Mục đích của đề tài Phân tích kết quả tính toán sự an toàn của nền đắp trên đất yếu khi tính toán theo tiêu chuẩn hiện hành và theo lý thuyết độ tin cậy, ứng dụng phương pháp trên để tí
Trang 1MỞ ĐẦU 0.1 Sự cần thiết của đề tài
Đất yếu là loại đất có sức chịu tải nhỏ và tính nén lún lớn, thường gặp ở nước
ta Khi xây dựng nền đắp trên đất yếu nếu không được khảo sát, thiết kế cẩn thận
và có biện pháp xử lý thích đáng thì nền đắp xây dựng trên đó thường dễ mất ổn
định, bị lún nhiều và lún kéo dài, ảnh hưởng xấu đến việc khai thác và sử dụng mặt
nền
Đã có nhiều phương pháp được nêu ra để tính toán ổn định và lún của nền đắp trên đất yếu, trong đó có phương pháp đã được đưa vào Tiêu chuẩn hiện hành Các
phương pháp này phản ảnh ở mức độ nào đó thực trạng của công trình khi bị mất
ổn định Tuy nhiên, các phương pháp này mang tính tiền định, không xét một cách
đầy đủ đặc tính ngẫu nhiên của các tham số tính toán của đất nền, đất đắp và các tải
trọng được đưa vào tính toán, cũng như không xét đến yếu tố thời gian Do đó,
trong nhiều trường hợp, công trình nền đắp đã bị mất ổn định hoặc lún quá nhiều
gây hậu quả nghiêm trọng mặc dù việc thiết kế, thi công và khai thác công trình
nền đã tuân thủ nghiêm ngặt các Tiêu chuẩn, Quy phạm hiện hành
Rõ ràng, c ần phải xét đến đặc tính ngẫu nhiên của các tham số của đất và tải trọng trong tính toán công trình nền đắp Việc đánh giá an toàn của nền đắp trên đất
yếu xét đến đặc tính ngẫu nhiên của các tham số kể trên chỉ được giải quyết trên cơ
sở lý thuyết xác suất và độ tin cậy Vì thế, đề tài “Nghiên cứu sự an toàn của nền
đắp trên đất yếu theo tiêu chuẩn hiện hành và theo lý thuyết độ tin cậy” có tính
cấp thiết và giải quyết vấn đề trên là mục đích c ủa Luận văn này
0.2 Mục đích của đề tài
Phân tích kết quả tính toán sự an toàn của nền đắp trên đất yếu khi tính toán theo tiêu chuẩn hiện hành và theo lý thuyết độ tin cậy, ứng dụng phương pháp trên
để tính toán nền đắp trên đất yếu trong điều kiện cụ thể của một công trình
0.3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài Phương pháp nghiên cứu của đề tài : Nghiên cứu các tài liệu thí nghiệm từ
các nguồn khác nhau kết hợp với phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trang 2Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu ổn định về trƣợt sâu, về lún trồi
của công trình nền đắp trên đất yếu theo các Tiêu chuẩn hiện hành và theo lý thuyết
độ tin cậy
0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết cho việc thiết
kế và thi công nền đắp trên đất yếu
Ý nghĩa thực tiễn: Lý giải đƣợc những nguyên nhân xảy ra nhiều sự cố của
nền đắp trên đất yếu khi thiết kế và thi công nền đắp trên đất yếu đã tuân thủ
nghiêm ngặt các tiêu chuẩn hiện hành để có giải pháp tránh đƣợc những sự cố này
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT YẾU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP
TÍNH TOÁN NỀN ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU 1.1 Khái niệm về đất yếu
Cho đến nay, khái niệm đất yếu chưa thật rõ ràng và thống nhất vì tùy theo quy mô công trình và t ải trọng tác dụng mà nền đất sẽ có mức độ tương tác với
công trình khác nhau Có khi đất nền là yếu với cấp loại công trình này nhưng l ại
không yếu với cấp loại công trình khác Theo quan niệm của nhiều nhà khoa học về
địa kỹ thuật và về xây dựng, đất yếu thường được hiểu như sau [2], [13]:
Đất yếu là loại đất có độ ẩm lớn hơn 80%, mô đun biến dạng thấp, với khoảng
áp lực (0,05÷0,3) MPa thì E0 ≤ 5 MP a
Đất yếu là đất có khả năng chịu tải thấp, kho ảng(0,05÷0,1) MPa
Góc ma sát trong của đất υ = 20÷100, lực dính đơn vị khoảng (0,002÷0,03) MPa
Tính biến dạng lớn, trong thế nằm tự nhiên đất yếu có mật độ không lớn – khi tải trọng (0,1÷0,15) MPa thì độ lún của đất có thể đạt đến (10÷15)% chiều dày c ủa
lớp đất Thông thường, hệ số rỗng của các đất yếu e > 1,0
Quá trình cố kết của đ ất yếu diễn ra trong kho ảng thời gian rất dài Do khả năng thấm nhỏ, hệ số thấm dao động trong khoảng (10-6
÷10-9) cm/s, nên độ lún cuối cùng c ủa công trình kéo dài có khi đến hàng chục năm
Vì thế, nếu không có biện pháp xử lý đúng đ ắn thì việc xây dựng công trình trên đất yếu sẽ rất khó khăn hoặc không thể thực hiện được
Theo 22TCN 262-2000 [1], tùy theo nguyên nhân hình thành, đất yếu có thế
có nguồn gốc khoáng vật ho ặcnguồn gốc hữu cơ
Loại có nguồn gốc khoáng vật thường là sét hoặc á sét trầm tích trong nước ở ven biển, vùng vịnh, đầm hồ, đồng bằng tam giác châu; loại này có thể lẫn hữu cơ
trong quá trình tr ầm tích (hàm lượng hữu cơ có thể tới 10 - 12 %) nên có thể có
mầu nâu đen, xám đen, có mùi Đối với loại này, được xác định là đất yếu nếu ở
trạng thái tự nhiên, độ ẩm của chúng gần bằng ho ặc cao hơn giới hạn chảy, hệ số
rỗng lớn (sét e ≥ 1,5 , á sét e ≥ 1), lực dính с theo kết quả cắt nhanh không thoát
Trang 4phân hủy, tạo ra các vật lắng hữu cơ lẫn với các trầm tích khoáng vật Loại này
thường gọi là đất đầm lầy than bùn, hàm lượng hữu cơ chiếm tới 20 - 80%, thường
có màu đen hay nâu sẫm, cấu trúc không mịn (vì lẫn các tàn dư thực vật)
1.2 Những sự cố thường xảy ra của nền đắp trên đất yếu
Nền đắp trên đất yếu thường được thi công nhanh, do đó ứng suất trong đất yếu cũng như áp lực nước lỗ rỗng tăng lên nhanh chóng khiến cho cường độ kháng
cắt của đất trở nên không kịp đủ cân bằng với ứng suất cắt do tải trọng gây ra trong
tác dụng của một móng nông Trong trường hợp này đất nền sẽ bị phá ho ại theo
kiểu lún trồi và việc tính toán độ ổn định được tiến hành như tính móng nông cổ
điển
1.2.1 Phá hoại do trượt trụ tròn
Kiểu phá ho ại này thường gặp trong xây dựng đường do dạng hình học thông thường của nền đắp Một mặt trượt dạng trụ tròn được sinh ra do nền đắp bị lún cục
Trang 5bộ (h 1.1) Hậu quả của sự lún này là một bộ phận của nền đắp và đất nền thiên
nhiên dọc theo diện tích phá hoại bị chuyển vị và có hình dạng thay đổi theo tính
chất và các đặc tính cơ học của vật liệu dưới nền đắp Để tính toán, trong các
trường hợp đơn giản nhất thường xem mặt phá hoại tương tự một mặt trụ tròn và sự
Trang 6Hình 1.2 Phá hoại của nền đắp do lún trồi
1.3 Các giải pháp khắc phục các sự cố của nền đắp trên đất yếu
Khi kết quả tính toán kiểm tra ổn định cho thấy không thể đạt đƣợc một hệ số
an toàn lớn hơn ho ặc bằng hệ số an toàn cho phép trong Tiêu chuẩn (K = 1,5) ứng
với chiều cao nền đ ắp sẽ xây dựng thì phải áp dụng các biện pháp cải thiện điều
