảm lượng cầu trong ngắn hạn
Sự kì vọng về giá của sản phẩm trong tương lai: khi người tiêu dùng kì vọng rằng giá của một sản phẩm sẽ tăng trong tương lai gần, nhu cầu của họ đối với sản phẩm đó
sẽ tăng trong hiện tại
Trong các yếu tố đó, giá cả hàng hóa là yếu tố tác động trực tiếp và tỷ lệ nghịch với lượng cầu Giá cả hàng hóa tăng cao thì cầu về hàng hóa đó thấp, ngược lại giá cả hàng hóa đó giảm thì lượng cầu sẽ tăng cao
2.1.4 Li ên kết dọc trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản
Liên kết dọc là quan hệ tất yếu hình thành trong quá trình phát triển các chuỗi giá trị sản phẩm nông-lâm-thủy sản Sự liên kết dọc này hình thành từ hai áp lực chính: một là sự đòi hỏi ngày càng gắt gao của thị trường về chất lượng sản phẩm và an toàn thực phẩm, và hai là ổn định nguyên liệu và giá nguyên liệu cho chế biến
Liên kết để hình thành chuỗi sản xuất, cung ứng, tiêu thụ và xuất khẩu các mặt hàng thủy sản là mục tiêu đặt ra từ lâu Song, việc này đến nay vẫn còn mang tính chắp vá, rời rạc
Có bốn hình thức cơ bản của liên kết dọc trong chuỗi giá trị nông sản như sau:
Nhà bán lẻ dưới dạng quan hệ thời điểm, không có hợp đồng sản xuất - tiêu thụ, chủ yếu là mua đi bán lại Hình thức liên kết này cũng không bảo đảm chất lượng sản phẩm và an toàn thực phẩm vì không bị ràng buộc chặt chẽ trong quan hệ giao dịch Rủi ro về biến động giá và cung ứng nguyên liệu rất cao, vì sản lượng nguyên liệu đầu vào cho chế biến không được kiểm soát chặt chẽ Thiệt hại nhiều nhất đến với
Trang 17người sản xuất vì dễ bị ép giá, hoặc không được trả tiền khi nhà chế biến gặp rủi ro Nhà chế biến lại lệ thuộc vào nhà bán lẻ
tiêu sản phẩm giữa người sản xuất và nhà chế biến và giữa nhà chế biến và nhà bán lẻ Hợp đồng quy định rõ số lượng, chất lượng, quy trình sản xuất của sản phẩm, cơ chế thưởng phạt giữa hai bên
Tuy nhiên, dạng liên kết này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khi người sản xuất hoặc nhà chế biến không tuân thủ hợp đồng vì lợi ích riêng của mình khi có biến động thị trường Ví dụ người sản xuất sẵn sàng bán cho người mua khác nếu có giá cao hơn, nhà chế biến sẵn ràng bỏ rơi người sản xuất khi giá xuống thấp
Một hình thức đặc biệt của sản xuất theo hợp đồng là sản xuất gia công Theo hình thức này, người sản xuất tự đầu tư đất đai, nhà xưởng, trang thiết bị sản xuất Nhà chế biến đầu tư một phần vốn sản xuất dưới dạng phân bón, thức ăn gia súc, con giống, và
hỗ trợ kỹ thuật
Người sản xuất cung cấp sản phẩm theo hợp đồng theo mức giá thỏa thuận, và giảm rủi ro về thị trường tiêu thụ, ổn định thị trường và giá bán, có thể tính toán trước doanh thu, lợi nhuận, và giảm một phần vốn sản xuất Ngược lại, nhà chế biến có vùng nguyên liệu gia công, bảo đảm ổn định nguyên liệu chế biến, ổn định giá, ít lệ thuộc vào biến động thị trường
Mô hình này ràng buộc trách nhiệm chặt chẽ hơn và thường có sự tham gia của ngân hàng Người sản xuất được cho vay vốn đầu tư khi có hợp đồng gia công vì bảo đảm được đầu ra Nhà chế biến cũng được vay dễ dàng hơn vì có nguồn nguyên liệu chắc chắn Ngân hàng dễ cho vay vì giảm được rủi ro trong hoạt động cho vay, giảm rủi ro mất khả năng chi trả do biến động thị trường
hình thể hiện sự hội tụ tất cả các hoạt động từ sản xuất đến chế biến và bán lẻ sản phẩm trong phạm vi của một doanh nghiệp, thậm chí cả hoạt động sản xuất nguyên liệu đầu vào cho sản xuất Mô hình này cho phép doanh nghiệp kiểm soát chặt chẽ chất lượng sản phẩm và thu được toàn bộ lợi nhuận ở tất các các công đoạn sản xuất – chế
Trang 18biến và thương mại hóa sản phẩm, đồng thời hạn chế được rủi ro về nguồn nguyên liệu
và chủ động được thị trường đầu ra
Tuy nhiên, mô hình này chỉ có khả năng áp dụng khi doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh mẽ, và có bộ phận chuyên trách ở công đoạn sản xuất Trong ngành thủy sản ở ĐBSCL, hiện nay có xu hướng một số doanh nghiệp chế biến tôm và cá tra đông lạnh xuất khẩu đang nỗ lực tự bảo đảm nguyên liệu bằng cách đầu tư vào mua đất làm
ao, đầm nuôi và bỏ vốn để nuôi tôm, cá
Ảnh hưởng tiêu cực của mô hình này chính là việc loại bỏ người sản xuất ra khỏi chuỗi giá trị Doanh nghiệp chỉ bảo vệ lợi ích riêng của mình, thể hiện sự thiếu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khi không quan tâm đến sự phát triển chung của toàn ngành Một khi người sản xuất không tham gia sản xuất nữa, doanh nghiệp không còn nguồn nguyên liệu nào khác để dựa vào, và dĩ nhiên là dẫn đến rủi ro thiếu nguyên liệu khi không tự đáp ứng được cầu trên thị trường
khép kín trên là mô hình đồng sở hữu:
Trong đó người sản xuất đồng thời cũng là cổ đông của nhà chế biến Người sản xuất có thể tham gia đồng sở hữu bằng cách mua cổ phần, hoặc nhà chế biến chia sẻ cổ phần cho người sản xuất; hoặc người sản xuất góp vốn dưới hình thức quyền sử dụng đất nông nghiệp, trang thiết bị sản xuất
