Chó cái trên 6 năm tuổi mang thai có nguy cơ dễ bị mắc các rối loạn sinh sản và thai chết non tăng đáng kể so với chó mang thai có tuổi nhỏ hơn và nguyên nhân cũng được liệt kê khá nhiều
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐẺ KHÓ TRÊN CHÓ
Sinh viên thực hiện: PHAN THỊ MINH THƠ Lớp: DH07TY
Ngành: Thú Y Niên khóa: 2007 – 2012
Tháng 08/2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
PHAN THỊ MINH THƠ
KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐẺ KHÓ TRÊN CHÓ
Khoá luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn:
PGS TS TRẦN THỊ DÂN
Tháng 08/2012
Trang 4XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực tập: PHAN THỊ MINH THƠ
Tên luận văn: “Khảo sát một số yếu tố liên quan đến đẻ khó trên chó”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa
Ngày 1 tháng 8 năm 2012
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy: Võ Tấn Đại
Cô : Trần Thị Dân
Cô : Nguyễn Vũ Thuỵ Hồng Loan
Bác Sĩ: Lê Phạm Bảo Châu
Đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, truyền đạt lại kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm
vô cùng quý giá và giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Quý thầy cô Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn, truyền đạt kiến thức cho em trong suốt những năm học qua
Cô chú, anh chị bác sĩ thú y làm việc tại Trạm Chẩn Đoán Xét Nghiệm và Điều Trị Chi Cục Thú Y Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để em thực tập và hoàn thành luận văn này
Tất cả những người bạn đã bên cạnh, động viên, chia sẽ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Phan Thị Minh Thơ
Trang 6TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát một số yếu tố liên quan đến đẻ khó trên chó” được tiến hành tại Trạm Chẩn Đoán – Xét Nghiệm và Điều Trị Chi cục Thú Y TP Hồ Chí Minh từ tháng 12/2011 đến 4/2012 Mục tiêu của đề tài là đánh giá những bất thường
về dấu hiệu lâm sàng, hình ảnh X quang, siêu âm và hàm lượng các chất progesterone, canxi liên quan đến đẻ khó trên chó
Trong số 405 chó đến khám thai tại Trạm, phát hiện có 70 chó có dấu hiệu đẻ khó can thiệp bằng phẫu thuật, chiếm tỷ lệ 17,28%, 17 chó đẻ theo yêu cầu (4,2%) Giống chó có tầm vóc nhỏ như Chihuahua trong độ tuổi ≤ 2 năm, ở lứa đẻ thứ nhất có
tỷ lệ đẻ khó cao nhất
Biểu hiện lâm sàng thường xuất hiện của chó đẻ khó chó mẹ đã đẻ con ở nhà và không thấy đẻ con tiếp theo chiếm tỷ lệ cao nhất 22,85% Chó mẹ ra dịch xanh đen hôi thối (14,28%), chó mẹ chảy nước ối lâu nhưng chưa đẻ (11,4%), bọc ối đã lồi ra đến cổ
tử cung (10%), chó mẹ rặn liên tục nhưng thai không ra (10%), chó mẹ xuất huyết âm đạo (8,54%)
Nguyên nhân gây nên chứng đẻ khó được ghi nhận trong quá trình khảo sát gồm thai to (25,71%), thai chết, thối rữa (22,85%), tư thế thai bất thường (18,57%), tử cung
bị xoắn, vỡ, dính (7,1%), cổ tử cung không nở (10,3%), chó mẹ mệt, không rặn đẻ (7,1%), đẻ non (7,1%), thai bị kẹt lại ở khung xương chậu (4,2%), thai yếu (4,2%)
Những bất thường quan sát được trong quá trình phẫu thuật gồm viêm dính tử cung (7,69%), tử cung có mủ (6,15%), tử cung bị vỡ (3,07%) Tai biến sau phẫu thuật gồm có đứt chỉ đường may da cơ (7,69%), nhiễm trùng vết thương (7,69%) và con mẹ
chết (1,54%)
Nồng độ progesterone và canxi huyết thanh trung bình của nhóm chó đẻ khó được ghi nhận lần lượt 2,498 ± 0,361 ng/ml và 2,2167 ± 0,293 mmol/L
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Cảm tạ iii
Tóm tắt iv
Mục lục vi
Danh sách các chữ viết tắt ix
Danh sách các bảng x
Danh sách các hình xi
Danh sách các biểu đồ xiii
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục chó cái 3
2.1.1 Buồng trứng 3
2.1.2 Ống dẫn trứng 4
2.1.3 Tử cung 4
2.1.4 Âm đạo 5
2.1.5 Âm hộ 5
2.1.6 Cấu tạo của xương chậu 6
2.2 Sự sinh đẻ 7
2.2.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản chó cái 7
Trang 82.2.2 Các kích thích tố liên quan đến sự sinh đẻ 7
2.2.3 Những giai đoạn của quá trình đẻ 8
2.3 Đẻ khó 11
2.3.1 Chó đẻ khó 11
2.3.1.1 Định nghĩa 11
2.3.1.2 Các nguyên nhân gây đẻ khó 11
2.4 Phương pháp chẨn đoán phát hiỆn thai 14
2.5 Những biện pháp can thiệp đối với chó đẻ khó 15
2.5.1 Can thiệp bằng tay 15
2.5.2 Sử dụng thuốc 15
2.5.3 Phẫu thuật 15
2.6 Lượt duyệt các công trình nghiên cứu liên quan 16
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thời gian và địa điểm 19
3.1.1 Thời gian 19