Tuy nhiên, nếu giảm độ dốc mái taluy quá 1/3 thì không c ải thiện đƣợc độ ổn định
so với làm bệ phản áp, hơn nữa không phải ở vị trí nào cũng cho phép giảm độ dốc
Trang 71.3.3 Xây dựng theo giai đoạn
Xây dựng theo giai đoạn là tiến hành đ ắp nền đến một chiều cao đầu tiên sao cho hệ số an toàn F ≥ 1,5 và chờ cho đất yếu cố kết (cải thiện cường độ kháng cắt)
Trong giai đoạn cố kết, hệ số an toàn tăng lên khi tải trọng không đổi Như vậy có
thể đắp nền thêm một chiều cao mới để giảm hệ số an toàn đến trị số tối thiểu là 1,5
và lặp lại quá trình một số lần cần thiết
Do thời gian cố kết cần thiết giữa hai giai đoạn khá dài nên hiếm khi đắp nền đường đến ba giai đoạn
Thời gian thi công gi ảm đáng kể nếu làm đường thấm thẳng đứng
Việc tính toán kiểm tra độ ổn định trước khi đắp một lớp nền mới được tiến hành với ứng suất tổng, trên cơ sở của trị số lực dính không thoát nước được tăng
lên do cố kết và được xác định theo một trong hai phương pháp sau:
- Đo bằng thiết bị cắt cánh hiện trường – Đưa trực tiếp trị số đo được vào tính toán không cần điều chỉnh, tải trọng của nền đắp có tác dụng phá ho ại kết cấu của
đất sét và giảm bớt vai trò của các nhân tố điều chỉnh của Bjerrum
- Đánh giá độ tăng của lực dính không thoát nước – độ tăng này có thể tính bằng số theo công thức:
ΔCu = Δσ’tgυcu Dưới tim nền đường đắp Δσ’= Δσ.U, với Δσ là tổng ứng suất do nền đắp gây
ra và U là độ cố kết được đánh giá hoặc xác định theo kết quả đo áp lực nước lỗ
rỗng tại chỗ
Hình 1.3 Nguyên tắc xây dựng nền đắp theo giai đoạn
Trang 8Hình 1.4 Xây dựng theo giai đoạn - Sơ đồ xét tới việc tăng lực dính do cố
kết
1.3.4 Cải thiện các tính chất của đất yếu
Có thể cải thiện tính chất c ủa đ ất yếu do sự cố kết của khối đất dưới nền đắp hoặc do tăng cường khối đất bằng các cột balat hoặc cột đất gia cố vôi, các cột này
còn có tác dụng thoát nước
Sự cố kết của khối đất yếu xảy ra dưới tác dụng của các ứng suất do nền đắp gây ra Khi các điều kiện về ổn định và thời hạn thi công cho phép, có thể xây dựng
nền đ ắp đến một chiều cao lớn hơn chiều cao của thiết kế và như vậy đã tác dụng
thêm một gia tải để tăng nhanh độ lún Trong trường hợp chung, thời gian cố kết sẽ
rất dài, có thể đến vài năm ho ặc vài thập kỷ Như vậy cần tăng nhanh hiện tượng cố
kết bằng cách làm đường thấm thẳng đứng để giảm chiều dài c ủa đường thoát
nước Cũng có thể tăng nhanh cố kết bằng phương pháp cố kết động tức là thả rơi
các vật nặng trên mặt nền sau khi làm đường thấm thẳng đứng
Cũng có thể tăng cường khối đất yếu bằng các cột vật liệu có cường độ tốt hơn đất thiên nhiên tại chỗ Hai kỹ thuật đã được sử dụng là:
- Cột balat: Thay c ục bộ đ ất yếu bằng các cột vật liệu hạt đã đ ầm chặt
- Cột đất gia cố vôi: Trộn vôi sống với đất sét tại chỗ làm tăng đáng kể các tính chất của đất sét mềm
Trang 91.3.5 Các phương pháp khác
Tăng cường đáy nền đắp bằng các vật liệu thiên nhiên (bó cành cây, tre,…) hoặc các thảm vật liệu thấm tổng hợp (geotextiles), hoặc có thể sử dụng vải địa kỹ
thuật rải trên mặt đất yếu trước khi đắp
Đắp bằng vật liệu nhẹ: Puzulan, trấu nung, vỏ sò, khối polystyren kết cấu tổ ong
Xây dựng nền đắp trên các cọc cát
1.4 Các phương pháp tính toán ổn định nền đắp trên đất yếu
1.4.1 Tính toán nền đắp trên đất yếu theo quan điểm tiền định
Trong hơn nửa thế kỷ qua, việc thiết kế các công trình và nền của chúng chủ yếu dựa trên cơ sở phương pháp các trạng thái giới hạn hoặc các phương pháp tương
tự [4] Theo phương pháp các trạng thái giới hạn, một hệ số an toàn duy nhất của
phương pháp tải trọng phá hoại đã được thay bằng hàng loạt các hệ số, xét đến các
yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến trạng thái c ủa kết cấu:
– hệ số độ tin cậy về vật liệu;
– các hệ số độ tin cậy về tải trọng (hệ số vượt tải và hệ số tổ hợp tải trọng);
– các hệ số điều kiện làm việc của kết cấu và các cấu kiện của nó;
– hệ số độ chính xác của các thao tác công nghệ;
– hệ số độ tin cậy về tính chất quan trọng của kết cấu
Đã có sự thay đổi các tiêu chí đánh giá độ bền và các tính chất khác của kết cấu Việc thiết kế, xây dựng và khai thác công trình cần phải được thực hiện sao cho
không để xảy ra các trạng thái giới hạn của nó Trạng thái của kết cấu, mà với trạng
thái ấy kết cấu không thể thoả mãn các yêu cầu khai thác, được gọi là trạng thái giới
hạn Các trạng thái giới hạn có thể xảy ra của các kết cấu và nền của chúng được chia
thành các nhóm Khi đó độ bền của kết cấu trở thành một tính chất riêng, và đã xuất
hiện trường hợp, khi mà kết cấu đủ bền nhưng không thể tiếp tục khai thác được vì
đạt đến các trạng thái giới hạn khác (ví dụ, do nguyên nhân độ võng lớn hoặc bề rộng
vết nứt mở rộng quá mức cho phép) [4]
Trang 10Các trạng thái giới hạn được chia thành hai nhóm
Nhóm trạng thái giới hạn thứ nhất bao gồm những trạng thái giới hạn dẫn tới bất lợi hoàn toàn cho khai thác công trình, nền hoặc dẫn tới phá hoại hoàn toàn
(hoặc một phần) khả năng chịu tải Những trạng thái giới hạn này có thể xem như
những trạng thái giới hạn tuyệt đối Chúng được đặc trưng bởi: sự phá hoại có đặc
trưng bất kỳ (ví dụ dẻo, giòn, mỏi); mất ổn định hình dạng dẫn đến bất lợi hoàn
toàn khi khai thác; mất ổn định vị trí; chuyển sang hệ biến hình; thay đổi chất
lượng kết cấu; những hiện tượng khác nhau khi đó buộc phải ngừng khai thác
Nhóm trạng thái giới hạn thứ hai bao gồm các trạng thái giới hạn gây khó khăn cho khai thác bình thường công trình hoặc nền, làm suy giảm tuổi thọ của
công trình so với thời hạn phục vụ đã được thiết lập khi thiết kế Những trạng thái
giới hạn này có thể xem như trạng thái giới hạn chức năng Chúng được đặc trưng
bởi: sự đạt đến chuyển vị giới hạn của kết cấu ho ặc biến dạng giới hạn của nền;
mức dao động của giới hạn kết cấu ho ặc ho ặc nền; mất ổn định hình dạng dẫn đến
khó khăn cho khai thác bình thường, cũng như các hiện tượng khác, khi đó buộc
phải giảm tạm thời thời hạn phục vụ
Cũng cần bổ sung khi giới thiệu nội dung mới là: cùng với những khái niệm
và khả năng chịu tải và tính thích hợp cho khai thác thì khái niệm sức sống cũng
xác định thêm một nhóm các trạng thái giới hạn mới Sức sống được xem là tính
chất bảo tồn khả năng thực hiện các chức năng chủ yếu của hệ dưới tác dụng của
những nhiễu loạn mang tính thảm họ a, mà không được phép phát triển các nhiễu
loạn và các sự cố theo kiểu dòng thác [8]
