1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤ NG THỨC ĂN BÁNH DẦU ĐẬ U NÀ NH THAY THẾ BỘ T CÁ ĐẾN SỨC TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CHO CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides, Chaux và Fang 1949)

67 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 616,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- 11 - lượng bao gồm Cu, Fe, Zn,… tuy cần với lượng rất thấp nhưng lại có vai trò quan trọng trong tạo các nhóm chức của enzyme, hormone, điều hòa quá trình sinh tổng hợp protein,… Vai t

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG THỨC ĂN BÁNH DẦU ĐẬU NÀNH THAY THẾ BỘT CÁ ĐẾN SỨC TĂNG TRƯỞNG

(Mystus wyckioides, Chaux và Fang 1949)

Trang 2

i

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG THỨC ĂN BÁNH DẦU ĐẬU NÀNH THAY THẾ BỘT CÁ ĐẾN SỨC TĂNG TRƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ

(Mystus wyckioides, Chaux và Fang 1949)

Thực hiện bởi

NGUYỄN HUY LÂM

Khóa luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn

Ths VÕ THỊ THANH BÌNH

PGS TS LÊ THANH HÙNG

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 8/2012

Trang 3

ii

TÓM T ẮT

Đề tài: “Đánh giá khả năng sử dụng thức ăn bánh dầu đậu nành lên sức

tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn cho cá Lăng Nha (Mystus wyckioides,

Chaux và Fang 1949)” được thực hiện tại trại thực nghiệm Khoa Thủy Sản, trường

Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh từ ngày 25/06/2011 đến 10/02/2012

Để khảo sát mức tối đa bánh dầu đậu nành có thể sử dụng để thay thế bột cá, chúng tôi thiết kế 4 công thức thức ăn khác nhau: ĐN0, ĐN15, ĐN30 và ĐN45 tương ứng với mức sử dụng 0, 15, 30 và 45% bánh dầu đậu nành trong mỗi khẩu phần thức

ăn Các thức ăn đều có cùng hàm lượng protein 35% và được cân đối về thành phần dinh dưỡng thí nghiệm 1 và thí nghiệm 2 đều có mức thay thế bột cá bằng bánh dầu đậu nành như nhau nhưng ở thí nghiệm 2 chúng tôi có bổ sung thêm dầu cá để cân đối hàm lượng lipid thô giữa các nghiệm thức

Thí nghiệm 1 cá được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên và 3 lần lặp cho mỗi nghiệm thức Cá thí nghiệm có trọng lượng trung bình ban đầu là 14,00g và được bố trí ngẫu nhiên vào 12 giai với mật độ 30 con/giai, kích thước mỗi giai là 1 x 1 x 1m

Cá thí nghiệm được cho ăn 2 lần mỗi ngày, vào lúc 8 giờ và 16 giờ với lượng ăn bằng 10% trọng lượng thân Sau 8 tuần thí nghiệm, kết quả cho thấy tỷ lệ sử dụng bánh dầu đậu nành 30% và 45% cho kết quả tăng trưởng, hệ số thức ăn và tỷ lệ sống thấp hơn có nghĩa về mặt thống kê so với đối chứng Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng bánh dầu đậu nành 15% trong thức ăn không cho thấy có sự khác biệt có nghĩa về mặt thống kê so với đối

chứng

Thí nghiệm 2 cá được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức và 4 lần lặp cho mỗi nghiệm thức Cá thí nghiệm có trọng lượng trung bình ban đầu là 3,88 g

và được bố trí ngẫu nhiên vào 16 giai với mật độ 50 con/giai, kích thước mỗi giai là 1

x 1 x 1m Cá thí nghiệm được cho ăn 2 lần mỗi ngày, vào lúc 8 giờ và 16 giờ với lượng ăn bằng 10% trọng lượng thân Sau 12 tuần nuôi, kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và hệ số thức ăn của 4 nghiệm thức không khác nhau có ý nghĩa về

mặt thống kê

Trang 5

iv

L ỜI CẢM ƠN

Tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành đến:

Ban Giám hiệuTrường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Ban Chủ nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Quý Thầy Cô Khoa Thủy Sản Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình dạy bảo, truyền đạt những kiến thức quý giá trong suốt quá trình học tập và

thực hiện đề tài

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến cô Võ Thị Thanh Bình và thầy

Lê Thanh Hùng đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt thời gian làm đề tài

Cảm ơn Ba Mẹ, các anh chị, các bạn bè sinh viên trong và ngoài lớp đã động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian làm đề tài tốt nghiệp

Cám ơn các tác giả những tài liệu mà tôi đã sử dụng trong suốt quá trình thực

hiện khóa luận tốt nghiệp này

Do có những hạn chế về mặt thời gian và kiến thức nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô, anh chị và các đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn

Trang 7

vi

4.1 Thí Nghiệm 1: Đánh Giá Khả Năng Sử Dụng Bánh Dầu Đậu Nành Thay Thế Bột

4.1.1 Nguyên Liệu Và Thành Phần Dinh Dưỡng Của Thức Ăn Trong Thí Nghiệm1 244.1.2 Một Số Thông Số Môi Trường Nuôi Cá Tại Các Bể Thí nghiệm 25

4.2 Thí Nghiệm 2 : Đánh Việc Bổ Sung Dầu Cá Để Cân Đối Hàm Lượng Lipid Trong Thức Ăn Sử Dụng Bánh Dầu Đậu Nành Cho Cá Lăng Nha 30 4.2.1 Nguyên Liệu Và Thành Phần Dinh Dưỡng Của Thức Ăn Trong Thí Nghiệm…30 4.2.2 Một Số Thông Số Môi Trường Nuôi Cá Tại Các Bể Thí Nghiệm 31

