1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi xem quảng cáo trên mạng xã hội tại việt nam tt

12 607 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 276 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Xây dựng mô hình nghiên cứu bao gồm các yếu tố tác động đến hành vi xem quảng cáo trên MXH của người sử dụng tại Việt Nam và yếu tố điều kiện giúp chuyển hóa thái độ thành ý định xem q

Trang 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LUẬN ÁN 1.1 Giới thiệu tóm tắt về nghiên cứu

Đề tài được lựa chọn, xuất phát từ cơ sở lý luận và khoảng trống lý luận

như sau:

Cơ sở thực tiễn:

Việt Nam có tốc độ phát triển Internet rất nhanh Tính đến năm 2015 Việt

Nam có khoảng 45 triệu dân sử dụng Internet, trong đó 75% cho biết họ sử

dụng mạng Internet để tìm kiếm các thông tin liên quan đến sản phẩm và

dịch vụ (Cimigo, 2015) Đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp có thể tận

dụng sự phát triển của công nghiệp 4.0 và Internet vươn tới khách hàng mục

tiêu của mình

Cùng với sự phát triển của Internet, tốc độ phát triển mạng xã hội của

Việt Nam đã tăng đáng kể Tính đến năm 2015, ở Việt Nam có tới 31,3/90

triệu người sử dụng mạng xã hội Facebook (Cimigo, 2015) Đến tháng

1/2017 Việt Nam có tổng số dân là 94,93 triệu người dân, trong đó người sử

dụng Internet chiếm 53%, đặc biệt người sử dụng mạng xã hội là 46 triệu

người chiếm tới 48% tổng dân số, tăng lên khoảng 47% so với năm 2015

(Wearesocial, 2017) Với số người sử dụng Internet và mạng xã hội tăng

mạnh tại Việt Nam, thì việc quảng cáo trên môi trường này đang đem lại

những thành công đầy hứa hẹn cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, câu hỏi đặt

ra là “làm thế nào để thu hút được người sử dụng xem các quảng cáo trên

mạng xã hội” hay nói cách khác có các yếu tố nào tác động tới hành vi xem

quảng cáo trên mạng xã hội của người tiêu dùng tại Việt Nam?

Cơ sở lý luận:

Để trả lời câu hỏi quản lý trên, định hướng nghiên cứu là xác định và kiểm

định những yếu tố tác động đến hành vi xem quảng cáo của của người sử dụng

MXH Theo lý thuyết hành vi có kế hoạch, thái độ có thể là yếu tố chính tác

động tới ý định thực hiện hành vi Đến lượt mình ý định thực hiện hành vi có

tính quyết định với hành vi thực tế xem quảng cáo trên MXH (Ajzen and

Fisbein 1979,…) Trên thực tế, nhiều yếu tố nghiên cứu thực nghiệm cũng đã

cho thấy mối quan hệ giữa thái độ và ý định thực hiện hành vi xem quảng cáo

trên MXH của người sử dụng (vd: Chu & cộng sự, 2013; Kamal & Chu, 2012)

Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu gần đây cho thấy thái độ có thể có tác

động yếu hoặc không tác động tới ý định xem quảng cáo trên MXH ở các

nghiên cứu khác nhau (vd: Kelly & cộng sự, 2010; Sashittal & cộng sự, 2012; Hadija & cộng sự, 2012) Sự chưa nhất quán về các kết nghiên cứu cho thấy khoảng trống nghiên cứu, yêu cầu tìm hiểu các yếu tố điều kiện có thể làm thay đổi mối quan hệ từ thái độ tới ý định thực hiện hành vi xem quảng cáo trên MXH Trên cơ sở khung lý thuyết đầy đủ giải thích hành vi xem quảng cáo trên MXH, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đưa ra các giải pháp phù hợp, tập trung vào tạo các điều kiện cần thiết để không những tạo ra thái độ phù hợp cho việc xem quảng cáo trên MXH, mà còn giúp thúc đẩy chuyển hóa thái độ thành các ý định và hành vi thực tế xem quảng cáo trên MXH Vì vậy, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi xem quảng cáo trên MXH cùng các yếu tố điều kiện giúp chuyển hóa thái độ thành ý định và hành vi là cần thiết cả về lý luận và thực

tiễn Trên cơ sở đó tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi xem quảng cáo trên mạng xã hội tại Việt Nam” và tập trung nhiều hơn

vào các yếu tố điều kiện giúp chuyển hóa thái độ thành ý định xem quảng cáo trên MXH