Vì thế, trong nhiều trường hợp, có thể bổ sung nhóm các trạng thái giới hạn thứ ba Nhóm các trạng thái giới hạn thứ ba - theo sức sống - bao gồm các trạng
thái giới hạn được đặc trưng bởi sự phát triển các phá hoại có dạng dòng thác dẫn
đến loại bỏ hoàn toàn các thành phần của hệ Nguyên nhân của sự phát triển tương
tự có thể là những tác động có tính thảm họa, cũng như những sai lầm đáng tiếc khi
thi công hoặc khi khai thác Việc tính toán theo trạng thái giới hạn thuộc nhóm thứ
ba chính là đảm bảo khả năng chịu tải của công trình khi loại ra khỏi sơ đồ tính
Trang 11toán một hoặc một số bộ phận chịu tải, ho ặc khi hình thành một số tải trọng, dạng
nhiễu loạn có thể phải được ghi vào nhiệm vụ thiết kế
Việc tính toán theo các trạn thái giới hạn nhằm đảm bảo sự tin cậy của công trình trong cả vòng đời phục vụ của chúng, cũng như trong quá trình xây dựng
Những điều kiện bảo đảm độ tin cậy chính là đảm bảo các giá trị tính toán của tải
trọng hoặc nội lực, ứng suất, biến dạng, chuyển vị do chúng gây ra không vượt qua
các giá trị giới hạn tương ứng được xác định trong các tiêu chuẩn hiện hành thiết kế
nền
Điều kiện tổng quát không vượt qua các trạng thái giới hạn có thể biểu diễn dưới dạng [4],[8]:
G( aiFp, biRp, γn, , γa,γd, C) ≥ 0, (1.1) trong đó : Fp – là giá trị tính toán của tải trọng , aiFp – là hiệu ứng tải trọng (đó là
nội lực, ứng suất, biến dạng, chuyển vị, ), ai – là hàm của các tham số hình học và
vật lý của kết cấu, Fp= γfFH, γf – là hệ số tin cậy về tải trọng, FH – là giá trị tiêu
chuẩn của tải trọng; Rp – là giá trị tính toán của sức bền vật liệu, biRp– là khả năng
chịu tải của kết cấu, bi là hàm c ủa các tham số thiết diện ngang,… Rp= RH/γm, ,γm –
là hệ số độ tin cậy về vật liệu, RH – là giá trị tiêu chuẩn của sức bền vật liệu; γn – là
hệ số tin cậy về ý nghĩa và tính chất quan trọng của kết cấu (là hệ số “tầm quan
trọng” trong các tiêu chuẩn của các nước); γd – là hệ số điều kiện làm việc γa– là hệ
số độ chính xác; C – là hằng số bao gồm những ràng buộc được chọn trước, được
cho với một số các giới hạn trạng thái giới hạn, điều kiện xác định biên của vùng
trạng thái cho phép của công trình
Các yếu tố đa dạng, phong phú mà trạng thái của công trình phụ thuộc vào chúng, được đưa vào (1.1), có thể phân chia ra một cách giả định làm hai nhóm
Nhóm thứ nhất là các yếu tố phụ thuộc vào tính chất của bản thân công trình, nhóm
thứ hai là các yếu tố phụ thuộc chủ yếu vào các tác động bên ngoài
Các đại lượng tính toán cũng được phân chia thành hai nhóm như vậy, vì phần lớn các trường hợp giữa chúng không có mối liên hệ tương quan Mặc dù có thể
Trang 12dẫn ra các ví dụ về sự ảnh hưởng lẫn nhau c ủa các yếu tố của hai nhóm này, xong
phổ biến hơn c ả là trường hợp giữa chúng có tính độc lập
Khi đó đối với các trạng thái giới hạn thứ nhất, điều kiện (1.1) có thể được biểu diễn bởi mối quan hệ [8]:
γngF( aiFp, γa, γd,) ≤ gR(biRp), (1.2) tức là nội lực trong nền không được vượt quá sức chịu tải
Đối với nhóm các trạng thái giới hạn thứ hai, điều kiện (1.1) có thể viết dưới dạng [8]:
γngF( aiFp, γa, γd,) ≤ C (1.3) Khi thiết kế công trình cần phải xem xét các tình huống tính toán, là tập hợp các điều kiện xác định các yêu cầu tính toán đối với công trình đang xét Có thể xét
những tình huống tính toán sau đây :
Tình huống xác lập có thời gian tồn tại trong kho ảng thời hạn phục vụ hoặc chu trình vòng đời của đối tượng xây dựng;
Tình huống chuyển tiếp có thời gian tồn tại không lớn hơn so với thời hạn phục vụ của đối tượng xây dựng;
Tình huống hư hỏng có xác suất xuất hiện nhỏ và thời gian tồn tại không lớn, nhưng là tình huống rất quan trọng xét về góc độ hậu quả khi đạt đến các trạng
thái giới hạn có thể xảy ra trong tình huống đó
Những tình huống tính toán được đặc trưng bởi các sơ đồ tính toán, dạng và giá trị của tải trọng, giá trị các hệ số tin cậy, danh mục giới hạn cần phải xem xét
trong tình huống này
Các tham số của sức chịu đựng của vật liệu chịu tác động của tải trọng, được xác định trong các tiêu chuẩn thiết kế – là những giá trị tiêu chuẩn của sức bền có
tính đến độ biến động ngẫu nhiên của các tính chất cơ học của vật liệu Người ta
thừa nhận rằng, suất bảo đảm của các giá trị tiêu chuẩn của sức bền không được
nhỏ hơn 0.95 Giá trị tiêu chuẩn của sức bền vật liệu thường cho phép lấy bằng giá
Trang 13trị đặc trưng kiểm tra hoặc đặc trưng hư hỏng, được chỉ ra trong các tài liệu tiêu
chuẩn tương ứng về vật liệu
Ngoài những giá trị tiêu chuẩn của sức bền vật liệu – như mô đun đàn hồi, hệ
số ma sát, lực dính, từ biến, độ sụt lún,… được lấy theo giá trị trung bình của các số
liệu thống kê
Nếu các đ ại lượng đặc trưng cho tính chất của vật liệu và đ ất nền là những hàm của các đại lượng khác hoặc được tìm ra từ những quan hệ tương quan c ủa
chúng, thì các giá trị tiêu chuẩn của các đặc trưng của vật liệu và đ ất nền có thể
nhận được bằng tính toán có thể sử dụng các quan hệ được cho trong các tiêu chuẩn
thiết kế
Độ lệch có thể của sức bền và các đặc trưng khác của vật liệu và đất nền về phía bất lợi so với giá trị tiêu chuẩn được xem xét đến bằng các hệ số tin cậy về vật
liệu và đất nền γm,được xác định trong các tiêu chuẩn thiết kế kết cấu và nền tùy
thuộc vào tính chất của vật liệu và đất nền, tính biến động thống kê của chúng (với
suất bảo đảm tùy thuộc vào dạng trạng thái giới hạn), cũng còn xét đến các yếu tố
không thể khẳng định bằng cách thống kê (đặc biệt là đ ặc trưng phá hoại vật liệu,
dung sai chiều dầy thép cán, kinh nghiệm thực tế,…)
Giá trị tính toán của sức bền vật liệu hoặc giá trị tính toán của đ ặc trưng của đất được gọi là giá trị sức bền hoặc đặc trưng nhận được bằng cách chia giá trị tiêu
chuẩn của sức bền RH hoặc giá trị đặc trưng cho hệ số tin cậy về vật liệu và đất nền
γm.Cho phép xác định các giá trị tính toán khác của đặc trưng vật liệu bằng cách
chia các giá trị tiêu chuẩn của chúng cho hệ số tin cậy của sức bền vật liệu
Giá trị tiêu chuẩn RH của tải trọng và tác động là những đặc trưng chủ yếu của tải trọng, giá trị của chúng và việc phân lo ại chúng cho các tiêu chuẩn về tải trọng
Hệ số tin cậy về tải trọng γf là hệ số xét đến những sai lệch bất lợi có thể của các tác động (tải trọng là một dạng riêng của tác động) so với giá trị tiêu chuẩn của
nó do tính biến động của tải trọng hoặc do sự sai lệch so với điều kiện khai thác
bình thường gây ra Nhân hệ số này với giá trị tiêu chuẩn của tác động FH để nhận
Trang 14được giá trị tính toán của nó Fp Khi có những tài liệu thống kê, cho phép xác định