Trang 10

ix

DANH SÁCH CÁC B ẢNG

B ảng 2.1 Hàm Lượng 10 Acid amin Thiết yếu Trong Bánh Dầu Đậu Nành 15

Bảng 3.1 Kết Quả phân Tích Thành phần Hóa Học Của Các Loại Nguyên Liệu 19

Bảng 3.2 Thành Phần Nguyên Liệu Trong Khẩu Phần Thức Ăn Thí Nghiệm 1 20

B ảng 3.3 Thành Phần Nguyên Liệu Trong Khẩu Phần Thức Ăn Thí Nghiêm 2 21

Bảng 4.1 Kết Quả Phân Tích Thành Phần Dinh Dưỡng Trong Thức Ăn Của Thí

Bảng 4.2 Hàm Lượng Oxy Hòa Tan Trong Thời Gian Thí nghiệm 1 26

Bảng 4.3 pH Và Nhiệt Độ Nước Trong Thời Gian Thí Nghiệm 1 27

B ảng 4.4 Hàm Lượng Ammonia Hòa Tan Trong Thời Gian Thí Nghiệm 1 28

Bảng 4.5 Tăng Trưởng và Tỉ Lệ Sống Của Thí Nghiệm 1 29

Bảng 4.6 Kết Quả Phân Tích Thành Phần Dinh Dưỡng Trong Thức Ăn Của Thí

Bảng 4.7 Hàm Lượng Oxy Hòa Tan Trong Thời Gian Thí nghiệm 2 32

Bảng 4.8 pH Và Nhiệt Độ Nước Trong Thời Gian Thí Nghiệm 2 33

B ảng 4.9 Hàm Lượng Ammonia Hòa Tan Trong Thời Gian Thí Nghiệm 34

Bảng 4.10 Tăng Trưởng và Tỉ Lệ Sống Của Thí Nghiệm 2 35

Bảng 4.11 Đơn giá thức ăn (đồng) cho một kilôgam tăng trọng thí nghiệm 1 và thí

Trang 11

Hiện nay do nhu cầu về thực phẩm của con người ngày càng được chú trọng và quan tâm đúng mức đã thúc đẩy việc nuôi trồng thủy sản có giá trị và chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước cũng như quốc tế

Cùng với những loài cá truyền thống như: cá mè, chép, trôi, rô phi… thì các loài cá bản địa (cá lăng hầm, cá lăng nghệ, cá lăng nha…) có giá trị kinh tế ngày càng

được quan tâm chú trọng hơn Cá Lăng nha (Mystus wyckioides) là loài cá có chất

lượng thịt thơm ngon, cơ trắng, ít mỡ, không xương dăm và mau lớn, là đối tượng hiện đang được rất nhiều nhà nghiên cứu cũng như những người làm kinh tế quan tâm

Trong việc nuôi cá thương phẩm vấn đề mà người nuôi thủy sản quan tâm nhất

là chi phí thức ăn vì nó chiếm tỉ lệ cao trong tổng chi phí sản xuất (> 50% tổng chi phí) Xét về khía cạnh dinh dưỡng thì trong khẩu phần thức ăn, protein là thành phần quan trọng mà bột cá là nguồn cung cấp protein chính Tuy nhiên sản lượng của nguồn nguyên liệu này hiện ngày càng giảm và giá cả có chiều hướng tăng cao, do đó việc nghiên cứu nhằm tìm kiếm các nguồn protein khác rẻ và dồi dào hơn để làm giảm bớt chi phí trong nuôi cá và bảo vệ nguồn lợi cá tự nhiên là điều tất yếu Một trong nhiều hướng để giải quyết vấn đề này là sử dụng nguồn protein thực vật để thay thế một phần bột cá trong chế biến thức ăn thủy sản

Trang 12

- 2 -

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá khả năng

sử dụng thức ăn bánh dầu đậu nành thay thế bột cá đến sức tăng trưởng và hiệu

quả sử dụng thức ăn cho cá lăng nha (Mystus wyckioides Chaux và Fang, 1949)”

tại trại thực nghiệm khoa Thủy Sản, Trường ĐH Nông Lâm Tp.HCM

Trang 13

Loài: Mystus wyckioides (Chaux và Fang, 1949)

Tên tiếng Anh: Red tailed catfish

Tên tiếng Việt: Lăng nha, lăng đuôi đỏ

Hình 2.1 Hình dạng ngoài cá lăng nha

Trang 14

- 4 -

2.1.2 Phân b ố và môi trường sống

Cá lăng nha là loài cá ưa tối, sống đáy, hốc đá, hang…chúng sinh sống trong các thủy vực nước chảy nhẹ thuộc vùng nội địa như: sông, suối, hồ chứa… từ vùng thượng nguồn cho tới cửa sông Cá lăng nha phân bố rộng rãi ở Ấn Độ và nhiều nước Đông Nam Á và thường hịên diện trên những con sông thuộc lưu vực sông Mekông và Salween (Theo Rainboth, 1996) Chúng thường sống ở những nơi có nền đáy là đá và

ở những độ sâu khác nhau

Ở Việt Nam, cá lăng nha phân bố nhiều trong các thủy vực tự nhiên, nước chảy

nhẹ như sông, hồ chứa ở miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long Chúng được tìm thấy trong các lưu vực của sông Đồng Nai (lòng hồ Trị An), sông Sài Gòn và sông Cửu Long Ở các con sông lớn dọc từ thượng nguồn sông Cửu Long đến tận các nhánh sông Theo Mai Đình Yên và ctv (1992), cá lăng nha phân bố hầu hết rộng rãi

các sông rạch thuộc miền nam Việt Nam

Theo Ngô Văn Ngọc và Lê Thị Bình (2005), hiện nay ngoài tự nhiên, các loài

cá lăng như lăng vàng (Mystus nemurus), cá lăng hầm (Mystus filamentus), cá lăng nha (Mystus wyckioides) và cá lăng nghệ (Mystus sp.) ngày càng trở nên quí hiếm do sự

lạm thác và sự suy thoái môi trường sống, đặc biệt là cá lăng nghệ đang có nguy cơ tuyệt chủng

Cá lăng nha sống ở vùng nước ngọt và lợ nhẹ độ mặn dưới 6‰ Cá không có

cơ quan hô hấp phụ Cá thích sống nơi nước trong sạch có dòng nước chảy nhẹ, không thích hợp ở nơi có dòng nước chảy mạnh, tuy nhiên vẫn sống tốt trong nước tĩnh (Nguyễn Chung, 2006)

Theo Ngô Văn Ngọc và Lê Thị Bình (2005), các loài cá lăng thuộc giống

Mystus sống và phát triển tốt ở môi trường nước có:

