Xác định rõ vai trò của đọc- hiểu như vậy, nhưng trong nhà trường phổthông Việt Nam hiện nay có một thực tế là không phải giáo viên nào cũng hiểu rõ bản chất của đọc- hiểu và có những bi
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Trong các mục tiêu chung của môn Ngữ văn ở trường trung học phổthông hiện nay thì mục tiêu bồi dưỡng và nâng cao thêm một bước năng lực vănhọc cho học sinh, trong đó có năng lực đọc - hiểu văn bản là một trong nhữngmục tiêu hết sức quan trọng Chính vì thế chương trình được xây dựng theo haitrục tích hợp: đọc văn và làm văn ,bên cạnh việc cung cấp những kiến thức vềtiếng việt và lí luận văn học Với nguyên tắc tích hợp, chương trình hiện nayvẫn dựa vào tiến trình lịch sử văn học dân tộc nhưng mỗi thời kì, mỗi giai đoạn
sẽ lựa chọn ra những thể loại ,những tác phẩm văn học tiêu biểu để tiến hànhđọc - hiểu Theo tinh thần này dạy học văn có nhiệm vụ kép: thông qua dạy kiếnthức mà trang bị và rèn luyện cho học sinh cách đọc, phương pháp đọc để các
em có thể tự mình đọc và hiểu những văn bản khác
Trong nhà trường, đọc- hiểu là một cách thức quan trọng để phát huy tínhtích cực chủ động của học sinh, biến việc dạy của một người thành việc đọccủa nhiều người, thay thế phương pháp dạy truyền thống thầy giảng trò ghi.Từviệc chủ động đó mà học sinh dần nâng cao năng lực văn chương của mình
Xác định rõ vai trò của đọc- hiểu như vậy, nhưng trong nhà trường phổthông Việt Nam hiện nay có một thực tế là không phải giáo viên nào cũng hiểu
rõ bản chất của đọc- hiểu và có những biện pháp đọc- hiểu phù hợp với từng
thời kì , thể loại văn học khác nhau trong đó có bộ phận thơ chữ Hán trung đại
Việt Nam
Thơ chữ Hán thời kì trung đại Việt Nam là thời kì văn học rất xa đối vớihọc sinh hiện nay, vậy nên việc tiếp nhận văn bản của các em thường gặp nhiềukhó khăn Một mặt do tài liệu nghiên cứu còn hạn chế, do giáo viên cũng chưathực sự thấm nhuần những đặc trưng của thơ chữ Hán trung đại, chưa tiếp cậntác phẩm ở góc độ phù hợp và còn do rào cản về ngôn ngữ, quan niệm thẩmmĩ.v.v
Từ những lí do trên, tôi thấy rằng việc tìm hiểu phương pháp dạy hiểu thơ chữ Hán trung đại Việt Nam cho học sinh là việc làm cần thiết, có ýnghĩa góp phần làm thay đổi phần nào thực trạng dạy và học hiện nay
đọc-2.Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề đọc - hiểu,vấn đề dạy học thơ chữ Hán trung đại, nhằm đề xuất cách thức, biện pháp gópphần nâng cao –hiệu quả kỹ năng đọc - hiểu thơ chữ Hán trung đại Việt Nam
Cụ thể là hướng dẫn đọc- hiểu bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du
trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT qua việc thiết kế giáo án thể nghiệm,tiến hành dạy thể nghiệm và đánh giá kết quả thể nghiệm
3 Đối tượng nghiên cứu
- Lý thuyết đọc - hiểu, thi pháp thơ chữ Hán trung đại, các phươngpháp dạy học thơ trung đại
Trang 2- Hoạt động dạy và học của giáo viên, học sinh lớp 10 trường THPTCẩm Thủy 1.