Hình thức đồng sở hữu này có các lợi ích sau:
* Gắn lợi ích của người sản xuất vào lợi ích của nhà chế biến và ngược lại, vì vậy làm tăng tính liên kết
* Giúp người sản xuất có thể chia sẻ thêm lợi ích từ hoạt động chế biến
* Giúp nhà chế biến giảm chi phí đầu tư cho vùng nguyên liệu, chi phí sản xuất nguyên liệu, và giảm áp lực tiền mặt để mua nguyên liệu
* Giúp cả hai bên mở rộng quy mô sản xuất khi cần vì có thể kêu gọi đầu tư góp vốn
*Kiểm soát chặt chẽ chất lượng sản phẩm và an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi giá trị
(Trần Tiến Khai, 2012)
Trang 192.1.5 Khái niệm thị trường
Thị trường là nơi mà người mua, người bán tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và sản lượng hàng hóa mua bán Như vậy thị trường là tổng thể các quan hệ lưu thông hàng hóa, lưu thông tiền tệ và các dịch vụ mua bán hàng hóa hay dịch vụ Trên thị trường, giá bán của sản phẩm hàng hóa sẽ được thiết lập trên sự cân bằng giữa cung
và cầu (Nguyễn Minh Đức, 2009)
Thị trường chính là nơi giá sản phẩm được thể hiện và làm thỏa mãn nhu cầu của người mua và sinh lợi nhuận cho người bán
Ta có thể dựa vào phạm vi lưu thông của hàng hóa và tiền tệ để phân chia thị trường gồm: thị trường xuất khẩu và thị trường nội địa
* Thị trường xuất khẩu
Là phạm vi nhiều quốc gia hay khu vực khác nhau, nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa hay dịch vụ với nhau
Chất lượng, số lượng hàng hóa hay dịch vụ xuất khẩu không những chịu sự kiểm soát chặt chẽ của hải quan và phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tạo nên chúng mà còn phụ thuộc vào yêu cầu khắt khe theo từng quốc gia, khu vực
Hoạt động xuất khẩu diễn ra có hiệu quả dựa trên khả năng cạnh tranh, lợi thế so sánh của sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ giữa các quốc gia hay khu vực Yếu tố tạo sự chênh lệch khả năng cạnh tranh của các sản phẩm có thể là: giá lao động, tài nguyên thiên nhiên, các chính sách của chính phủ, năng lực quản lí, khoa học kĩ thuật hay công nghệ
Để gia tăng hiệu quả của hoạt động xuất khẩu và tăng thu nhập quốc ngoại cho quốc gia thì việc sản xuất phải đảm bảo theo yêu cầu của nước nhập khẩu và tận dụng các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao lợi thế so sánh
* Thị trường nội địa
Là phạm vi, khu vực trong nội bộ một quốc gia, nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa hay dịch vụ giữa người bán và người mua
Thị trường thủy sản bao gồm những nhóm chủ thể kinh tế có chức năng nhất định nhằm đảm bảo dòng lưu thông của sản phẩm giữa người sản xuất và người tiêu dùng Theo đó, ta có mối quan hệ theo dây chuyền: người sản xuất - người bán buôn - người
Trang 20chế biến - người bán lẻ - người tiêu dùng Mỗi mắt xích hay nhóm chủ thể kinh tế trong hệ thống dây chuyền này có một chức năng riêng trong hệ thống chức năng chung của thị trường
- Người sản xuất: những đơn vị, cá nhân hay tổ chức làm công việc nuôi trồng thủy hải sản để kinh doanh, những người đánh bắt khai thác thủy hải sản trong môi trường
tự nhiên Những người này có chức năng cung cấp các sản phẩm, nguyên liệu sản xuất cho thị trường trong nước và hoạt động xuất khẩu
- Người bán buôn: những đơn vị, cá nhân hay tổ chức thu gom các sản phẩm thủy sản từ người sản xuất hoặc từ các đơn vị kinh doanh nhỏ lẻ ở các nơi để cung cấp trực tiếp cho các đơn vị chế biến hoặc những người bán lẻ
- Người chế biến: những đơn vị, cá nhân hay tổ chức thu mua nguyên liệu từ người sản xuất hoặc từ những người bán buôn, sau đó thực hiện quá trình chế biến tạo ra sản phẩm có tính công nghiệp phân phối trên thị trường phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng trong nước cũng như đáp ứng nhu cầu xuất khẩu
- Người bán lẻ: những doanh nghiệp, đơn vị tập thể hay tư nhân thực hiện trao đổi buôn bán hàng hóa trực tiếp với người tiêu dùng Đây là mắt xích quan trọng trong việc thúc đẩy tiêu dùng thương mại
- Người tiêu dùng: là tất cả các thành viên trong xã hội có nhu cầu tiêu dùng, sử dụng sản phẩm hay dịch vụ và đủ khả năng chi trả các chi phí từ khi sản xuất tới tiêu dùng sản phẩm hay dịch vụ đó
Các quá trình trên được diễn ra liên tiếp để đảm bảo quá trình sản xuất được khép kín, đồng vốn được quay vòng nhanh đem lại hiệu quả kinh doanh cho người sản xuất thủy sản Qua mỗi một mắt xích, sản phẩm thủy sản lại được tăng thêm giá trị cho đến khi tới tay người tiêu dùng cuối cùng nó trở thành một sản phẩm hoàn hảo, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng Mỗi một nhóm chủ thể kinh tế trong dây chuyền sản xuất – tiêu thụ trên, tuy có chức năng khác nhau nhưng chúng có mối quan