3.1.2 Địa điểm 19
3.2 Đối tượng khảo sát 19
3.3 Nội dung nghiên cứu 19
3.4 Phương tiện nghiên cứu 19
3.4.1 Dụng cụ khám 19
3.4.2 Dụng cụ giải phẫu 19
3.4.3 Trang thiết bị chẩn đoán 20
3.4.4 Dược phẩm 20
3.5 Phương pháp thực hiện 21
3.5.1 Tại phòng khám 21
3.5.1.1 Tìm hiểu bệnh sử 21
3.5.1.2 Chẩn đoán lâm sàng 21
Trang 93.5.2 Tại phòng siêu âm 21
3.5.3 X quang 23
3.5.4 Phân tích máu 23
3.6 Các trường hợp can thiệp 24
3.6.1 Can thiệp bằng tay 24
3.6.2 Can thiệp bằng phẫu thuật 25
3.7 Các chỉ tiêu khảo sát 29
3.8 Phương pháp xử lý thống kê 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Khảo sát tỷ lệ chó đẻ khó 31
4.1.1 Tỷ lệ xuất hiện chứng đẻ khó 31
4.1.2 Các trường hợp chó đẻ khó cần can thiệp lấy thai 32
4.1.4 Tỷ lệ chó đẻ khó theo độ tuổi 34
4.1.5 Tỷ lệ chó đẻ khó theo lứa đẻ 35
4.2 Triệu chứng lâm sàng trên nhóm chó đẻ khó 36
4.3 Nguyên nhân gây nên chứng đẻ khó 38
4.4 Hàm lượng progesterone huyết thanh 43
4.5 Hàm lượng canxi huyết thanh 45
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 55
Trang 11DANH SÁCH CÁC BI ỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.2 Tác động của kích thích tố khi sinh 10
Biểu đồ 4.1 Tần suất chó đẻ khó và chó đẻ theo yêu cầu 38
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ chó đẻ khó theo giống 32
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ chó đẻ khó theo độ tuổi 34
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ chó đẻ khó theo lứa đẻ 35
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản chó cái 8
Bảng 4.1 Phân bố các trường hợp chó đẻ khó cần can thiệp lấy thai 32
Bảng 4.2 Tỷ lệ xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng bất thường trên chó đẻ khó 36
Bảng 4.3 Tỷ lệ nguyên nhân gây nên chứng đẻ khó 38
Bảng 4.4 Hàm lượng progesterone trên chó đẻ khó 43
Bảng 4.5 Các trường hợp chó đẻ khó có hàm lượng progesterone < 1 ng/ml 44
Bảng 4.6 Các trường hợp chó đẻ khó có hàm lượng progesterone ≥ 1 ng/ml 44
Bảng 4.7 Hàm lượng progesterone trung bình trên chó đẻ khó 45
Bảng 4.8 Hàm lượng canxi trung bình trên chó đẻ khó 45
Bảng 4.9 Tỷ lệ bất thường trong phẫu thuật trên nhóm chó đẻ khó can thiệp bằng phẫu thuật 46
Bảng 4.10 Tỷ lệ tai biến sau phẫu thuật trên nhóm chó đẻ khó can thiệp bằng phẫu thuật 48
Trang 13DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục chó cái 5
Hình 2.2 Cấu tạo khung xương chậu chó 6
Hình 3.1 Dụng cụ phẫu thuật 20
Hình 3.2 Siêu âm chó 22
Hình 3.3 Đo đường kính lưỡng đỉnh thai 59 ngày 22
Hình 3.4 Cách đo khung xương chậu 23
Hình 3.5 Lấy máu tĩnh mạch chó mẹ 23
Hình 3.6 Xoa bóp xoang bụng giúp đẩy thai về phía sau 24
Hình 3.7 Kéo thai bằng tay hay bằng kẹp không mấu 24
Hình 3.8 Tạo một lớp thủng trên thân tử cung gần ngã ba 26
Hình 3.9 Kẹp chặt thành tử cung vào thành bụng để tránh dịch ối tràn vào gây nhiễm trùng xoang bụng 26
Hình 3.10 Đưa ngón tay vào tử cung dò tìm đầu, chân, đuôi chó con 27
Hình 3.11 Dùng tay bóp 2 bên bụng giúp đẩy đầu thai lên 27
Hình 3.12 Đầu thai chui ra khỏi bụng mẹ 27
Hình 3.13 Dùng tay kéo chân chó con ra khỏi bụng mẹ 28
Hình 3.14 Kẹp và cắt rốn chó con 28
Hình 3.15 Kéo phần nhau còn sót lại ra ngoài 28
Hình 3.16 Tử cung đã được may xong 29
Hình 4.1 Bọc ối lồi ra ở âm đạo 37
Hình 4.2 Chân chó con lồi ra ở âm đạo 37
Hình 4.3 Sản dịch xanh đen 37
Hình 4.4 Xuất huyết âm đạo ở chó mẹ 37
Hình 4.5 Tạo lỗ thủng trên tử cung dẫn lưu bớt nước ối ở thai chết lưu 39
Hình 4.6 Tử cung được mở rộng để lấy thai chết lưu 39
Trang 14Hình 4.7 Thai chết bị phân hủy khi chó mẹ được chích thuốc ngừa thai 39
Hình 4.8 Thai chết, thối rữa 40
Hình 4.9 Chó con mới sinh bị dị tật ở 2 chân sau 40
Hình 4.10 Chó con mới sinh với tim thai nằm ngoài xoang bụng 40
Hình 4.11 Não chó con Chihuahua mới sinh bị úng thủy 40
Hình 4.12 Quái thai 40
Hình 4.13 Thai chết non 40
Hình 4.14 Thai chết sình hơi 41
Hình 4.15 Tử cung chứa thai chết 41
Hình 4.16 Não úng thủy 41
Hình 4.17 Thai chết trong xoang bụng 41
Hình 4.18 Thai chết lưu 41
Hình 4.19 Thai chết 55 ngày 41
Hình 4.20 Thai nằm cong 42
Hình 4.21 Thai nằm ngang 42
Hình 4.22 Song thai (2 thai chen nhau cùng ra) 42
Hình 4.16 Tử cung bị loét, sung huyết 47
Hình 4.17 Tử cung có mủ 47
Hình 4.18 Nhiễm trùng vết thương không có mủ 48
Hình 4.19 Nhiễm trùng vết thương có mủ 48
Hình 4.20 Cắt lọc mô hoại tử trước khi may lại 48