- Các văn bản thơ chữ Hán trung đại Việt Nam lớp 10 THPT - cụ thể làbài Độc Tiểu Thanh Kí
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các mô hình đọc - hiểu để tìm ranhững cách thức, biện pháp phù hợp trong dạy học thơ chữ Hán trung đại lớp
10 nhằm nâng cao kỹ năng đọc - hiểu cho học sinh THPT
4 Phương pháp nghiên cứu
0 Phương pháp tổng hợp, phân tích lí luận và thực tiễn
- Phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp thể nghiệm
- Phương pháp so sánh đối chiếu
II-NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lí luận
Đọc văn là hoạt động diễn ra trong quá trình tiếp nhận văn chương Đọckhông phải chỉ là hành động nhận thức nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn làhoạt động trực quan sinh động giàu cảm xúc, được khái quát bằng kinh nghiệmsống của mỗi người Để biểu đạt được được mục đích trên chúng ta cần hiểu rõkhái niệm đọc - hiểu văn bản
“Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm
mỹ Do đó hiểu bản chất môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực là chủ thể của học sinh” (1)
Dạy đọc - hiểu là vừa dạy cách thức tiếp xúc với văn bản, thông hiểunghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò tác dụng củacác hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảmcủa người viết, các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật và cả ý nghĩa xãhội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó, vừa tập trung hình thànhcách đọc văn, phương pháp đọc hiểu theo thể loại, để dần dần các em có thể tựđọc được văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúng đắn
(1) Đọc - hiểu văn bản - một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy học hiện nay - GS.TS Trần Đình Sử Phebinhvanhoc.com.vn Số ra ngày 01/09/2013
Trang 3Tuy nhiên mỗi thể loại văn học có phương pháp đọc- hiểu riêng, đọc
hiểu thơ trung đại khác thơ hiện đại “Đối với văn học trung đại Việt Nam tồn tại hai thành phần văn học đó là thành phần văn học chữ Hán và thành phần văn học chữ Nôm”( 1)
Là bộ phận văn học xuất hiện khá xa so với học sinh hiện nay do đó dạyđọc - hiểu văn bản thơ đã khó đọc- hiểu thơ trung đại là vấn đề nan giải hiệnnay đối với cả giáo viên và học sinh Việc hình thành cho học sinh phươngpháp đọc - hiểu thơ chữ Hán trung đại là hết sức cần thiết để đáp ứng yêu cầudạy văn và học văn hiện nay trong nhà trường THPT
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN.
2.1 Đối với giáo viên dạy môn ngữ văn
Văn bản thơ chữ Hán trung đại – những văn bản thơ có tính quy phạm
chặt chẽ là những tác phẩm được tạo nên trên quan điểm “ Quý hồ tinh bất quý
hồ đa” nên việc tổ chức dẫn dắt cho học sinh tự chiếm lĩnh được tiếng nói tư
tưởng, tình cảm của nhà thơ đã gửi gắm trong các bài thơ là việc làm không mấy
dễ dàng Đây là khó khăn mà hầu hết giáo viên nói chung và giáo viên trườngTHPT Cẩm Thủy 1 đang trăn trở
Nếu việc cảm thụ, phát hiện cho hết cái hay cái đẹp của bài thơ nói chung
đã là khó thì đọc hiểu thơ chữ Hán trung đại lại càng khó hơn Có khi chỉ một
từ, một hình ảnh, một câu thơ nhưng cũng gây những trở ngại trong việc khaithác giá trị văn bản
Thói quen dạy của một số giáo viên và thói quen học của một số học sinhtheo phương pháp cũ: giáo viên thuyết giảng học sinh ghi chép cũng là một trởngại không nhỏ đối với việc đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động học tậpcủa học sinh
2.2 Đối với học sinh
Hiện nay trong các nhà trường phổ thông thái độ đối với môn Ngữ văncủa học sinh có sự phân lập rất rõ Những môn học thời thượng (Toán, Lý,Hoá, Tin học, Ngoại ngữ.) được các em lựa chọn để đáp ứng nhu cầu thi và nhucầu việc làm của mình Môn ngữ văn hiện nay mặc dù đã xuất hiện trong nhiều
tổ hợp xét tuyển đại học cao đẳng nhưng cũng chưa được các em chú trọngnhiều do cơ hội việc làm của những ngành học có xét tuyển môn ngữ văn cònhạn chế
Với phần văn học trung đại nói chung và thơ trữ tình chữ Hán trung đạiViệt Nam lớp 10 nói riêng nhiều học sinh tỏ ra ngại học, không hứng thú
Trang 4
(1) Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX- Ngữ Văn 10 tập Nxbgd-2017-trang 104.
