Với đề tài: Tính dân chủ hoá trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn sau 1975 qua tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, ý tưởng của người viết là sẽ tìm hiểu hoàn cảnh lịch s
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT CẨM THUỶ 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tính dân chủ hóa trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn sau 1975 qua tác phẩm “Chiếc thuyên ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
Trang 2MỤC LỤC
CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT……… 3
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG SKKN……… 3
PHẦN 1: NỘI DUNG……… ……….… 5
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1975……… 5
1 Hoàn cảnh lịch sử……… … ……… …5
2 Tình hình văn hoá, xã hội.……… … ……… … ………… ….6
3 Diện mạo văn xuôi Việt Nam sau năm 1975……… …… 6
CHƯƠNG 2: TÍNH DÂN CHỦ HOÁ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN SAU NĂM 1975 QUA TÁC PHẨM “ CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA NGUYỄN MINH CHÂU……….8
1 Đề tài về cuộc sống thế sự, đời tư……….……….8
2 Tính đa diện trong cách tiếp cận hiện thực……… ……… 9
3 Thành tựu nghệ thuật……… ……… 12
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN CHUYÊN ĐỀ THỬ NGHIỆM : ÔN TẬP PHẦN VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN SAU NĂM 1975 QUA TÁC PHẨM “ CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” 13
PHẦN 2: KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN……… ……….23
TƯ LIỆU THAM KHẢO……… ……… ……… 25
Trang 3CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
SGK: Sách giáo khoa
THPT: Trung học phổ thôngSKKN: Sáng kiến kinh nghiệmHSG: Học sinh giỏi
Trang 4BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
1.1 Đọc văn là phân môn quan trọng trong chương trình Ngữ văn cùng vớiLàm văn và tiếng Việt Trong cơ cấu bộ môn Ngữ văn thì đọc văn (hay đọc hiểuvăn bản) có một vị trí và vai trò to lớn Nếu tiếng Việt cung cấp cho các em vốn
từ, giúp các em biết cách thức hành văn và diễn đạt thì Đọc văn rèn cho các emnăng lực đọc hiểu và khả năng cảm thụ văn bản hoàn chỉnh
Trong những năm gần đây, cấu trúc đề thi tốt nghiệp và đại học, mà bâygiờ hợp nhất thành một kì thi chung là kì thi trung học phổ thông quốc gia(THPTQG) dần đi vào ổn định Một đề thi sẽ có hai phần: đọc hiểu và làm văn.Trong phần làm văn sẽ có hai câu hỏi nghị luận xã hội và nghị luận văn học.Như vậy, người dạy và người học muốn đạt được hiệu quả buộc phải thay đổihình thức dạy và học sao cho đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đề thi Dạy họcsinh kiến thức đảm bảo tính hệ thống từ dễ đến khó, từ đơn giản tới phức tạp đểhọc sinh luyện tập thành thạo các kĩ năng làm bài là nội dung chủ yếu của cáctiết dạy cũng như trong sinh hoạt tổ chuyên môn Tất cả đều nhằm mục đích dạytốt, học tốt trong các nhà trường phổ thông