Trang 15

- 5 -

2.1.3 Đặc điểm hình thái

Đầu dẹp ngang, số lược mang 11 – 15 đôi dẹp bên, có bốn đôi râu, một đôi râu mũi kéo dài đến mắt, hai đôi râu cằm một đôi râu hàm trên rất dài đến giữa vây hậu môn Miệng ở dưới rộng hướng ra phía trước, môi trên dày và nhỏ hơn môi dưới, hàm trên và hàm dưới đều có răng nhỏ, nhọn Khoang hai ổ mắt rộng, khe mang rộng, màng nang tách khỏi cơ mang

Thân thon dài, phần trước thân tròn phần sau thân dẹp bên Mặt lưng của thân

và đầu có màu nâu đậm và nhạt dần xuống bụng, bụng cá có màu trắng đục.Vây lưng

và vây ngực có tia cứng, tia cứng vây ngực to khỏe có răng cưa nhưng tia cứng ở vây lưng nhỏ và được bao phủ bởi lớp da không có răng cưa.Vi mỡ nằm đối diện với vi hậu môn, và dài, gốc vi mỡ dài tương đương với gốc vi hậu môn

Theo Nguyễn Chung (2006), cá lăng nha khi có chiều dài trên 4 cm đã có

những biểu hiện đặc trưng để phân biệt không lầm lẫn với các loại cá lăng khác là có hai tia màu trắng nằm ở rìa trên và dưới của vây hậu môn của cá, tia trên dài hơn tia dưới Khi cá có chiều dài trên 8 – 9 cm, vây lưng và vây đuôi sẽ chuyển dần sang màu

đỏ lợt và khi cá có chiều dài trên 15 – 20 cm thì vây lưng và vây đuôi của cá sẽ chuyển sang màu đỏ đặc trưng của cá lăng nha trưởng thành

2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá lăng nha được xếp vào nhóm cá ăn động vật điển hình (Sterba, 1962; trích

bởi Mai Thị Kim Dung, 1998).Thức ăn tự nhiên của chúng là cá, tôm, côn trùng, nhuyễn thể, giáp xác, giun ít tơ, rễ cây…

Theo Phạm Báu và Nguyễn Đức Tuân (1998; trích bởi Đào Dương Thanh, 2004), cá lăng có cấu tạo bộ máy tiêu hoá của cá ăn động vật điển hình: Miệng rộng, răng hàm sắc và nhọn, dạ dày lớn, tỷ lệ giữa chiều dài ruột và chiều dài thân là 89,35% Phân tích 25 mẫu thức ăn trong ruột cá cho thấy thành phần thức ăn chính là động vật

Trong điều kiện nuôi, các loài cá lăng nói chung và cá lăng nha nói riêng hoàn toàn chấp nhận thức ăn viên dạng nổi mặc dù tập tính ăn của chúng là ăn chìm (FFRC, 1996; trích bởi Ngô Văn Ngọc, 2002)

Trang 16

- 6 -

Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi để cá phát triển tốt, ngoài thức ăn viên có hàm lượng đạm cao (>35%) thì việc bổ sung nguồn đạm tươi sống từ cá tạp, ốc,… là điều

cần thiết (Ngô Văn Ngọc và Lê Thị Bình, 2005)

2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng

Sinh trưởng là sự tăng trưởng về kích thước và khối lượng theo thời gian nhờ quá trình trao đổi chất Sinh trưởng cũng là quá trình sử dụng và đồng hoá thức ăn xảy

ra bên trong cơ thể của cá

Quá trình sinh trưởng đặc trưng tương ứng với từng loài cá và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Điều kiện môi trường sống, thuộc tính của loài, giới tính, số lượng

thức ăn có trong thủy vực… Đây là đặc tính thích ứng của loài, đảm bảo cho sự sống của loài với điều kiện môi trường

Cá lăng nha là loài cá có kích thước cơ thể lớn nhất trong họ Bagridae Ngoài tự nhiên, cá trưởng thành thường có kích thước khoảng 50 cm, đôi khi bắt gặp những cá thể dài đến 70 cm (FAO, 1996)

Theo Nguyễn Chung (2006), khi còn nhỏ, cá lăng nha tăng trọng rất chậm Trên năm tháng tuổi cá mới đạt trọng lượng 230 – 250 gr/con dài từ 18 – 20 cm Tuy nhiên,

kể từ tháng thứ sáu, thứ bảy thì cá lại tăng trọng rất nhanh, cá 10 – 12 tháng tuổi có thể đạt chiều dài 35 – 40 cm, nặng 1 – 1,5 kg/con

2.1.6 Đặc điểm sinh sản

Theo Rainboth, 1996 (trích bởi Lê Đại Quan, 2004) thì vào mùa sinh sản, cá lăng tìm vào các cánh rừng ngập nước để bắt cặp sinh sản Ở Tonlé Sap, cá con được tìm thấy từ tháng tám và đến tháng 10 – 12 chúng trở ra sông chính

Mai Thị Kim Dung (1998) cho rằng cá có chiều dài từ 30 cm trở lên có thể tham gia sinh sản Cá vào bờ sinh sản sau khi nước lên Mùa sinh sản từ tháng sáu đến tháng bảy và chỉ sinh sản một lần trong năm

Tuy nhiên, theo Ngô Văn Ngọc và Phùng Cẩm Hà (2006), trong điều kiện nhân

tạo, mùa vụ sinh sản của cá lăng nha diễn ra từ tháng 5 đến tháng11, tập trung từ tháng

6 đến tháng 10

Thời gian tái thành thục của cá lăng nha là 2,5 tháng Với điều kiện sinh sản nhân tạo có thể cho cá sinh sản quanh năm (Ngô Văn Ngọc, 2002)

Trang 17

- 7 -

Theo Ngô Văn Ngọc và Lê Thị Bình (2005) thì: Sức sinh sản thực tế của cá lăng nha thấp hơn nhiều so với cá lăng vàng và cá lăng hầm Sức sinh sản thực tế của

cá lăng nha dao động từ 12.560 đến 17.688 trứng/kg cá cái

Tuổi thành thục của cá lăng nha trong điều kiện nhân tạo là ba năm và kích thước bắt đầu tham gia sinh sản nhỏ nhất là một kg