Trang 15Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chó là thú nuôi thông thường tại các gia đình Việt Nam Ngày nay với cuộc
sống kinh tế ngày càng khá giả, mối quan tâm đến sự nuôi dưỡng của thú cưng trong
nhà ngày càng được chú trọng nhất là đối với những thú nuôi có giá trị lớn Do vậy, khi
chú chó cưng mang thai và mong muốn có một quá trình sinh nở bình thường cũng là
mối lo lắng của chủ nhân Tuy nhiên, đẻ khó là một vấn đề thường gặp ở chó Theo
nhiều tác giả cho thấy tình trạng đẻ khó ở chó chiếm tỷ lệ khá cao, nhất là ở nhóm chó
ngoại (94,1%), nhóm chó có tầm vóc nhỏ như Chihuahua (55,8%) (Huỳnh Thị Bích
Ngọc, 2008) Chó cái trên 6 năm tuổi mang thai có nguy cơ dễ bị mắc các rối loạn sinh
sản và thai chết non tăng đáng kể so với chó mang thai có tuổi nhỏ hơn và nguyên nhân
cũng được liệt kê khá nhiều như do mẹ, do con, bất thường tử cung hoặc khung chậu
(Adrea Munich, 2009)
Progesterone là một trong những kích thích tố liên quan đến quá trình sinh đẻ
Trước khi sinh, hàm lượng progesterone trong máu sụt giảm để không còn tác dụng ức
chế co thắt cơ tử cung Theo nghiên cứu của Annika (2009) nồng độ progesterone vào
thời điểm sinh của nhóm chó đẻ khó cao hơn so với nhóm chó đẻ bình thường và nồng
độ chất này tập trung cao ở những nhóm chó không co bóp tử cung Do đó mức
progesterone huyết thanh có thể liên quan đến tình trạng đẻ khó
Canxi là chất khoáng thiết yếu có vai trò quan trọng trong rất nhiều hoạt động
nội và ngoại bào trong đó có việc tham gia kiểm soát sự co thắt tử cung trong trường
hợp thú trong giai đoạn sinh đẻ Theo nghiên cứu của Annika (2009), ở những chó cái
tử cung không co thắt nồng độ canxi trong máu thấp bất thường
Trang 16Nhằm tìm hiểu các nguyên nhân và các yếu tố có thể có liên quan đến tình trạng
đẻ khó ở chó, được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi - Thú y, Trạm Chẩn Đoán –Xét Nghiệm và Điều Trị Chi Cục Thú Y TP.Hồ Chí Minh và dưới sự hướng dẫn của TS Võ
Tấn Đại, PGS TS Trần Thị Dân, BSTY Lê Phạm Bảo Châu, đề tài “Khảo sát một số
yếu tố liên quan đến tình trạng đẻ khó trên chó” được thực hiện nhằm chẩn đoán chính
xác nguyên nhân cũng như giúp can thiệp xử trí kịp thời
Khảo sát tần suất giống chó, lứa tuổi, lứa đẻ ở nhóm chó đẻ khó
Theo dõi những triệu chứng lâm sàng tiền sản trên nhóm chó đẻ khó
Đánh giá kết quả siêu âm, X quang, hàm lượng progesterone và canxi trong máu
để xác định những bất thường ở chó đẻ khó
Đánh giá hiệu quả điều trị ở nhóm chó đẻ khó
Trang 17Chương 2
TỔNG QUAN 2.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục chó cái
2.1.1 Buồng trứng
Là nơi sản xuất trứng, tổng hợp và phân tiết hormone sinh dục cái Buồng trứng
có dạng hình bầu dục hay hình tròn, nằm trong túi buồng trứng, hai bên trong xoang bụng và phía sau thận Mỗi buồng trứng được đính bởi dây riêng vào tử cung và treo vào cân mạc ngang của bụng Buồng trứng phải thường nằm về phía trước hơn buồng trứng trái và nằm ở khoảng đốt sống thắt lưng số 3 - 4, buồng trứng bên trái nằm ở đốt sống thắt lưng số 4 - 5 Phần lớn buồng trứng được lớp màng bụng bao phủ, ở mặt trong, nơi mạch máu và thần kinh đi vào gọi là tể noãn
Mô liên kết tạo nên gian sườn của buồng trứng Xen kẽ với hệ thống mô liên kết này có nhiều nang noãn chứa noãn ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Các noãn còn non được bao quanh bởi một nang dày, gồm nhiều lớp tế bào Noãn chín hay noãn trưởng thành có kích thước lớn, lớp bao bên ngoài mỏng dần do các lớp tế bào tiêu biến
đi và có chứa một lượng dịch nhất dịch Các nang noãn chín gọi là nang Graaf và trồi lên bề mặt của noãn sào, có thể thấy được bằng mắt thường Khi nang Graaf vỡ, sẽ phóng thích noãn gọi là sự rụng trứng Khi nang noãn vỡ, xoang của nang sẽ động máu gọi là hồng thể Sau đó, lớp tế bào của nang phát triển và tích nhiều mô mỡ gọi là thể vàng hay hoàng thể Nếu có sự thu thai, thể vàng sẽ phát triển rất lớn và tồn tại lâu, nếu không có sự thụ thai, thể vàng sẽ teo dần và cuối cùng tạo thành một vết sẹo gọi là bạch thể (Phan Quang Bá, 2003)
Trang 182.1.2 Ống dẫn trứng
Cấu tạo gồm 3 phần: loa kèn là nơi nhận trứng chín rụng, thân ống dẫn trứng là nơi diễn ra quá trình thụ tinh ở 1/3 trên ống dẫn trứng, phần eo có đường kính rất nhỏ với chức năng vận chuyển trứng đã được thụ tinh ở 1/3 trên ống dẫn trứng
Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng, tiết các chất để nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và hoàn thiện khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung (Nguyễn Văn Thành, 2000)
Thân tử cung nằm 1 phần trong xoang bụng, 1 phần trong xoang chậu, đường kính lớn hơn sừng tử cung nhưng ngắn hơn Thân là nơi tiếp nhận hai sừng, mặt trên tiếp giáp với trực tràng, mặt dưới tiếp giáp với bàng quang
Cổ tử cung là phần hẹp ở phía sau, có thành rất dày, phía sau cổ tử cung nối với
âm đạo
Từ ngoài vô trong, tử cung cấu tạo gồm 3 lớp: lớp áo trơn liên tục với dây rộng
tử cung; lớp cơ trơn gồm cơ dọc ở ngoài mỏng và cơ vòng ở trong dày hơn, giữa 2 lớp
cơ có 1 lớp mô liên kết chứa rất nhiều mạch máu, lớp áo cơ dày nhất ở cổ tử cung; lớp niêm mạc có màu hồng, với nhiều tế bào tiết dịch nhầy
Sự cố định tử cung bởi hai màng treo tử cung hay màng rộng ở hai bên, liên kết
tử cung với thành trên của xoang bụng và xoang chậu Trên dây rộng này, có chứa rất nhiều mạch máu, thần kinh Dây tròn xuất phát ở cạnh dưới sừng tử cung, đến nối với đáy thành bụng chỗ vòng bẹn sâu của kênh bẹn (Phan Quang Bá, 2003)
Trang 192.1.4 Âm đạo
Âm đạo nằm nối tiếp phía sau của cổ tử cung, là một ống cơ, tiết diện có thể dãn
nở rất lớn Phía trên âm đạo tiếp xúc với trực tràng, phía dưới với bàng quang và ống thoát tiểu Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: áo trơn ở bên ngoài, gồm phần lớn là mô liên kết đàn hồi, phía trước được phần sau màng bụng bao phủ; áo cơ gồm lớp cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong; trong cùng là lớp niêm mạc có nhiều nếp gấp dọc, nhờ đó âm đạo có thể tăng đường kính rất lớn
2.1.5 Âm hộ
Là cửa sau của cơ quan sinh dục cái, nằm dưới hậu môn Cửa mở của ống âm hộ
có hình bầu dục, hai bên là 2 môi Mép dưới của âm hộ có một thể tròn nằm trong một xoang nhỏ, đó chính là âm vật hay dấu vết của dương vật trên thú đực (Phan Quang Bá, 2003)
Hình 2.1: Cấu tạo cơ quan sinh dục chó cái
(Nguồn dẫn liệu:
http://www.pet-informed-veterinary-advice-online.com/images/desexing-bitch-uterus.jpg)
Trang 202.1.6 Cấu tạo của xương chậu
Xương chậu bao gồm xương hông, xương tọa và xương mu Các xương này dính với nhau bằng các khớp bất động tạo thành xương chậu Hai bên của xương chậu khớp với nhau bởi khớp tọa mu hay còn gọi là khớp hàn xương bồn Đây là khớp bán động chuyển động theo dạng dang - khép Nhờ vậy mà đường kính xoang chậu có thể tăng lên, rất quan trọng trong sự sinh đẻ chó cái Các biến dạng về khung xương chậu đều ảnh hưởng đến việc sinh đẻ của chó cái (Nguyễn Thùy Thanh Thanh, 2011)
Hình 2.2: Cấu tạo khung xương chậu chó
(Nguồn dẫn liệu:
http://www.spcollege.edu/hec/vt/vtde/anatomy/images/06_PELVIS.jpg)
Trang 212.2 SỰ SINH ĐẺ
2.2.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản chó cái
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản chó cái
(1) Theo Spira (1988)
(2) Theo Smith and Mangkoevidjojo (1987), trích dẫn bởi Lê Văn Thọ (1995)
2.2.2 Các kích thích tố liên quan đến sự sinh đẻ
Estrogen được tiết ra từ nang noãn, tinh hoàn, tuyến thượng thận, kích thích tổng hợp protein và phát triển noãn, làm thay đổi hành vị của thú cái, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nang noãn để thụ tinh trong tử cung, kích thích phát triển tuyến vú, khởi động co thắt cơ trơn tử cung và góp phần chuẩn bị sinh đẻ
Progesterone được tiết ra từ thể vàng, nhau, tuyến thượng thận tạo điều kiện thuận lợi trong tử cung cho phôi phát triển, giúp tăng tiết và ngăn ngừa co thắt cơ trơn
tử cung, ngoài ra còn góp phần cho tăng trưởng và biệt hoá mô tuyến vú để chuẩn bị
Trang 22cho việc tạo sữa (Trần Thị Dân, 2006) Thay đổi tỷ lệ estrogen: progesterone ở nhau thai được xem là một yếu tố quan trọng cảm ứng sự sinh đẻ Trên chó tỷ lệ này tăng chủ yếu do giảm progesterone, điều này liên quan đến sự tổng hợp prostaglandin (Dẫn liệu của Nguyễn Thùy Thanh Thanh, 2011)
Relaxin tiết ra từ nhau và thể vàng trong suốt thai kỳ, cùng với progesterone ngăn ngừa co thắt tử cung, làm lỏng lẻo mô liên kết ở cổ tử cung và các dây gân ở vùng xương chậu để mở rộng đường sinh dục trước khi sinh (phối hợp với prostaglandin) (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006)
Prostaglandin cùng với oxytocin gây co tế bào cơ trơn tử cung để đẩy thai ra ngoài, gây thoái biến thể vàng nếu thú không mang thai