1.2 Sau năm 1975 văn học Việt Nam có một sự chuyển mình rất mạnh mẽ Hoàncảnh lịch sử thay đổi cùng với những biến động trong đời sống văn hoá, xãhội buộc văn học phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Nền vănhọc thời chiến đã có những thành tựu đáng kể mà hậu thế không thể phủ nhận.Chính vì thế, khi ra khỏi cuộc chiến, dư âm của chiến tranh vẫn là đề tài của hầuhết những sáng tác trong khoảng một thập niên đầu Từ năm 1986 nhất là sauĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, văn học đổi mới khá toàn diện, nhất là tronglĩnh vực văn xuôi Những cây bút thời chiến như Nguyễn Minh Châu, NguyễnKhải, Ma Văn Kháng… luôn nỗ lực đi đầu trong công cuộc cách tân nền vănxuôi theo hướng dân chủ hoá Vượt qua cái bóng của chính mình, họ khao kháttìm kiếm thành công trong mảnh đất của đời sống hiện thực Sau chiến tranh,một loạt vấn đề được đem ra soi xét, mổ xẻ và được nhìn nhận lại Đây là giaiđoạn văn học có nhiều đóng góp quan trọng nhưng thời lượng giảng dạy trongchương trình Ngữ văn lớp 12 cho những tác phẩm này còn rất hạn chế Tácphẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu học trong hai tiết và haitiết đọc thêm cho hai tác phẩm “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải và “Mùa
lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng Với đề tài: Tính dân chủ hoá trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn sau 1975 qua tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, ý tưởng của người viết là sẽ tìm hiểu hoàn cảnh
lịch sử, văn hoá và xã hội tạo cơ sở để rút ra những biểu hiện chung, mang tínhkhái quát của tinh thần dân chủ trong văn học Từ đó, cung cấp kiến thức nềntảng giúp các em có được chiếc “chìa khoá” để tư duy và tự nghiền ngẫm những
Trang 5tác phẩm ra đời trong thời gian này Để giải quyết yêu cầu đặt ra trong đề tài làđáp ứng yêu cầu dạy và học phần văn xuôi Việt Nam sau năm 1975, người viết
sẽ tiến hành biên soạn tất cả những vấn đề có thể xảy ra trong đề thi THPTQGkhi hỏi về các tác phẩm này Người viết sẽ tiến hành khảo sát và thiết kế các đềbài liên quan dựa trên đặc điểm quan trọng nhất của văn học Việt Nam giai đoạnsau năm 1975 là tính dân chủ theo mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản, sơ lượcdành cho học sinh trung bình, khá đến mức độ cao hơn là dành cho học sinhgiỏi
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng trong thực tiễn giảng dạy và học tập
môn Ngữ văn lớp 12, cụ thể trong các tiết học về văn xuôi sau năm 1975
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 15/9/2016`
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
PHẦN I: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT
VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM SAU NĂM 1975 1.1 Hoàn cảnh lịch sử:
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc đã kết thúc thắng lợibằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử Đất nước thống nhất bước vào thời kỳkhôi phục và phát triển Những thời cơ và thuận lợi để đưa đất nước ta đi lên đãđến nhưng những khó khăn và thách thức thì lại vô cùng phức tạp Cuộc chiếntranh kéo dài khiến ruộng đất bỏ hoang nhiều, các cơ sở sản xuất và các thànhphố lớn của chúng ta đều bị phá hủy, chính sách cấm vận của các thế lực thùđịch, sự khủng hoảng dẫn đến tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và
sự sụp đổ của liên bang Xô Viết vào những năm đầu thập niên 90 đẩy đất nước
ta vào tình trạng khủng hoảng về đường lối Hơn nữa hậu quả của những chủtrương chính sách nặng nề như duy ý chí, chủ quan nóng vội cũng là một trongnhững yếu tố kiềm chế sự phát triển của đất nước sau chiến tranh Cuộc chiếntranh giải phóng đã kết thúc nhưng tiếng súng xâm lược vẫn nổ ra ở biên giớiphía Bắc và Tây Nam, máu vẫn chảy ở chiến trường Campuchia tất cả nhữngbiến cố đó đẩy nước ta vào cuộc khủng hoảng toàn diện ngày càng nặng nề.Trước tình hình đó, đất nước buộc phải tiến hành đổi mới Nghị quyết của Đại
