i ƯỚC LƯỢNG CHẤT THẢI TỪ HỆ THỐNG NUÔI TÔM THÂM CANH T ẠI HUYỆN CẦU NGANG, TỈNH TRÀ VINH Tác giả NGUYỄN MINH QUÂN Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành Nuôi t
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
ƯỚC LƯỢNG CHẤT THẢI TỪ HỆ THỐNG
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN MINH QUÂN
TP H ồ Chí Minh, Tháng 07/2012
Trang 2i
ƯỚC LƯỢNG CHẤT THẢI TỪ HỆ THỐNG NUÔI TÔM THÂM
CANH T ẠI HUYỆN CẦU NGANG, TỈNH TRÀ VINH
Tác giả
NGUYỄN MINH QUÂN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư
ngành Nuôi trồng thủy sản, chuyên ngành Ngư y
Giáo viên hướng dẫn:
Ts NGUYỄN VĂN TRAI
Tháng 7 năm 2012
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm khoa và các quý thầy cô khoa Thủy Sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học và thực hiện đề tài tốt nghiệp này
Xin chân thành tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Văn Trai, giáo viên khoa Thủy Sản đã hết lòng hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Đồng thời cảm ơn cậu Ngô Đức Thạnh công tác tại Chi Cục Thú Y Tỉnh Trà
Vinh, cùng toàn thể các anh chị:
Chi Cục Thú Y Tỉnh Trà Vinh
Sở Thủy Sản Tỉnh Trà Vinh Chi Cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản Tỉnh Trà Vinh Phòng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Huyện Cầu Ngang Tập thể các bạn trong lớp DH08NY, đặc biệt là bạn Nguyễn Công Bằng,
bạn Cù Minh Trí và bạn Huỳnh Xuân Hiếu đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn
thành đề tài này
Do thời gian và kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi có sai sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các
bạn
Trang 4iii
TÓM TẮT
Mục tiêu của đề tài là mô tả sơ lược những nét chính trong kỹ thuật nuôi tôm nước lợ và ước tính lượng chất thải từ ao nuôi tôm thâm canh tại Huyện Cầu Ngang, Tỉnh Trà Vinh, để bổ sung vào cơ sở dữ liệu giúp địa phương có kế hoạch quản lý
tốt hơn nghề nuôi tôm ven biển Phương pháp ước lượng là dựa vào điều tra phỏng
vấn thu số liệu về hiện trạng kỹ thuật nuôi và kết hợp với số liệu thứ cấp Kết quả phân tích số liệu cho thấy:
100 % số hộ nuôi tôm không thay nước trong quá trình nuôi mà chỉ xả bỏ nước thải vào cuối vụ nuôi Hầu hết các hộ nuôi tôm thâm canh không có ao lắng xử
lý bùn thải và nước thải trước khi xả ra ngoài tự nhiên Mật độ thả giống trung bình khoảng 22 – 25 con/m2
100 % số hộ sử dụng thức ăn công nghiệp Mỗi năm chỉ nuôi một vụ Thời gian nuôi trung bình là 135 ngày/vụ Thời gian thả giống bắt đầu trong khoảng tháng 4 đến tháng 5, kết thúc trong khoảng tháng 8 đến tháng 9
Lượng nước thải là 14.375 ± 1.427 m3
/ha (12.000 – 18.000 m3/ha) Lượng bùn thải là 393 ± 69,2 m3
/ha (300 – 630 m3/ha)
Với các điều kiện nuôi thâm canh ở Cầu Ngang và kế thừa kết quả của những nghiên cứu trước đây ở địa phương khác, chúng tôi quy đổi cách ước tính hàm lượng chất hữu cơ và thể hiện bằng cách chỉ tiêu chất lượng nước, kết quả như sau: lượng TN ước tính dao động từ 244.278,3kg đến 977.113,2 kg, TP dao động từ 30.127,66 kg đến 374.560,1 kg BOD5, COD, TSS lần lượt là 2.108.936 kg, 6.261.667 kg và 9.526.854 kg
Chúng tôi nhận thấy hàm lượng các chất hữu cơ trong nước thải và bùn thải
ao nuôi thâm canh khá cao, có khả năng gây ra sự phú dưỡng hóa, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến hệ sinh thái khi được xả trực tiếp ra môi trường tự nhiên
Trang 5iv
MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
Chương 1GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
Chương 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sơ lược tình hình nuôi tôm 3
2.1.1 Tình hình nuôi tôm trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình nuôi tôm tại Việt Nam 5
2.2 Sơ lược về Huyện Cầu Ngang, Tỉnh Trà Vinh 8
2.2.1 Điều kiện tự nhiên; kinh tế - xã hội 8
2.2.1.1 Khí hậu, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 8
2.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 9
2.2.2 Hiện trạng sản xuất ngành thủy sản 10
2.2.3 Kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản của huyện trong năm 2012 11
2.3 Tác động của nghề nuôi tôm lên môi trường 12