hệ mật thiết, gắn bó với nhau, sản phẩm của mắt xích này là nguyên liệu đầu vào của mắt xích tiếp theo Vì vậy, tất cả các quá trình lưu thông hàng hóa qua các mắt xích trong dây chuyền này thông suốt thì mới đảm bảo cho thị trường sản phẩm thủy sản được ổn định và phát triển
Trang 212.1.6 Thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế
có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tượng trao đổi thường vượt ra ngoài phạm vi địa
lý của một quốc gia) thông qua hoạt động mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới Hoạt động thương mại quốc tế ra đời sớm nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày nay nó giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế Sở dĩ thương mại quốc tế có vai trò quan trọng như vậy bởi vì kết quả của các quan hệ kinh tế quốc tế khác cuối cùng được thể hiện tập trung trong thương mại quốc tế và quan hệ hàng hóa - tiền tệ vẫn là quan hệ phổ biến trong các quan hệ kinh tế quốc tế (Giáo trình kinh tế quốc tế, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội 2002)
Nội dung thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Trên góc độ một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương
-Xuất và nhập khẩu hàng hóa hữu hình
-Xuất và nhập khẩu hàng hóa vô hình
-Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công
-Tái xuất khẩu và chuyển khẩu
-Xuất khẩu tại chỗ
2.2 T ình hình chung về ngành thủy sản thế giới
Thế giới được bao phủ bởi 80% là nước bao gồm đại dương, sông hồ, ao thiên nhiên và nhân tạo Điều kiện tự nhiên này đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát triển thủy sản Hiện nay, con người ngày càng có xu hướng tăng nhu cầu tiêu thụ thủy sản thay thế cho các nguồn đạm động vật khác như thịt heo, bò, gà…Việc gia tăng tiêu thụ
thủy sản này có thể do ba nguyên nhân: do dân số thế giới tăng, kinh tế phát triển làm gia tăng mức sống của dân chúng, và do con người hiện nay thích lựa chọn sản phẩm thủy sản hơn vì lí do sức khỏe
2.2.1 Nhu cầu thủy sản thế giới
Trong những năm qua, mức tiêu thụ thủy sản theo đầu người liên tục tăng mạnh, từ 11,5 kg vào những năm 1970 lên 14,4 kg những năm 1990 và 16,7 kg những năm gần đây và theo dự báo sẽ tăng lên 19 kg vào đầu năm 2015 với mức tăng trưởng khoảng
Trang 220,8%/năm tổng nhu cầu thủy sản và các sản phẩm thủy sản sẽ tăng khoảng 2,1%/năm (FAO, 2010)
Dịch bệnh gia súc, gia cầm có chiều hướng gia tăng ở Châu Âu, Châu Mỹ và Châu
Á càng khiến người tiêu dùng chuyển sang sử dụng sản phẩm thủy sản nhiều hơn làm cho nhu cầu tiêu thụ thủy sản trên thế giới càng tăng mạnh Nhu cầu tăng cao làm mất cân bằng trong cung cầu sản phẩm thủy sản Đồng thời làm gia tăng giá của sản phẩm thủy sản kích thích tăng trưởng sản xuất cả về nuôi trồng và khai thác thủy sản tự nhiên Đồng thời các hoạt động trao đổi xuất nhập khẩu thủy sản giữa các quốc gia được đẩy mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho các mối quan hệ xuất nhập khẩu thủy sản trên thế giới
2.2.2 Nguồn cung thủy sản thế giới
Sản lượng khai thác thủy sản tự nhiên trên thế giới có xu hướng tăng chậm dần và giữ ổn định Nguyên nhân là do nguồn thủy sản đánh bắt ngày càng cạn kiệt và xu hướng muốn bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, bảo tồn và phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới Trong khi đó sự cải tiến khoa học kĩ thuật cho phép gia tăng năng suất nuôi trồng và mở rộng diện tích sản xuất
Thủy sản nuôi hiện là nguồn cung cấp đạm động vật tăng trưởng nhanh nhất của thế giới và đáp ứng gần một nửa sản lượng tiêu thụ toàn cầu Báo cáo nuôi trồng thủy sản thế giới năm 2010 cho thấy sản lượng thủy sản nuôi của thế giới đã tăng hơn 60%
từ 324 - 525 triệu tấn trong giai đoạn 2000 - 2008 Và dự kiến trong năm 2012 thủy sản nuôi sẽ đáp ứng hơn 50% lượng tiêu thụ thủy sản của thế giới (FAO, 2010)
Trước tình hình sản lượng thủy sản khai thác toàn cầu đang sụt giảm, trong khi dân
số ngày càng tăng thì nuôi trồng thủy sản được cho là có tiềm năng lớn trong tương lai
Nó có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm có chất lượng
Trang 23Một số nước dẫn đầu về sản lượng nuôi trồng một số loài chính như Trung Quốc dẫn đầu về cá chép, cá rô phi; Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Ấn Độ chiếm ưu thế
về tôm cỡ nhỏ và cỡ lớn; Na Uy và Chilê dẫn đầu về sản xuất cá hồi
2.2.3 Một số khó khăn đang gặp phải của ngành thủy sản thế giới
Trong năm 2011 nguồn cung thủy sản từ các nước trên thế giới gặp không ít khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu của thị trường Ngành thủy sản Nhật Bản bị đe dọa sau thảm họa kép động động đất sóng thần Ngành tôm Thái Lan và Việt Nam thiệt hại nặng nề do lũ lụt và dịch bệnh Ngành cá da trơn chịu ảnh hưởng lớn bởi chi phí đầu vào, thức ăn, con giống Và trong năm tới, theo dự báo của nhiều chuyên gia trong ngành thì nguồn cung thủy sản thế giới có khả năng sẽ tiếp tục thiếu