Trang 6hội Đảng lần thứ VI (1986) đã chỉ rõ đổi mới là “nhu cầu bức thiết”, là “vấn đề
có ý nghĩa sống còn” của toàn dân tộc
1.2 Tình hình văn hoá, xã hội:
Những biến cố về chính trị đã đẩy xã hội Việt Nam vào tình trạng nhiễuloạn kéo dài Sau chiến tranh lạm phát mạnh, vật giá tăng cao, tham nhũnghoành hành kéo dài, cảnh sống của người dân nghèo nàn, khổ sở Từ lâu, chiếntranh đã không còn xa lạ với đất nước và dân tộc Việt Nam nhưng chưa bao giờ
hệ luỵ của nó lại dai dẳng và tàn khốc như ở cuộc chiến lần này Cả một thế hệkhốn đốn bị thời cuộc quật lên quật xuống quá nhiều, bị lịch sử dày vò Bước ra
từ cuộc chiến ấy là những con người rời rã, tinh thần khủng hoảng, bị chấn độngtình cảm nặng nề Tâm hồn họ đã rách nát, rất khó hàn gắn và dung hoà đượcvới thực tại… Tất cả những mảnh đời, cảnh sống đó đã in hằn dấu ấn vào trongvăn học, góp phần tái hiện diện mạo đời sống tinh thần dân tộc qua một giaiđoạn lịch sử đầy thăng trầm
Cùng với những biến cố mạnh mẽ về lịch sử là cuộc va chạm dữ dội vềvăn hoá Các trào lưu tư tưởng và triết học phương Tây không ngừng du nhậpvào Việt Nam “Công chúng đọc Francoise Sagan tại Sài Gòn cùng lúc vớiParis Trên hè phố, nhất là tại các quán cà phê, người ta bàn luận về Malraux,
Camus, cả về Faulkner, Gorki, Husserl, Heiddegger” (Đặng Tiến, “Thơ miền Nam tiền chiến”) Sài Gòn trở thành đô thị sầm uất và huyên náo vào bậc nhất
lúc bấy giờ Mặc dù có tồn tại sự xô bồ trong cách tiếp nhận khi công chúngham mê triết học “Ồn ào như giới trẻ mê tài tử điện ảnh, mê ca sĩ như giới mộđạo tôn sùng cầu thủ bóng bầu dục, các võ sĩ quyền anh” Nhưng không thể phủnhận một điều cuộc tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ của phương Tây đã thổibùng lên cuộc cách mạng văn hoá đầy hứng khởi Sự hiểu biết của quần chúng,đặc biệt là của tầng lớp trí thức được nâng cao một cách rõ rệt Được sự cổ vũcủa các trào lưu tư tưởng tiến bộ trên thế giới cùng với bức bình phong vữngchắc của văn hoá dân tộc đã tạo nên một bối cảnh văn hoá mới, thúc đẩy tinhthần sáng tạo
Có thể nói, văn hoá giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của nhiềukhuynh hướng, sự hấp thu nhiều luồng tư tưởng nhưng trong mạch ngầm vẫnvận hành theo cơ chế hiện đại Văn học Việt Nam lúc này đang trở mình, lột xác
để thoát li khỏi cái bóng của văn hoá Trung Hoa, chuyển mình hoà nhập vào vănmạch chung của thế giới
1.3 Diên mạo văn xuôi Việt Nam giai đoạn sau năm 1975.
Văn học Việt Nam từ sau năm 1975 có một sự chuyển biến rất mạnh mẽ.Nếu như trong 30 năm trước đó nền văn học cách mạng vận động theo quy tắcthời chiến Người ta có thể dễ dàng nhận thấy nhân vật trung tâm của văn học
Trang 7giai đoạn này là con người trong mối quan hệ với vận mệnh đất nước, với lịch
sử dân tộc Con người chủ yếu được đặt trong những biến cố chính trị, nhữnghoạt động lớn của cách mạng và kháng chiến Trong một không gian rộng lớnnhư vậy thì con người được chú trọng nhất đó là con người của quần chúngthuộc tầng lớp công nông binh, được khắc hoạ bằng bút pháp lãng mạn mangkhuynh hướng sử thi đậm nét Các nhân vật sống với thế giới của hiện tại và cóước mơ mãnh liệt vào tương lai Lịch sử trùng khớp với hiện tại, vẻ đẹp tâm hồncủa các nhân vật mang tầm vóc tư tưởng và ý thức chính trị Từ sau năm 1975,văn học có sự đổi khác, chuyển mình rất mạnh mẽ Văn học vận động theohướng dân chủ hóa thể hiện ở nhiều phương diện