2.3.1 Sơ lược nguồn gốc chất thải từ hệ thống nuôi tôm thâm canh 12
2.3.2 Tác động của nghề nuôi tôm lên môi trường 13
2.3.2.1 Tàn phá rừng ngập mặn, sinh cảnh và nguồn lợi tự nhiên 13
2.3.2.2 Tồn lưu thuốc và hóa chất 15
Trang 6v
2.3.2.3 Dịch bệnh 15
2.3.2.4 Phú dưỡng và ô nhiễm hữu cơ, vô cơ từ thức ăn và chất thải 15
Chương 3PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thời gian và địa điểm 18
3.2 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu 18
3.2.1 Thu thập số liệu sơ cấp 18
3.2.2 Số liệu thứ cấp 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 19
3.4 Phân tích kết quả và xử lý số liệu 19
Chương 4KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Tình hình nuôi tôm sú thâm canh huyện Cầu Ngang năm 2011 21
4.1.1 Sơ lược qui trình nuôi tôm sú công nghiệp ở huyện Cầu Ngang 24
4.1.2 Tóm tắt các giai đoạn và quá trình nuôi tôm sú công nghiệp ở Cầu Ngang 25
4.2 Ước tính chất và lượng chất thải 27
4.3 Tác động của chất thải lên môi trường 31
Chương 5KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
5.1 Kết Luận 36
5.2 Đề Nghị 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
PHỤ LỤC 42
Trang 7vi
FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations WWF: World Widelife Fund for Nature
SEAT: Sustaining Ethical Aquaculture Trade
GOAL: Global Outlook for Aquaculture Leadership
SUMA: Support of Brackish Water and Marine Aquaculture TCVN: Vietnamese standards
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
UBND: Ủy Ban Nhân Dân
DO: Dissolved Oxygen
NN & PTNN: Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
TN: Total Nitrogen
TP: Total Phosphorus
GAA: Global Aquaculture Aliance
BOD5: Biochemical Oxygen Demand
COD: Chemical Oxygen Demand
TSS: Total Suspended Solid
N-NH3: Nitrogen ammonia
FCR: Food Conversion Ratio
Trang 8vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm địa lý và khí hậu Việt Nam có nhiều thuận lợi cho nuôi tôm 6
B ảng 4.1: Tổng diện tích nuôi tôm huyện Cầu Ngang năm 2011 21
Bảng 4.2: Tổng hợp thu hoạch tôm sú năm 2011 22
Bảng 4.3: Tổng hợp thiệt hại tôm sú huyện Cầu Ngang năm 2011 23
Bảng 4.4: Thời gian nuôi tôm sú của các hộ nông dân tại Cầu Ngang, Trà Vinh 24
Bảng 4.5: Tóm tắt kết quả lượng thải (m3 /ha) 28
B ảng 4.6: Số liệu cơ sở được tổng hợp từ nhiều tác giả dùng cho việc tính toán (đơn vị: kg/tấn tôm) 29
Bảng 4.7: Lượng chất thải phát sinh trên một ha diện tích nuôi tôm 30
Trang 9viii
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tôm nuôi trên thế giới của các quốc gia 3
Biểu đồ 2.2: Sản lượng tôm các khu vực trên thế giới 4
Bi ểu đồ 2.3: Sản lượng tôm Việt Nam và các nước Châu Á qua các năm 5
Biểu đồ 2.4: Sản lượng tôm nuôi Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2007 6
Biểu đồ 2.5: Xuất khẩu tôm Việt Nam năm 2011 8
Trang 10ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ quy mô sản lượng tôm nuôi một số tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu
Long năm 2011 7
Hình 2.2: Bản đồ huyện Cầu Ngang 10
Hình 2.3: Hệ thống nuôi tôm ở Cần Giờ và tác động môi trường của nó 12
Hình 4.1: Sơ đồ tóm tắt qui trình nuôi tôm sú thâm canh ở Huyện Cầu Ngang 25
Hình 4.2: Bùn được đưa ra khỏi ao sau khi kết thúc vụ nuôi 27
Trang 111
Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Những năm gần đây ngành nuôi trồng thủy sản đã trở thành một ngành kinh
tế quan trọng, có giá trị xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam Trong đó tôm sú chiếm một giá trị xuất khẩu cao, góp phần quan trọng cho sự phát triển đất nước, được xem là một ngành kinh tế mũi nhọn mang lại lợi nhuận cao cho khu vực đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng
Trà Vinh là một trong những tỉnh ven biển có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của tôm sú Chính vì thế diện tích nuôi tôm trong tỉnh ngày càng được mở rộng, nhiều hộ nuôi đã chuyển từ mô hình nuôi tôm
sú quảng canh, quảng canh cải tiến sang mô hình nuôi tôm sú công nghiệp, đặc biệt