Sự phân biệt giới tính ở cá lăng nha có thể nhận biết qua những đặc điểm bên ngoài như: Cá đực có gai sinh dục dài và nhọn ở đầu mút Khi thành thục sinh dục, đầu mút của gai sinh dục ửng hồng Cá cái có lỗ sinh dục dạng tròn và hơi lồi Khi thành

thục sinh dục thì lỗ sinh dục tròn, nở to và có màu ửng hồng

2.2 Nhu Cầu Dinh Dưỡng Của Cá

Dinh dưỡng là sự cung cấp những vật chất cần thiết cho việc duy trì đời sống (trao đổi chất) Dinh dưỡng là nuôi dưỡng, tập hợp những chức năng cơ thể để biến đổi

và sử dụng thức ăn nhằm giúp cá tăng trưởng và hoạt động bình thường

Dinh dưỡng phải đảm bảo cho cá có đầy đủ năng lượng để duy trì sống, hoạt động bơi lội, tăng trưởng và sinh sản Dinh dưỡng thức ăn không hợp lý, không theo phương pháp khoa học sẽ làm cho cá chậm lớn, bệnh tật, làm ô nhiễm môi trường và

có thể dẫn đến những thất bại kinh tế không lường

Các chất dinh dưỡng cần cho cá có thể được phân chia thành năm nhóm chính

là protein, lipid, glucid, vitamin và chất khoáng

2.2.1 Protein

Protein là hợp chất hữu cơ có trọng lượng phân tử rất lớn, có cấu trúc phân tử phức tạp do các acid amin cấu tạo nên

Protein là thành phần chủ yếu tham gia vào cấu tạo cơ thể, là thành phần chính

của nguyên sinh chất tế bào Trong thành phần hoá học của protein thường chứa: carbon (51 – 55%), hydro (6,5 – 7,3%), oxy (21,5 – 23,5%), và đặc biệt Nitrogen có tỉ

lệ ít thay đổi khoảng 16% Ngoài ra, còn một lượng nhỏ các nguyên tố khác như lưu

huỳnh (0,5-2%) và phosphorus (0,5-1,5%)

Trong phân tử protein, các acid amin kết hợp với nhau trong những liên kết khác nhau, chúng tạo thành các phân tử protein khác nhau về thành phần và tính chất Giá trị dinh dưỡng của mỗi loại protein khác nhau là ở số lượng và chất lượng các acid

Trang 18

- 8 -

amin tạo thành Quá trình tiêu hoá đã phân giải protein trong thức ăn thành acid amin Các acid amin thấm qua thành ruột chuyển tới các tổ chức cơ thể, tại đây chúng được

sử dụng để tổng hợp nên protein đặc hiệu cho cơ thể

Trong protein có khoảng 20 loại acid amin phổ biến trong đó có 10 acid amin thiết yếu mà cá không có khả năng tự tổng hợp, cần phải được cung cấp qua thức ăn bao gồm: Arginine, methionine, lysine, leucine, isoleucine, valine, histidine, threonine, tryptophan và phenylalanine Trong số này thì lysine và methionine thường thiếu và cần được bổ sung nhiều hơn

Protein có giá trị cao khi thành phần của nó có đầy đủ các acid amin cần thiết

với tỉ lệ thích hợp Sự mất cân đối acid amin sẽ dẫn đến lãng phí acid amin Việc thiếu hay thừa bất kỳ acid amin nào cũng đều làm giảm hiệu quả sử dụng protein Thiếu một trong các acid amin thiết yếu sẽ dẫn đến rối loạn cân bằng đạm và rối loạn sử dụng tất

cả các acid amin còn lại

Protein đặc biệt ảnh hưởng đến tốc độ lớn của cá Cá khi ăn thiếu protein sẽ dễ

nhạy cảm với sự nhiễm trùng đường ruột và đường hô hấp, chậm lớn và dễ bị bệnh Thiếu protein kéo dài sẽ kéo theo các triệu chứng thiếu các chất dinh dưỡng khác gây ảnh hưởng đến tình trạng chung của cơ thể và sự phát triển của cá

Nhu cầu protein của cá thường rất cao, dao động trong khoảng 24 – 54% của thức ăn với mức trung bình 30% (Lê Thanh Hùng, 2000)

Nhu cầu protein ở cá ăn thực vật và ăn tạp thường thấp hơn ở cá ăn động vật

Cá nhỏ thường có nhu cầu protein cao hơn so với cá trưởng thành Nhu cầu protein đối với cá nuôi ở mật độ cao (nuôi trong bể, lồng) cũng cao hơn so với cá nuôi ở mật độ

thấp (nuôi trong ao, đầm) Ngoài ra, nhu cầu protid còn chịu ảnh hưởng bởi môi trường nuôi, năng lượng trong thức ăn, lượng thức ăn hàng ngày, chất lượng và loại thức ăn sử dụng, chất lượng di truyền của cá giống,…

Hàm lượng protein luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong thức ăn của cá Protein trong thức ăn sẽ được sử dụng cho sinh trưởng cơ thể khi hàm lượng lipid và carbohydrate được cung cấp đầy đủ Vì vậy, để sử dụng protein có hiệu quả cao thì

thức ăn cần phải cung cấp đầy đủ năng lượng, vitamin và muối khoáng

Trang 19

- 9 -

2.2.2 Lipid

Lipid là nguồn sinh năng lượng quan trọng, gấp 2,25 lần so với glucid hay protein, là dung môi hòa tan các vitamin A, D và còn gây hương vị tốt cho thức ăn tôm, cá

Thành phần chính của lipid là acid béo do đó phần quyết định tính chất của lipid thuộc về các acid béo Các acid béo chứa nhiều nối đôi thường có giá trị thực

phẩm cao Nhu cầu các acid béo thiết yếu đối với tôm, cá còn nhỏ cao hơn tôm, cá đã trưởng thành cho nên việc bổ sung thêm dầu cá hay dầu gan mực vào thức ăn tôm, cá khi còn nhỏ là rất cần thiết