1.3.1 Đổi mới quan niệm về nhà văn:
Quan niệm về nhà văn là một nội dung quan trọng làm nên ý thức và ýnghĩa của văn chương mỗi thời Sự chuyển biến về văn học, trước tiên biểu hiện
ở sự chuyển biến trong ý thức của người cầm bút Chức năng cao cả của vănchương được thể hiện ở quan niệm “Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí” Vănchương nghệ thuật nói chung là để chuyên chở đạo lí, để nói chí tỏ lòng Nhàvăn hiện diện trước hết như một nhà chính trị, một nhà đạo đức hay một nhàgiáo dục Văn học không tách rời với nhiệm vụ giáo dục đạo đức và lối sống chocon người Cuộc kháng chiến cứu nước kết thúc, văn học trở về với quỹ đạo củacuộc sống thời bình Những sáng tác theo đường quen, lối mòn, những quy tắccủa thời chiến trở nên lạ lẫm với người đọc đương thời Công chúng ngày càng
tỏ ra hờ hững, không mấy mặn mà khi đón nhận Chính Nguyên Ngọc đã nhận
ra “khoảng chân không văn học”, sự “lệch pha” giữa văn học và công chúng.Đại hội Đảng VI với chủ trương cởi trói, giải phóng nền văn nghệ, khuyến khích
sự tìm tòi, khám phá và những trải nghiệm cho văn nghệ sĩ đã khiến văn họctừng bước thoát khỏi sự lầm lạc ban đầu Nhà văn ý thức được vị trí của mìnhtrong mối quan hệ với bạn đọc Họ không phải nhà thông thái, tài năng và biếttuốt Họ nhận ra rằng cần tôn trọng kinh nghiệm cá nhân nhưng hoàn toàn khôngnên độc tôn nó Họ chấp nhận người đọc như một đối tác để cùng tham gia bànbạc, cùng trao đổi và thảo luận các hiện tượng nảy sinh cũng như các vấn đề củacuộc sống
1.3.2 Đổi mới quan niệm về hiện thực:
Nền văn học cách mạng giản đơn, nhất quán trong quan niệm về hiệnthực Hiện thực được hiểu theo nghĩa hẹp, đồng nhất với biến cố và sự kiệnchính trị, lịch sử của đất nước thì văn học sau năm 1975 có sự thay đổi rõ nét.Phạm vi hiện thực được nới rộng, có những khía cạnh chưa từng được nói tớitrong nền văn học giai đoạn trước đây như những mặt trái của cuộc chiến đấu,những nhọc nhằn, gian khó của con người trong cuộc mưu sinh cũng như hànhtrình tìm lại chính mình, tình yêu và hạnh phúc Mặt tiêu cực, mặt trái của hiệnthực, cái xấu, cái ác trong đời sống được mổ xẻ và phanh phui đến tận cùng
Trang 8Trước hiện thực rộng lớn, chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ không thể biết hết,những trải nghiệm của nhà văn trong tác phẩm chỉ là một giả thiết được đem ratrao đổi Trong rất nhiều tác phẩm đã xuất hiện cách nhìn hiện thực đa dạng,nhiều chiều, thể hiện mối quan hệ tự do của nhà văn với hiện thực.
1.3.3 Đổi mới trong nghệ thuật trần thuật của những cây bút văn xuôi sau năm 1975.
Phương thức thể hiện hiện thực trong văn xuôi sau năm 1975 được thểhiện bằng nhiều cách thức khác nhau Trước một vấn đề, nhà văn có nhiều cách
để truyền tải tới bạn đọc như nói về cái thực thông qua cái ảo, nói cái hữu líthông qua cái phi lí, cùng với đó là các thủ pháp đa dạng, giàu hiệu quả: kì ảo,huyễn tưởng, huyền thoại, giễu nhại, trào lộng Sự đa thanh trong giọng điệu…Nhìn như vậy có thể nói, từ “viết cái gì” đến “viết thế nào” là một bước chuyểnđáng kể của văn xuôi đương đại Việt Nam
CHƯƠNG 2: TÍNH DÂN CHỦ HOÁ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN SAU 1975
QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
1 Tinh thần dân chủ qua truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.
1.1 Đề tài về cuộc sống thế sự, đời tư:
Có thể thấy cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm Nguyễn Minh Châu trướcnăm 1975 là cảm hứng anh hùng cách mạng, còn sau năm 1975 là cảm hứng vềnhân cách con người, là hành trình “khám phá con người bên trong con người”(Bakhtin) Theo mạch cảm hứng ấy, năm 1982 Nguyễn Minh Châu viết truyệnngắn “Bức tranh” Trong ý nghĩ tự phán xét, nhân vật hoạ sĩ đã vẽ một bức chândung tự hoạ nhằm thể hiện “khuôn mặt bên trong của chính mình” Đáng lưu ý
là, nếu trong truyện “Bức tranh”, Nguyễn Minh Châu hướng cái nhìn nghệ thuậtvào thế giới nội tâm thì trong truyện “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn MinhChâu lại hướng cái nhìn nghệ thuật ra thế giới bên ngoài, ra cuộc sống đờithường, là sự nhận thức và phê phán cái xấu, cái ác trong cuộc sống thườngngày Cả hai tác phẩm đều được viết dưới sự chỉ đạo của quan điểm nghệ thuật:chỉ ra mặt xấu, mặt tối để góp phần hoàn thiện nhân cách con người, làm chocuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn Đặc biệt, “Chiếc thuyền ngoài xa” mang đếnmột bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn
đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thực sự sau vẻ ngoài đẹp đẽ của hiệntượng, thật đúng như Nguyễn Minh Châu từng khẳng định: “Nhà văn không cóquyền nhìn sự vật một cách đơn giản, và nhà văn cần phấn đấu để đào xới bảnchất con người vào các tầng sâu lịch sử”
Trong văn học cách mạng trước năm 1975, thước đo giá trị chủ yếu củanhân cách là sự cống hiến, hy sinh cho cách mạng, là các tiêu chuẩn đạo đức
Trang 9cách mạng được thể hiện chủ yếu trong mối quan hệ với đồng chí, đồng bào, với
kẻ thù Sau năm 1975, văn chương trở về với đời thường và Nguyễn Minh Châu
là một trong số những nhà văn “mở đường tinh anh và tài năng nhất” Ông trăntrở khám phá và kiếm tìm chất liệu cũng như nguồn cảm hứng, đề tài mới chonhững sáng tác của mình Thế giới nhân vật ông hướng tới cũng khác trước Đókhông còn là những con người mang trong mình vẻ đẹp hoàn mĩ, không tì vếtnhư những viên ngọc quý trong những sáng tác trước năm 1975 Ở giai đoạn sau
1975, Nguyễn Minh Châu khám phá con người ở góc độ thế sự đời tư Họ lànhững con người với cuộc đời và số phận rất riêng, luôn phải vật lộn trong cuộcmưu sinh đầy nhọc nhằn hay kiếm tìm hạnh phúc
Ở khía cạnh nhận thức, quan điểm sáng tác của Nguyễn Minh Châu rấtgiống với Tô Hoài khi cho rằng viết văn là quá trình nói ra sự thật cho dù đó làmột sự thật không mấy dễ chịu Thậm chí phải phá vỡ đi những thần tượng tronglòng bạn đọc Chưa bao giờ văn học có khát vọng lớn lao là được nói ra sự thậtnhư bấy giờ Khi làm cho người đọc ý thức về sự thật, có khả năng nhìn thẳngvào sự thật, phát hiện nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp, chằng chịt thì vănchương đã ít nhiều đáp ứng được nhu cầu nhìn nhận và hoàn thiện nhiều mặt củanhân cách con người Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn MinhChâu là phát hiện về đời sống và con người theo hướng đó
1.2 Tính đa diện trong cách tiếp cận hiện thực:
1.2.1 Phát hiện 1: Vẻ đẹp nên thơ của cảnh thuyền và biển- “Một bức tranh mựctàu của một danh họa thời cổ”
Phùng là kiểu nhân vật tư tưởng, người thay Nguyễn Minh Châu phát biểuquan điểm về nghệ thuật cũng như cách nhìn hiện thực Trong thời chiến, anhtừng là người lính không tiếc sinh mạng để bảo vệ cuộc sống bình yên của conngười và giữ hoà bình cho dân tộc Bước ra khỏi cuộc chiến, anh trở về cuộcsống đời thường, làm một nhiếp ảnh gia chăm sóc đời sống tinh thần, làm đẹpcho đời Khi nhận được yêu cầu của trưởng phòng chụp một bức ảnh bổ sungvào bộ lịch xuân năm sau, Phùng đã tìm đến vùng biển miền Trung để thăm lạichiến trường xưa Đây là cơ hội để Phùng hội ngộ với Đẩu, người đồng đội cũ
mà bây giờ đang là chánh án toá án huyện Sau mấy ngày phục kích cảnh biển,Phùng không chụp được bức ảnh nào ưng ý Vào lúc không ngờ nhất, khi anhđang trú mưa và lúi húi thay phim bên bánh xích của một chiếc xe tăng hỏng,anh phát hiện ra cảnh đắt trời cho: “Trước mặt tôi là bức tranh mực tàu của mộtdanh hoạ thời cổ Mũi thuyền in một nét loè nhoè vào bầu sương mù màu trắngnhư sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào Vài bóngngười lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum,đang hướng mặt vào bờ Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới…toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp” Vẻ đẹphoàn thiện, hoàn mĩ của bức tranh cảnh vật ấy có lẽ anh chỉ có diễm phúc bắt
Trang 10gặp được một lần Bức tranh nên thơ, hữu tình ấy như một phần thưởng cao quýdành cho người nghệ sĩ kiên trì tìm kiếm cái đẹp.