Oxytocin được cho là quan trọng trong việc gây cảm ứng sự sinh đẻ và được sử dụng để hỗ trợ sinh đẻ Oxytocin ở mức tương đối thấp trong suốt giai đoạn cuối của thai kỳ và giai đoạn đầu của sự sinh đẻ, hàm lượng oxytocin trong máu tăng dần khi đầu thai lồi ra âm hộ cũng như khi nhau thai được trục xuất, điều này cũng phụ thuộc chủ yếu vào sự suy giảm progesterone và sự tăng estrogen Vì thế oxytocin chỉ đóng một vai trò nhỏ trong sự khởi đầu của sự co bóp tử cung (Noakes và ctv, 2001)
2.2.3 Những giai đoạn của quá trình đẻ
Theo dẫn liệu từ Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang (2006) tiến trình sinh
đẻ bắt đầu từ việc tiết cortisol từ thai Người ta giả thiết rằng việc thiếu chỗ trong tử cung và nhu cầu biến dưỡng cao của thai là yếu tố gây tiết cortisol (yếu tố stress) làm thay đổi hàm lượng cortisol trong máu thai ảnh hưởng sự tạo kích thích tố của nhau
Cortisol kích thích sản xuất prostaglandin từ nhau PGF2α đi vào dịch mô của tử cung và kích thích co cơ tử cung (tác động như cận tiết tố), và đến thể vàng để gây thoái biến thể vàng Cortisol kích thích tổng hợp enzyme của nhau để chuyển progesterone thành estrogen Giảm progesterone và tăng estrogen làm co thắt cơ tử cung
Dấu hiệu chó sắp sinh
Trang 23Gần đến ngày sinh chó mẹ sẽ cào ổ, bồn chồn, bỏ ăn hoặc ăn ít đi Sau đó thì thấy dịch tiết chảy ra ở âm hộ Thân nhiệt chó mẹ có thể giảm xuống dưới 37oC
Sinh đẻ
Giai đoạn dãn: tử cung co bóp nên tăng áp lực lên dịch ối và cổ tử cung dãn rộng Dịch ối được phóng thích Thú không yên, đứng lên ngồi xuống Thú tơ có thời gian dãn dài hơn thú đã đẻ nhiều lứa Giai đoạn này khoảng 2-12 giờ ở chó
Giai đoạn trục bào thai: co thắt cơ tử cung do tác dụng của oxytocin đẩy thai đến
âm đạo Khi ấy, sự co thắt tử cung được hỗ trợ bởi co thắt cơ thành bụng Trong giai đoạn cuối của trục thai, cuống rốn có thể bị ép giữa thai và thành âm đạo nên giảm cung cấp oxy cho thai, và có thể gây chết thai trong vài trường hợp
Giai đoạn trục nhau: tử cung tiết PGF2α cùng với oxytocin gây co thắt cơ tử cung để đẩy nhau ra Thông thường, nhau được bài xuất trong một khoảng thời gian ngắn sau sinh Tuy nhiên, nhau có thể đi kèm theo thú con hoặc trong vài trường hợp lại được tống ra trước bào thai
Trang 24Sơ đồ 2.2: Tác động của kích thích tố khi sinh (Trần Thị Dân, 2006)
Trang 25Các dấu hiệu của sự đẻ khó:
Thú đẻ khó có các dấu hiệu như giảm nhiệt độ trực tràng (37,7oC) mà không sinh trong vòng 24 giờ
Bụng co thắt mạng từ 1 – 2 giờ mà chó con không được sinh ra
Thú đã sinh con đầu tiên nhưng 1 – 2 giờ sau không sinh con kế tiếp
Thời gian nghỉ trong khi chuyển dạ vượt quá 4 – 6 giờ
Chó cái đau dữ dội (kêu la, liếm, hoặc cắn âm hộ) mà không sinh được, dịch tiết
âm đạo đen, hoặc dịch nhầy có máu trước khi sinh con đầu tiên và mang thai kéo dài (Aiello, 1998)
2.3.1.2 Các nguyên nhân gây đẻ khó
(1) Do thú mẹ
Tử cung bị xoắn, vỡ, dính do sự di động của bào thai, sức rặn và sự lăn trở đau đớn của thú mẹ do đẻ khó hay do độ căng dãn quá mức của các dây chằng Nhất là trường hợp do cổ tử cung mở chậm hơn so với các cơn rặn đẩy thai ra làm cho tử cung
bị liệt Bệnh thường thấy trên thú đẻ nhiều lần hơn là thú đẻ lần một (Nguyễn Văn Thành, 2000)
Cổ tử cung mở chậm: khoảng vài giờ sau khi trên thú cái có những biểu hiện của sự sinh đẻ thì cổ tử cung sẽ dãn nở để chuẩn bị sinh con Khi triệu chứng sinh đẻ
đã trải qua các cơn rặn mãnh liệt, nhưng cổ tử cung chưa mở hay mở chưa đúng kích
Trang 26thước thì rất dễ dẫn đến tình trạng vỡ cổ tử cung Nguyên do có thể là do thú cái thiếu canxi trong huyết thanh (Nguyễn Văn Thành, 2000)
Hẹp khung xương chậu do cơ thể thú cái tơ chưa phát triển hoàn chỉnh mà đã sử dụng phối giống sớm hay do bẩm sinh, thú mẹ bị còi cọc, suy dinh dưỡng, ít vận động trong thời kỳ mang thai Rối loạn phân tiết hormone relaxin có tác dụng làm dãn nở khớp bán động giữa 2 cánh xương tọa mu (Nguyễn Văn Thành, 2000)
Con mẹ không rặn đẻ do stress lo lắng ở lần đẻ đầu tiên do thiếu canxi hay chó
mẹ rặn không đúng cách, dẫn đến quá mệt, thường gặp ở những chó mẹ lớn tuổi nhưng mới sinh con đầu tiên
Do kích thích tố progesterone: hàm lượng progesterone huyết thanh trung bình 0,99 ± 0,04 ng/ml giai đoạn trước động dục, tăng lên 2,55 ± 0,13 ng/ml khi động dục