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: xây dựng khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi xem quảng cáo trên mạng xã hội tại Việt Nam, trong đó tập trung sâu hơn vào các yếu tố điều kiện giúp chuyển hóa thái độ thành ý định xem quảng cáo trên MXH

Mục tiêu cụ thể:

- Xây dựng khung lý thuyết về hành vi xem quảng cáo trên MXH

- Xây dựng mô hình nghiên cứu bao gồm các yếu tố tác động đến hành vi xem quảng cáo trên MXH của người sử dụng tại Việt Nam và yếu tố điều kiện giúp chuyển hóa thái độ thành ý định xem quảng cáo trên MXH

- Kiểm định mô hình nghiên cứu đề xuất với dữ liệu thu thập thực tế từ các mẫu người sử dụng MXH

- Đề xuất các gợi ý đối với các doanh nghiệp sử dụng MXH để quảng cáo

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

trên MXH tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến một MXH là Facebook – có số lượng người sử dụng lớn nhất tại Việt Nam nói riêng và trên

Trang 2

thế giới nói chung Đối tượng thu thập thông tin là từ người có sử dụng MXH

tại Việt Nam bao gồm sinh viên và người đi làm Thời gian tiến hành thu thập

dữ liệu được tiên hành từ tháng 2/2017 đến tháng 5/2017

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để kiểm định mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định lượng

với việc khảo sát thu thập dữ liệu sơ cấp từ hai nhóm người sử dụng Internet

được thực hiện Cụ thể:

- Xây dựng thang đo và bảng hỏi: Để đảm bảo chất lượng và thu thập được

đầy đủ các nội dung liên quan, bảng hỏi sau khi được thiết kế dựa trên thang đo,

được đưa đến các chuyên gia có chuyên môn sâu về lĩnh vực marketing để xin ý

kiến

- Thực hiện khảo sát chính thức bằng cách gửi phiếu hỏi trực tiếp đến 250

sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng và 350 người đi làm

các ngành nghề khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội Đây là hai nhóm

người sử dụng mạng Internet có nhiều đặc điểm khác nhau và vì vậy được thu

thập và kiểm định riêng cho từng nhóm

- Phân tích dữ liệu: việc phân tích dựa trên mô hình nghiên cứu đề xuất

được thực hiện với phần mềm SPSS 21.0

1.5 Bố cục luận án

Luận án được trình bày theo 5 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: giới thiệu luận án bao gồm các nội dung như lý do chọn đề tài,

mục đích của nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp

nghiên cứu, những đóng góp mới của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết, mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Luận bàn kết quả nghiên cứu và đề xuất một số khuyến nghị

Ngoài ra, luận án còn bao gồm các nội dung như:

Các công trình đã công bố của tác giả có liên quan đến luận án

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH VÀ GIẢ

THUYẾTNGHIÊN CỨU 2.1 Mạng xã hội và quảng cáo trên mạng xã hội

Mạng xã hội

Theo Boyd và Ellison (2008), MXH là các dịch vụ dựa trên Web mà cho phép các cá nhân (1) xây dựng hồ sơ công khai hoặc bán công khai trong một hệ thống được giới hạn, (2) khớp nối một danh sách những người sử dụng khác cùng chia sẻ sự kết nối với họ, và (3) xem và lướt qua các danh sách các kết nối của họ

và của những người khác trong cùng hệ thống MXH cho phép sáng tạo và tăng cường các mối quan hệ tình cảm hoặc sự gắn kết trong các thành viên sử dụng hoặc giữa các mạng lưới quản lý thương hiệu (Koh và Kim, 2004)