Lipid gồm các lipid đơn giản và lipid phức tạp trong đó có cholesterol là một lipid phức tạp rất quan trọng đối với tôm, nó ảnh hưởng đến sự lột xác của tôm và kích thích sự tăng trưởng

Phospholipid rất cần thiết, không thể thiếu trong thức ăn tôm cá Nó ảnh hưởng trực tiếp trong cơ chế chuyển hóa chất béo, đẩy nhanh sự tăng trưởng tôm cá từ khi còn nhỏ đến khi thành thục (Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thị Quỳnh Mai, 1996)

2.2.3 Glucid

Trong dinh dưỡng tôm cá vai trò chính của glucid là sinh năng lượng Tùy theo

giống loài mà có khi hơn một nửa năng lượng của khẩu phần là do glucid cung cấp Ngoài vai trò sinh năng lượng, ở mức độ nhất định, glucid có cả vai trò tạo hình vì có

mặt trong tế bào và tổ chức thịt tôm cá Chuyển hóa glucid liên quan chặt chẽ với chuyển hóa protid và lipid Cung cấp đủ glucid trong thức ăn sẽ làm giảm phân hủy protid đến mức tối thiểu

Glucid theo nhu cầu dinh dưỡng tôm cá chủ yếu là tinh bột Tinh bột là thành

phần dinh dưỡng chính của các loại hạt ngũ cốc và đậu Nhưng có một thành phần quan trọng khác là cenluloza Cenluloza có khả năng điều hòa bài tiết và kích thích các

hệ vi khuẩn có lợi cho đường ruột, tạo điều kiện tốt nhất cho chức phận tổng hợp của chúng (Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thị Quỳnh Mai, 1996)

Trang 20

- 10 -

2.2.4 Vitamin

Vai trò của vitamin là rất to lớn đối với cơ thể, nó cần thiết cho sự chuyển hóa

chủ yếu của cơ thể, trong đó có quá trình đồng hóa và sử dụng các chất dinh dưỡng cũng như quá trình lớn, xây dựng tế bào và tổ chức cơ thể

Vitamin phần lớn không được tổng hợp trong cơ thể mà được cung cấp từ nguồn thức

ăn động vật và thực vật Thiếu vitamin sẽ là nguyên nhân của nhiều rối loạn chuyển hóa quan trọng Vì vậy trong thành phần thức ăn cần cung cấp đầy đủ vitamin cho cơ thể (Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thị Quỳnh Mai, 1996)

Vitamin là chất không thể thiếu được trong đời sống của sinh vật Nếu thiếu vitamin thì hoạt động của một số nhóm enzym sẽ bị mất khả năng, dẫn đến việc rối loạn tiêu hóa,… làm cho sinh trưởng chậm, sức đề kháng kém dẫn đến bệnh tật và tử vong

Trong số các vitamin thì vitamin C giữ vai trò quan trọng nhất nhờ khả năng chống oxy hóa và hỗ trợ hệ miễn dịch của cá Vitamin C rất cần thiết cho sự tạo thành các mô liên kết, làm lành các vết thương Vitamin C giúp sự hấp thụ sắt trên cá nên giúp cá tránh hiện tượng xuất huyết Ngoài ra, vitamin C còn tham gia với vitamin E phòng chống sự oxy hóa các lipid trong các mô tế bào

Sự thiếu hụt vitamin C ở cá thường dẫn đến những biểu hiện như biến dạng cột sống, xuất huyết dưới da, mô sụn nền của mang cá bị tổn thương dẫn đến mang cá bị

xê lệch vị trí, mất sắc tố dẫn đến cá có màu nhợt nhạt và cá dễ bị xây xát khi đánh bắt

Thức ăn thiếu vitamin C thường dẫn đến thiếu khả năng kháng bệnh vi khuẩn (Lê Thanh Hùng, 2000)

Trang 21

- 11 -

lượng bao gồm Cu, Fe, Zn,… tuy cần với lượng rất thấp nhưng lại có vai trò quan trọng trong tạo các nhóm chức của enzyme, hormone, điều hòa quá trình sinh tổng hợp protein,…

Vai trò các chất khoáng đối với cá rất đa dạng, chủ yếu là quá trình tạo hình đặc biệt là vỏ, xương, vây; tham gia vào quá trình tạo protein, các quá trình enzyme, điều hoà chuyển hóa nước, duy trì tính ổn định môi trường bên trong cơ thể trong điều kiện thành phần thức ăn luôn khác nhau, làm tăng sức chịu đựng của cá nuôi với các yếu tố môi trường bên ngoài và tăng sức đề kháng đối với nhiễm trùng

Lượng chất khoáng chiếm khoảng 2 – 4% trọng lượng cơ thể cá Tuy cá có khả năng hấp thụ một số khoáng từ môi trường nước qua mang và da nhưng trong thức ăn cần thiết phải cung cấp thêm chất khoáng để bổ sung những thiếu hụt so với nhu cầu Các chất khoáng có mặt trong nguyên liệu thức ăn với hàm lượng lớn từ hàng chục đến hàng trăm mg (Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thị Quỳnh Mai, 1996)

Giá trị dinh dưỡng của thức ăn được xác định bởi các yếu tố sau:

− Một sự cân bằng giữa các thức ăn năng lượng và sinh trưởng (carbohydrate, lipid và protein) nhằm đảm bảo sự cung cấp vật liệu năng lượng cho hoạt động đồng hóa tối hảo và vật liệu sống cho sự phát triển bao gồm kiến tạo mô, sinh sản và thành lập các sản phẩm (hemoglobin, hormone, enzyme,…)

− Sự hiện diện của các nguyên tố (khoáng chất), nhất là nguyên tố vi lượng và

chất xúc tác cần thiết (vitamin)

− Sự cung cấp đầy đủ thức ăn bổ sung

Ngoài ra, giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thức ăn còn được xác định bởi khả năng cá có thể tiêu hóa và hấp thụ tốt nhất Nó phụ thuộc vào trạng thái vật lý của thức