1-Nhiều học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá tác phẩm, cònthờ ơ với tác phẩm văn chương, nhất là thơ Cá biệt có em “sợ” thơ, bởi vì cónhững bài thơ phiên âm từ chữ Hán sang âm Hán- Việt, từ ngữ khó hiểu, điển
cố
nặng nề gây cho các em nhiều trở ngại , mà cách giảng của giáo viên nhiều lúccũng chưa làm cho các em hiểu rõ và thấy được cái hay cái đẹp của nó Từ đóhọc sinh mất hứng thú khi học văn và kéo theo chất lượng học văn ngày càng sasút
Tôi đã tiến hành khảo sát việc dạy và học thơ chữ Hán trung đại ViệtNam lớp 10 của giáo viên và học sinh như sau
Đối tượng khảo sát : Giáo viên, học sinh lớp 10 Trường THPT Cẩm Thủy 1Hình thức khảo sát: Dự giờ đối với giáo viên, kiểm tra vở soạn bài ,ghi bài kếtquả chất lượng sau giờ học của học sinh Kết quả khảo sát như sau :
Về phía giáo viên : giáo viên chuẩn bị giáo án chu đáo cẩn thận và truyền đạt đến học sinh những nội dung cơ bản của bài học
Về phía học sinh : Học sinh tiếp thu một cách thụ động và ghi chép vào vởnhưng thực chất các em không nắm được cụ thể chi tiết giá trị của từng hìnhảnh, biện pháp tu từ Khả năng ghi nhớ không lâu
Thực tế cho thấy cách dạy học phổ biến hiện nay trong các trườngTHPT đối với thơ trữ tình chữ Hán trung đại là áp dụng kiểu dạy học nêu vấn
đề, phối hợp giữa các phương pháp dạy học như thuyết trình, vấn đáp…việcphát huy tính tích cực của học sinh đã được giáo viên quan tâm và thực hiệnkhá tốt, khá nghiêm túc Và mỗi giáo viên đều tìm cho mình một cách thứcriêng để truyền tải kiến thức đến học sinh
Tuy nhiên qua kết quả khảo sát đối với giáo viên và học sinh thì cáchdạy học đọc- hiểu thơ trữ tình chữ Hán trung đại Việt Nam ở lớp 10 chưa thật có
sự khác biệt kể cả cách thức hướng dẫn của giáo viên và kể cả cách tiếp nhậncủa học sinh Chính điều này phần nào khiến cho văn học trung đại Việt Namnói chung và thơ trữ tình chữ Hán nói riêng chưa thật sự tìm được chỗ đứngtrong lòng học sinh
3 Các giải pháp đã sử dụng để hướng dẫn học sinh đọc - hiểu thơ chữ Hán trung đại Việt Nam trong chương trình ngữ văn lớp 10
3.1.Bám sát đặc trưng thi pháp
Giáo viên cần bám sát những đặc trưng này trong quá trình hướng dẫn học
sinh đọc- hiểu ,đồng thời cũng cấp những kiến thức này đến học sinh để họcsinh chủ động trong quá trình khai thác khám phá tác phẩm
Trang 5Thi pháp có nhiều cách hiểu trong đó có cách hiểu phổ biến đó là cácnguyên tắc, biện pháp chung để làm nên giá trị đặc sắc của một tác phẩm, tác
giả, trào lưu Do vậy khi đọc hiểu thơ trữ tình trung đại nói chung và thơ trữ
tình chữ Hán trung đại lớp 10 nói riêng không thể không bám sát vào đặc trưngthi pháp của văn học trung đại.Thi pháp văn học trung đại được khái quát nhưsau:
Về quan niệm “ coi trọng mục đích giáo huấn thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tảiđạo”(1)
Về thể loại: “với thành phần chữ Hán chủ yếu là các thể loại tiếp thu từTrung Quốc như Hịch, cáo chiếu, biểu, truyền kì, kí sự, tiểu thuyết chương hồi,thơ cổ phong, thơ Đường luật: với thành phần chữ Nôm có Lục bát, Song thấtlục bát, Đường luật, Diễn ca, truyện Nôm, Ngâm khúc, Vãn, Hát nói.(2)