Ngành thủy sản ở Thái Lan đang gặp nhiều khó khăn chưa thể khắc phục được ngay Rất nhiều kho lạnh của Thái Lan tập trung ở thủ đô Bangkok và hầu hết những kho này đã bị ảnh hưởng bởi lũ lụt phải mất thêm một thời gian nữa mới có thể hoạt động trở lại Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới xuất khẩu tôm của Thái Lan trong năm 2012
Bên cạnh đó một số nước xuất khẩu thủy sản lớn khác như Trung Quốc, Indonesia cũng đang gặp nhiều khó khăn Trung Quốc đang trải qua thời kỳ khắc nghiệt của thời tiết làm ảnh hưởng đến sản lượng tôm Indonesia đang phải đối mặt với dịch bệnh Đồng thời ở những thị trường lớn là Mỹ, EU và Nhật Bản nguồn cung tôm nội địa được dự báo là sẽ thấp trong năm tới
Về mặt hàng cá da trơn, trong năm 2011 lũ lụt ở Mississippi (một trong 4 bang nuôi cá da trơn Mỹ) cũng đã làm ảnh hưởng đến diện tích nuôi loài này ở Mỹ giảm 39% so với năm 2010 Và theo dự báo ở Việt Nam tình hình thiếu cá tra nguyên liệu vẫn sẽ xảy ra trong năm 2012 (VASEP,2012)
2.2.4 Dự báo tình hình thủy sản thế giới tới năm 2015
Theo tổ chức Nông lương thế giới (FAO) tổng nhu cầu về thủy sản và các sản phẩm thủy sản trên thế giới dự kiến sẽ đạt 183 triệu tấn vào năm 2015 với tốc độ tăng
trưởng bình quân 21%/năm
Tiêu thụ thủy sản tính theo đầu người sẽ tăng bình quân 0,8% trong giai đoạn đến năn 2015 giảm so với mức 1,5% đã đạt được trong 20 năm trước Tiêu thụ cá và sản
Trang 24phẩm từ cá bình quân đầu người dự báo sẽ đạt 14,3 kg vào năm 2015 trong khi đó nhu cầu về thủy sản có vỏ và các sản phẩm nuôi khác sẽ đạt mức tương ứng 4,7 và 4,8 kg/người
Trong tổng lượng gia tăng nhu cầu thủy sản dùng làm thực phẩm (khoảng 40 triệu tấn) có 46% mức tăng là do dân số tăng 54% còn lại là do kinh tế phát triển và các nhân tố khác Các nước đang phát triển sẽ dẫn đầu về mức tăng nhu cầu tiêu thụ tính theo đầu người với mức tăng dự kiến là 1,3% trong khi đó tại các nước phát triển mức tăng nhu cầu tiêu thụ tính theo đầu người bình quân mỗi năm giảm 0,2%
Nhu cầu về bột cá và dầu cá dự kiến mỗi năm sẽ chỉ tăng khoảng 0,5% đến năm
2015 Trong khi đó nhu cầu về bột cá ở các nước đang phát triển sẽ tăng 1,4%/năm Khối lượng cá cần thiết để đáp ứng nhu cầu sản xuất bột cá và dùng cho các mục đích phi thực phẩm khác sẽ đạt khoảng 45 triệu tấn vào năm 2015
Tiêu thụ thủy sản của các nước đang phát triển tăng với nhịp độ cao hơn là do sự gia tăng nhanh hơn về dân số và thu nhập Đối với các nước phát triển những yếu tố hạn chế nhịp độ tăng sản lượng chính là nhịp độ tăng dân số thấp hơn và mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người đã ở mức cao
Do kết quả của việc cải cách hệ thống phân phối hàng thủy sản và do nhiều nguyên nhân khác ở các nước sẽ có xu hướng tăng tiêu thụ sản phẩm thủy sản tại gia đình bên cạnh hệ thống dịch vụ ăn uống công cộng, các nhà hàng, khách sạn…Thị phần của kênh tiêu thụ gia đình sẽ tăng lên trong tổng tiêu thụ thủy sản của một khu vực thị trường
2.3 Tình hình thủy sản Việt Nam
Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á có diện tích đất liền 330.991 km2, bờ biển kéo dài hơn 3.260 km phần lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu km2 trải dài ở các tỉnh ven biển và hơn 14 triệu hecta mặt nước nội địa Qua thống kê biển Việt Nam có trên 2.100 loài cá trong đó có trên 130 loài có giá trị kinh tế và 75 loài tôm, 25 loài mực, 7 loài bạch tuộc và các loại thực vật thủy sinh khác Đây chính là điều kiện tự nhiên thuận lợi cho các hoạt động nuôi trồng, khai thác tạo nguồn cung thủy sản dồi dào (Vũ Cẩm Lương, 2010)
Trang 25Các lĩnh vực hoạt động của ngành thủy sản bao gồm khai thác thủy hải sản nội địa, nuôi trồng các loài động thực vật thủy sinh ở các thủy vực nước ngọt lợ và mặn, chế biến thủy sản phụ vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Ngoài ra có nhiều hoạt động khác
đi kèm như dịch vụ hậu cần khai thác và nuôi trồng, thương mại, sản xuất thức ăn, thuốc, hóa chất…
Nước ta có khoảng 4 triệu người làm việc thường xuyên trong ngành thủy sản và ước khoảng 8,8 triệu người (tương đương gần 10% dân số) có nguồn thu nhập chính trực tiếp hoặc gián tiếp từ lĩnh vực thủy sản Ngoài ra ít nhất khoảng 10 triệu người tham gia đánh bắt thủy sản trên biển, trong nội địa và từ cả đồng lúa
2.3.1 Tình hình sản xuất thủy sản Việt Nam
Sản lượng thuỷ sản năm 2011 ước tính là 5.432,9 nghìn tấn tăng 5,6% so với năm
2010 Trong đó, cá 4.050,5 nghìn tấn tăng 5,6%; tôm 632,9 nghìn tấn tăng 6,8% Nhìn chung sản lượng thủy sản Việt Nam từ nuôi trồng và khai thác đều có xu hướng tăng Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2011 ước tính đạt 1.048,1 nghìn ha giảm 0,2%