Quảng cáo trên mạng xã hội

Quảng cáo trên MXH tồn tại cả dưới hai hình thức là hình thức quảng cáo không phải trả phí (earned advertising) và quảng cáo phải trả phí (paid advertising) Quảng cáo không phải trả phí đạt được khi người sử dụng MXH chia

sẻ những nội dung và ý kiến tích cực liên quan đến thương hiệu với người khác trong danh sách bạn bè của họ (Tuten, 2008) Cụ thể hơn, theo Tuten (2008) mô

tả, sự tùy chỉnh (customization), nhắm đến mục tiêu (targeting) và tương tác xã hội

là các cấu phần cần thiết của quảng cáo trên MXH Quảng cáo trên MXH được định nghĩa là một hình thức quảng cáo trên mạng, cung cấp các quảng cáo hướng đối tượng dựa trên các thông tin được cung cấp bởi chính các thành viên của các dịch vụ MXH (Melanson, 2011)

2.2 Tổng quan các nghiên cứu về hành vi xem quảng cáo trên mạng xã hội

Một số lý thuyết về hành vi người tiêu dùng

Các nghiên cứu liên quan đến quảng cáo trên mạng và MXH chủ yếu sử dụng các lý thuyết như lý thuyết hành động hợp lý (The theory of reasoned action- TRA), lý thuyết hành vi có kế hoạch (The theory of planned behavior – TPB) và mô hình chấp nhận công nghệ (The technology acceptance model- TAM) Các lý thuyết này có thể được tóm tắt ngắn gọn như sau:

2.3 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

2.3.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch áp dụng trong môi trường mạng xã hội

Ajzen (1991) đã phát triển lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) nhằm khắc phục những hạn chế của lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action- TRA) của Ajzen và Fishbein (1980) TRA là một trong các mô hình về

Trang 3

hành vi con người được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về ý định hành

vi và hành vi (Taylor và Todd, 1995; Shih và Fang, 2004) Theo TRA, hành vi

của một người chịu ảnh hưởng bởi thái độ đối với hành vi và chuẩn mực chủ

quan Tuy nhiên, TRA giả định rằng các hành vi được đánh giá dưới sự kiểm

soát lý trí đầy đủ Vì vậy, đối với các tình huống mà hành vi yêu cầu các kỹ

năng, nguồn lực hoặc các cơ hội thì không thể giải thích thông qua việc sử dụng

TRA (Ajzen,1991) Vì vậy, để dự đoán chính xác hơn về ý định hành vi và

hành vi thực của khách hàng, yếu tố được bổ sung thêm vào mô hình TRA là

kiểm soát hành vi được cảm nhận (perceived behavioral control) Kết quả là

hình thành một lý thuyết mới với tên gọi là lý thuyết hành vi có kế hoạch

(Ajzen, 1991) Một số nghiên cứu đã chỉ ra TPB có sức mạnh hơn TRA trong

việc giải thích các tình huống nơi mà các cá nhân thiếu sự kiểm soát đầy đủ về

hành vi của họ (Shih và Fang, 2004; Tan và Teo, 2000)

2.3.2 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

Sau khi tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi xem

quảng cáo trên MXH, các nghiên cứu dưới góc nhìn của lý thuyết TP, tác giả đã

xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu sau đây:

Giả thuyết 1: Ý định xem quảng cáo trên MXH có quan hệ thuận chiều

với hành vi xem quảng cáo trên MXH của người tiêu dùng tại Việt Nam

Giả thuyết 2: Thái độ đối với quảng cáo trên MXH có quan hệ thuận

chiều với ý định xem quảng cáo trên MXH của người tiêu dùng tại Việt Nam

Giả thuyết 3: Chuẩn mực chủ quan về xem quảng cáo trên MXH có quan

hệ thuận chiều với ý định xem quảng cáo trên MXH của người tiêu dùng tại

Việt Nam

Giả thuyết 4: Khả năng kiểm soát hành vi được cảm nhận về xem quảng

cáo trên MXH có quan hệ thuận chiều với ý định xem quảng cáo trên MXH

của người tiêu dùng Việt Nam

Giả thuyết 5a: Mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH với bản thân

người sử dụng điều tiết tác động của thái độ đến ý định xem quảng cáo trên

MXH: khi mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH với bản thân càng

cao, tác động của thái độ lên ý định xem quảng cáo trên MXH càng mạnh và

ngược lại

Giả thuyết 5b: Lòng tin với MXH điều tiết tác động của thái độ đến ý định xem quảng cáo trên MXH: khi lòng tin với MXH càng cao, mối quan hệ giữa thái độ và ý định xem quảng cáo trên MXH càng mạnh và ngược lại Giả thuyết 5c: Lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên MXH điều tiết tác động của thái độ đến ý định xem quảng cáo trên MXH: khi lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên MXH càng cao, mối quan hệ giữa thái độ