Về kết cấu : Một bài thơ trữ tình Hán - Nôm thường có “tuân theo kếtcấu rất chặt chẽ”( 3) .Một bài Đường luật có tám câu, hay bốn câu, thất ngôn
hay ngũ ngôn đều là một chỉnh thể có cấu trúc riêng, kết cấu theo hai chiềungang dọc kết với nhau thành một chỉnh thể hài hoà cân đối Kết cấu theo chiềudọc bằng bố cục, niêm, đối, vần; kết cấu theo chiều ngang bằng thanh luật bằngtrắc
Về tư duy nghệ thuật : “Tư duy theo kiểu mẫu nghệ thuật đã có sẵn đãthành công thức” (4).Chẳng hạn nói đến vẻ đẹp của người phụ nữ thì phải đẹp
nghiêng nước nghiêng thành, vẻ đẹp chim sa cá lặn nói đến tài phải cầm, kì, thi, họa Nói đến mùa xuân phải có hoa mai, hoa đào đi liền với cỏ non, chim
én; mùa hè phải đi liền với hoa lựu, hoa sen, tiếng chim quyên kêu khắc khoải Mùa thu phải có hoa cúc, lá ngô đồng rụng; mùa đông phải có cây tùng, chimhạc Trong sáng tác của các nhà thơ, nhà văn trung đại hình như không thể vắngbóng thiên nhiên Thiên nhiên làm nên diện mạo, linh hồn của tác phẩm Thiênnhiên vừa là vẻ đẹp của thiên nhiên vừa là đối tượng để nhà thơ gửi gắm cảmxúc tâm trạng đặc biệt thiên nhiên trở thành chuẩn mực cho vẻ đẹp của conngười đây là điểm khác biệt với thơ hiện đại
Thủ pháp nghệ thuật, sử dụng thi liệu: “Văn học trung đại, dẫn nhiều điển tích điển cố, thủ pháp ước lệ tượng trưng”( 5) được nhà văn sử dụng triệt
để, nghiêm túc và phổ biến .Đặc trưng thi pháp này hình thành từ bối cảnh lịch
sử xã hội phong kiến và cảm quan thẩm mỹ của tầng lớp nghệ sĩ Hán học
3.2 Chú giải, cắt nghĩa, phân tích, bình giá thơ
3.2.1.Chú giải
Chú giải chính là biện pháp rút gần khoảng cách thẩm mỹ giữa học sinh
với thơ văn cổ để tiếp nhận văn bản có hiệu quả
Thơ trữ tình trung đại thuộc loại hình song ngữ, trong quá trình sáng tác
các tác giả sử dụng chữ Hán, chữ Nôm, các từ Việt cổ mà ngày nay ít còn sửdụng
_
Trang 6(1)(2)(3)(4)(5) Khái quát văn học Việt nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX - Ngữ Văn 10 tập Nxbgd-2017-trang 104.
Vì vậy, một biện pháp hữu hiệu để giải mã văn bản đó là chú giải các từ
ngữ đó Trong quá trình chú giải cần phải làm rõ nguồn chú giải ở đâu Nguồnchú giải có thể trong sách giáo khoa hoặc từ các tài liệu uy tín khác Từ việc chú
giải giáo viên vận dụng vào quá trình tiến hành đọc – hiếu Đây là biện pháp
quan trọng dùng trong đọc hiểu thơ trữ tình trung đại nói chung và thơ trữ tìnhchữ Hán trung đại Việt Nam lớp 10 nói riêng
Sở dĩ chúng ta cần phải chú giải kĩ lương bởi vì ngôn ngữ thơ cổ là ngônngữ rất uyên bác, hàm súc Hình thức chữ Hán, chữ Nôm vốn đã khó hiểu đốivới học sinh lại thêm các biện pháp nghệ thuật ước lệ, tượng trưng cùng nhiềuđiển tích, điển cố khiến cho bài học càng trở lên xa lạ, khó tiếp nhận
Trong chú giải, thì việc làm đầu tiên là chú giải từ Bởi ngôn ngữ ngườixưa chủ yếu là chữ Hán, chữ Nôm với những từ ngữ cổ, thuật ngữ cổ rất xa lạvới con người hiện đại ngày nay
Chú giải từ ngữ là làm cho từ ngữ đó được hiểu một cách rõ ràng, nóicách khác là làm cho học sinh hiểu từ và thông nghĩa, hiểu câu thơ trước rồi sau