là huyện Cầu Ngang – một trong những nơi có diện tích nuôi tôm công ngiệp lớn trong tỉnh Cụ thể toàn huyện có 1.830 ha mặt nước nuôi tôm công nghiệp, chiếm 39.4 % tổng diện tích nuôi tôm toàn huyện (Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Huyện Cầu Ngang, 2011)
Tuy nhiên nuôi tôm sú ở tỉnh Trà Vinh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và chưa mang tính bền vững Diện tích có khả năng phát triển chưa được khai thác triệt để, phát triển còn manh mún; chưa hình thành được vùng nuôi tập trung;
sự đan xen giữa các hình thức nuôi dẫn đến tình trạng khó quản lý được dịch bệnh;
ý thức về bảo vệ môi trường chưa cao; kiến thức sử dụng thuốc, hóa chất chưa đúng
mức là những thực trạng đang gặp phải, ảnh hưởng rất lớn đến nghề nuôi Những vấn đề này đang là nỗi lo của các nhà quản lý địa phương, bởi lẻ chúng là nguyên
Trang 12Nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu cho việc quản lý chất thải nuôi tôm giúp ổn định môi trường, được sự chấp thuận của khoa Thủy Sản – Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, chúng tôi thực hiện đề tài “Ước lượng chất thải từ hệ thống nuôi tôm thâm canh tại Huyện Cầu Ngang, Tỉnh Trà Vinh”
1.2 Mục tiêu đề tài
- Mô tả sơ lược vùng nuôi tôm thâm canh ở Huyện Cầu Ngang, Tỉnh Trà Vinh
- Ước lượng chất thải từ hệ thống nuôi tôm thâm canh ở Huyện Cầu Ngang
- Phân tích tác động của chất thải nuôi tôm lên môi trường
Trang 133
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược tình hình nuôi tôm
2.1.1 Tình hình nuôi tôm trên thế giới
Trên thế giới có hai khu vực nuôi tôm lớn nhất là Tây bán cầu (gồm các nước Châu Mỹ Latinh) và Đông bán cầu (gồm các nước Nam Á và Đông Nam Á)
Các quốc gia có sản lượng tôm lớn nhất thế giới năm 2007 là Trung Quốc (1.242.000 tấn), Thái Lan (501.000 tấn), và Việt Nam (349.000 tấn), Indonesia (326.000 tấn), và Ấn Độ (132.000 tấn) (FAO, 2007)
Biểu đồ 2.1: Tôm nuôi trên thế giới của các quốc gia
(Nguồn: Matsuda, 2008)
Trang 144
Theo số liệu thống kê từ Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp quốc (FAO), năm
2008, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam và Indonesia đã sản xuất ba phần tư sản lượng tôm nuôi thế giới
Tính chung cho toàn Châu Á, theo tổ chức GAA sản lượng tôm nuôi năm
2011 đạt trên 2,5 triệu tấn và năm 2012 là gần 2,8 triệu tấn Còn tại khu vực Châu
Mỹ Latinh, sản lượng tôm năm 2011 ước đạt gần 3 triệu tấn và năm 2012 sẽ tăng lên gần 3,1 triệu tấn
Bi ểu đồ 2.2: Sản lượng tôm các khu vực trên thế giới
(Nguồn: FAO, 2011 và GOAL, 2011) Sản lượng tôm các nước và khu vực (Biểu đồ 2.2) giai đoạn 2005 - 2009 tăng đều, với tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm lớn hơn 7 % Năm 2010, ước tính sản lượng ngành tôm giảm đến 30 % vì đã có nhiều báo cáo cho biết tỷ lệ chết cao do mưa lớn, quản lý ao nuôi và sục khí kém Dịch bệnh được báo cáo xảy ra tại các trại nuôi ở Trung Quốc và Việt Nam Các nước bị ảnh hưởng nặng nhất bao gồm Trung Quốc, Việt Nam và Indonesia (Valderrama và ctv, 2012)
Trang 155
Tuy nhiên, các quốc gia Châu Á được dự đoán tình hình sẽ khả quan hơn trong năm 2012, 2013 Hiện tại, dịch bệnh trên tôm được xác nhận là yếu tố quan trong nhất ảnh hưởng đến nền công nghiệp nuôi tôm, sự tiêu tốn thức ăn xếp hàng thứ 2 và giá cả thị trường xếp hàng thứ 3
2.1.2 Tình hình nuôi tôm tại Việt Nam
Theo số liệu thống kê từ Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO), năm
2011 Việt Nam hiện đang là nước đứng hàng thứ 3 (Biểu đồ 2.3), sau Trung Quốc
và Thái Lan trong khu vực Châu Á về sản lượng tôm (FAO, 2011)
Biểu đồ 2.3: Sản lượng tôm Việt Nam và các nước Châu Á qua các năm
(Nguồn: FAO, 2011 và GOAL, 2011) Trong suốt mười năm qua sản lượng tôm nuôi tăng nhanh hơn so với sản lượng đánh bắt (Biểu đồ 2.4) Từ năm 2008, diện tích nuôi tôm đã giảm trong khi
sản lượng đã tăng lên Diện tích nuôi tôm trong năm 2009 đã giảm 9 % còn 580.000
ha, trong khi sản lượng tăng 10 % lên 380.000 tấn (Nguồn: Phạm Thị Anh tổng
hợp, 2010)
Trang 166
Biểu đồ 2.4: Sản lượng tôm nuôi Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2007
(Nguồn: Phạm Thị Anh tổng hợp, 2010)
Việt Nam có đường bờ biển dài 3.444km trải dài với nhiều cửa sông, rừng