ăn, loại và số lượng của enzyme trong ống tiêu hóa

Theo Nguyễn Văn Thoa và Bạch Thị Quỳnh Mai (1996), vai trò của các chất khoáng đối với tôm cá rất đa dạng, chủ yếu là quá trình tạo hình mà đặc biệt là vỏ, vây, xương, tham gia quá trình tạo protid, các quá trình enzyme, điều hòa chuyển hóa nước, duy trì tính ổn định môi trường bên ngoài và sức đề kháng của cơ thể đối với nhiễm trùng Các chất khoáng có trong nguyên liệu thức ăn với hàm lượng lớn từ hàng trăm

Trang 22

- 12 -

đến hàng triệu mg có khi g gọi là các yếu tố đa lượng trong đó là canxi, phospho, kali, natri, clo, sunfua

Lượng chất khoáng chiếm 2 – 4% trọng lượng cơ thể, một nửa chất khoáng là

yếu tố tạo hình Cơ thể tôm cá không thể sản xuất được các chất khoáng, vì vậy mà các chất khoáng phải được cung cấp từ bên ngoài mà nguồn cung cấp chính là thức ăn và

một phần chất khoáng có từ môi trường nước được cá hấp thụ qua mang

2.3 Các Nguồn Nguyên Liệu Cung Cấp Protein Trong Thức Ăn Thủy Sản

Không giống như động vật nuôi trên cạn, hầu hết các loài cá nuôi có nhu cầu protein khá cao (30 – 50%) Nhu cầu này thay đổi tùy theo loài và tùy theo từng giai đoạn phát triển Cá con có nhu cầu cao về protein, lipid, vitamin và khoáng chất cần thiết cho sự phát triển của hệ xương và các cơ quan Ở giai đoạn trưởng thành, cá cần nhiều năng lượng từ nguồn lipid và cacbohydrate để đáp ứng cho các quá trình biến dưỡng cơ bản, do đó nhu cầu protein trong thức ăn sẽ thấp hơn Khi bước vào giai đoạn thành thục và sinh sản cá cần nhu cầu cao về protein và lipid cho việc tạo các sản

phẩm sinh dục Do đó trong chế biến thức ăn thủy sản thường sử dụng nguyên liệu có hàm lượng protein cao làm nguồn cung cấp protein

Tuy nhiên đây là nguồn nguyên liệu không ổn định về giá cả và chất lượng vì:

- Nguồn nguyên liệu chế biến bột cá chủ yếu từ nguồn cá tạp đánh bắt từ tự nhiên: nguồn nguyên liệu này rất biến động và phụ thuộc vào thời tiết mỗi năm

- Hệ số chuyển đổi từ nguyên liệu sang bột cá là 5:1, tức là để có 7,5 triệu tấn bột cá

mỗi năm, phải cần khoảng 37,5 triệu tấn nguyên liệu

- Nhu cầu bột cá dùng cho nuôi trồng thủy sản trên thế giới ngày một gia tăng

- Sự cạnh tranh nhu cầu bột cá làm thức ăn cho gia súc và gia cầm càng làm cho giá

bột cá tăng cao

Trang 23

- 13 -

2.3.2 Protein th ực vật

Protein thực vật là sản phẩm phụ của công nghiệp ép dầu từ hạt của những cây

bộ đậu (đậu nành, đậu phộng…) hay hạt của những thực vật giàu chất béo (hạt bông

vải, hạt hoa hướng dương, hạt cải…) hay từ phần thịt nhân của các trái (trái dừa, trái

cọ dầu) Các phụ phẩm của công nghiệp này thường chứa một lượng lớn protein, thay đổi từ 20-50%vật chất khô Các phụ phẩm này có tên gọi là bánh dầu hay khô dầu và tên gọi kế tiếp tùy theo nguyên liệu như: bã dầu nành, bánh dầu nành, khô dầu nành đều chỉ loại sản phẩm sau chế biến từ hạt đậu nành

Có hai phương pháp trong kỹ thuật ép dầu: ly trích và ép cơ học Phương pháp

ly trích khô dầu được trích triệt để nên khô dầu chỉ còn một tỉ lệ thấp chất béo (1-2%), trong khi ép cơ học cho bánh dầu có hàm lượng béo 3-5% Như vậy bã dầu (oil meal) thường hiểu theo nghĩa là sản phẩm ép dầu bằng phương pháp ly trích như bã dầu nành (soybean meal) Trái lại bánh dầu (oil cake) chỉ sản phẩm ép dầu bằng phương pháp ép

cơ học như bánh dầu đậu phộng (groundnut cake)

Ở Việt Nam, những protein thực vật phổ biến như bánh dầu phộng, bánh dầu nành, bánh dầu dừa Ngoài ra, hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu một lượng lớn các protein gốc thực vật khác để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy thức ăn gia súc và

thủy sản như bã dầu bông dải, bã dầu cọ, bã dầu nành, bã dầu cải, bã dầu hướng dương

Đây là nguồn nguyên liệu ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhằm thay thế các nguồn protein động vật, nhất là bột cá vốn hạn chế về số lượng và giá cả Do đó xuất hiện nhu cầu thay thế bột cá bằng nguồn protein thực vật giàu protein nhưng rẻ

tiền so với bột cá, trong đó có thể kể đến các nguồn protein thực vật như: bánh dầu đậu nành, bánh dầu đậu phộng, bánh dầu bông vải, bánh dầu cao su…

Việc sử dụng các sản phẩm từ đậu nành thay thế bột cá trong khẩu phần thức ăn

của cá đều cho kết quả tốt

Tuy nhiên, những nghiên cứu về việc sử dụng các nguồn protein thực vật khác như: bánh dầu đậu phộng, bánh dầu hạt hướng dương, bánh dầu bông vải… trong dinh dưỡng cho cá thì rất hạn chế Mặc dù vậy chúng được biết là có thể sử dụng ở mức thấp trong thức ăn cho cá rô phi O.mossambicus (Jackson và ctv, 1982; trích bởi