so với năm trước trong đó diện tích nuôi cá đạt 367,7 nghìn ha tăng 2,2%; diện tích nuôi tôm đạt 626,8 nghìn ha giảm 2% Mặc dù diện tích thả nuôi giảm nhưng sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2011 vẫn đạt 2.930,4 nghìn tấn tăng 7,4% so với năm
2010 trong đó cá đạt 2.258,6 nghìn tấn tăng 7,5%; tôm 482,2 nghìn tấn tăng 7,2%
Trang 26Biểu đồ 2.1: Tổng sản lượng thủy sản và cơ cấu sản lượng nuôi trồng và khai thác giai
đoạn 2005-2011 (nghìn tấn)
(Tổng cục thống kê Việt Nam, 2011) Trong những năm qua tổng sản lượng thủy sản liên tục tăng từ 3.432,8 nghìn tấn năm 2005 lên 5.432,9 nghìn tấn năm 2011 tăng 58,26% so với năm 2005 Trong đó sản lượng nuôi trồng tăng từ 1.437,4 nghìn tấn năm 2005 lên 2.930,4 nghìn tấn năm
2011 tăng 103,8% Điều này cho thấy sự mở rộng về diện tích nuôi trồng và tăng cao năng xuất sản xuất trong ngành nuôi trồng thủy sản Sản lượng nuôi trồng thủy sản liên tục tăng, từ 41,8% tổng sản lượng năm 2005 đến năm 2011 sản lượng nuôi trồng đã chiếm trên 54,3% so với tổng sản lượng Bên cạnh đó sản lượng khai thác cũng tăng đáng kể từ 1.995,4 năm 2005 nghìn tấn lên 2.502,5 nghìn tấn năm 2011 tăng 25,4%, đóng góp 45,7% vào tổng sản lượng năm 2011 Sản lượng thủy sản nuôi trồng có xu hướng tăng với mức tăng trưởng cao hơn so với sản lượng khai thác
Sản lượng thuỷ sản khai thác năm 2011 ước tính đạt 2502,5 nghìn tấn tăng 3,6% so với năm trước bao gồm: Khai thác biển đạt 2300 nghìn tấn tăng 3,6%; khai thác nội địa đạt 202,5 nghìn tấn tăng 4,2% Do điều kiện thời tiết thuận lợi, cùng với chính sách
hỗ trợ của Nhà nước cho tàu có công suất lớn và các địa phương tổ chức khai thác theo
mô hình tổ, đội kết hợp đã tiết kiệm được chi phí nên sản lượng khai thác biển tăng khá Đặc biệt sản lượng cá ngừ đại dương năm nay tăng cao đạt 10,5 nghìn tấn tăng
Trang 2712,5% so với năm 2010 Trong đó Phú Yên đạt 5,6 nghìn tấn tăng 13,8%; Bình Định 4,7 nghìn tấn tăng 17,6%
Xem xét tình sản xuất và các thành quả như trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dự kiến năm 2012 cả nước phấn đấu đạt tổng sản lượng thủy sản 5,35 triệu tấn Trong đó khai thác hải sản đạt khoảng 2,2 triệu tấn, nuôi trồng thủy sản đạt 3,15 triệu tấn (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2011)
2.3.2 Tình hình thương mại thủy sản Việt Nam
Thủy sản đã trở thành một trong những thế mạnh của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng mạnh hàng năm từ 10 - 25% là ngành đóng góp hàng đầu cho tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp quốc gia
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam qua các năm từ 2003-2011 (tỷ
USD)
(VASEP, 2011) Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã có mức tăng trưởng cao hàng năm với mức 10-25%: Tăng từ 2,2 tỷ USD năm 2003 lên 6,118 tỷ USD năm 2011 tăng
178,1% Riêng trong năm 2011 đã có mức tăng trưởng ấn tượng từ 5,03 tỷ USD năm
2010 lên 6,118 tỷ USD tăng 21,5% so với năm 2010 Ngành thủy sản Việt Nam đã và đang trên đà phát triển mạnh đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu cả nước
Trang 28 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chủ lực và thị trường nhập khẩu chính sản phẩm thủy sản Việt Nam
Lần đầu tiên vượt qua mốc 2 tỷ USD xuất khẩu vào năm 2010 xuất khẩu tôm của Việt Nam tiếp tục đà tăng trưởng mạnh với giá trị năm 2011 đạt gần 2,4 tỷ USD trong
đó tôm sú chiếm 59,7% tổng giá trị tôm chân trắng chiếm 29,3% Về thị trường nhập khẩu Nhật Bản giữ vị trí số một với giá trị đạt trên 607 triệu USD chiếm 25% tỷ trọng xuất khẩu tôm Mỹ đứng thứ hai về nhập khẩu tôm Việt Nam với 558,5 triệu USD chiếm 23,3% và EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba với giá trị xuất khẩu đạt gần
413 triệu USD
Năm 2011 giá trị xuất khẩu cá tra đạt trên 1,805 tỷ USD tăng gần 26,5% với khối lượng xuất khẩu trên 600 nghìn tấn tăng 3% so với năm 2010 Cá tra Việt Nam cũng được hơn 230 doanh nghiệp xuất khẩu sang hơn 130 thị trường trên thế giới trong đó
10 thị trường lớn nhất chiếm 73% giá trị xuất khẩu Thị trường lớn nhất là EU chiếm
29,1% Mỹ đạt 331,6 triệu USD tăng 87,8% so với năm 2010 chiếm 18,4% giá trị xuất khẩu tôm năm 2011
Bên cạnh hai sản phẩm chủ lực tôm và cá tra các sản phẩm thủy sản xuất khẩu khác cũng có mức tăng trưởng khá tốt Cá ngừ đóng góp xuất khẩu đạt trên 379 triệu USD tăng 29,4% so với năm 2010 Giá xuất khẩu cá ngừ tăng khá mạnh tại thị trường nhiều thị trường lớn như: Nhật Bản với hơn 100%, các thị trường khác như Canađa, Mỹ, Thụy Sỹ cũng tăng từ 50 đến 80% Sản lượng nhập khẩu vào thị trường Mỹ chiếm