trực tiếp các giá trị tính toán của tải trọng theo xác suất đã vượt qua chúng Giá trị
của hệ số này cũng như các giá trị tiêu chuẩn của các tác động được xác định từ
những nghiên cứu bản chất của các tác động và phân tích các tài liệu thống kê về
chúng Giá trị hệ số γfcó thể khác nhau đối với các trạng thái giới hạn khác nhau và
các tình huống tính toán khác nhau Khi xác định các giá trị tiêu chuẩn và các giá
trị tính toán của tải trọng thay đổi theo thời gian, cho phép xét đến thời hạn phục vụ
ấn định trước của nhà hoặc công trình
Hệ số xác định γa là hệ số xét đến những sai lệch bất lợi có thể của các đặc trưng hình học (kích thước các bộ phận của kết cấu, sự bố trí tương hỗ lẫn nhau của
chúng, độ võng ban đầu,…) so với các giá trị tính toán tiêu chuẩn của chúng Nhân
hệ số này với giá trị tiêu chuẩn của các đặc trưng hình học để nhận được giá trị tính
toán c ủa nó Phần lớn các trường hợp, thay cho hệ số độ chính xác, trong các tiêu
chuẩn có sử dụng yếu tố bổ sung được thêm vào các giá trị tiêu chuẩn và đóng vai
trò như hệ số chính xác Trong một số trường hợp, độ sai lệch của kích thước hình
học được xét đến bằng hệ số về vật liệu Giá trị hệ số chính xác và các yếu tố bổ
sung được xác định trên cơ sở nghiên cứu các điều kiện chế tạo và lắp dựng kết cấu
(có xét đến những quy tắc tiêu chuẩn hóa dung sai và kiểm tra chất lượng) và phân
tích các tài liệu thống kê về các đặc trưng hình học tương ứng
Hệ số điều kiện làm việc (hệ số mô hình) γd là hệ số phản ánh các yếu tố làm đơn giản hóa mô hình tính toán, không được xét một cách trực tiếp
Hệ số tin cậy γn (hệ số trách nhiệm, hệ số quan trọng) là hệ số về ý nghĩa, nó xét đến tầm quan trọng của công trình và ảnh hưởng của chúng đến mức tin cậy yêu
cầu, nó được đưa vào bất phương trình cơ bản (1.1) và là những yêu cầu chủ yếu
của phương pháp các trạng thái giới hạn Các yêu cầu đó là nội lực trong các bộ
phận kết cấu ho ặc giá trị tính toán của tải trọng tác động lên toàn bộ công trình, đã
xét đến tất cả các hệ số, không được vượt quá khả năng chịu tải của các bộ phận
công trình hoặc toàn bộ công trình, trong đó khả năng cũng đã xét đến những hệ số
tương ứng Hệ số này được nhân với hiệu ứng tải trọng
Trang 15Giá trị hệ số tin cậy về ý nghĩa γn được xác định tùy thuộc vào mức độ quan trọng của nhà và công trình được phân cấp Ví dụ như trong tài liệu kỹ thuật
chuyên ngành đã xác định được ba mức quan trọng (cấp 1 – là cấp có mức độ quan
khác nhau) được thể hiện trong các tiêu chuẩn thiết kế bởi những giá trị tiêu chuẩn
tiền định, còn ảnh hưởng của độ biến động của chúng đến độ tin cậy của kết cấu
được xét đến bởi các hệ số tin cậy Mỗi hệ số xét đến độ biến động chỉ của một đại
lượng xuất phát, nghĩa là độ tin cậy sẽ phụ thuộc vào đạo hàm riêng của hàm này
theo các biến tương ứng, Vì vậy, các hệ số này cũng được gọi là những hệ số tin
cậy riêng
Phương pháp các trạng thái giới hạn về hình thức là tiền định Tuy nhiên,
nó có thể được dùng làm cơ sở xác suất với mức tin c ậy bất kỳ Mức tin cậy tùy
thuộc vào mức tin cậy của thủ tục được sử dụng để lựa chọn các giá trị của các hệ
số độ tin cậy Những thủ tục này dựa trên kinh nghiệm thiết kế có sử dụng những
kết quả nghiên c ứu lý thuyết độ tin cậy của công trình [8]
1.4.2 Sự cần thiết tính toán nền đắp trên đất yếu theo quan điểm của lý
thuyết độ tin cậy
1.4.2.1 Những vấn đề còn tồn tại của phương pháp các trạng thái giới hạn
Trước hết, quan hệ giữa các hàm độ bền R và hàm nội lực S với các biến cơ bản (các tham số đầu vào) là các quan hệ đơn định hay tiền định Các tham số tính
toán được coi là các đại lượng không đổi, không phải là các đại lượng ngẫu nhiên,
Trang 16trong khi các kết quả thí nghiệm đã chỉ ra bản chất chúng là các đ ại lượng ngẫu
nhiên, phân tán theo quy luật phân bố nhất định và chủ yếu phân bố theo quy luật
chuẩn ho ặc gần chuẩn [4], [6], [14]
Các hệ số về vật liệu và tải trọng từ công thức (1.1) là γf, γm ,… được sử dụng trong phương pháp các trạng thái giới hạn thực tế có tính thống kê lại có giá trị
không đổi
Các hệ số điều kiện làm việc và hệ số tính chất quan trọng của kết cấu và nền
là các giá trị đã được định trước và được lấy chủ yếu theo kinh nghiệm nhiều năm
thiết kế và khai thác các công trình tương tự [4]
Phương pháp các trạng thái giới hạn không xét được yếu tố thời gian, các hệ
số được đưa vào với hàm ý kể đến yếu tố thời gian chỉ mang tính ước lệ, không rõ
ràng
thuyết độ tin cậy
Những nhược điểm của phương pháp các trạng thái giới hạn là rõ ràng và vẫn chưa khắc phục được Vào giai đoạn gần đây nhất, sự phát triển phương pháp tính
kết cấu xây dựng và nền theo các trạng thái giới hạn được đặc trưng bởi sự thường
xuyên làm chính xác hơn các nội dung tính toán riêng biệt và các hệ số kinh
nghiệm mà không có sự thay đổi các tiêu chí đánh giá chất lượng kết cấu và nền
Tuy nhiên, việc làm chính xác hơn các nội dung và các hệ số chỉ đạt đến một giới
hạn nào đó, còn sau đó thì hoặc là không hiệu quả, hoặc là không an toàn [15]
Để khắc phục vấn đề vừa nêu, hiện nay trên thế giới đã hình thành một hệ thống các phương pháp tính toán theo quan điểm mới, đó là tính kết cấu công trình
và nền theo lý thuyết xác suất và lý thuyết độ tin cậy Lý thuyết tính toán mới trên
cở sở vẫn dựa vào các tiêu chuẩn hiện hành ở phần các điểm xuất phát, các điều
kiện làm việc và sơ đồ tính, cũng như l ựa chọn mô hình xác suất nhưng vẫn xét đến
và sử dụng các thuật toán tiền định Có nghĩa là, phương pháp giải theo xác suất
không thể thay thế hoàn toàn cho cách gi ải bài toán tiền định [4]
Trang 17Rõ ràng, cũng nhƣ các dạng công trình khác, trạng thái phức tạp của nền đắp trên đất yếu, phụ thuộc vào các tham số có bản chất ngẫu nhiên, không thể đƣợc
miêu tả một cách thích hợp trong khuôn khổ các quan hệ hàm số với tính đơn trị và
tiền định
Vì thế, đề tài “Nghiên cứu sự an toàn của nền đắp trên đất yếu theo tiêu
chuẩn hiện hành và theo lý thuyết độ tin cậy” đã đƣợc đặt ra để nghiên c ứu
Nội dung c ủa Luận văn không có tham vọ ng giải quyết hết các vấn đề liên quan đến an toàn của công trình nền đắp trên đất yếu, mà chỉ tập trung nghiên cứu,
tính toán tiền định theo Tiêu chuẩn hiện hành, cũng nhƣ tính toán xác suất về ổn
định trƣợt sâu và lún trồi Đó cũng là mục đích của Luận văn
Trang 18CHƯƠNG 2 TÍNH TOÁN ỔN ĐỊNH CỦA NỀN ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU
THEO TIÊU CHUẨN HIỆN HÀNH VÀ THEO LÝ THUYẾT ĐỘ TIN CẬY
2.1 Cơ sở lý thuyết tính toán tiền định nền đắp trên đất yếu
Nền đất yếu là vùng đất yếu dưới nền đắp chịu tác động của nền đắp với tải trọng ngoài tác dụng bên trên gây biến dạng và có thể gây mất ổn định cho nền
Nhiệm vụ hàng đầu của việc thiết kế và xây dựng nền đ ắp trên đất yếu là bảo đảm ổn định tổng thể cho nền đất yếu, tức là không để xảy ra phá hoại theo dạng
trượt sâu và lún trồi trong thời gian xây dựng cũng như trong thời kỳ khai thác
Mức độ ổn định của nền đất dưới nền đắp cao hay thấp hay không ổn định là tùy
thuộc vào mức độ xuất hiện vùng phá ho ại với kích thước nhỏ hay lớn hay không
thuộc một trong hai nhóm [7]:
- Nhóm 1: Nhóm các phương pháp gi ả thiết trước hình dạng của mặt trượt và coi khối trượt như một vật thể rắn ở trạng thái cân bằng giới hạn Các phương pháp
này dựa trên các tài liệu thực nghiệm về hình dạng mặt trượt và nhiều kết quả quan
trắc các mặt trượt của mái dốc hay nền đắp trên đất yếu trong thực tế mà đưa ra các
giả thiết đơn giản hoá về hình dạng mặt trượt và phương pháp tính toán tương ứng
- Nhóm 2: Nhóm các phương pháp dựa vào lý thuyết cân bằng giới hạn của các điểm trong khối đất Các phương pháp thuộc nhóm này dựa vào giả thiết cơ bản
là, mọi điểm trong khối đất mái dốc hay nền đ ắp trên đất yếu phải thỏa mãn điều
kiện cân bằng giới hạn
Nhóm phương pháp thứ hai có lời giải chặt chẽ, phản ánh gần đúng trạng thái ứng suất trong khối đất bị phá hoại nhưng do lời giải của bài toán rất phức tạp, tốn
nhiều công sức nên nhóm phương pháp này vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi trong
Trang 19thực tế Đại diện cho nhóm này là các phương pháp của W Rankine, F Kotter, V
V Xôcôlốvsky,…
Nhóm phương pháp giả thiết trước hình dạng của mặt trượt, đặc biệt là dạng mặt trượt trụ tròn đối với đất dính, mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng được
áp dụng phổ biến trong thực tế do tính đơn giản và thiên về an toàn hơn so với các
phương pháp thuộc nhóm thứ hai Phương pháp tính toán ổn định mái dốc hay nền
đắp trên đất yếu dựa trên giả thiết mặt trượt trụ tròn đã được K E Pettecxon nêu ra
năm 1916, sau đó được phát triển bởi nhiều nhà khoa học khác như W Fellenius,
K Terzaghi, H Krey-Bishop,… và được đánh giá là tương đối phù hợp với thực
tế Vì thế, dưới đây trình bày tóm t ắt nguyên tắc tính toán theo các phương pháp giả
định trước mặt trượt, tính toán kiểm tra ổn định mái dốc theo phương pháp của K
Terzaghi, và phương pháp đơn gi ản hóa c ủa Bishop, được lấy với tính chất là thuật
toán tiền định làm cơ sở cho tính toán xác suất mái dốc, cũng như của nền đắp trên
đất yếu [7]
2.1.1 Nguyên tắc tính toán theo các phương pháp giả định trước mặt trượt
Sự ổn định của nền đắp trên đ ất yếu phụ thuộc nhiều vào sự thay đổi của động thái áp lực nước lỗ rỗng Trong khi thi công khối đắp, áp lực nước lỗ rỗng sẽ tăng
lên và sau khi thi công, nó sẽ dần giảm xuống Trong các rãnh hào, việc đào ban
đầu sẽ làm giảm áp lực nước lỗ rỗng, nhưng khi có dòng thấm chúng sẽ dần tăng
lên Ứng suất hiệu quả và do vậy độ bền chống cắt thường tỉ lệ nghịch với áp lực
nước lỗ rỗng Hệ số an toàn giới hạn (thấp nhất) vì thế đạt được trong khi thi công
hay sau khi thi công khối đắp sẽ dần lớn hơn, đất sẽ dần dần bền chắc hơn Nghĩa
là, độ bền chống cắt trong khối đất sẽ tăng lên theo thời gian và hệ số an toàn cũng
vậy
Bởi thế cần phải xem xét cả sự ổn định ngắn ngày (cuối thi công) và dài ngày
Trong điều kiện ổn định ngắn ngày, sẽ là phù hợp nếu cho rằng là hoàn toàn không
thoát nước và độ bền chống cắt được cho bởi τ = cu (có nghĩa υu = 0)
Với bài toán dài ngày và bài toán có điều kiện biến đổi kéo dài sau khi kết thúc thi công, phải yêu cầu phân tích ở dạng ứng suất hiệu quả Những phương
pháp này có thể thực hiện ở dạng phân tích cân bằng lực hay cân bằng momen, với
Trang 20mặt trượt phẳng, tròn hay mặt trượt thay đổi bất kỳ Trong trường hợp với bài toán
phức tạp có thể dùng dùng phương pháp đường ứng suất và đường trượt Chúng ta
xét một số trường hợp sau đây [3]
Phân tích ứng suất tổng có thể dùng cho trường hợp mái dốc mới đắp, hay mới đào trong đ ất sét hoàn toàn bão hòa Vì υu = 0, độ bền cắt không thoát nước τ
= cu Giả thiết mặt cắt của mặt phá ho ại có dạng trụ tròn và tâm của mặt trượt giới
hạn ở một điểm nào đó trên đỉnh mái dốc Mặt trượt giới hạn (phá hoại) là một
trong vô số các mặt khả dĩ vẽ được với bán kính và tâm khác nhau (hình 2.1) Một
số mặt trượt sẽ qua chân mái dốc và số khác sẽ cắt mặt đất ở phía trước chân mái
dốc
Hình 2.1 Các mặt trượt có bán kính và cung trượt khác nhau
Mặt trượt giới hạn là một mặt mà dọc theo nó sự phá hoại dễ xảy ra nhất và hệ
số an toàn thấp nhất Chọn một số mặt trượt để thử và việc phân tích được lặp lại
đối với mỗi mặt trượt cho tới khi nhận được hệ số an toàn thấp nhất
On
O1
R1
Rn
Trang 21Momengaytruot W d
(2.10) trong đó: W - trọng lượng của khối trượt;
d - cánh tay đòn c ủa lực gây trượt W đối với tâm trượt O;
c u - lực dính đơn vị của đ ất dọc theo mặt trượt tròn AB;
được giới hạn bởi mặt đất, mặt trượt trụ tròn và khe nứt căng Trong khe nứt căng,
độ bền kháng cắt không có nhưng nếu chứa đầy nước, trong mômen phá hoại lại
Trang 22Hình 2.3 Ảnh hưởng của khe nứt căng trong phân tích ứng suất tổng
phải tính thêm đến lực thủy tĩnh Pw tác dụng theo phương ngang:
2 W
F Momengaytruot d P
tồn tại, cũng cần tính cả sự ổn định dài ngày, vì ứng suất thay đổi theo mặt trượt
thử, nên coi khối trượt như là một dãy các mảnh Giả sử một mặt trượt thử được
chọn có tâm O, bán kính R (hình 2.4) và chia khoảng cách theo phương ngang giữa
2 đuôi cung A và B thành các mảnh có bề rộng b bằng nhau
Trang 23Hình 2.4 Phương pháp phân mảnh
Các lực tác dụng lên một mảnh có chiều dài 1m theo phương chiều dài mái đắp gồm có:
W – trọng lượng của mảnh, W = γhb;
N’ – phản lực pháp tuyến hiệu quả lên đáy mảnh;
T – lực cắt dọc theo đáy mảnh, T = Wsinα;
R 1 , R 2 – các lực bên do hai mảnh kề với mảnh đang xét tác dụng, chúng có thể
được đưa vào hoặc không đưa vào các lời giải;
E 1 và E 2 – lực pháp tuyến giữa các mảnh;
Ngoài ra, trọng lượng của mảnh phải kể thêm giá trị của tải trọng trên mặt đất tác dụng trong phạm vi chiều rộng của mảnh
Tại điểm cân bằng giới hạn, tổng mômen phá hoại sẽ cân bằng với mômen của các lực chống trượt dọc theo mặt trượt AB [3]:
Trang 24ở đây LAB - chiều dài cung AB, gần đúng LA B = β.R (h.2.4).