Trang 24

2.3.3 Khả năng sử dụng protein thực vật trong thức ăn động vật thủy sản

Xu hướng hiện nay là thay thế bột cá bằng protein thực vật Tuy nhiên việc sử

dụng các nguồn nguyên liệu này gặp một số trở ngại nhất định như: hàm lượng một số amino acid thiết yếu thấp, thiếu các muối khoáng cần thiết (calcium và phospho), chứa các chất kháng biến dưỡng (antimetabolites) và độc tố (toxins),… Mặc dù vậy, có thể

hạn chế sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng bằng cách bổ sung chúng vào trong khẩu phần thức ăn Tuy nhiên thức ăn trên cơ sở protein thực vật thường không được cá ưa thích do mùi vị, độ cứng nên chúng không được sử dụng nhiều, đặc biệt là những loài

cá ăn động vật Vì thế trong sản xuất thức ăn thủy sản bột cá vẫn là thành phần cơ bản

và protein thực vật chỉ sử dụng để thay thế một phần bột cá (Lê Thanh Hùng, 2005)

Hạt đậu nành chứa 36-38% protein thô và 18-20% chất béo Khi ép dầu bằng ly trích với dung môi Hexanol hay kết hợp ép cơ học với ly trích cho ra phần chất rắn còn

lại có hàm lượng protein thay đổi 44-48%, lipid trong khoảng 0.5-5%, xơ trong khoảng 6.0-6.5% và độ ẩm trung bình 10-11%

Bánh dầu đậu nành là nguồn protein thực vật chính cung cấp protein trong thức

ăn thủy sản Tỉ lệ sử dụng bánh dầu nành trong thức ăn gia tăng liên tục trong 20 năm qua do giá cả hợp lý và nguồn cung cấp nguyên liệu này ổn định và tăng liên tục theo

thời gian Hàng năm thế giới sản xuất 85-100 triệu tấn bã dầu nành, chiếm tỉ trọng trên 50% nguồn cung cấp protein trong thức ăn chăn nuôi và thủy sản

Trang 25

- 15 -

Hàng năm Việt Nam phải nhập một lượng lớn bánh dầu nành để dùng trong chăn nuôi và thủy sản Trong năm 2003, Việt Nam nhập 960.000 tấn, tăng 27% so với

số lượng 795.000 tấn nhập khẩu năm 2002 Đến năm 2004 Việt Nam nhập 1.100.000

tấn, tăng 14% so với năm 2003 Argentina va Ấn Độ là hai nguồn cung cấp chính trong khi đó Mỹ là quốc gia có sản lượng bánh dầu nành cao nhất thế giới (Bùi Thu Hương,2005; trích bởi Lê Thanh Hùng, 2005)

Protein của bánh dầu đậu nành chứa tương đối đầy đủ các acid amin thiết yếu Các acid amin thiết yếu tương đối cân đối so với nhu cầu và tốt nhất trong các protein

thực vật Hàm lượng các acid amin thiết yếu có trong bánh dầu đậu nành được liệt kê ở

bảng 2.1

Bảng 2.1 Hàm lượng 10 acid amin thiết yếu trong bánh dầu đậu nành (% vật chất khô)

Thành phần acid amin Hàm lượng (% vật chất khô)

(nguồn: Lê Thanh Hùng, 2005)

Các acid amin thiết yếu này có sự mất cân đối vì hàm lượng Methionine và Cystine (chứa S) thấp so với nhu cầu của cá

Thành phần chất béo trong bã dầu nành rất thấp nên vai trò của chúng ít quan

trọng trong dinh dưỡng Trái lại trong bánh dầu nành và hạt đậu nành nguyên có chứa

tỉ lệ chất béo cao

So với các protein động vật, bánh dầu nành thiếu các muối khoáng cần thiết đặc

biệt như phospho có giá trị tiêu hóa rất thấp vì trong đậu nành phospho ở dưới dạng

Trang 26

- Heamagglutinnins có tác dụng ngăn cản sự vận chuyển hồng cầu

- Phytates ngăn cản sự hấp thụ phospho trong thức ăn

-Soyin: là acid amin không thiết yếu trong đậu nành, liên kết với men tiêu hóa trypsin

và chymotrypsin trong ruột ngăn cản hoạt động tiêu hóa của enzyme này

Gia nhiệt trong quá trình ép dầu sẽ làm biến tính các chất kháng dinh dưỡng nên chúng không còn độc hại

Trong hạt đậu nành còn chứa các chất như tannin, alkaloid, estrogen, glucosides

và urea Các chất này tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu trên cá nhưng sự hiện

diện của chúng làm cho đậu nành kém hấp dẫn khi cá ăn vào

Đã có rất nhiều công trình chứng minh tác dụng độc hại khi sử dụng đậu nành

sống trên cá rô phi, chép, da trơn mỹ, trê phi…

Do ưu điểm so với các khô dầu khác, bánh dầu đậu nành được sử dụng phổ biến trong thức ăn thủy sản để thay thế bột cá và cá tạp

Rất nhiều nghiên cứu sử dụng bã dầu nành thay thế bột cá trên các loài thủy

sản Trên cá hồi, khi bổ sung dầu cá và các acid amin thiết yếu có thể thay thế 75% bột

cá bằng bã dầu nành Trên cá chép, thí nghiệm sử dụng 45% bã dầu nành và 10% bột

cá cho tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn tương tự 20% bã dầu nành và 25% bột

cá Trên cá rô phi tỷ lệ sử dụng bã dầu nành có thể thay thế 70-75% bột cá trong thức

ăn Trên cá trơn Mỹ, bã dầu nành có thể thay thế phần lớn bột cá trong thức (trích bởi

Lê Thanh Hùng, 2005)

Khi sử dụng quá nhiều khô dầu đậu nành, sẽ có hiện tượng cá giảm ăn do độ

cứng và mùi vị trong thức ăn Khi sử dụng bánh dầu đậu nành trên 20 – 25% phải chú

ý bổ sung những khiếm khuyết sau:

- Bổ sung 2 acid amin thiết yếu: Lysine và Methionine

Trang 27

- 17 -

- Bổ sung thêm muối khoáng, chủ yếu là phospho

- Bổ sung thêm một ít dầu cá để cân đối nhu cầu acid béo thiết yếu (Lê Thanh Hùng, 2005)

Trang 28

- 18 -

C hương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Th ời Gian Và Địa Điểm

Đề tại được thực hiện Tại Trại Thực Nghiệm Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 25/06/2011 đến 10/02/2012