và ý định xem quảng cáo trên MXH càng mạnh và ngược lại

Mô hình nghiên cứu được đề xuất

Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu

Khả năng kiểm soát hành vi được cảm nhận xem QC trên MXH

Thái độ với

QC trên MXH

Chuẩn mực chủ quan xem QC trên mạng XH

Mức độ liên quan của QC trên MXH

Ý định xem

QC trên MXH

Hành vi xem QC trên MXH

Lòng tin với MXH

Các biến kiểm soát

Lòng tin với nhãn hiệu QC trên MXH

Trang 4

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 3.1 Trình tự nghiên cứu

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã hệ thống lý thuyết, tổng hợp

các kết quả nghiên cứu trước đó để hình thành mô hình nghiên cứu ban đầu

Tiếp theo, tác giả xây dựng bảng hỏi và thực hiện nghiên cứu định lượng chính

thức (qua phiếu hỏi) với hai mẫu nghiên cứu là mẫu nghiên cứu là 250 sinh viên

và mẫu nghiên cứu là 350 người đi làm nhằm tìm hiểu các yếu tố tác động đến

hành vi xem quảng cáo trên MXH của người sử dụng tại Việt Nam

Sau khi có được đủ số phiếu theo yêu cầu, tác giả tiến hành làm sạch dữ

liệu, mã hóa những thông tin cần thiết trong phiếu hỏi, nhập liệu và phân tích

dữ liệu bằng phần mềm SPSS 21.0

3.2 Quy trình xây dựng bảng hỏi và thang đo

3.2.1 Quy trình xây dựng bảng hỏi

Bảng hỏi được xây dựng theo trình tự sau:

(1) Xác định khái niệm lý thuyết của các biến và cách đo lường các biến

trong mô hình lý thuyết dựa trên các nghiên cứu được thực hiện trước đây

(2) Xây dựng phiên bản tiếng Việt cho các thang đo bằng cách dịch các

thang đo từ tiếng Anh sang tiếng Việt

(3) Do đa số các thang đo đều được kế thừa từ các nghiên cứu trước bằng

tiếng Anh, nên các thang đo được tiến hành dịch sang tiếng Việt, sau đó nhờ người

thông thạo tiếng Anh dịch ngược sang tiếng Anh Cuối cùng, nhờ một người thông

thạo tiếng Anh khác so sánh hai bản dịch này, để đảm bảo không bỏ sót, hay gây

nhầm lẫn nội dung trong quá trình chuyển ngữ

(4) Bảng hỏi Tiếng Việt được đưa đến 8 người sử dụng MXH đánh giá,

nhận xét để đảm bảo không có sự hiểu lầm về ngôn từ và nội dung các câu hỏi

Kết quả được sử dụng để chỉnh sửa các câu, các ý trong bảng hỏi được rõ ràng

và đúng nghĩa

(5) Điều chỉnh bảng hỏi ban đầu và gửi trực tiếp tới 20 người sử dụng MXH

để kiểm tra độ tin cậy của thang đo nhằm kiểm định độ tin cậy của thang đo

(6) Hình thành bảng hỏi chính thức để điều tra trên diện rộng với hai mẫu

nghiên cứu là sinh viên và người đi làm

3.2.2 Các thang đo được sử dụng trong luận án

Để hiệu chỉnh thang đo cho các biến số nghiên cứu, tác giả dựa vào các

nghiên cứu trước đây với các thang đo tương tự

Danh sách các biến và nguồn gốc các thang đo

Bảng 3.1: THANG ĐO VÀ NGUỒN GỐC THANG ĐO

1 Hành vi xem quảng cáo trên MXH Áp dụng có điều chỉnh thang đo

của Mir (2014)