đó mới có cơ sở để cảm thụ văn chương Thơ trữ tình chữ Hán trung đại ViệtNam khi phiên âm sẽ là các từ Hán Việt trong đó có cả các từ Hán- Việt cổ màngày nay không dùng nữa Đây chính là hàng rào ngăn cách giữa học sinh ngàynay với thơ trữ tình chữ Hán trung đại Chưa làm cho học sinh vỡ nghĩa những
từ ngữ ấy thì các em sẽ không thể nào hiểu câu thơ chứ chưa nói đến việc cảmthụ văn chương
Công việc thứ hai phải làm khi chú giải là chú giải điển cố, điến tích.Điển cố là lấy xưa để nói nay, nhắc lại việc xưa bằng một vài chữ mà gợi lênsâu sắc các tầng ý nghĩa, khiến lời văn thêm sinh động Việc dùng điển cố khiếncho câu thơ thêm hàm súc, chuyển tải được thông tin lớn
Với học sinh điển cố trong văn học khiến các em khó hiểu hoặc khônghiểu hết dụng ý nghệ thuật của tác giả hoặc phần lớn các em chỉ hiểu hời hợtbên ngoài mà không thấy được cái hay, chất văn chương, “ý tại ngôn ngoại,
“cái gợi” mà điển cố đưa lại Chú giải điển cố là giúp học sinh tái hiện nội dungvăn bản, ý nghĩa của nó đối với người xưa, từ đó giúp các em tự vận động đểhiểu thơ trữ tình trung đại
Khi chú giải điển cố bước đầu tiên là chú giải nghĩa đen của điển cố nghĩa
là làm cho học sinh hiểu biết rõ nguồn gốc của điển cố Việc làm này học sinh
có thể tham khảo trong phần chú thích của sách giáo khoa hoặc chuẩn bị trước ởnhà Sau khi chú giải nghĩa đen giáo viên cần phân tích giá trị thẩm mỹ củađiển cố bằng việc đặt vào trong câu thơ, trong văn bản để cắt nghĩa ý của câuthơ từ đó tìm ra ẩn ý mà nhà thơ gửi gắm
Ví dụ khi dạy bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão cần giúp học sinh làm
rõ điển cố trong câu “ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu ” Vũ Hầu tức Gia
Trang 7Cát Lượng người thời Tam Quốc có nhiều công lao giúp Lưu Bị khôi phục nhàHán” (1).
(1) Tỏ Lòng- Phạm Ngũ Lão- Ngữ Văn 10 tập 1- Nxbgd-2017-trang 115.
Mượn điển cố để bộc lộ vẻ đẹp nhân cách của Phạm Ngũ Lão Đó là cáchnói khiêm nhường bộc lộ khát vọng hoài bão mãnh liệt của Phạm Ngũ Lão, thểhiện trách nhiệm với đất nước với nhân dân
Như vậy chú giải là biện pháp quan trọng trong quá trình dạy văn họctrung đại nói chung và thơ trữ tình chữ Hán trung đại lớp 10 nói riêng Biệnpháp này bước đầu giúp học sinh khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩmvăn chương, góp phần kích thích sự hứng thú và khả năng chủ động, tích cựcsuy nghĩ, tìm hiểu bài thơ Chú giải góp phần làm cho hàm ý nghệ thuật trở nên
dễ hiểu, cụ thể hơn
3.2.2.Cắt nghĩa
Thơ trữ tình trung đại là loại hình văn học có khoảng cách lớn với họcsinh về cả không gian và thời gian, tư duy nghệ thuật, quan điểm thẩm mỹ Dovậy bên cạnh việc chú giải từ ngữ, điển cố thì công việc tiếp theo để giải mã văn
bản đó là cắt nghĩa Nếu đọc văn mà không hiểu nghĩa của từ, ngữ, câu và mối
quan hệ của chúng trong văn bản thì các em không thể nào tiếp nhận được ý đồnghệ thuật của tác giả Quá trình cắt nghĩa là làm cho ý nghĩa của từ, ngữ, câu,
ý nghĩa của hình ảnh nổi bật trong văn bản, làm sáng tỏ hình tượng Cắt nghĩa là
một cách tìm ra câu trả lời của tác giả đến với bạn đọc thông qua văn bản Cắt