45,2% tăng 31,8% so với năm 2010 Đặc biệt thị trường Nhật Bản nhập khẩu cá ngừ Việt Nam năm 2011tăng 99,4% so với năm trước, đây là mức tăng trưởng rất tốt Đối với sản phẩm mực bạch tuộc của Việt Nam đã có mặt ở 76 thị trường với giá trị xuất khẩu đạt 520 triệu USD tăng 31% so với năm 2010 Trong đó Hàn Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất chiếm 32,6% tổng giá trị mực bạch tuộc xuất khẩu Việt Nam hiện là một trong những nước xuất khẩu mực bạch tuộc lớn nhất sang thị trường Hàn Quốc Liên tục trong ba năm trở lại đây, xuất khẩu mặt hàng hải sản này của Việt Nam sang Hàn Quốc điều tăng trưởng khả quan và có xu hướng tăng trưởng tốt trong những năm tới
Trang 29Nhuyễn thể hai mảnh vỏ cũng là mặt hàng có giá trị xuất cao nằm trong nhóm hàng xuất khẩu chủ lực Các sản phẩm chủ yếu nằm trong nhóm hàng này là nghêu, sò huyết, hàu… Tuy nhiên năm 2011 nguồn nguyên liệu nghêu bị thiệt hại nặng tại nhiều địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long nên đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu mặt hàng này Do đó nhuyễn thể hai mảnh vỏ là mặt hàng duy nhất trong nhóm hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực bị giảm sút về giá trị xuất khẩu so với năm 2010 đạt gần 82 triệu USD Giá trị xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn điều bị sụt giảm: EU giảm gần 7%, Nhật Bản giảm 35,4%, Hàn Quốc giảm 41,7% so với năm trước (VASEP, 2011)
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chính năm 2011 về giá trị
(VASEP, 2012)
Trang 30Biểu đồ 2.4 Thị trường xuất khẩu chính năm 2011 về phần trăm giá trị
(VASEP, 2012)
Từ những kết quả đạt được trong năm 2011, VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản của
cả nước năm 2012 sẽ đạt con số 6,5 tỷ USD trong đó cá tra sẽ đạt 1,8 - 2 tỷ USD, tôm 2,5 tỷ USD và các mặt hàng hải sản sẽ đạt mức 2 tỷ USD
Để đạt được mục tiêu đề ra như trên bên cạnh việc đầu tư cho sản xuất nguyên liệu đặc biệt là các sản phẩm chủ lực: tôm, cá tra, cá ngừ, nhuyễn thể… Ngành thủy sản cần có giải pháp hỗ trợ về kỹ thuật tổ chức sản xuất và tín dụng, tăng cường kiểm tra giám sát chất lượng và an toàn thực phẩm ở tất cả các khâu, cung cấp giống và thức ăn nuôi thủy sản, thu hoạch xử lý chế biến và phân phối sản phẩm Ngoài ra tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, tổ chức các hoạt động quảng bá sản phẩm thủy sản của Việt Nam tại nước ngoài với nội dung và hình thức đổi mới Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, dự báo thị trường và các mối liên kết trong nuôi trồng thủy sản, quan tâm công tác quản lý Nhà nước về dịch bệnh và thú y thủy sản, an toàn vệ sinh thực phẩm…
2.4 Giới thiệu chung về ngành sản xuất và thương mại nghêu và cá rô phi Việt Nam hiện nay
2.4.1 Tình hình sản xuất và thương mại nghêu Việt Nam
Nghêu là sản thủy sản ngày càng được ưa chuộng trên thị trường không chỉ bởi giá trị dinh dưỡng, những tác dụng tốt cho sức khỏe mà còn bởi đây là sản phẩm sạch đạt
Trang 31tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm của EU- thị trường nhập khẩu nghêu lớn nhất của Việt Nam (chiếm 62,9% tỷ phần xuất khẩu)
Ngay từ năm 2007 ngành nuôi và khai thác nghêu tại Bến Tre đã tham gia và quá trình đánh giá chất lượng nghêu thương phẩm của Hội đồng Quản lý biển (Marine Stewardship Council – MSC) Vào đầu tháng 11/2009 ngành này đã chính thức trở thành ngành ngư nghiệp đầu tư của Việt Vam và trong khu vực Đông Nam Á đạt được chứng nhận MSC Với chứng chỉ chất lượng này, sản phẩm nghiêu của Bến Tre nói riêng và Việt Nam nói chung sẽ có nhiều cơ hội tiến sâu hơn vào thị trường thế giới và khẳng định được uy tín và vị thế của mình so với các đối thủ cạnh tranh
Năm 2011, trong khi xuất khẩu các mặt chủ lực như: tôm, cá tra, cá ngừ, mực và bạch tuộc của Việt Nam đều tăng mạnh cả về giá trị và sản lượng thì xuất khẩu mặt nghêu lại gặp khó khăn và giảm nhẹ so với cùng kì năm 2010 Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do dịch bệnh và điều kiện thời tiết dẫn đến thiếu hụt nguồn cung nguyên liệu
Biểu đồ 2.5 Thị trường xuất khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ năm 2011 (GT)
(VASEP, 2012) Năm 2011, nhuyễn thể hai mảnh vỏ là mặt hàng duy nhất trong nhóm hàng thủy sản xuất khẩu bị giảm 11,7% về giá trị so với năm trước với tổng giá trị 81,911 triệu USD Trong đó giá trị xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn điều bị sụt giảm: EU giảm gần 7%, Nhật Bản giảm 35,4%, Hàn Quốc giảm 41,7%, Đài Loan giảm 42,8%, Trung
Trang 32Quốc giảm 37,3% so với cùng kì năm trước Tháng 12/2011 nhập khẩu sang Mỹ - thị trường lớn nhập khẩu mặt hàng này của Việt Nam đã giảm 8% về giá trị so với cùng kì năm trước
Biểu đồ 2.6 Giá trị và sản lượng nghêu Việt Nam nhập vào Mỹ từ 2000 – 2011