2 Ý định xem quảng cáo trên MXH Áp dụng có điều chỉnh thang đo

của Zeng và cộng sự, 2009

3 Thái độ đối với quảng cáo trên mạng xã hội

Boateng and Okoe, 2015

4 Chuẩn mực chủ quan về xem quảng cáo trên MXH

Áp dụng có điều chỉnh thang đo của Gironda and Korgaonkar,

2014

5 Khả năng kiểm soát hành vi được cảm nhận xem QC trên MXH

Áp dụng có điều chỉnh thang đo của Ajzen, 1991

6 Mức độ liên quan của QC trên MXH

Áp dụng có điều chỉnh thang đo của Zaichkowsky,1994

7 Lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên MXH

Áp dụng có điều chỉnh thang đo của Kananukul et al, 2014

8 Lòng tin với MXH Áp dụng có điều chỉnh thang đo

của Kananukul et al, 2014

3.3 Thu thập dữ liệu

Để đảm bảo chất lượng và thu thập được đầy đủ các nội dung liên quan, bảng hỏi sau khi được thiết kế dựa trên thang đo, được đưa đến các chuyên gia

có chuyên môn sâu về lĩnh vực Marketing để xin ý kiến Tác giả đã hỏi và xin ý kiến của 3 chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực Marketing, đang làm việc, nghiên cứu và công tác tại Đại học Kinh tế Quốc dân Sau quá trình liên lạc, tác giả được gặp trực tiếp 3 chuyên gia để hỏi xin ý kiến về bảng hỏi mà tác giả đã thiết kế dựa trên thang đo Các chuyên gia đọc, nhận xét và cho ý kiến về nội dung cũng như góp ý trong việc hiệu chỉnh câu từ trong bảng hỏi sao cho sát với mục đích nghiên cứu nhất Các thang đo đã được điều chỉnh dựa trên ý kiến chuyên gia marketing trước khi tiến hành thu thập số liệu

Tiếp theo, sau khi tiếp thu ý kiến và hiệu chỉnh bảng hỏi dưới sự góp ý của các chuyên gia, tác giả lại trực tiếp phỏng vấn 8 người sử dụng MXH

Trang 5

(Facebook) dựa trên bản dịch để có thể chỉnh sửa câu, từ cho các chỉ báo/items

trong bảng hỏi

Tác giả điều chỉnh bảng hỏi ban đầu, trực tiếp phân phát, phỏng vấn, thu

thập thử 20 bảng hỏi, để một lần nữa ghi nhận, quan sát cách trả lời của những

người sử dụng MXH, để kịp thời điều chỉnh những câu, từ gây khó hiểu, hiểu

nhầm Sau khi đảm bảo được tính giá trị, tác giả tiến hành phân phát bảng hỏi

chính thức Với mỗi biến, cần đảm bảo chỉ số Cronbach Alpha > 0.7 để đảm

bảo thang đo là ổn định, đáng tin cậy qua các lần đo

Trong nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng hai mẫu nghiên cứu là mẫu

nghiên cứu là sinh viên và mẫu là người đi làm Tác giả sử dụng hai mẫu

nghiên cứu với mục đích đo lường cảm nhận của hai mẫu này liệu có phản ứng

giống nhau hay khác nhau về hành vi xem quảng cáo trên MXH Phương pháp

chọn mẫu được tác giả sử dụng là phương pháp chọn mẫu theo hạn ngạch

(Quota Sampling)

Tác giả lựa chọn khảo sát một nhóm đối tượng cụ thể là sinh viên, người

tiêu dùng tương lai và cũng là đối tượng sử dụng MXH phổ biến (để đảm bảo

tính đồng nhất hơn về mẫu nghiên cứu), đồng thời đa dạng về ngành học để

đảm bảo mức độ biến thiên của biến khảo sát, phục vụ cho phân tích thống kê

Đối với mẫu nghiên cứu là sinh viên, tác giả thực hiện khảo sát chính thức bằng

cách gửi phiếu hỏi trực tiếp đến 250 sinh viên đang theo học các ngành nghề

khác nhau tại các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội Số

lượng phiếu thu về có thể dùng được là 183/ 250 phiếu (đạt 73%)

Đối với mẫu là người đi làm: Việc tiến hành nghiên cứu đối với mẫu người

đi làm là do mặc dù sinh viên đại diện cho số lượng người sử dụng MXH

đông đảo nhưng chắc chắn không đại diện cho tất cả người sử dụng MXH

(Knoll, 2015) Các nghiên cứu trước đây về phản ứng hành vi của khách

hàng đối với quảng cáo trên MXH chủ yếu sử dụng mẫu nghiên cứu là sinh

viên (Knoll, 2015) Kết quả số lượng phiếu thu về có thể dùng được là 222/

350 phiếu (đạt 63%)