nghĩa là tìm ra ý nghĩa của văn bản, thông qua cắt nghĩa các yếu tố, các hìnhảnh, từ ngữ, câu, các bộ phận trong chỉnh thể của mạch văn bản, làm cho chúngbộc lộ ý nghĩa riêng của từng thành phần
Cắt nghĩa từ ngữ trong thơ chữ Hán trung đại: Từ ngữ trong thơ trữ tình
chữ hán trung đại lớp 10 khi phiên âm là các từ Hán Việt có tính đa nghĩa, đatầng Vì vậy khi đọc hiểu văn bản phải thông qua cắt nghĩa từ ngữ mới có thểhiểu nghĩa của câu thơ
Ví dụ: Từ “ Độc” trong nhan đề bài thơ Độc Tiểu Thanh kí nghĩa là đọc Nhưng
từ “ Độc” trong câu thơ “ Độc điếu song tiền nhất chỉ thư” lại là sự cô đơn cô độc, một mình (1) Hay nhan đề “ Độc Tiểu Thanh kí” có hai cách hiểu đó là đọctập thơ còn sót lại của nàng Tiểu Thanh hoặc đó là đọc truyện viết về nàng TiểuThanh.(2)
Cắt nghĩa hình ảnh trong thơ trữ tình trung đại Hình ảnh trong thơ trữ tình
trung đại thường cô đọng, súc tích, gợi nhiều liên tưởng ở người đọc Thêm vào
đó các nhà thơ thường sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật tu từ, nhiều hình ảnhước lệ, tượng trưng mang tính công thức
(1) - Để học tốt ngữ văn 10- Lê A- Bùi Minh Toán- Hà Bình Trị -NXBGD-2007- trang 190.
Trang 8(2)-Độc Tiểu Thanh kí- SGK- Ngữ Văn 10- tập 1- NXBGD-2017- Trang 131.
Đây là điều gây trở ngại cho việc tiếp nhận văn bản cho học sinh ngày nay Vìvậy mục đích cắt nghĩa hình ảnh là làm bật sáng hình ảnh, làm rõ dụng ý nghệthuật của tác giả bài thơ Mỗi hình ảnh được sử dụng là sự sáng tạo của ngườinghệ sĩ thông qua đó họ gửi gắm một thông điệp nhất định Nếu không cắt nghĩahình ảnh thì khó có thể hiểu thông được dụng ý nghệ thuật đó, hoặc nếu có hiểuthì cũng rất hời hợt
Cắt nghĩa câu trong thơ trữ tình trung đại Lời thơ trong thơ trữ tình trung
đại phải đẹp đẽ, trau chuốt, giàu hình ảnh, lời thơ phải đa nghĩa có như vậy mớihấp dẫn Do vậy người làm thơ chịu sự quy định chặt chẽ về niêm luật (số tiếng,
số câu, nhịp điệu, hài thanh) Thơ trữ tình trung đại lớp 10 chủ yếu là thể tài tựtình, do vậy không được phép dài dòng, kể lể, miêu tả quá cụ thể, chi tiết
Do vậy, sau việc cắt nghĩa từ ngữ, hình ảnh thì công việc tiếp theo là cắtnghĩa câu Đây là thao tác cơ bản để học sinh hiểu ý cơ bản của câu thơ, điều
Phân tích từ ngữ Khi phân tích từ ngữ trong thơ trữ tình trung đại cũng cần
chú ý tới sự sáng tạo trong việc lựa chọn từ ngữ của các tác giả
Phân tích các lớp nghĩa trong văn bản trữ tình trung đại Từ hiện thực
khách quan nhà văn bằng nhận thức chủ quan và tư duy nghệ thuật của mìnhsáng tạo nên hình tượng văn học Khi tiếp nhận tác phẩm văn chương, ngườiđọc lại đi theo hành trình ngược lai, nghĩa là thông qua hình tượng nghệ thuật đểkhám phá hiện thực khách quan
3.2.4.Bình giá
Nhà phê bình Hoài Thanh từng viết “Bình thơ là từ chỗ mình cảm thấy
hay, làm thế nào cho người khác cũng cảm thấy hay”(2) “ Bình là một phươngpháp có tính đặc thù trong cảm thụ và truyền thụ văn thơ” (3) Nội dung bình giá
cần tập trung vào một số vấn đề sau:
_
(1) Học tốt Ngữ văn 11- Trần Văn Sáu- Trần Tước Nguyên-NXB Tổng hợp TP Hồ Chí 2014-Trang 22.
Minh-(2) Phương Pháp dạy học văn- Phan Trọng Luận- NXB ĐHQG-1999 - Trang 177.