(NOAA Fisheries, 2012) Trước năm 2004 sản phẩm nghêu nhập khẩu vào Mỹ tăng nhanh cả về số lượng và giá trị đạt đến 1.702 tấn năm 2004 Sau đó tốc độ tăng trưởng phần nào khiêm tốn và bất ổn định cho đến năm 2008 sản lượng đạt 2.348 tấn Cho đến 2011 sản lượng nghêu nhập vào Mỹ có xu hướng ổn định Đạt mức 2311.049 tấn năm 2011 tăng 0,48% so với năm 2010 Tuy vậy giá trị xuất khẩu lại có mức tăng trưởng cao Trong vòng 5 năm từ 2000 đến năm 2004 giá trị tăng từ 420 nghìn USD lên 3780 nghìn USD, tăng gấp 8 lần nhưng lại giảm 23% còn 2881 nghìn USD vào năm 2005 Từ đó đến nay giá trị xuất khẩu nghêu Việt Nam vào Mỹ luôn có xu hướng tăng khá tốt với mức tăng trưởng trung bình hàng năm từ 30 – 40% Đến năm 2011 giá trị này đạt đến 6974 nghìn USD với xu hướng tiếp tục tăng trong năm tới
Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu nghêu Việt Nam đang ngày càng quan tâm chú trọng hơn đến thương hiệu và uy tín của nghêu Việt Nam trên thị trường quốc tế Các doanh nghiệp, Hiệp hội các địa phương cùng các cơ quan chức năng trong cả nước đã và đang tăng cường việc quản lý, phát triển bền vững nguồn lợi nghêu tại các
Trang 33vùng ven biển, đặc biệt là Bến Tre - tỉnh có diện tích nuôi nghêu rộng lớn và bãi nghêu giống tự nhiên lớn nhất khu vực đông bằng sông Cửu Long và cả nước
2.4.2 Tình hình sản xuất và thương mại cá rô phi Việt Nam
Cá rô phi có nguồn gốc từ Bắc Phi là loài cá nước ngọt ăn tạp sống theo đàn Nó có nhiều ưu thế của ngành nuôi trồng thủy sản hiện nay: dễ nuôi, chi phí thấp, kích cỡ phù hợp cho thị trường cá thịt trắng và có lẽ quan trọng nhất là giá khá rẻ Loài cá này rất có lợi cho người nuôi vì chỉ cẩn tỉ lệ thức ăn thấp nhưng vẫn thu được sản lượng cao Đó là lý do tại sao cá rô phi lại phát triển rất nhanh trong một thời gian tương đối ngắn
Cá rô phi phần lớn được nuôi tập trung ở các nước Châu Á - Thái Bình Dương đóng góp hơn 75% sản lượng nuôi cá rô phi của thế giới Trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng nuôi cá rô phi lớn nhất thế giới và cũng là thị trường tiêu thụ lớn với hơn 50% sản lượng sản xuất trong nước Malaixia và Thái Lan cũng là các nước sản xuất lớn và cũng tiêu thụ theo tỷ lệ tương tự Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới như Pakistan, Banglades, Ấn Độ… và nhiều quốc gia châu Phi cũng đang phát triển mạnh sản xuất cá rô phi Đây không những là nguồn chất đạm giá rẻ mà còn là mặt hàng để xuất khẩu bên cạnh những loại thủy sản thế mạnh khác của những quốc gia này Nghề nuôi cá rô phi ở Việt Nam cũng đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều địa phương Đặc biệt là một số vùng nuôi tập trung như Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh… Hiện tại ngành thủy sản nước ta đang đối mặt với nhiều vấn đề đặc biệt là chất lượng con giống và dịch bệnh Vì vậy việc lựa chọn những đối tượng có tiềm năng như
cá rô phi để phát triển, vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa ngăn chặn được những nguy
cơ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nghề thủy sản là hết sức cần thiết
Trang 34Biểu đồ 2.7 Giá trị và sản lượng cá rô phi Việt Nam nhập vào thị trường Mỹ từ năm
2000-2011
(NOAA Fisheries, 2012)
Sản lượng và giá cá rô phi Việt Nam nhập vào Mỹ tương đối thấp nhưng lại có mức tăng trưởng khả quan với xu hướng tăng trong những năm tới Hiện nay Mỹ là thị trường nhập khẩu cá rô phi lớn nhất thế giới và cá rô phi được xếp hàng thứ tư về các sản phẩm thủy sản được tiêu dùng nhiều nhất tại Mỹ Các quốc gia xuất khẩu lớn cá rô phi vào Mỹ như Trung Quốc, Ấn Độ Thái Lan Cá rô phi là mặt hàng thủy sản được nhập khẩu lớn thứ ba vào Mỹ, sau tôm và cá hồi Nga, Mehico và cả Châu Âu cũng là thị trường có triển vọng với kim ngạch nhập khẩu cá rô phi tăng hàng năm
Cá rô phi đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thủy sản hiện nay Sản lượng cá rô phi tăng trưởng không ngừng trong thời gian qua Xét về mặt địa lý và số lượng các nước sản xuất thì đây là loại cá rất đa dạng nên nhạy cảm hơn với các biến động của thị trường
Trước năm 2009 sản lượng cá rô phi tăng trưởng rất nhanh đạt ở mức 3,14 triệu tấn Tuy nhiên sau đó tốc độ tăng trưởng phần nào khiêm tốn hơn Ngay cả trong giai đoạn tăng trưởng cao cũng đi kèm một sự suy giảm đáng kể về mức giá nhằm điều chỉnh lạm phát
Trang 35Năm 2008 việc cá rô phi chết hàng loạt ở Trung Quốc và Israel do nhiệt độ mùa đông thấp bất thường đã ảnh hưởng lớn tới ngành cá rô phi toàn cầu Vì Trung Quốc là nhà sản xuất và xuất khẩu nhiều cá rô phi nhất thế giới nên tình trạng đó làm thiếu hụt nguồn cung sản phẩm trên thị trường dẫn đến giá tăng
Thị trường cá rô phi thế giới cũng giống như hầu hết các loại thủy hải sản khác có môi trường kinh doanh khá cạnh tranh Điều này phản ánh các mức giá thay đổi tùy theo sự gia tăng về chi phí sản xuất