ngập mặn, đầm phá…thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm
Bảng 2.1: Đặc điểm địa lý và khí hậu Việt Nam có nhiều thuận lợi cho nuôi tôm
(Nguồn: Vũ Dũng Tiến và Griffiths, 2010)
Vùng ven biển: rừng ngập mặn, vịnh, đầm phá, vùng triều 700.000 ha
Hồng và rất nhiều các hệ thống sông nhỏ hơn
Trang 177
Nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL chiếm một vai trò quan trọng trong ngành nuôi trồng thủy sản của Việt Nam, trong số đó có nuôi tôm (Hình 2.1) Năm 2011 ngành công nghiệp tôm tại ĐBSCL đã chiếm 92 % diện tích nuôi và 75 % sản lượng tôm nuôi cả nước (https://www.seatglobal.eu)
Hình 2.1: Bản đồ quy mô sản lượng tôm nuôi một số tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu
Long năm 2011 (Nguồn:https://www.seatglobal.eu) Tôm Việt Nam được xuất sang 91 thị trường, trong đó Nhật vẫn đứng đầu với giá trị trên 600 triệu USD, chiếm 25,3 % tỷ trọng, tiếp đến Mỹ (558,5 triệu USD), EU (412,8 triệu USD), Trung Quốc (223,6 triệu USD) và Hàn Quốc (157,5 triệu USD) (nguồn: https://www.agroviet.gov.vn)
Trang 188
Bi ểu đồ 2.5: Xuất khẩu tôm Việt Nam năm 2011
(Nguồn: https://www.agroviet.gov.vn)
2.2 Sơ lược về Huyện Cầu Ngang, Tỉnh Trà Vinh
2.2.1 Điều kiện tự nhiên; kinh tế - xã hội
2.2.1.1 Khí hậu, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Huyện Cầu Ngang nằm trong khu vực ĐBSCL nên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ
của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa và mang tính chất khí hậu hải dương đặc thù
của vùng ven biển Trong năm có hai mùa mưa nắng rõ rệt, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
Huyện Cầu Ngang, Tỉnh Trà Vinh là Huyện đồng bằng ven biển, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, tiếp giáp biển đông, có 15 km bờ biển, cách thị xã Trà Vinh
24 km về phía biển đông nam, diện tích tự nhiên 32.180 ha, trong đó đất nông nghiệp là 26.931 ha
Huyện Cầu Ngang nằm về phía Đông Nam Tỉnh Trà Vinh và nằm bên bờ sông Cổ Chiên và cửa Cung Hầu, có vị trí hành chánh rất thuận lợi, phía Đông giáp
biển Đông, tỉnh Bến Tre và một phần huyện Châu Thành, phía Tây giáp huyện Châu Thành và Trà Cú, phía Nam giáp huyện Trà Cú và Duyên Hải, phía Bắc giáp huyện Châu Thành
Trang 199
Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện: 31.885,97 ha, chiếm 14,39 % diện tích toàn tỉnh (221.515 ha); phần lớn đất đai của huyện là đất nông nghiệp, với 27.569,55 ha chiếm 86,46 % diện tích tự nhiên của huyện, đất phi nông nghiệp có 4.303,63 ha, chiếm 13,5 % diện tích đất tự nhiên của huyện, hiện còn 11,79 ha đất chưa sử dụng chiếm 0,03 % diện tích đất tự nhiên của huyện Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt của huyện chủ yếu được cung cấp từ sông Cổ Chiên, sông Thâu Râu và sông Vinh Kim và nguồn nước mưa, vào mùa khô do tác động của thủy triều đưa nước mặn từ biển xâm nhập sâu vào nội địa làm nhiễm mặn nước khu vực cửa sông nên khả năng cung cấp nước ngọt cho sinh họat và sản xuất
có gặp khó khăn Nguồn nước ngầm khá phong phú, với 3 tầng chứa nước thay đổi
từ 60 - 400 m, phổ biến từ 90 - 120 m; khả năng khai thác 97.000 m3
/ngày
Thủy sản: Huyện Cầu Ngang thuộc vùng đồng bằng ven biển và giáp với sông Cổ Chiên nên chịu sự chi phối bởi chế độ triều cường biển Đông thông qua sông Cổ Chiên, nên sự xâm nhiễm của nước mặn vào mùa khô đã hạn chế đến việc khai thác và sử dụng đất nông nghiệp, nhưng đây lại là lợi thế để phát triển nuôi trồng thủy sản (đặc biệt là nuôi tôm sú), từ đó có nguồn nguyên liệu dồi dào để phát triển công nghiệp chế biến Ngoài ra huyện còn có 15 km đường bờ biển thuộc khu vực các xã Vinh Kim, Mỹ Long Bắc, Mỹ Long Nam và thị trấn Mỹ Long, đây cũng
là lợi thế của huyện trong việc phát triển ngành khai thác và đánh bắt thủy hải sản
xa bờ Tổng sản lượng năm 2011 đạt 49.750 tấn (trong đó có 21.000 tấn tôm), đạt 101,2 % kế hoạch, tăng 12,9 % so cùng kỳ Bao gồm: Nuôi trồng thuỷ sản: tôm sú đạt sản lượng 13.550 tấn, vượt 4,2 % kế hoạch Nuôi nhử tự nhiên và khai thác nội đồng sản lượng đạt 33.000 tấn tôm cá các loại, đạt 100 % kế hoạch, trong đó có khoảng 3.000 tấn tôm Khai thác biển: sản lượng đạt 25.000 tấn tôm, cá các loại (có 7.250 tấn tôm, 500 tấn mực), đạt 101,5 % kế hoạch