(3) Phương Pháp dạy học văn- Phan Trọng Luận- NXB ĐHQG- 1999-Trang 176
Trang 9Thứ nhất là cần bình giá cái đẹp trong ngôn từ và trong tư duy nghệ
thuật của thơ trữ tình chữ Hán trung đại.Cái hay, cái đẹp của văn chương cầnbình là ở cái bề sâu, cái bề xa của ngôn từ, của tất cả các yếu tố, bộ phận làmnên một tác phẩm văn chương Ngôn từ trong tác phẩm văn chương không phải
là ngôn từ trong lời nói tự nhiên, ngôn từ trong thơ trữ tình trung đại, thơ chữHán lại càng không phải lời nói thông thường hàng ngày, nó gần với những mỹ
từ và nặng tính chất sách vở hơn Bình cái đẹp trong ngôn từ của thơ chữ Hánphụ thuộc vào từng bài, từng từ, chữ cụ thể Nhưng nhìn chung phải bám sát vàonhững đặc trưng thi pháp về ngôn từ của văn học trung đại nói chung, thơ trữtình trung đại nói riêng
Về ngôn từ, người đọc có trình độ mới hiểu được ngôn ngữ nghệ thuậtnhư một kiểu lời nói xa xôi, ý vị, mới mẻ để điều cần nói tự bật và sáng longlanh hơn
Thứ hai là tập trung bình giá cái mới, cái độc đáo, cái riêng của mỗi tác
phẩm và mỗi tác giả
Trọng tâm của hoạt động bình giá là phải tìm cho ra cái mới trong nộidung tư tưởng và những tri thức nghệ thuật có khả năng thức tỉnh cái đẹp, cáicao thượng của con người
Thứ ba là bình giá về những cách tân nghệ thuật là những đóng góp vào
nền văn học dân tộc của mỗi tác giả qua từng tác phẩm
Thơ trữ tình chữ Hán trung đại Việt Nam, có những ảnh hưởng sâu sắcbởi văn học và văn hoá Trung Hoa Song do ý thức dân tộc và do cá tính sángtạo của mỗi bản thân người nghệ sĩ nên trong mỗi bước đường hình thành vàphát triển thơ trữ tình trung đại Việt Nam, đều có những cách tân nghệ thuậtđáng kể Những cách tân ấy góp phần khẳng định tên tuổi và vị trí của mỗi nhàthơ nhà văn vào nền văn học dân tộc Khi bình giá về tác phẩm không thể khôngnhắc đến và đưa ra những lời thẩm bình xác đáng về những cách tân và sự đónggóp này Để có những lời bình chính xác phải có những nghiên cứu nghiêm túc
và phải hiểu biết về văn học sử
Tóm lại bình giá văn học là hoạt động đầy trách nhiệm với văn học và cóbản lĩnh nghệ thuật của người tiếp nhận Bình giá văn học đòi hỏi phải có trithức sâu sắc, có hiểu biết phong phú về văn hóa nghệ thuật và phải có tấm lòngchính trực Cần tránh sự bình giá phiến diện chủ quan, chỉ lấy sự hiểu biết rất cógiới hạn của mình làm thước đo duy nhất Bình giá tác phẩm văn chương phảicoi trọng tư tưởng những cái hay của bình giá không phải chỉ thấy tư tưởng trầntrụi mà còn thấy sự phản ánh sinh động tư tưởng ấy theo đặc trưng nghệ thuật
3.3.Xây dựng hệ thống câu hỏi sáng tạo
Để phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ đọc văn thì thìcần xây dựng hệ thống câu hỏi thích hợp phù hợp với trình độ học sinh Với cácmức độ khác nhau : Câu hỏi nhân biết; câu hỏi vận dụng thấp, vận dụng cao Và
Trang 10tập trung chủ yếu vào một số dạng : Câu hỏi nêu vấn đề,Câu hỏi bình luận,Câuhỏi khái quát
Câu hỏi so sánh liên hệ v.v
Văn học trung đại nói chung và thơ trữ tình chữ Hán trung đại lớp 10nói riêng là một giai đoạn văn học quan trọng trong tiến trình lịch sử văn họcdân tộc các tác phẩm được tuyển chọn trong chương trình Ngữ văn 10 là nhữngtác giả, tác phẩm tiêu biểu cho cả một thời kì văn học Vấn đề đặt ra là dạy họcnhư thế nào để người học phát huy được tính chủ động, sáng tạo Đặc biệt là đểhọc sinh không quay lưng lại với văn học nói chung và văn học trung đại nóiriêng là một bài toán khá nan giải của những giáo viên trực tiêp giảng dạy