và tiếp tục gia tăng ở giai đoạn sau động dục, trung bình 7,59 ± 0,66 ng/ml, sau đó giảm dần và cân bằng ở giai đoạn không động dục (0,68 ± 0,03 ng/ml) (Đỗ Hiếu Liêm, 2006) Theo Edqvist và ctv (1975), progesterone tăng lên khoảng 10 ng/ml khi bắt đầu động dục và tồn tại trong giai đoạn động dục, sau động dục và mang thai, nhưng đến lúc đẻ lại giảm thấp đáng kể (≤1 ng/ml) Concannon và ctv (1975, 1978) ghi nhận progesterone giảm mạnh trước khi bắt đầu chuyển dạ và duy trì ở mức thấp trong thời gian cho con bú Progestreone giảm trong suốt 2 ngày trước sinh, từ 3,3 ± 0,4 ng/ml đến 1,0 ± 0,1 ng/ml ngay khi sinh Sự chuyển dạ bắt đầu khi progesterone giảm < 1 ng/ml, nếu progesterone không giảm thì sự sinh đẻ sẽ không bắt đầu
Do vi khoáng canxi: canxi là thành phần chủ yếu cấu tạo nên bộ xương và răng, nhưng cũng là một yếu tố không thể thiếu tạo nên quá trình đông máu và còn tham gia vào các hoạt động co dãn tế bào cơ, làm tăng khả năng co bóp cơ tim Thiếu canxi cơ thể thú mẹ sẽ mệt mỏi, răng và xương mất chất khoáng, không thể co cơ được trong quá trình rặn đẻ
Sự hấp thu và chuyển hóa canxi trong cơ thể còn phụ thuộc vào sự cung cấp đầy
đủ một số yếu tố khác như phospho và đặc biệt là vitamin D Thiếu vitamin D thì dù
Trang 27cung cấp đủ canxi cơ thể cũng không thể hấp thu được Khi canxi không được cung cấp đủ, nồng độ chất này trong máu giảm sút thì tuyến cận giáp (hai tuyến nhỏ nằm cạnh và phía sau tuyến giáp) sẽ tăng cường hoạt động, tiết ra nhiều hormon hơn làm cho canxi trong xương phân giải, đi vào máu gây nên tình trạng loãng xương
Với thú mang thai, canxi không những cần cho mẹ mà còn rất cần cho thai Nguồn cung cấp canxi cho con là do sự thẩm thấu canxi từ máu mẹ qua nhau thai vào máu con Phần lớn lượng canxi này cùng với phospho cấu tạo nên bộ xương chó con
Theo Sanborn (2000) canxi là ion điện phân quan trong nhất trong việc kiểm soát co bóp cơ tử cung Hàm lượng Ca2+ trong tế bào chất quyết định mức độ co thắt của cơ trơn (Trần Thị Dân, 2006) Nồng độ tập trung ion canxi ngoại bào là khoảng 1,5 mmol/L và nồng độ tập trung trong nội bào tử cung là 0,13 µmol/L (Sanborn, 2000)
(2) Do thú con
Thai bị kẹt lại trong đường sinh sản chó mẹ Theo Munnich và Kuchenmeister (2009), thai bị kẹt lại do chó mẹ hẹp ống sinh dục chiếm tỷ lệ 9,8% trong tổng số chó được nghiên cứu (n = 530) Việc bị hẹp ống sinh dục là do bẩm sinh ở một số giống chó đầu ngắn và giống Terrier (như chó Pug, Boxer, Bulldog), cộng với thai có đầu tương đối lớn và vai rộng gây khó khăn trong việc trục xuất bào thai (Linde-Forsberg
và Eneroth, 2000)
Thai quá to: thai to khi trọng lượng của chó con chiếm 4 - 5% trọng lượng con
mẹ (Forberg và Eneroth, 2000) Chó con có kích thước ngoại cỡ, thường xuất hiện chỉ vài con trong một lứa đẻ, đặc biệt ở những lứa đẻ đơn thai Đôi khi hiện tượng này xuất hiện khi chó cha có kích cỡ quá lớn so với chó mẹ hoặc do chó con có những dị tật bẩm sinh như bệnh tràn dịch não (Trần Thị Hằng Nga, 2008)
Tư thế thai bất thường: hai thai ra cùng một lúc, đầu quẹo sang một bên, gập xuống hoặc ngửa ra sau, thai đưa một chân ra trước, thai đưa lưng ra trước hoặc bụng
ra trước
Trang 28Quái thai: theo Freak (1962) thì quái thai không là một nguyên nhân thường xuyên gây ra chứng đẻ khó ở chó Tuy nhiên chứng não úng thuỷ, sự phát triển không toàn diện của não và hộp sọ (Freak, 1962), chứng phù toàn thân bào thai (Chakurkar and Arle, 1992; Sharma et al., 2001) đã được báo cáo gây ra chứng đẻ khó trên chó cái
2.4 Phương pháp chẩn đoán phát hiện thai
Trong chẩn đoán sự mang thai, thì cần dò tìm túi thai, xem xét tim thai và sự hoạt động của thai nhằm xác định sự sống của thai Hoạt động tim tăng hoặc giảm biểu thị tình trạng thai Theo phương pháp khám truyền thống, việc phát triển thai sớm đi đôi với tử cung dãn nở và túi thai hiện diện trong khoảng từ 21 – 35 ngày sau khi phối Đây là thời điểm phát hiện thai sớm nhất và chính xác nhất Quá 35 ngày, khó có thể sờ nắn được túi thai vì tử cung quá lớn
Trong khi đó X quang có thể chứng minh sự dãn nở của tử cung đi đôi với sự mang thai nhờ vào sự cốt hoá thai từ ngày thứ 45, sau khi lượng LH cao nhất vào ngày thứ 36 – 45 Siêu âm được sử dụng để phát hiện sớm thai từ sau khi phối 10 ngày ở chó Một nghiên cứu gần đây trên 55 con chó, so sánh giữa siêu âm và X quang trong chẩn đoán và ước lượng số thai Chẩn đoán thai bằng X quang chính xác 100% trong vòng 20 ngày cuối thai kỳ và 93% trong việc đếm số thai Chẩn đoán bằng siêu âm chính xác 94% và chẩn đoán bằng phương pháp sờ nắn chỉ chính xác 88% khi khám thai (dẫn liệu của Vũ Thị Hồng Ánh, 2007)