2.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Theo số liệu thống kê đến năm 2005, dân số huyện Cầu Ngang ước khoảng 136.244 người Sự phân bố dân cư trên địa bàn huyện không đồng đều, mật độ dân
số bình quân là 428 người/km2
Trang 20
10
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của huyện như đầu tư xây dựng lưới điện, nước sạch sinh hoạt, trường học, bệnh viện…Trong năm 2007, huyện đã đầu tư xây dựng hoàn thành đưa vào 27/28 công trình xây dựng cơ bản, với tổng vốn 7,44 tỷ đồng, ngoài
ra trên địa bàn huyện còn được tỉnh và trung ương đầu tư một số công trình trọng điểm, với tổng vốn đầu tư khoảng 216 tỷ đồng Đồng thời tiến hành phê duyệt danh mục xây dựng cơ bản năm 2008, với 18 công trình bức xúc phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện, tổng vốn đầu tư 8,020 tỷ đồng
Huyện Cầu Ngang là một đơn vị hành chính được xác định là một trong những đơn vị sản xuất nuôi trồng thủy sản chủ yếu của tỉnh Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang nuôi trồng thủy sản diễn ra khá nhanh, một bộ phận dân cư được cải thiện thu nhập rõ rệt
Hình 2.2: Bản đồ huyện Cầu Ngang
(Nguồn: https://www.gis.chinhphu.vn )
2.2.2 Hiện trạng sản xuất ngành thủy sản
Hiện nay phong trào nuôi tôm càng xanh đang phát triển tại vùng nước ngọt
và lợ của huyện đem lại hiệu quả kinh tế lớn, với các hình thức nuôi như nuôi trong
ao, mương vườn, nuôi xen canh trong ruộng lúa, nuôi luân vụ trong ao tôm
Trang 21thả nuôi với số lượng con giống là 13.198.000 con trên diện tích là 157 ha, ước sản lượng thu hoạch 800 tấn Về hiện trạng nuôi tôm sú, trong vụ nuôi 2011 đã có 6.491 lượt hộ thả nuôi, với số lượng con giống là 686.882.000 con trên diện tích mặt nước 4.646,4 ha, trong đó: diện tích nuôi công nghiệp là 1.829,8 ha (chiếm 39,38 % tổng diện tích thả nuôi toàn huyện), với số lượng 392.420.000 con giống
2.2.3 Kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản của huyện trong năm 2012
Các chỉ tiêu cụ thể: tổng sản lượng khai thác nuôi trồng 52.620 tấn, trong đó
gồm có sản lượng khai thác biển là 26.800 tấn, có 4.400 tấn tôm Sản lượng khai thác nội đồng và nuôi nhử tự nhiên là 6.800 tấn Sản lượng nuôi trồng là 19.020 tấn, trong đó có 14.850 tấn tôm
Các giải pháp thực hiện để phát triển ngành thủy sản : đối với tôm sú, tập trung bố trí thả nuôi ở khu vực phía ngoài đê bao chống triều cường của xã Vinh Kim, Mỹ Long Bắc, Mỹ Long Nam, Đối với khu vực trong đê bao, bố trí nuôi ở
những diện tích có điều kiện nguồn nước tốt như : Hiệp Mỹ Đông, Hiệp Mỹ Tây, Thuận Hoà, Long Sơn, Thạnh Hoà Sơn, một phần Mỹ Long Nam và Mỹ Hoà, cần
bố trí nuôi tập trung ở từng khu vực, không phát triển tràn lan Riêng khu vực chuyển đổi cánh Đồng Tây thuộc 2 xã Mỹ Long Nam và Hiệp Mỹ Đông vận động
bà con dồn điền đổi thửa, thiết kế ao, hồ đúng theo quy hoạch lúa - tôm Nhân rộng
mô hình nuôi tôm sú công nghiệp ở xã Mỹ Long Nam ra các vùng có điều kiện tương tự Đối với vùng nước ngọt trong đê cần tập trung chỉ đạo khôi phục lại diện tích nuôi tôm càng xanh, ước ngọt cá trong mùa mưa
Trang 2212
Huyện có các dự án về nuôi trồng thủy sản đang kêu gọi đầu tư vào như dự
án nuôi nghêu trên Cồn Nạn 1.500 ha, dự án nuôi tôm sú công nghiệp Mỹ Long Nam 150 ha, dự án nuôi tôm sú công nghiệp Hiệp Mỹ Tây 300 ha
2.3 Tác động của nghề nuôi tôm lên môi trường
2.3.1 Sơ lược nguồn gốc chất thải từ hệ thống nuôi tôm thâm canh
Chất thải trong hệ thống nuôi tôm thâm canh từ nhiều nguồn như phân bón, thuốc trừ sâu, hóa chất, thuốc kháng sinh, thức ăn dư thừa, phân tôm và được liệt kê trong hình 2.3
Hình 2.3: Hệ thống nuôi tôm ở Cần Giờ và tác động môi trường của nó
(Nguồn: Anh và ctv, 2010)
Hình 2.3 mô tả một ao nuôi thâm canh tôm sú điển hình ở Huyện Cần Giờ với diện tích 5.000 m2 (50 x 100 m), mực nước sâu 1,5 m, sau thời gian 1 tháng
Trang 2313
nuôi, 15 % lượng nước được thay mỗi 10 ngày, mật độ 20-40 con/m2
Sản lượng trung bình 5,3 tấn/ha/năm
từ những nguồn như: thức ăn dư thừa, thuốc và hóa chất, phân bón