Do vậy để có thể tiếp nhận chính xác nội dung, tư tưởng của tác phẩm thìnhất thiết phải có những biện pháp dạy học phù hợp Do vậy việc đưa ra nhữngbiện pháp hướng dẫn đọc hiểu thơ trữ tình chữ Hán trung đại lớp 10 cũng là mộtcách góp phần vào công việc đổi mới chung của những người giảng dạy mônNgữ văn ở nhà trường THPT Với mục đích nâng cao chất lượng dạy học, kíchthích hứng thú, khả năng độc lập, tự chủ và lòng ham học của học Trong quátrình giảng dạy người giáo viên cần lựa chọn, kết hợp hài hòa các biện pháp trên
để đạt hiệu quả cao nhất
GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM
Vận dụng các phương pháp đọc hiểu thơ trữ tình chữ Hán trung đại đã đềxuất ở mục 2 vào thực tế thiết kế bài học và thực tế dạy học văn bản ở các lớp :10a3,10a4,10a7
ĐỘC TIỂU THANH KÍ
( Nguyễn Du)
A-MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức:
Giúp học sinh nắm được :
- Về tác giả: Vị trí của Nguyễn Du, cảm hứng chủ đạo trong sáng tác và những
tác phẩm tiêu biểu ngoài truyện Kiều
- Về tác phẩm: Làm rõ số phận người phụ nữ tài sắc Tiểu Thanh, qua đó
thấy được nội dung nhân văn cao cả Đồng thời thấy được thành công nghệ thuật của bài thơ về từ ngữ, kết cấu.v.v
2 Kĩ năng:
- Kĩ năng tìm hiểu một bài thơ Đường luật chữ Hán trung đại
- Kĩ năng phát hiện, trả lời, bình giảng, bình luận…
3 Thái độ:
- Trân trọng tình cảm Nguyễn Du
Trang 11- Cảm thương, xót xa cho số phận của nàng Tiểu Thanh và người phụ nữ hồng nhan bạc mệnh nói chung.
- Trân trọng những tác phẩm văn chương có giá trị
B-CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
Giáo viên: Sách giáo khoa Ngữ văn 10,sách giáo viên, Tài liệu tham khảo,
Thiết kế bài giảng…
Học sinh: Sách giáo khoa , vở soạn, tài liệu tham khảo…
C- PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
- Giáo viên kết hợp phương pháp đọc sáng tạo, đối thoại, nêu vấn đề,
- Thảo luận, trao đổi,
- Tích hợp
D- TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1 Ổn định tổ chức lớp: ( 1 phút)
2 Kiểm tra bài cũ: ( 3 phút) Em hãy nêu những hiểu biết của em về vị trí
và sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Du ?
3 Bài mới: ( 1 phút) Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du ngoài truyện
Kiều sáng tác bằng chữ Nôm như các em đã biết ở chương trình THCS thì còn
có nhiều sáng tác tiêu biểu khác như văn chiêu hồn, đặc biệt là 3 tập thơ chữHán đó là Bắc hành tập lục, Nam trung tạp ngâm và Thanh Hiên thi tập với tổngcộng 294 bài Dù viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm thì những tác phẩm củaNguyễn Du vẫn nhất quán một cảm hứng chủ đạo là hướng tới những con người
bị chà đạp hắt hủi, như những kiếp tài hoa, hồng nhan, những anh hùng nhưngmệnh bạc… Độc Tiểu Thanh kí là một bài thơ tiêu biểu cho cảm hứng đó
Hoạt động của GV & HS YÊU CẦU cần đạt
nhắc lại đặc điểm nổi bật về
cuộc đời, sự nghiệp,vị trí và
- Cảm hứng chủ đạo : Thương xót cho thân
phận con người như Thúy Kiều, Đạm Tiên,
Từ Hải, Tiểu Thanh…
- Vị trí : Đại thi hào dân tộc,danh nhân văn
hóa thế giới ( 1965 )