Thông thường, siêu âm không thể đếm được chính xác số lượng thai, đặc biệt là
ở giai đoạn sớm và trễ của thời kỳ mang thai Để ước lượng số thai, tốt nhất là vào khoảng ngày 28 – 35 Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ chỉ một phần nhỏ của đường sinh dục được nhìn thấy khi siêu âm Vì vậy những thai có thể được đếm trùng lặp hoặc bị
bỏ sót Cho nên trên thực tế sự ước lượng số con bằng phương pháp siêu âm cũng không hoàn toàn chính xác Có thể sử dụng X quang (nếu cần) để hỗ trợ cho việc đếm
số thai khi thai đã hoá cốt (dẫn liệu của Nguyễn Phúc Bảo Phương, 2005)
Trang 292.5 Những biện pháp can thiệp đối với chó đẻ khó
Sau khi phát hiện thú có những biểu hiện bất thường trong quá trình sinh đẻ, để cứu mẹ và con cần có những biện pháp nhanh chóng thích hợp
2.5.1 Can thiệp bằng tay
Can thiệp bằng tay được chỉ định trong các trường hợp: khi kiểm tra thấy thai nằm ở khu vực xoang chậu, thai đã ra ngoài được một phần và bị kẹt lại, thai đã chết và chỉ có một thai thì dùng tay kéo ra luôn
2.5.2 Sử dụng thuốc
Can thiệp bằng thuốc được chỉ định trong các trường hợp chó mẹ mang đến trạm trong tình trạng đã rặn đẻ lâu ở nhà, chó mẹ đã quá mệt không còn sức rặn hay rặn yếu, chủ nuôi không muốn can thiệp bằng phương pháp mổ Theo Forsberg và Eneroth (2000), trong một số trường hợp, tử cung không đáp ứng với oxytocin nhưng lại đáp ứng với canxi Canxi cũng rất cần thiết cho sự co cơ tử cung Khoảng 10 phút trước khi
sử dụng oxytocin, tiêm chậm calcium borogluconat 10% vào tĩnh mạch với liều 0,5 – 1,5 ml/kg thể trọng
Liệu pháp này tuyệt đối không được sử dụng trong trường hợp đường sinh dục
bị tắt nghẽn, khung xương chậu hẹp, thai to, tư thế thai bất thường
2.5.3 Phẫu thuật
Mổ lấy thai được chỉ định khi chó mẹ ở vào các tình trạng sau đây:
Bọc ối lồi ra đã lâu mà thú mẹ vẫn chưa sinh được
Xuất huyết ở âm đạo mà không có ra bào thai
Sản dịch xanh đen, hôi thối do bong tróc nhau đã lâu hay thai chết
Chụp X quang thấy thai nằm ở vị trí bất thường
Đã đẻ con ở nhà khá lâu mà không tiếp tục đẻ nữa Theo Gaudet (1985) sau 2 giờ kể từ lúc con cuối cùng đẻ ra mà vẫn chưa đẻ được con tiếp theo được thì bào thai còn lại bên trong có thể gặp nguy hiểm
Trang 30 Chó mẹ già yếu, đã đẻ nhiều lứa trước, rặn yếu hay không rặn đẻ được
2.6 Lượt duyệt các công trình nghiên cứu liên quan
Trần Đăng Khôi (2005) khảo sát 432 chó có dấu hiệu sắp sinh được đem đến khám tại Chi Cục Thú Y TP.HCM, ghi nhận được 254 trường hợp chó có dấu hiệu đẻ khó Số chó đẻ khó bao gồm giống chó Nhật và Bắc Kinh (29,92%), Fox và Chihuahua(36,22%), chó ta (22,04%), còn lại 11,82% gồm những giống chó Berger Cocker và Rottweiler Nguyên nhân đẻ khó chủ yếu do tử cung co bóp kém (33,92%), xương chậu hẹp (24,1%), thai lớn (16,51%), xoắn tử cung (10,26%), tư thế thai bất thường (11,16%) và thai chết (4,05%) Tác giả cũng ghi nhận rằng chứng đẻ khó xảy ra đồng đều ở mọi lứa đẻ Khi can thiệp bằng oxytocin có 11/16 con đáp ứng tốt (68,75%); số chó phải can thiệp bằng phẫu thuật là 188 con (chiếm 74,02%) trong đó
có 96 ca thực hiện bằng đường mỗ giữa bụng; tai biến trong quá trình phẫu thuật là xuất huyết, truỵ hô hấp, vỡ tử cung và chết (38,54%); tai biến sau phẫu thuật là đứt chỉ
da, cơ, nhiễm trùng vết thương, nhiễm trùng phúc mạc và chết (55,68%)
Huỳnh Thị Bích Ngọc (2008) khảo sát 439 chó cái đến khám và điều trị tại bệnh viện thú y Petcare, ghi nhận được 34 trường hợp có dấu hiệu đẻ khó, tỷ lệ 7,74% Trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm giống chó ngoại 94,11%, đặc biệt là chó có tầm vóc nhỏ như Chihuahua (55,88%), chó Nhật (11,78%), chó Fox (8,82%), những chó còn lại như chó Việt Nam, chó Bắc Kinh, Dachshund, Pug, Cocker, Terrier chiếm số lượng thấp và gần tương đương nhau Chứng đẻ khó nhiều nhất ở lứa đẻ đầu tiên, trong
độ tuổi ≤ 2 năm tuổi Nguyên nhân gây nên chứng đẻ khó được ghi nhận trong thời gian khảo sát là: hẹp xương chậu (35,29%), cổ tử cung không mở, âm hộ không nở
Trang 31(17,65%), thai lớn (17,65%), thai chết thối rửa (11,76%), tư thế thai bất thường (5,88%), sảy thai đẻ non (5,88%), vỡ tử cung và rặn yếu (2,94%) Tai biến trong quá trình phẫu thuật là xuất huyết (8,82%) và trục trặc đường hô hấp (5,88%), trong khi tai biến gặp phải sau phẫu thuật là nhiễm trùng vết thương với tỷ lệ 11,76% và đứt chỉ may da 5,88%