Kể từ năm 2007 giá thực tế của mặt hàng này cũng có xu hướng tăng nhẹ Đây là kết quả của việc nhu cầu tiêu thụ tăng trưởng nhanh trong khi để tăng nguồn cung các nước sản xuất vẫn không thể giảm được chi phí sản xuất Một nguyên nhân khác là do việc các hãng sản xuất cải tiến hoạt động sản xuất khiến chi phí cũng tăng thêm
Từ năm 2010 đến năm 2011 sản lượng cá rô phi thế giới ước tính tăng trung bình 4%/năm ở mức 3,23 triệu tấn Đến năm 2012 dự báo sản lượng sẽ tiếp tục tăng 3% ở
mức 3,34 triệu tấn Điểm nổi bật hiện nay là ngày càng nhiều trang trại tham gia nuôi
cá rô phi và đã dần hoàn chỉnh qui trình nuôi cũng như các vấn đề về giống, thức ăn hay kĩ thuật nuôi cho dù các chi phí đầu vào ngày càng cao Một khi sản lượng rô phi tăng lên sẽ giúp ổn định giá bán Với việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về chất lượng, giá cả và dễ mua, chắc chắn cá rô phi không những tăng trưởng mạnh tại thị trường
Mỹ mà sẽ còn trở thành một loài được ưa chuộng tại nhiều thị trường lớn khác trên thế giới
Trang 36Sơ đồ 3.1 Chuỗi giá trị tổng quát sản phẩm thủy sản Việt Nam
Sơ đồ 3.1 cho ta cái nhìn tổng quát về chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản Trong đó, giá bán ở mỗi mắt xích thay đổi sẽ tác động hay chịu tác động bởi giá của các mắt xích khác Khi giá bán sản phẩm tại ao tăng cao sẽ ảnh hưởng đến giá của chúng ở chợ và giá xuất khẩu Và ngược lại biến động giá ở thị trường chợ hay xuất khẩu cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá tại ao Chuỗi giá trị càng ngắn thì tổn phí càng ít, đảm bảo giá trị cũng như chất lượng sản phẩm thủy sản
Chợ bán
sỉ
Nhà chế biến
Chợ bán
lẻ Người tiêu dùng
Xuất khẩu
Trang 373 2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Mô tả số liệu
Phạm vi nghiên cứu: thời gian thực hiện đề tài từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2012 Tập trung vào giá của hai đối tượng nghêu và cá rô phi ở khu vực đồng bằng Sông Cửu Long
Số liệu sử dụng trong phân tích được lấy từ
- Nguồn số liệu thống kê về sản lượng, giá trị xuất khẩu, số liệu tổng quan về ngành thủy sản và các mặt hàng nghiên cứu được thu thập từ webside các cơ quan thống kê, cục hải quan, chi cục Thủy sản, tạp chí thủy sản…
- Các số liệu phản ánh về giá được lấy từ các chợ nông sản, hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, từ các dữ liệu của sở Nông nghệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, các webside của tổ chức thế giới…
Số liệu biểu thị giá của các sản phẩm nghiên cứu - nghêu và cá rô phi theo từng tháng qua các năm từ 2008 – 2011 trên từng thị trường trại, chợ, xuất khẩu tại Việt Nam và xuất khẩu sang Mỹ Sử dụng đơn vị tính là VNĐ/kg đối với giá nội địa và USD/kg đối với giá xuất khẩu Mỹ Trong đó, giá của một đối tượng mà nó biểu thị là giá trung bình của tháng và của cùng một loại sản phẩm ở kích cỡ trung bình
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Dùng phần mềm sử lý phân tích số liệu MS Excel 2007 để chạy các mô hình phân tích hồi qui đa biến trong nghiên cứu Bằng cách chạy các mô hình này ta có thể
dự đoán sự tương tác giá cá rô phi hay nghêu giữa các thị trường khác nhau Mô hình xác định sự tương tác giữa các giá của sản phẩm thủy sản
Trang 38i, j, m, n: chỉ số thể giá của từng loại thủy sản trên thị trường (có giá trị 1, 2, 3, 4
và ứng với 1 = tại trại nuôi, 2 = tại chợ, 3 = xuất khẩu, 4 = xuất khẩu Mỹ, điều kiện i ≠
Thị Kim Hồng và Nguyễn Minh Đức (2009) LA_AIDS được biểu diễn dưới dạng:
(3)
Trong đó:
i, j=1, 2, 3, 4, 5 với 1, 2, 3, 4, 5 lần lượt là tôm, cá tra, cá ngừ, nghêu, cá rô phi và i
≠ j
Rit: thị phần tiêu dùng của sản phẩm i tại thời gian t
Pjt: giá của sản phẩm j tại thời gian t
Yt=∑Pi*Qi: tổng chi tiêu người tiêu dùng của 5 loại sản phẩm tạo thời điểm t
Pt*: chỉ số giá chung cho 5 loại sản phẩm nghiên cứu
Ln(Yt/ Pt*)=lnY*
εit: sai số ngẫu nhiên
Mô hình này cho phép dự đoán thị trường tiêu thụ của từng loại sản phẩm trên thị trường cũng như mối quan hệ về giá giữa chúng trên thị trường đó
Trang 39Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thống kê mô tả sự biến động giá của nghêu và cá rô phi trên cá thị trường giai đoạn 2008 – 2011
Giá của hai mặt hàng nghêu và cá rô phi đều có sự biến động qua các năm trên từng thị trường Mức độ biến động khác nhau trên từng thị trường ứng với mỗi mốc thời gian Sự thay đổi giá theo dòng thời gian có xu hướng ngày càng tăng Có thể xét trên hai nhóm giá là nhóm giá nội địa gồm giá tại trại và giá tại chợ, và nhóm giá xuất khẩu là giá xuất khẩu tại Việt Nam và giá xuất khẩu sang Mỹ Nhìn chung tốc độ gia tăng của nhóm giá xuất khẩu cao hơn so với tốc độ gia tăng của nhóm giá nội địa Đặc biệt từ giữa năm 2010 các nhóm giá có xu hướng tăng với mức cao hơn so với trước
đó Có thể thấy nhu cầu của thị trường tiếp tục tăng đòi hỏi nguồn cung sản phẩm đều
kì và bảo đảm về mặt chất lượng
4.1.1 Sự biến động giá nghêu trên các thị trường