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Kết quả nghiên cứu đối với mẫu sinh viên

4.1.1 Đánh giá độ tin cậy và xác thực của thang đo

Các nhân tố trong mô hình nghiên cứu được thực hiện kiểm tra độ tin cậy Kết quả nghiên cứu lần lượt như sau

Kết quả cho thấy Cronbach Alpha của biến “Hành vi xem quảng cáo trên MXH” là 0.826 > 0.7 và không có biến quan sát nào có tương quan biến tổng

<0.5, cả 2 biến quan sát trong biến này đều đạt yêu cầu

Tiếp theo, kết quả cho thấy Cronbach Alpha của biến “ý định xem quảng cáo trên MXH” là 0.821>0.7, và không có biến quan sát nào có tương quan biến

tổng <0.5 Như vậy, cả 3 biến quan sát trong biến “ý định xem quảng cáo trên MXH” đều đạt yêu cầu Tương tự, kết quả cho thấy Cronbach Alpha của biến

“Thái độ đối với quảng cáo trên MXH” là 0.853 >0.7, và không có biến quan

sát nào có tương quan biến tổng <0.5 Theo kết quả tính toán, hệ số Cronbach Alpha của các biến độc lập còn lại và biến điều tiết của mô hình đều đạt yêu cầu Ngoại trừ, item thứ nhất là “Lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên Facebook” có một chỉ báo bị loại là Q164 “Đối với tôi, các nhãn hiệu quảng cáo trên Facebook thực sự ấn tượng” do không thỏa mãn yêu cầu đã được trình bày trong chương 3 Sau khi loại item này, tác giả tiến hành chạy lại Cronbach Alpha của biến “Lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên Facebook” với kết quả Cronbach Alpha là 0.871 > 0.65 (thỏa mãn yêu cầu) Item thứ hai là “Lòng tin với MXH” có một chỉ báo bị loại do không thỏa mãn yêu cầu đã được trình bày trong chương 3 Sau khi loại item này, tác giả tiến hành chạy lại Cronbach Alpha của biến “Lòng tin với MXH” với kết quả Cronbach Alpha là 0.814 > 0.65

4.1.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Phân tích nhân tố khám phá nhằm loại bỏ một lần nữa những chỉ báo không đủ độ tin cậy, chỉ giữ lại các chỉ báo có độ kết dính cao, có thể hợp lại thành các nhân tố phản ánh chính xác các thành phần đo lường các biến trong

mô hình

Các chỉ báo đo lường các biến độc lập bao gồm “Thái độ với quảng cáo trên MXH (MXH), chuẩn mực chủ quan xem quảng cáo trên MXH, kiểm soát hành vi được cảm nhận về xem QC trên MXH”; và các biến điều tiết mối quan

hệ giữa thái độ đối với quảng cáo trên MXH và ý định xem QC trên MXH bao gồm “mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH, lòng tin đối với MXH và

Trang 6

lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên MXH” được phân tích nhân tố

khám phá với phương pháp Principal Component, phép quay Varimax Kết quả

phân tích giúp loại bỏ 14 chỉ báo có hệ số tải thấp và 06 nhân tố được rút ra với

tổng phương sai trích là 71.16% Tất cả các nhân tố này đều có hệ số tin cậy

Cronbach α ở mức chấp nhận được (trên 0,7) Tiếp theo, các chỉ báo dành cho

các nhân tố về “ý định xem quảng cáo trên MXH” và “hành vi xem quảng cáo

trên MXH” được đưa vào thực hiện phân tích nhân tố với cách thức tương tự

như trên Kết quả các chỉ báo cuối cùng và hệ số tin cậy với các nhân tố đều ở

mức chấp nhận

4.1.3 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Để kiểm định các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu, giá trị các chỉ báo của

từng nhân tố được cộng trung bình để tạo ra biến đại diện cho nhân tố đó Các

nhân tố trước khi nhân với nhau được chuyển đổi theo giá trị trung bình để giảm

quan hệ tương quan không bản chất giữa biến nhân và các nhân tố tạo ra nó

(Cohen và cộng sự, 2003)