Giây phút ấy, đôi mắt nhà nghề của người nghệ sĩ đã phát hiện ra vẻ đẹp
“trời cho” trên mặt biển mờ sương Trước cái đẹp, Phùng “bối rối”, “trong timnhư có cái gì bóp thắt vào”, “Tôi tưởng thấy chính mình vừa khám phá thấy cáichân lý của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâmhồn” Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá
và sáng tạo, của sự cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu Dường như trong hình ảnh vềchiếc thuyền ngoài xa giữa trời biển mờ sương, anh đã bắt gặp cái tận Thiện, tận
Mỹ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởicái đẹp hài hoà, lãng mạn của cuộc đời
1.2.2 Phát hiện thứ hai: Cảnh bạo hành trong gia đình thuyền chài- “Một câuchuyện cổ tích đầy quái đản”
Chiêm ngưỡng chiếc thuyền ngoài xa, nó đẹp hoàn hảo, không tỳ vết.Những nó chỉ là “ánh trăng lừa dối” cảm giác của người nhìn Bước ra từ chiếcthuyền ngư phủ đẹp như mơ đó là câu chuyện trần trụi về sự thật cuộc đời Nóbất ngờ và trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống Phùng đã từng có “cáikhoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoạicảnh vừa mang lại”, anh đã từng chiêm nghiệm “bản thân cái đẹp chính là đạođức” Nhưng đằng sau cái đẹp “toàn bích”, “toàn thiện” mà anh vừa nhìn thấytrên mặt biển xa lại chẳng phải là “đạo đức”, là “chân lý của sự toàn thiện” Sựthật cuộc đời dần lộ diện Đó là một người đàn bà ngoài bốn mươi tuổi, thânhình “cao lớn” với những đường nét “thô kệch”, khuôn mặt rỗ, mệt mỏi sau mộtđêm thức trắng để kéo lưới Theo sau người đàn bà là gã đàn ông với tấm lựng
“rộng và cong như một chiếc thuyền”, “mái tóc tổ quạ”, “chân đi chữ bát”, hànglông mày cháy nắng rủ xuống “hai con mắt đầy vẻ độc dữ” Dường như những
gì cần nói với nhau, họ đã nói cả rồi Câm lặng, gã đàn ông trút cơn giận như lửacháy bằng một chiếc thắt lưng cứ quật tới tấp vào lưng người đàn bà Hắn đánhbằng tất cả giận dữ như trút nỗi uất ức và hận thù lên quân địch cùng với giọngnguyền rủa cay nghiệt và độc địa “Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ” Trongkhi đó, người đàn bà cam chịu, nhẫn nhục “không hề kêu một tiếng, khôngchống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”
Phùng đã từng là người lính cầm súng chiến đấu để bảo vệ cuộc sốngthanh bình Anh không thể chịu được khi chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợmột cách vô lý và thô bạo Nhưng anh chưa kịp xông ra thì thằng Phác, conngười đàn ông vũ phu kia đã kịp tới để che chở cho người mẹ đáng thương.Trước sự sững sỡ, bàng hoàng của Phùng, thằng Phác vung chiếc khoá sắt vừagiằng được từ tay bố nó, quật vào giữa khuôn ngực kẻ đã hành hạ mẹ nó Saukhi giơ tay cho thằng bé hai cái tát như trời giáng, gã đàn ông bỏ lên thuyền vàtrong phút chốc, chiếc thuyền lướt vó biến mất Sự việc diễn ra quá nhanh và bất
Trang 11ngờ khiến Phùng kinh ngạc đến mức “trong mấy phút đầu, tôi cứ há hốc mồm ra
mà nhìn” Rõ ràng giữa cái Đẹp của ngoại cảnh và sự thật bên trong nó còn tiềm