Kết quả tính toán phụ thuộc rất nhiều vào giá trị N’ nhận được như thế nào
Một loạt các phương pháp đã được đề nghị, một số thì tương đối đơn giản và một
số khá chặt chẽ Việc đánh giá chính xác nhất đạt được theo phương pháp khá chặt
chẽ, nhưng chỉ có khả năng thực hiện nếu dùng chương trình máy tính Có thể dùng
lối dung hòa bằng cách sử dụng phương pháp phân tích đơn giản với hệ số an toàn
tăng lên [3]
- Phương pháp của Fellenius
Phương pháp này giả thiết các lực tác dụng của các mảnh bên lên mảnh đang xét bằng nhau và ngược chiều nên triệt tiêu lẫn nhau, có nghĩa là E1= E2, X1 = X2
Ngoài ra, mái dốc và nền là đồng nhất Bây giờ chỉ cần xét các lực tác dụng lên đáy
Trang 25Hay
Thay ∑ N’ vào công thức (2.13) ta có hệ số ổn định:
W sin
c L b h F
Để đảm bảo độ chính xác tối thiểu, số các mảnh tính toán không được nhỏ
hơn 5, và rõ ràng số các mảnh càng lớn thì việc đánh giá F sẽ càng chính xác hơn
Tuy nhiên phương pháp này có cho giá trị F nhỏ hơn khoảng chừng 50% so với
thực tế Sai số có thể tăng lên khi ru lớn và cung trượt nằm sâu hay có bán kính
tương đối nhỏ, trong các trường hợp đó, dùng phương pháp Bishop là thích hợp
- Phương pháp của K Terzaghi
Một trong các phương pháp được dùng khá phổ biến trong thực tế là phương pháp của K Terzaghi Khi tính toán kiểm tra ổn định mái dốc hay nền đắp, K
Terzaghi đã đưa vào một vài giả thiết để đơn giản hơn nữa việc tính toán [7]
Giả sử có công trình dạng mái dốc hay nền đắp trên đất yếu ABC như trên hình 1 Mặt trượt CA’ dạng trụ tròn có bán kính R, tâm trượt tại O1
Chia khối đất cao hơn mặt trượt thành các cột thẳng đứng riêng biệt
với chiều rộng b i, xem xét sự ổ n định
của mỗi cột dưới tác dụng của trọng
lượng bản thân cột đất và tải trọng
phân bố phía trên, đồng thời bỏ qua
tương tác của cột đất với các cột bên
Trang 26( )
1
q h b
m j ji i
ở đây ji,h ji – trọng lượng riêng và chiều cao lớp đất j trong phạm vi cột đất i; m –
số lớp đất trong phạm vi cột đất i; b i – chiều rộng cột i, để đảm bảo độ chính xác,
lấy b i 0 , 1R
Khi đó, thành phần gây trượt của lực G i tiếp tuyến với mặt trượt và mômen do
nó gây ra đối với tâm trượt O1 được xác định theo các công thức sau:
R
r i
i
trong đó r i – khoảng cách từ trục thẳng đứng đi qua tâm trượt O1 đến điểm đặt của
lực G i (hình 2.1) Góc i được lấy là dương (+) nếu cột đất nằm ở bên phải trục
thẳng đứng đi qua tâm trượt, trong trường hợp ngược lại i được lấy là âm (–)
Các lực ma sát và lực dính chống lại sự trượt của cột đất Các lực này và
mômen do chúng gây ra đối với tâm trượt O1 là:
F i G icosi tgi c i l i; (2.19)
) cos
yi R G tg c l
M , (2.20)
ở đây i, c i – góc ma sát trong và lực dính đơn vị của lớp đất mà mặt trượt cắt qua
trong phạm vi cột đất i; l i – chiều dài cung trượt thuộc cột đất i
Tổ ng các mômen gây trượt của toàn bộ khối đất bằng
Trang 27Tương ứng, tổng mômen của các lực giữ bằng
i
i i i
n i
n i i i i
i i с
у o
G
l c tg
G М
M k
Nếu k o k o tc thì ổn định của công trình được đảm bảo, trong đó k o tc– hệ số ổn
định tiêu chuẩn, theo Tiêu chuẩn thiết kế 22TCN 262-2000, có thể lấy bằng tc
o
k = 1,1 ÷ 1,2 (Điều II.1.1)
Thông thường, để thiết lập điều kiện ổn định của mái dốc, trước hết người ta xác định vị trí tâm trượt và bán kính mặt trượt trụ tròn Về nguyên tắc, vị trí tâm
trượt có thể lấy tuỳ ý và cho đến nay công thức chính xác để xác định vị trí tâm
trượt bất lợi là không có [7] Tuy nhiên cần phải chọn vị trí tâm trượt bất lợi sao
cho giá trị hệ số ổn định là nhỏ nhất Trong một số tài liệu có nêu phương pháp gần
đúng xác định vị trí tâm trượt nguy hiểm [20] Ngày nay, đã có một số chương trình
mẫu để tính toán tiền định ổn định chung theo mặt trượt trụ tròn của các công trình,
trong đó có mái dốc hoặc nền đắp, trên máy tính điện tử (ví dụ GEO – SLOPE/W.),
cho phép xác định vị trí tâm trượt bất lợi và hệ số ổn định nhỏ nhất
- Phương pháp đơn giản hóa của Bishop
Trong điều kiện đất tương đối đồng nhất và khi ru gần như là hằng số, có thể giả thiết các lực tiếp tuyến tác dụng của các mảnh bên lên mảnh đang xét bằng
nhau và ngược chiều, có nghĩa là X1 = X2, nhưng E1 ≠ E2 (hình 2.6)
Khi cân bằng các lực dọc theo đáy c ủa mảnh, ta có:
Wsin α - f
l F
= Wsin α - ' ' tan '
0.
c L N F
Vì thế
Trang 28Hình 2.6 Mảnh đơn giản hóa của Bishop
Và khi cân bằng các lực theo phương đứng, ta có:
l F
Trang 291 [ '.b ( ) tan ')]sec .