3.2 Đối Tượng Nghiên Cứu

Đối tượng nghiên cứu là cá lăng nha, được mua ở trại sản xuất giống Củ Chi- Thành phố Hồ Chí Minh và được thuần dưỡng đến khi đạt được khoảng 3,5g, cá mới được bố trí thí nghiệm Cá được lựa chọn ra những con khỏe mạnh, không dị hình, dị

tật và đồng đều kích cỡ để bố trí thí nghiệm

3.3 Dụng Cụ Thí Nghiệm

Dụng cụ thí nghiệm gồm :

− 16 giai, mỗi giai có kích thước 1m x1m x1m

− Máy ép viên thức ăn và tủ sấy thức ăn

− Cân điện tử hai số lẻ dùng để kiểm tra cá, cân đồng hồ (0 – 2kg) dùng để cân nguyên liệu làm thức ăn

− Nhiệt kế thủy ngân (đo nhiệt độ), máy quang phổ kế

− Bộ test pH, bộ test DO

− Thau nhựa, vợt…

3.4 Nguyên Liệu Thức Ăn

Nguyên liệu làm thức ăn bao gồm: bột cá, bánh dầu đậu nành, cám gạo, tinh bột khoai mì, CMC (carboxyl methyl cellulose), Premix khoáng, dầu cá…

Các nguyên liệu chính để phối trộn thức ăn như: bột cá, bánh dầu đậu nành, cám gạo, tinh bột khoai mì được phân tích các chỉ tiêu: đạm, béo, xơ, độ ẩm, khoáng

Kết quả phân tích là cơ sở để tổ hợp các công thức thức ăn dùng cho cá thí nghiệm

Trang 29

Tinh bột khoai mì Vật chất khô

Độ ẩm

88,42 11,58

96,80 3,20

89,70 10,30

86,80 13,20

*NFE (Nitrogen Free Extract): chất trích không đạm

** Ước tính theo số liệu của Tom Lovell, 1998; trích bởi Trần Thị Mỹ Loan, 2003)

3.5 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm 1: được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn nghiệm thức và

ba lần lặp lại Các nghiệm thức thức ăn được ký hiệu là: ĐC, 15% ĐN, 30% ĐN, 45%

ĐN Các công thức thức ăn được thiết kế trên phần mềm FEEDLIVE, hàm lượng protein là 35% và được thay thế bột cá bằng đậu nành theo các tỷ lệ sau:

- ĐC: thức ăn đối chứng (không bổ sung bánh dầu đậu nành)

- 15% ĐN: thức ăn bổ sung 15% bánh dầu đậu nành

- 30% ĐN: thức ăn bổ sung 30% bánh dầu đậu nành

- 45% ĐN: thức ăn bổ sung 45% bánh dầu đậu nành

Trang 30

ĐN 45.2

ĐN 15.1

ĐN 45.1

ĐN 30.2 ĐC 2

ĐN 30.3 ĐC 3

ĐN 45.3

ĐN 15.1

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1

Thí nghiệm 2: được bố trí khối hoàn toàn ngẫu nhiên với bốn nghiệm thức và

bốn lần lặp lại Các nghiệm thức thức ăn được ký hiệu là: ĐC, 15% ĐN, 30% ĐN, 45% ĐN Các công thức thức ăn được thiết kế trên phần mềm FEEDLIVE, hàm lượng protein là 35% và được cân đối hàm lượng lipid bằng cách bổ sung dầu cá

Trang 31

ĐN 45.1

ĐN 15.2

ĐN 45.2

ĐN 30.1 ĐC 1

ĐN 30.3 ĐC 3 ĐN

15.4

ĐN 45.4

ĐN 45.3

ĐN 15.1

ĐC

4

ĐN 30.4

Hình 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2

Thức ăn sau khi phối trộn được đem đi hấp và ép viên qua máy ép có đường kính 2mm sau đó sấy khô và cán nhỏ đồng thời lưu mẫu để phân tích thành phần hóa học Tất cả các công đoạn đều được thực hiện tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Khoa

Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Trang 32

- 22 -

Cá thí nghiệm được cho ăn 2 lần/ngày vào lúc 8 giờ sáng và 16 giờ chiều Lượng thức ăn được ước tính từ 7-10% trọng lượng thân và khơng vớt thức ăn dư Đồng thời tiến hành kiểm tra một số chỉ tiêu mơi trường nước 3 ngày 1 lần

3.6 Các Ch ỉ Tiêu Theo Dõi

3.6.1 Các chỉ tiêu mơi trường

- Nhiệt độ: đo 3 ngày 1 lần vào 6 giờ sáng và 16 giờ chiều bằng nhiệt kế thủy ngân

- DO: đo 3 ngày 1 lần vào 6 giờ sáng và 16 giờ chiều bằng bộ test DO

- pH: đo 3 ngày 1 lần vào 6 giờ sáng và 16 giờ chiều bằng bộ test pH

3.6.2 Các chỉ tiêu theo dõi trên cá thí nghiệm

- Tỷ lệ sống (%)

TLS = N1/N2

N1: số luợng cá trước thí nghiệm

N2: số lượng cá cuối thí nghiệm

- Tăng trọng (g)

WG = Wt –Wi

Trong đĩ:

Wi: Trọng lượng cá đầu thí nghhiệm (g)

Wt: Trọng lượng cá cuối thí nghhiệm (g)

- Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (%/ngày)

SGR = (LnWt – LnWi)/∆t x 100

Trong đĩ:

LnWi: logarit neper của trọng lượng cá đầu thí nghiệm

LnWt: logarit neper của trọng lượng cá sau thí nghiệm

∆t: khoảng thời gian thí nghiệm (ngày)

- Hệ số thức ăn: Food conversion ratio

FCR = Lượng thức ăn khơ sử dụng / Tăng trọng cá thí nghiệm

- Hiệu quả sử dụng protein

PER =

ăn thức trong protein

Wi - Wt

Trang 33

- 23 -

3.7 Phương Pháp Xử Lý Số Liệu

Các số liệu về tăng trọng, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), hiệu qủa sử dụng protein (PER), tỉ lệ sống (SV),… được xử lí trên phần mềm Microsoft office excel và được phân tích bởi chương trình Statgraphics plus 3.0

Ngày đăng: 26/05/2018, 13:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w