2.3.2 Tác động của nghề nuôi tôm lên môi trường
Năm 2010 sản lượng tôm toàn thế giới đạt 3,39 triệu tấn (theo Aquaculture the advocate, 2011), nếu so với sản lượng tôm nuôi thế giới năm 1990 là 632.900 tấn (Rosenberry, 1992) thì trong suốt thời gian 20 năm, ngành công nghiệp nuôi tôm bùng nổ nhanh chóng Cùng với sự phát triển nhanh chóng này là những vấn đề
về môi trường như bùng phát dịch bệnh, rừng ngập mặn bị tàn phá, mặn hóa nguồn nước ngầm, ô nhiễm môi trường, giảm độ đa dạng sinh học
Một số nước có ngành công nghiệp nuôi tôm phát triển mạnh như Đài Loan năm 1987, Philippines năm 1989, Indonesia giai đoạn 1991-1992, Trung Quốc năm
1993, đều phải đối mặt với sự ô nhiễm và dịch bệnh, chẳng hạn như hệ sinh thái rừng ngập mặn bị mất, phú dưỡng hóa nguồn nước, hóa chất tồn lưu và vi khuẩn kháng kháng sinh (Primavera, 1997)
2.3.2.1 Tàn phá rừng ngập mặn, sinh cảnh và nguồn lợi tự nhiên
Trên thế giới: Rừng ngập mặn là hệ sinh thái vô cùng quan trọng ở vùng ven
biển nhiệt đới Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh nghề nuôi tôm ở các quốc gia đã làm suy kiệt nguồn tài nguyên này Ở Thái Lan trong giai đoạn 1961 – 1993 đã có đến 54,7 % diện tích rừng bị mất đi do nghề nuôi tôm (Menasveta, 1997) Ở
Trang 24Tại Việt Nam: Mặc dù công nghiệp tôm là ngành góp phần thúc đẩy cho cả
nền nông nghiệp đất nước, sản lượng và năng suất không ngừng gia tăng, giúp nền kinh tế quốc gia thu được nhiều ngoại tệ Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của nghề nuôi tôm ở Việt Nam chưa tương xứng với trình độ kỹ thuật, quản lý, ý thức… của người nuôi đã dẫn đến những tác hại nặng nề
Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi tôm đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến rừng ngập mặn Việt Nam Một trong những nguyên nhân chủ yếu do phá rừng làm đầm nuôi tôm Đặc biệt là ở Cà Mau thì trong 12 năm từ 1983 đến 1995 đã mất hơn 66.000 ha cho nuôi tôm và các hoạt động khác (Phan Nguyên Hồng, 1999) Ở khu vực Minh Hải tại Việt Nam thì có khoảng 5.000 ha rừng/năm bị mất thời điểm năm 1981 và tăng lên đến 120.000 ha/năm vào năm 1987 (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2009)
Những hậu quả của việc đánh mất rừng đước có thể kể ra là: làm bờ biển bị xói mòn và ngập lụt; làm thay đổi mô thức tưới tiêu tự nhiên; làm cho nước mặn tiến sâu vào các dòng sông; và làm thay đổi môi trường sống của nhiều loài thủy sinh, đe dọa nghiêm trọng đến bảo tồn đa dạng sinh học và an ninh lương thực
Mất rừng đước còn làm xấu đi môi trường nuôi trồng thủy sản, giảm năng suất và chất lượng thủy sản, làm mất đi cơ hội kiếm sống của cư dân nghèo do mất nơi sinh sống nhiều loài thủy sản Việc khai thác nguồn lợi trực tiếp và quá mức như đánh bắt tôm giống, tôm bố mẹ, hay việc khai thác cá biển làm nguồn đạm trong chế biến thức ăn nuôi tôm cũng là một vấn đề rất đáng lo ngại hiện nay
Trang 2515
2.3.2.2 Tồn lưu thuốc và hóa chất
Các loại hóa chất dùng trong nuôi tôm có thể phân thành các nhóm như thuốc phòng bệnh, hóa chất tiệt trùng, các hợp chất xử lý nước và đất, chất kích thích tảo phát triển và các chất phụ gia trong thức ăn Dùng thuốc không đúng cách
và dùng quá liều các hóa chất sẽ gây độc cho nhiều đối tượng không chỉ là tôm nuôi
mà ngay cả nguy hại cho người tiêu dùng hay gây ra hiện tượng kháng thuốc hoặc
tồn lưu thuốc (Primavera, 1998) Graslunch và Bengtsson (2001) cho biết có trên 44 loại hóa chất và thuốc được sử dụng cho nuôi tôm ở Châu Á và có nhiều chất kháng sinh và hợp chất đồng có nguy cơ gây hại rất lớn cho người và môi trường Lê Xuân Sinh và Nguyễn Thị Phương Nga (2005) cho biết có trên 938 sản phẩm hóa chất và thuốc thương mại sử dụng cho nuôi tôm ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
2.3.2.3 Dịch bệnh
Khi nghề nuôi tôm càng thâm canh thì đi kèm với sự bộc phát dịch bệnh và ngày càng trở nên rất nguy hiểm Dịch bệnh đã gây ra những tổn thất nặng nề cho nghề nuôi tôm trong những năm 1990 – 1993 ở nhiều nước Châu Á và Việt Nam