1 sin
c W u b F
trượt đã cho Đó là cách làm thông dụng trong các chương trình học thiết kế cho sử
dụng máy tính Như đã nói ở trên, hiện nay đã có sẵn chương trình máy tính có khả
năng giải quyết cho cả điều kiện mái dốc và nền nhiều lớp, có tải trọng trên mặt
đất, áp lực nước lỗ rỗng phân bố thay đổi Trong hầu hết các bài toán, có thể chấp
nhận lấy giá trị trung bình không đổi cho ru Hệ số an toàn được tính theo phương
pháp này có thể là hơi thấp, nhưng với sai số thường không quá 3 %, trừ các trường
hợp không bình thường với đáy của mặt phá ho ại sâu và F nhỏ hơn đơn vị Phương
pháp này còn có thể tính đến các thay đổi của lực thấm lên mảnh và ở trong mảnh
sẽ cho hệ số an toàn thấp hơn nhưng chính xác hơn [3] Tuy nhiên phương pháp
tinh vi như thế phụ thuộc nhiều vào việc đánh giá đúng áp lực nước lỗ rỗng
2.2 Tính toán nền đắp trên đất yếu theo Tiêu chuẩn hiện hành
2.2.1 Các Tiêu chuẩn thiết kế nền đất yếu hiện hành
Cho đến nay, ở trong nước vẫn chưa xây dựng đầy đủ được những tiêu chuẩn riêng của Việt Nam về tính toán thiết kế cũng như quy trình công nghệ thi
công mới cho nền đắp trên đ ất yếu mà đều dựa chủ yếu vào các tài liệu ở nước
ngoài, được biên soạn chuyển thành Tiêu chuẩn Việt Nam Hiện nay, chúng ta
đang thiết kế và thi công nền đắp trên đất yếu theo một số tiêu chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn 22TCN 262-2000 – Quy trình khảo sát thiết kế nền đường ô
tô đắp trên đất yếu
- Tiểu chuẩn 22TCN 236-97 – Quy trình kỹ thuật thi công và nghiệm thu bấc thấm trong xây dựng nền đường trên đất yếu
- Tiểu chuẩn 22TCN 244-98 – Quy trình thiết kế xử lý đ ất yếu bằng bấc thấm trong xây dựng nền đường
- Tiêu chuẩn 22TCN 248-98 – Vải địa kỹ thuật trong xây dựng nền đắp trên đất yếu – Tiêu chuẩn thiết kế, thi công và nghiệm thu
Trang 302.2.2 Tính toán ổn định của nền đắp trên đất yếu về trượt trụ tròn
Trong phần này của luận văn trình bày các phương pháp tính kiểm tra ổn định
về trượt sâu của nền đắp trên đ ất yếu theo Tiêu chuẩn 22TCN 262-2000 – Quy trình
khảo sát thiết kế nền đường ô tô đắp trên đất yếu [1]
Hình 2.7 Sơ đồ các dạng mất ổn định của nền đắp trên đất yếu do trượt
a)
b)
Trang 31Khi mất ổn định về trượt sâu, trong nền đ ất yếu xảy ra một mặt trượt liên tục làm xé rách nền đ ắp và đẩy đất yếu trượt trồi lên phía chân taluy Mặc dù trượt cục
bộ nhưng trong thực tế nền đ ắp và nền đất yếu đều vượt qua giới hạn tương ứng với
trạng thái ổn định tổng thể và đều bị phá hoại Biểu hiện rõ rệt nhất của dạng phá
hoại này là một phần nền đ ắp bị sụt tạo thành bậc trượt ở đỉnh nền đ ắp, còn ở dưới
chân taluy đất yếu bị trồi lên (h.2.7)
Theo Tiêu chuẩn [1], việc tính toán ổn định trượt sâu của nền đắp trên đất yếu chính là xác định được mặt trượt tròn nguy hiểm nhất và hệ số ổn định nhỏ nhất
Kmin Để xác định mặt trượt tròn nguy hiểm và hệ số ổn định nhỏ nhất Kmin ta có thể
sử dụng một trong các phương pháp sau để tính toán [1]:
- Phương pháp phân mảnh cổ điển
- Phương pháp Bishop
Khi áp dụng phương pháp nghiệm toán ổn định theo cách phân mảnh cổ điển với mặt trượt tròn khoét xuống vùng đ ất yếu và các thông số tính toán được xác
định theo [1] thì hệ số ổn định nhỏ nhất Kmin = 1,20 (riêng trường hợp dùng kết
quả thí nghiệm cắt nhanh không thoát nước ở trong phòng thí nghiệm để nghiệm
toán thì Kmin = 1,10)
Khi áp dụng phương pháp Bishop để kiểm toán ổn định thì hệ số ổn định lấy theo phương pháp này là Kmin = 1,4
a) Tính toán theo phương pháp phân mảnh cổ điển với mặt trượt trụ tròn
Trong trường hợp tổng quát, hệ số ổn định Kj ứng với một mặt trượt trụ tròn
có tâm Oj khi có rải vải địa kỹ thuật và lực động đất, được xác định theo công thức
Trang 32n – tổng số mảnh trượt trong phạm vi khối trượt;
αi – góc giữa pháp tuyến của đoạn mặt trượt l i với phương c ủa lực Qi Góc αi được lấy dấu dương (+) nếu cột đất nằm phía bên trái trục thẳng đứng đi qua tâm trượt, trong trường hợp ngược lại αi được lấy dấu (-)
c i và φ i – tương ứng là lực dính và góc ma sát trong c ủa lớp đ ất chứa đoạn
mặt trượt l i của mảnh trượt thứ i ;
phạm vi mảnh i, 𝑄𝑖 = 𝑏𝑖( 𝛾𝑘 ℎ𝑘+q), với q – tải trọng của công trình quy
đổi tác dụng trên mặt nền đắp;
F – lực giữ (chống trượt) do vải địa kỹ thuật gây ra ;
Y – cánh tay đòn của lực F đối với tâm trượt;
R j – bán kính cong của mặt trượt j;
Y i – cánh tay đòn của lực W i đối với tâm trượt j;
Khi không có vải địa kỹ thuật và lực động đất thì các số hạng có chứa F và
W i bằng 0
Để xác định hệ số ổn định nhỏ nhất Kmin và mặt trượt tròn nguy hiểm nhất ta
có thể sử dụng phần mềm trên máy tính hoặc mò tìm mặt trượt nguy hiểm nhất
bằng cách cho vị trí tâm Oj của chúng thay đổi để tính toán
Theo kinh nghiệm việc mò tìm tâm trượt nguy hiểm được thực hiện theo các bước sau:
Trên đường thẳng nằm ngang đi qua tâm trượt thứ nhất O1 tương ứng tính được hệ số ổn định K1, lấy hai tâm trượt nữa là O2, O3 về hai phía c ủa O1 (hình
2.8) Tương ứng xác định được các hệ số ổn định K2, K3 đối với các tâm trượt và
mặt trượt tương ứng Chúng ta dựng biểu đồ các giá trị hệ số ổn định K1, K2, K3 và
trên phương này ta tìm được hệ số ổn định nhỏ nhất Kmin và vị trí tâm trượt nguy
hiểm nhất Omin
Trang 33Hình 2.8 Sơ đồ xác định hệ số K m inm in theo phương pháp mò tìm
Qua tâm Omin kẻ đường thẳng theo phương thẳng đứng, trên đó l ấy hai tâm trượt mới O4, O5 về hai phía của Omin Từ đó ta xác định hệ số ổn định K4, K5 đối
với các tâm và mặt trượt tương ứng và ta cũng dựng biểu đồ các giá trị hệ số ổn
định Kmin, K4, K5 Kết quả là trên phương này ta xác định được hệ số ổn định nhỏ
nhất Kminmin và tương ứng là vị trí tâm trượt nguy hiểm nhất Ominmin
b) Tính toán theo phương pháp Bishop
Khi xác định hệ số an toàn K theo phương pháp Bishop, hệ số ổn định Kj ứng với một mặt trượt tròn có tâm Oj trong trường hợp có rải vải địa kỹ thuật và lực
động đất được xác định theo công thức sau:
Trang 34Trong công thức (2.28), các ký hiệu có ý nghĩa hoàn toàn như trong công thức (2.27) Cách xác định chúng cũng hoàn toàn giống như khi tính toán theo phương
pháp phân mảnh cổ điển Chỉ khác là quá trình tính toán theo (2.28) và (2.29) là quá
trình tính lặp mò dần vì mi ở (2.29) lại phụ thuộc vào Kj Do vậy, nếu sử dụng
phương pháp Bishop thì thông thường phải sử dụng các chương trình tính trên máy
tính điện tử
Như vậy theo Tiêu chuẩn [1], áp lực nước lỗ rỗng trong công thức Bishop (2.26) đã được bỏ qua
Hình 2.9 Sơ đồ tính toán ổn định trượt theo phương pháp Bishop
Trên hình 2.9, lớp 1 có thể bao gồm tầng đệm cát mỏng, trên đó có lớp vải địa
kỹ thuật ho ặc có thể là một tầng đ ất mỏ ng không thấm
Khi áp dụng phương pháp Bishop để tính toán ổn định trượt sâu ta sử dụng phần mềm GEO-SLOPE để tính toán
Trình tự xác định hệ số ổn định nhỏ nhất Kmin và mặt trượt tròn nguy hiểm
nhất theo phần mềm GEO-SLOPE có thể xem trong PHỤ LỤC 1 của Luận văn
«TRÌNH TỰ XÁC ĐỊNH HỆ SỐ ỔN ĐỊNH NHỎ NHẤT Kmin VÀ MẶT TRƯỢT
TRÒN NGUY HIỂM NHẤT THEO PHẦN MỀM GEO-SLOPE»