Tác giả thực hiện hồi quy với biến “ý định xem quảng cáo trên MXH” là

biến phụ thuộc, ba mô hình hồi quy M1, M2, và M3 được thực hiện

Bảng 4.7: Kết quả hồi quy với ý định xem quảng cáo trên MXH là biến phụ

thuộc – Mẫu sinh viên

Thu nhập bình quân hàng tháng của cá nhân

Chuyên ngành (IT =1; non IT = 2) -.007 -.009 -.014

Động cơ tìm kiếm thông tin trên MXH -.043 -.094 -.094

Động cơ tìm kiếm thông tin sản phẩm trên

Động cơ giao lưu trên MXH 210 ** 077 078

Động cơ giải trí trên MXH 218 ** 152 * 157 **

Chuẩn mực chủ quan về xem QC trên MXH 141 a 148 a

Khả năng kiểm soát hành vi được cảm nhận

Thái độ đối với quảng cáo trên MXH .279 *** 301 ***

Mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH 069 .028

Lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên

Biến nhân Thái độ đối với quảng cáo trên MXH và Mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH

-.104 Biến nhân Thái độ đối với quảng cáo trên

MXH và Lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên MXH

.181 ** Biến nhân Thái độ đối với quảng cáo trên

a có ý nghĩa thống kê ở mức 90%; * mức 95%; ** mức 99%; *** mức 99,9% Tiếp theo, để khẳng định sự phù hợp của số liệu với mô hình nghiên cứu, kết quả hồi quy với biến “Hành vi xem quảng cáo trên MXH” là biến phụ thuộc được thực hiện Kết quả cho thấy biến “ý định xem quảng cáo trên MXH” có

tác động thuận chiều tới hành vi xem quảng cáo trên MXH Giả thuyết H1 được ủng hộ R2 của mô hình đầy đủ (M6) là 47%, lớn hơn nhiều so với mô hình chỉ

có các biến kiểm soát (M5) Kết quả này một lần nữa cho thấy sự phù hợp của

mô hình giữa thực tế và lý thuyết

Bảng 4.8: Kết quả hồi quy với hành vi xem quảng cáo trên MXH là biến phụ thuộc – Mẫu sinh viên

Thu nhập bình quân hàng tháng của cá nhân anh/chị 064 021 032 Chuyên ngành (IT =1; non IT = 2) 077 059 .064 Động cơ tìm kiếm thông tin trên MXH -.056 -.058 -.005 Động cơ tìm kiếm thông tin sản phẩm trên MXH 058 006 -.048

Trang 7

Động cơ giải trí trên MXH 230 169* 082

Chuẩn mực chủ quan về xem QC trên MXH 002 -.078

Kiểm soát hành vi được cảm nhận về xem quảng cáo trên

Mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH .217** 177*

Lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên MXH .036 .037

a có ý nghĩa thống kê ở mức 90%; * mức 95%; ** mức 99%; *** mức 99,9%

4.2 Kết quả nghiên cứu đối với mẫu người đi làm

Đánh giá độ tin cậy và xác thực của thang đo

Kết quả cho thấy Cronbach Alpha của biến “Hành vi xem quảng cáo trên

MXH” là 0.845 > 0.7 và không có biến quan sát nào có tương quan biến tổng

<0.5, cả 2 biến quan sát trong biến này đều đạt yêu cầu

Tương tự, Cronbach Alpha của biến “ý định xem quảng cáo trên MXH” là

0.892 >0.7, và không có biến quan sát nào có tương quan biến tổng <0.5 Như

vậy, cả 3 biến quan sát trong biến “ý định hành vi xem quảng cáo trên MXH”

đều đạt yêu cầu

4.2.1 Đánh giá độ tin cậy và xác thực về thang đo của các biến điều tiết

Theo kết quả tính toán, hệ số Cronbach Alpha của các biến đều đạt yêu

cầu Ngoại trừ, item thứ nhất là “Tôi hoàn toàn có thể tự quyết định được có

xem quảng cáo trên Facebook hay không” do không thỏa mãn yêu cầu đã được

trình bày trong chương 3 Sau khi loại item này, tác giả tiến hành chạy lại

Cronbach Alpha với kết quả Cronbach Alpha là 0.791 > 0.65 (thỏa mãn yêu

cầu) Item thứ hai là “ Đối với tôi, các nhãn hiệu quảng cáo trên Facebook thực

sự ấn tượng” có một chỉ báo bị loại Sau khi loại item này, tác giả tiến hành

chạy lại Cronbach Alpha của biến “Lòng tin với MXH” với kết quả Cronbach

Alpha là 0.900 > 0.7

4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Phân tích nhân tố khám phá nhằm loại bỏ một lần nữa những chỉ báo không đủ độ tin cậy, chỉ giữ lại các chỉ báo có độ kết dính cao, có thể hợp lại thành các nhân tố phản ánh chính xác các thành phần đo lường các biến trong