Điển hình như năm 1992, Trung Quốc có sản lượng tôm đạt 150.000 tấn nhưng đến năm 1993 lại bị thiệt hại nặng nề do dịch bệnh và đã làm sản lượng giảm 50% so với năm 1992
Tình hình dịch bệnh trên tôm ở Việt Nam theo thống kê của ngành chuyên môn, sáu tháng đầu năm 2012, đã có trên 38.000 ha diện tích nuôi bị bệnh, trong đó tôm sú là 35.823 ha, tôm thẻ chân trắng 2.499 ha tập trung tại các tỉnh Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Long An, Kiên Giang chủ yếu dưới diện tích nuôi theo hình
thức công nghiệp, bán công nghiệp (Nguồn: Tổng cục Thủy sản, 2012)
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long với tổng diện tích nuôi là 602.416 ha chiếm
91 % số diện tích cả nước thì tổng diện tích tôm nuôi bị thiệt hại là 97.000 ha, tỷ lệ thiệt hại là 16,1 % cả vùng ĐBSCL (Nguồn: Tổng cục Thủy sản, 2012)
2.3.2.4 Phú dưỡng và ô nhiễm hữu cơ, vô cơ từ thức ăn và chất thải
Trong nuôi tôm sú, càng thâm canh thì mức độ ô nhiễm càng lớn do lượng chất thải ra càng nhiều
Trang 2616
Thức ăn viên đóng vai trò quan trọng trong nuôi tôm thâm canh, chiếm 50 -
60 % chi phí sản xuất trong phần lớn các trại tôm (Chanratchakool và ctv, 1999) và cũng đóng góp không nhỏ trong việc phát sinh và tích lũy chất thải trong ao tôm thâm canh Nitơ và Phospho là những nguyên tố chủ yếu trong chất thải bắt nguồn
từ thức ăn Việc cho thức ăn quá nhiều, tính chất nguồn nước không ổn định, thức
ăn dễ tan, thức ăn khó hấp thu và khả năng duy trì Nitơ… là những yếu tố liên quan với nước thải có chứa nhiều Nitơ và Phospho
Trong nuôi tôm bán thâm canh do còn dựa vào thức ăn tự nhiên và mật độ nuôi thấp nên lượng đạm và lân từ thức ăn chiếm lần lượt 76 % và 52 % tổng lượng đạm đầu vào của ao, lượng đạm và lân tích lũy trong tôm thu hoạch là 35,5 % và 6,1
% tổng lượng đạm và lân đầu ra (Martinez-Cordero và Leung, 2004)
Trong nuôi tôm thâm canh, do nuôi ở mật độ cao và sử dụng thức ăn viên công nghiệp hoàn toàn nên lượng đạm và lân từ thức ăn chiếm lần lượt 93 % và 51
% tổng lượng đạm đầu vào của ao nhưng lượng đạm và lân tích lũy trong tôm thu hoạch lại rất thấp, lần lượt là 16,7 – 21 % và khoảng 6,4 % tổng lượng đạm và lân đầu ra (Primavera, 1998; Nguyễn Thanh Long và Võ Thanh Toàn, 2006) Một lượng rất lớn đạm và lân tích lũy trong bùn đáy (31 % đạm và 83,7 % lân) và nước
xả lúc thu hoạch (35 % đạm và 9,9 % lân)
Theo Primavera (1998) thì lượng chất thải rắn thải ra từ ao tôm là 204 tấn/ha/vụ Còn theo Yang Yi (2007) thì để sản xuất một tấn tôm sẽ thải ra môi trường 29 tấn chất thải rắn
Từ những nghiên cứu trên cho chúng ta nhận thấy nếu lượng chất thải hòa tan và lượng chất thải rắn không được quản lý tốt sẽ là nguy cơ rất lớn gây xáo trộn chu trình chuyển hóa dinh dưỡng , gây phú dưỡng, ô nhiễm môi trường, lây lan và bùng phát dịch bệnh
Do đó, vấn đề về môi trường đã trở thành một mối đe doạ đối với sự phát triển của nghề nuôi tôm Trước nguy cơ này các nhà khoa học, nhà sản xuất đã đầu
tư tiền bạc, thời gian để nhằm hạn chế dịch bệnh và tìm ra những phương pháp nuôi
mới, nuôi sinh thái để hạn chế lượng chất thải, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường giúp
Trang 2717
ngành nuôi tôm ngày càng phát triển một cách bền vững hơn Tuy nhiên, hiện nay nghề nuôi tôm tại Việt Nam vẫn dựa chủ yếu vào hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh để tạo ra năng suất và sản lượng lớn cho ngành xuất khẩu thủy sản; trong khi đó các biện pháp xử lý chất thải vẫn chưa hiệu quả Do vậy, việc tìm hiểu hiện trạng kỹ thuật và ước lượng chất thải từ nuôi tôm tại Cầu Ngang, Trà Vinh vẫn đang
là nhu cầu bức bách nhằm bổ sung vào cơ sở dữ liệu cho các nhà quản lý địa phương, để từ đó đề ra biện pháp quản lý chất thải tốt hơn tại các vùng nuôi tập trung
Trang 2818
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm
Thời gian: đề tài được tiến hành từ tháng 3/2012 đến tháng 7/2012
Địa điểm: huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh
3.2 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu
Tiến hành điều tra thu số liệu sơ cấp bằng phương pháp phỏng vấn nông dân