Trần Thị Hằng Nga (2008) khảo sát 105 chó cái mang thai được đem đến khám
và can thiệp tại Trạm Phòng Chống Dịch và Kiểm Dịch Động Vật, ghi nhận được 84 trường hợp lấy thai bằng phẫu thuật, chiếm tỷ lệ 80,01%, 3 trường hợp dùng oxytocin
hỗ trợ, chiếm tỷ lệ 2,85%, có 18 trường hợp can thiệp lấy thai bằng tay, chiếm tỷ lệ 17,14% Giống chó có tầm vóc nhỏ như Chiahuahua và Fox trong độ tuổi 2 năm, ở lứa thứ nhất có tỷ lệ đẻ khó cao nhất cũng như có tỷ lệ phẫu thuật lấy thai cao nhất Nguyên nhận đẻ khó ghi nhận là: khung xương chậu hẹp (30,55%), thai to (25%), tử cung co bóp kém (19,45%), thai chết (13,9%) Triệu chứng thường xuất hiện ở chó đẻ khó là: rặn liên tục nhưng thai không ra (27,77%), chảy nước ối (22,22%), chảy sản dịch màu xanh đen (19,44%) Tai biến thương gặp sau quá trình phẫu thuật là: nhiễm trùng vết thương không đứt chỉ khâu có 17 trường hợp (50%), nhiễm trùng vết thương kèm theo đứt chỉ khâu có 13 trường hợp (38,23%), kích ứng chỉ có 4 trường hợp (11,77%)
Nguyễn Thùy Thanh Thanh (2011) khảo sát 702 chó đến khám thai tại Chi Cục Thú Y TP HCM, có 158 chó có dấu hiệu đẻ khó (22,51%) Nguyên nhân đẻ khó thường là dạng kết hợp (58,86%) bao gồm rặn liên tục, vỡ ối và thai kẹt ở âm đạo, thai
to (11,39%), thai chết (21,52%), thai yếu (9,49%), tư thế thai bất thường (17,72%), xương chậu hẹp (20,25%) và một số trường hợp khác không xác định được nguyên nhân (19,62%) Nồng độ progesterone trung bình 1,59 ± 0,16 ng/ml trên chó đẻ khó không xác định được nguyên nhân qua siêu âm, X quang
Nhìn Chung các đề tài khảo sát trước đây đã đánh giá được các yếu tố liên quan đến chó đẻ khó như giống, tuổi, lứa đẻ, thống kê được các dấu hiệu lâm sàng, nguyên
Trang 32nhân gây nên đẻ khó, xét nghiệm hàm lượng progesterone trong huyết thanh, nhưng chưa xét nghiêm hàm lượng vi khoáng canxi trong máu Do đó đề tài này được thực hiện để tiếp tục nghiên cứu về hàm lượng progesterone liên quan đến đẻ khó và xác định thêm nồng độ canxi huyết thanh
Trang 33Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm
3.2 Đối tượng khảo sát
Những chó cái mang thai có dấu hiệu sắp sinh được chủ nuôi đem đến khám và điều trị
3.3 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát tần suất giống chó, lứa tuổi, lứa đẻ ở nhóm chó đẻ khó
Ghi nhận những triệu chứng lâm sàng tiền sản trên nhóm chó đẻ khó
Đánh giá kết quả siêu âm, X quang, hàm lượng canxi, progesterone trong máu
để xác định những bất thường ở chó đẻ khó
Đánh giá hiệu quả điều trị ở nhóm chó đẻ khó
3.4 Phương tiện nghiên cứu
3.4.1 Dụng cụ khám
Nhiệt kế, bàn cân, bàn khám, ống nghe…
Trang 343.4.2 Dụng cụ giải phẫu
Bàn phẫu, nồi hấp khử trung bằng nhiệt, dao, kéo, kẹp, nhíp, dụng cụ cạo lông, găng tay phẫu thuật tiệt trùng, băng thun, băng cá nhân, kim, chỉ, đèn hồng ngoại
Hình 3.1 : Dụng cụ phẫu thuật 3.4.3 Trang thiết bị chẩn đoán
Máy siêu âm cho gia súc với đầu dò convex có tần số 5.0 MHz
Máy X quang chuyên biệt cho gia súc
3.4.4 Dược phẩm
Thuốc tiền mê : Atropin sulfate 0,1 mg/kg P (SC)
Thuốc mê : Zoletil 5 - 7 mg/kg P (IV)
Thuốc tê : Lidocain 2% (SC)
Thuốc kháng sinh : Ceftriazone 0,25 ml/kgP (SC)
Thuốc kháng viêm : Dexamethasone 0,1 – 0,2 mg/kgP (SC)
Thuốc trợ sức, trợ lực : B-complex 0,8 – 10 mg/kg P, Vitamin C 20 mg/kg P … Truyền dịch: Lactate ringer 25 ml/ kg P hay Glucose 5% 25 ml/kg P (IV)
Trang 353.5 Phương pháp thực hiện
3.5.1 Tại phòng khám
3.5.1.1 Tìm hiểu bệnh sử
Ghi nhận tên, địa chỉ chủ vật nuôi
Ghi nhận giống, tuổi, trọng lượng, tình hình sức khoẻ hiện tại của chó mẹ; giống chó bố, kích thước của chó bố
Ghi nhận số lứa đẻ, số ngày mang thai
Tình trạng sinh đẻ lứa trước, số lượng con đã đẻ các lứa trước, số lượng con còn sống sót
Ghi nhận thời điểmvà dấu hiệu chuyển dạ
Ghi nhận tính chất dịch tiết âm đạo những ngày gần đây
3.5.1.2 Chẩn đoán lâm sàng
Kiểm tra vùng bụng của chó mẹ, thân nhiệt, nhịp tim, nhịp thở, nhịp rặn của chó
mẹ, tình trạng tiết sữa của tuyến vú Cảm nhận sự chuyển động của thai khi dùng tay áp sát bụng của chó mẹ
Thăm khám âm đạo để đánh giá tình trạng giãn nở và độ co thắt gcổ tử cung; mức độ cứng chắc hay mềm mại của tử cung; màu sắc và lượng dịch tiết ở âm hộ, màu sắc niêm mạc âm hộ