ẩn rất nhiều điều bất ngờ Người nghệ sĩ không chỉ đứng từ xa mà chiêm ngưỡnghiện thực mà cần xích lại gần hơn nữa, phải rút ngắn khoảng cách giữa nghệthuật và cuộc đời Để làm được điều đó đỏi hỏi người nghệ sĩ phải có cái nhìn đadiện, nhiều chiều về cuộc sống, không thể phiến diện, đơn giản như trước
1.2.3 Phát hiện thứ 3: Câu chuyện ở toà án huyện - “Bài học về sự thật cuộcđời”
Câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở toà án huyện là câu chuyện về
sự thật cuộc đời Nó giúp những người như Phùng và Đẩu hiểu được nguyên docủa những điều tưởng như vô lý Xuất phát từ thiện chí, Phùng và Đẩu muốngiải thoát người đàn bà khỏi cuộc sống bạo hành Nhưng qua câu chuyện củangười đàn bà khiến Phùng và Đẩu vỡ lẽ ra nhiều điều
Là một người đàn bà nhẫn nhục, cam chịu, bị chồng thường xuyên hành
hạ, đánh đập đến khốn khổ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”,nhưng nhất quyết gắn bó với lão đàn ông vũ phu ấy Điều ấy khiến Đẩu thực sựtức giận, còn Phùng trong phút chốc cảm thấy ngột ngạt, cảm tưởng như cănphòng lồng lộng gió biển bị hút hết không khí Chị ta chấp nhận trận đòi roi củachồng như một lẽ tất nhiên bởi “cần phải có những người đàn ông để chèochống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũngtrên dưới chục đứa” Chị ta ý thức được thân phận của người đàn bà sống trênthuyền phải sống vì các con, không thể sống cho riêng mình được Trong khổđau triền miên, niềm hạnh phúc nhỏ nhoi: “Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôichúng nó được ăn no”, “trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôisống hoà thuận, vui vẻ” được chắt lọc giúp người đàn bà bất hạnh có đủ sứcmạnh để chống chọi và chịu đựng những cơn giận dữ như lửa cháy của chồng
Người phụ nữ hiểu rõ nguồn cơn sự giận dữ của chồng, vốn trước kia làmột người đàn ông “hiền lành nhưng cục tính” vì nhọc nhằn mưu sinh nên trởthanh vũ phu, thô bạo Là một người vợ, chị hiểu, cảm thông, thương chồng và
tự trách chính mình “giá tôi đẻ ít đi” Ẩn giấu đằng sau sự thô kệch, cam chịu,nhẫn nhục của người đàn bà là những phẩm chất quý giá: một người vợ vị tharất
thương chồng, người mẹ giàu tình yêu thương và đức hi sinh, một người phụ nữthấu hiểu lẽ đời Thấp thoáng trong hình ảnh người đàn bà ấy là bóng dáng củabiết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha, đức hysinh
Qua câu chuyện ở toà án huyện, người đọc thấy người đàn ông vũ phu, ,man rợ và tàn bạo kia đáng thương hơn đáng trách Lão vừa là nạn nhân củacuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho chính nhữngngười thân của mình
Trang 12Trong một gia đình bạo hành, đáng thương nhất là những đứa trẻ Chúng
bị đẩy vào tình thế thật khó xử: biết đứng về phía ai, biết làm thế nào để trọn đạolàm con? Chị thằng Phác, một cô bé yếu ớt mà can đảm, đã phải vật lộn để tướccon dao trên tay thằng em trai, không cho nó làm một việc trái với luân thườngđạo lý Chắc trong lòng cô bé tan nát vì đau đớn: bố điên cuồng hành hạ mẹ; chỉ
vì thương mẹ mà thằng em định cầm dao ngăn bố… Cô bé lúc ấy là điểm tựavững chắc cho người mẹ đáng thương Cô đã hành động đúng khi cản được việclàm dại dột của đứa em, lại biết chăm sóc, lo toan khi mẹ phải đến toà án huyện.Còn thằng Phác lại thương mẹ theo kiểu một đứa con còn nhỏ, theo cái cách mộtđứa con trai vùng biển Nó “lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặtngười mẹ, như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗchằng chịt” Nó “tuyên bố với các bác ở xưởng đóng thuyền rằng nó còn có mặt