kết hợp với quan sát thực địa và thu số liệu thứ cấp tại các cơ quan quản lý địa phương và các nguồn khác Đây là các nguồn số liệu quan trọng cho việc phân tích
của đề tài
3.2.1 Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn các chủ hộ nuôi tôm thâm canh 40 hộ nuôi tôm thâm canh được chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn trực tiếp và điền thông tin vào các bảng câu hỏi soạn sẵn (xem phụ lục), đồng thời khảo sát trại nuôi để có số liệu về: diện tích trại, diện tích ao, độ sâu mực nước ao nuôi, loại thức
ăn sử dụng, năng suất và sản lượng tôm thu hoạch, chiều sâu lớp bùn đáy tích lũy,
kiểu thay nước v.v
Thông qua việc tham vấn các cán bộ quản lý địa phương về quy trình nuôi,
xử lý chất thải sau thu hoạch của những hộ nuôi trong khu vực khảo sát, biện pháp
quản lý vùng nuôi, v.v., để bổ sung và kiểm chứng với số liệu thu từ phỏng vấn nông dân
3.2.2 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm (1) thu thập từ Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Huyện Cầu Ngang, các thông tin về:
Trang 2919
tổng diện tích ao nuôi trong vùng, sản lượng thu hoạch, báo cáo tổng hợp thả giống, báo cáo thu hoạch…và những thông tin tổng quát có liên quan đến việc quản lý môi trường vùng nuôi và nghề nuôi (2) từ các bài báo cáo nghiên cứu khoa học về mối quan hệ giữa hệ thống nuôi tôm thâm canh với ô nhiễm môi trường
3.3 Nội dung nghiên cứu
Số liệu thu được từ việc điều tra phỏng vấn và các nguồn thứ cấp được sử
dụng để tổng hợp và sơ lược mô tả vùng nuôi về mặt kỹ thuật và các biện pháp quản
lý môi trường của địa phương
Ngoài ra, việc ước tính các chất thải từ ao nuôi tôm cũng dựa vào số liệu điều tra phối hợp với số liệu thứ cấp Lượng nước và bùn đáy được ước tính căn cứ trên thực tế của mô hình sản xuất ở địa phương Phần ước tính hàm lượng các vật
chất chứa trong chất thải được dựa vào các nguồn được tổng hợp từ tài liệu đã công
bố và giả thiết về sự tương đồng của các điều kiện hệ thống nuôi Chúng tôi sử dụng các tài liệu chính như Nguyễn Văn Trai, 2008 “The Influences of Shrimp Farming and Fishing Practices on Natural Fish Conservation in Can Gio, Ho Chi Minh City, Vietnam” và Phạm Thị Anh, 2010, “Mitigating water pollution in Vietnamese aquaculture production and processing industry The case of pangasius and shrimp” cùng một số tác giả khác Các tác động môi trường do ảnh hưởng của chất thải nuôi tôm tại địa phương cũng được phân tích
3.4 Phân tích kết quả và xử lý số liệu
Ước tính các số trung bình, trị số lớn nhất, nhỏ nhất và độ lệch chuẩn (SD) của lượng chất thải từ vùng nghiên cứu, kết hợp với số liệu thứ cấp và các giả thuyết để ước tính các chỉ tiêu chất thải từ nuôi tôm của vùng Các số liệu quan
trọng đưa vào tính toán như: lượng nước sử dụng, lượng bùn đáy ao, lượng nước thải ra, hàm lượng các chất hữu cơ trong nước thải, v.v
Lượng nước thải được ước tính bằng thể tích nước tại thời điểm thu hoạch Các số liệu về diện tích mặt nước (m2), độ sâu mức nước (m) vào giai đoạn thu
hoạch được ghi nhận trong bảng khảo sát Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel để có được thể tích nước tại thời điểm thu hoạch (m3
/ha) và xử lý
Trang 3020
bằng phần mềm Minitab 15 để có được trị số lớn nhất, nhỏ nhất và độ lệch chuẩn (SD)
Lượng bùn thải được ước tính bằng thể tích lớp bùn được nạo vét sau thu
hoạch Các số liệu về diện tích bùn (m2), độ sâu lớp bùn (m) được ghi nhận trong bảng khảo sát Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel để có được thể tích lớp bùn thời điểm thu hoạch (m3
/ha) và xử lý bằng phần mềm Minitab 15 để có được trị số lớn nhất, nhỏ nhất và độ lệch chuẩn (SD)
Hàm lượng các chỉ tiêu của chất thải được ước tính dựa vào kết quả của các tác giả (Bảng 4.6) nghiên cứu về hàm lượng chất thải khi sản xuất ra một tấn tôm (kg/tấn tôm) kết hợp với kết quả khảo sát về năng suất tôm ở địa phương (kg/ha) Chúng tôi tiến hành quy đổi (Bảng 4.7) và ước tính lượng chất thải cho vùng khảo sát
Đồng thời mô tả quy trình nuôi tại địa phương, từ đó đánh giá khả năng tác động đến môi trường
Phần mềm Microsoft Excel và Minitab 15 được sử dụng trong các khâu tính toán, thống kê cũng như vẽ đồ thị