Trang 352.2.3 Tính toán ổn định c ủa nền đắp trên đất yếu về lún trồi
Khi mất ổn định do lún trồi thì nền đất yếu bị phá hoại do lún xuống ở phần giữa nền đ ắp, đồng thời bị trồi lên ở hai bên chân taluy
Hình 2.10 Sơ đồ mất ổn định của nền đắp trên đất yếu do lún trồi
Để đánh giá khả năng lún trồi của nền đất yếu dưới nền đ ắp ta cần xác định
hệ số ổn định F, sau đó so sánh với hệ số an toàn F q = 1,5 Hệ số an toàn F được
xác định theo công thức sau:
trong đó q - ứng suất do nền đắp (chiều cao h, đắp bằng vật liệu có trọng lượng thể
tích γđ) gây ra dưới tim nền đắp, q được xác định như sau:
B – bề rộng đáy nền đ ắp;
Trang 36h – chiều dày lớp đất yếu
- Trường hợp 2: Tỷ số B 1, 49
h , thì áp lực giới hạn đƣợc tính theo công
(2.33)
trong đó Nc – hệ số thay đổi theo tỷ lệ B/h, đƣợc tra theo hình 2.11
Hình 2.11 Biểu đồ xác định hệ số sức chịu tải N c của nền đất yếu
2.3 Tính toán nền đắp trên đất yếu theo lý thuyết độ tin cậy
2.3.1 Nguyên tắc tính toán nền đắp trên đất yếu theo lý thuyết độ tin cậy [4]
a) Nguyên tắc liên hệ với các tài liệu tiêu chuẩn hiện hành
Nhƣ đã phân tích ở trên (mục 1.4.2), tính toán độ tin cậy về ổn định của nền đắp trên đất yếu cũng dựa trên cơ sở các nội dung của các tiêu chuẩn hiện hành ở
phần các quan điểm xuất phát, các điều kiện làm việc và các sơ đồ tính (điều kiện
làm việc không có sự cố phải đồng nhất với điều kiện không xảy ra các trạng thái
giới hạn đã đƣợc thiết lập bởi các tài liệu tiêu chuẩn hiện hành)
Trang 37Các công trình nền đắp trên đ ất yếu ở tất cả các dạng khác nhau được xem như là các công trình có tính chất quan trọng về kinh tế, nghĩa là xảy ra các trạng
thái giới hạn hay các sự cố không gây nguy hiểm đối với cuộc sống và sức khoẻ
thời hạn khai thác Đối với thời điểm tính toán t trong thời hạn phục vụ của công
trình, xác suất làm việc an toàn (không xảy ra sự cố) của công trình P(t) phải thoả
mãn điều kiện:
trong đó: P tc độ tin cậy tiêu chuẩn ho ặc cho trước đối với các thời điểm tính toán
d) Nguyên tắc tiêu chuẩn hoá độ tin cậy
Độ tin cậy tiêu chuẩn P tc của các cấu kiện và nền càng cao nếu mức độ quan trọng của công trình và mức độ nguy hiểm của sự cố càng cao
e) Nguyên tắc các mức tính toán về độ tin cậy
Mức thứ nhất: Tính toán độ tin cậy và sự thay đổi của nó với các quy luật phân bố của tải trọng và các tham số của công trình đã được thiết lập trong giai
đoạn lựa chọn dạng công trình
Mức thứ hai: Tính toán công trình theo độ tin c ậy yêu c ầu ho ặc cho trước
Mức thứ ba: Tính toán công trình được thiết kế hoặc sửa chữa trên cơ sở tối
ưu hoá với các chi phí được đưa ra nhỏ nhất khi đạt được mức độ tin cậy yêu cầu
f) Nguyên tắc lựa chọn mô hình xác suất có xét đến thuật toán tiền định
Việc lựa chọn mô hình tính toán xác suất được xác định theo dạng thuật toán tiền định và theo mức cơ sở thông tin hiện có Trong giai đoạn hiện nay, mô hình
xác suất cơ bản là mô hình các đ ại lượng ngẫu nhiên và các hàm của chúng
g) Nguyên tắc đảm bảo tính toán bởi các thông tin thống kê
Trang 38Các tài liệu về tải trọng và tác động, các kích thước công trình và nền, các đặc trưng của các vật liệu xây dựng, các chỉ số tính chất của đất nền và đất lấp phải
thoả mãn các yêu cầu sau: tính tin cậy, tính đại diện, tính đồng nhất của các số liệu
thống kê, sự tương thích c ủa các tham số tính toán
h) Nguyên tắc phụ thuộc vào độ tin cậy chung của công trình và độ tin cậy của các bộ phận hợp thành của nó
Độ tin cậy P s của công trình được thiết lập trên cơ sở phân tích cấu trúc công
trình và nền của nó, làm rõ những sự cố có thể xảy ra đối với từng bộ phận và nền
và đưa vào ma trận xác suất làm việc an toàn c ủa cả hệ thống
2.3.2 Phương pháp tính toán độ tin cậy về ổn định của nền đắp trên đất yếu
Hiện nay phương pháp Monte Clarlo và phương pháp tuyến tính hóa được coi
là các phương pháp cơ bản tính toán các đặc trưng xác suất của hàm độ bền và hàm
tải trọng, từ đó xác định được độ tin cậy của kết cấu công trình và nền [4 ], [19]
Như đã biết, mật độ phân bố của các tham số kết cấu, tải trọng, đất nền và đất lấp
hầu hết theo quy luật phân bố chuẩn ho ặc rất gần với phân bố chuẩn [4], [14] Vì
thế, có thể áp dụng phương pháp tuyến tính hoá để tính toán xác suất công trình và
nền [14]
a) Nội dung của phương pháp tuyến tính hoá
Để tính độ tin cậy P phải xác định các đặc trưng thống kê của độ bền hay khả năng chịu tải R và của hàm nội lực S do tải trọng ngoài Trong quan hệ tiền định, độ
bền hay khả năng chịu tải R và hàm nội lực S có thể viết dưới dạng các hàm sau
đây [4]:
R f R(r1,r2, ,r n),
S f S(s1,s2, ,s m), (2.35) trong đó:
n r r
r1, 2, , là các tham số tính toán c ủa hàm độ bền;
m s s
s1, 2, , là các tham số tính toán c ủa hàm nội lực
Trang 39Thực tế đã chỉ ra rằng, hầu như tất cả các tham số r1,r2, ,r n,s1,s2, ,s mđều là các đại lượng ngẫu nhiên Kỳ vọng toán của hàm các tham số ngẫu nhiên bằng đại
lượng được xác định theo quan hệ tiền định với việc đưa vào kỳ vọng toán của các
đại lượng ngẫu nhiên, nghĩa là
R f R(r1,r2, ,r n),
S f S(s1,s2, ,s m), (2.36) trong đó:
n r r
m s s
Phương sai của hàm các tham số ngẫu nhiên được xác định theo công thức của lý thuyết xác suất:
2 1
2 2 1
i R n
R i
f r
r
f R
2 2 1
i S m
S i
f s
s
f S
2
,,,
i S i
R i S i
R
s
f r
f s
f r
đạo hàm riêng cấp một và cấp hai của hàm các tham số
ngẫu nhiên của hàm độ bền hay hàm nội lực;
Tiếp theo, độ tin cậy hay xác suất làm việc không xảy ra sự cố của cấu kiện
hoặc nền vào thời điểm t bất kỳ có thể được xác định theo công thức
Trang 40trong đó:
S, S tương ứng là kỳ vọng toán và độ lệch chuẩn của hàm tải trọng S;
R, R tương ứng là kỳ vọ ng toán và độ lệch chuẩn của hàm độ bền R;
hàm phân bố chuẩn;
– chỉ số độ tin cậy
b) Phương pháp Monte Carlo
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, do số lượng mẫu thử hạn chế và do các đặc điểm công nghệ hoặc các nguyên nhân khác mà các quy luật phân bố của các
tham số có thể chỉ gần với phân bố chuẩn, chúng có độ lệch và độ nhọn nhất định
Điều đó có thể dẫn đến sai số lớn khi xác định xác suất làm việc an toàn của cấu
kiện hoặc nền theo phương pháp tuyến tính hóa Do vậy, để tính toán độ tin cậy của
các cấu kiện hoặc nền, hợp lý hơn cả là sử dụng phương pháp bán bất biến tổng
quát c ủa Pavlốp Iu A Độ tin cậy của các c ấu kiện chịu tải và nền theo phương
pháp này được trình bày chi tiết trong tài liệu [4]
Ngoài ra, thực tế tính toán chỉ ra rằng, đối với các kết cấu đơn giản có thể sử dụng phương pháp tuyến tính hoá Nhưng khi các hàm độ bền và nội lực (2.35)
phức tạp và phụ thuộc vào một số lượng lớn các biến ngẫu nhiên, việc xác định các
phương sai D , R D S theo (2.37) cũng phức tạp và dễ nhầm lẫn Đặc biệt, khi hệ phức
tạp, không phải bao giờ cũng viết được các hàm độ bền và hàm nội lực một cách
Các đặc trưng cơ bản của phương pháp Monte Carlo:
− Phương pháp Monte Carlo thực tế là phương pháp đầu tiên tiến hành thực nghiệm trên các mô hình toán học nhờ máy tính điện tử Điều đó có nghĩa là, việc