ở dưới biển này thì mẹ nó không bị đánh” Mặc dù thật khó chấp nhận kiểu bảo
vệ mẹ của nó nhưng hình ảnh thằng Phác vẫn khiến người ta cảm động bởi tìnhthương mẹ dạt dào Đằng sau cái xấu xa, tồi tệ vẫn luôn tiềm ẩn cái Đẹp của tìnhthương
Để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống không chỉ cần lòngtốt đơn thuần của sự thiện chí mà cần một giải pháp xã hội đồng bộ Khi chưa cónhững giải pháp dài hơi thì mọi ao ước đổi thay sẽ chỉ là những lí thuyết viểnvông
1.3 Thành tựu nghệ thuật:
Với sự độc đáo trong xây dựng cốt truyện, cách tạo tình huống mang ýnghĩa khám phá, phát hiện về đời sống, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữnhân vật đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khámphá đời sống của tình huống truyện, lời kể chuyện trở nên khách quan, chân thật,giàu sức thuyết phục Ngôn ngữ các nhân vật phù hợp với đặc điểm tính cáchcủa từng người: giọng điệu lão đàn ông thật thô bỉ, tàn nhẫn với những từ ngữđầy vẻ tục tằn, hung bạo; những lời của người đàn bà thật dịu dàng và xót xa khinói với con, thật đớn đau và thấu trải lẽ đời khi nói về thân phận của mình;những lời của Đẩu ở toà án huyện rõ là giọng điệu của một người tốt bụng, nhiệtthành… Việc sử dụng ngôn ngữ rất linh hoạt, sáng tạo như thế đã góp phần khắcsâu thêm chủ đề, tư tưởng của truyện ngắn
Trang 13CHƯƠNG 3:
THIẾT KẾ GIÁO ÁN CHUYÊN ĐỀ THỬ NGHIỆM
ÔN TẬP PHẦN VĂN XUÔI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN SAU NĂM 1975
(Thời lượng: 8 tiết)
3 Về tư duy, thái độ:
- Vận dụng thao tác phân tích đề và lập dàn ý một cách thành thạo, chính xác.Tạo thói quen lập dàn ý sơ lược trước khi viết bài
B Nội dung bài học
Đề số 1 Tình huống trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.
Dàn ý:
I Mở bài:
- NMC là nhà văn tiêu biểu của VHVN thời chống Mĩ cũng là người mở đườngxuất sắc cho công cuộc đổi mới văn học từ sau năm 1975 Ở giai đoạn trước,ngòi bút của ông theo khuynh hướng sử thi, thời kì sau chuyển sang cảm hứngthế sự với những vấn đề về đạo đức và triết lí nhân sinh
- “Chiếc thuyền ngoài xa” là truyện ngắn xuất sắc của NMC trong giai đoạn sau.Tác phẩm kể về một chuyến đi thực tế của một anh nghệ sĩ nhiếp ảnh Qua đóthể hiện cách nhìn sâu sắc của tác giả về cuộc sống và sự băn khoăn về thânphận con người
II Thân bài:
1 Giới thiệu tình huống truyện
- Đó là tính huống nhận thức trước một hiện tượng đầy nghịch lí của cuộc đời.Nghệ sĩ Phùng đến vùng biển miền Trung chụp ảnh biển để làm lịch và tiếp cậnchiếc thuyền ngoài xa trong sương sớm hết sức thơ mộng Ngay sau đó tại bãibiển anh chứng kiến nghịch cảnh của cuộc sống Đó chính là cảnh bạo hànhtrong gia đình hàng chài sống trên chính chiếc thuyền kia
2 Khía cạnh nghịch lí của tình huống
- Cảnh thiên nhiên toàn bích nhưng cảnh đời thì đen tối Người có thiện chí giúp
đỡ nạn nhân thì lại bị nạn nhân từ chối quyết liệt