mô hình

Các chỉ báo đo lường thái độ với quảng cáo trên MXH (MXH), chuẩn mực chủ quan xem quảng cáo trên MXH, kiểm soát hành vi được cảm nhận về xem quảng cáo trên MXH, mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH, lòng tin đối với MXH và lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên MXH được phân tích nhân tố khám phá với phương pháp Principal Component, phép quay Varimax Tất cả các nhân tố này đều có hệ số tin cậy Cronbach α ở mức chấp nhận được (trên 0,7)

Tiếp theo, các chỉ báo dành cho các nhân tố thuộc về biến điều tiết được đưa vào thực hiện phân tích nhân tố với cách thức tương tự như trên Tiếp theo,

các chỉ báo dành cho các nhân tố về “ý định và hành vi xem quảng cáo trên MXH” được đưa vào thực hiện phân tích nhân tố với cách thức tương tự như trên Kết quả các chỉ báo cuối cùng và hệ số tin cậy với các nhân tố đều ở mức chấp nhận

4.2.3 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đối với mẫu người đi làm Tác giả thực hiện hồi quy với biến“Ý định xem quảng cáo trên MXH” là

biến phụ thuộc, ba mô hình hồi quy M1, M2, và M3 được thực hiện Kết quả hồi quy cho thấy sự phù hợp của mô hình R2 với mô hình đầy đủ (M3) là 59%, lớn hơn so với mô hình không có các biến nhân (M2), và lớn hơn đáng kể so

mô hình chỉ bao gồm các biến kiểm soát (M1)

Bảng 4.15: Kết quả hồi quy với ý định xem quảng cáo trên MXH là biến phụ thuộc – Mẫu người đi làm

Làm việc cho doanh nghiệp Việt Nam 089 -.003 004 Làm việc cho doanh nghiệp có vốn nước ngoài 053 003 002

Trang 8

Trình độ học vấn cao nhất (chọn một trong các

Thu nhập bình quân hàng tháng của cá nhân anh

Động cơ tìm kiếm thông tin trên MXH -.016 -.038 -.035

Động cơ tìm kiếm thông tin sản phẩm trên

Động cơ giao lưu trên MXH -.070 -.115 -.116

Chuẩn mực chủ quan về xem QC trên FB 075 052

Khả năng kiểm soát hành vi được cảm nhận về

Mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH 033 051

Lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên

Biến nhân Thái độ đối với quảng cáo trên

MXH và Mức độ liên quan của quảng cáo trên

MXH

-.104 a

Biến nhân Thái độ đối với quảng cáo trên

MXH và Lòng tin với nhãn hiệu được quảng

cáo trên MXH

-.066

Biến nhân Thái độ đối với quảng cáo trên

Tiếp theo, để khẳng định sự phù hợp của số liệu với mô hình nghiên cứu,

kết quả hồi quy với biến “Hành vi xem quảng cáo trên MXH” là biến phụ thuộc

được thực hiện Kết quả cho thấy biến ý định xem quảng cáo trên MXH có tác động thuận chiều tới hành vi xem quảng cáo trên MXH R2 của mô hình đầy đủ (M6) là 68,5%, lớn hơn nhiều so với mô hình chỉ có các biến kiểm soát (M5) Kết quả này một lần nữa cho thấy sự phù hợp của mô hình giữa thực tế và lý thuyết

Bảng 4.16: Kết quả hồi quy với “hành vi xem quảng cáo trên MXH” là biến phụ thuộc – Mẫu người đi làm

Làm việc cho doanh nghiệp Việt Nam 066 066 009 Làm việc cho doanh nghiệp có vốn nước ngoài 010 010 -.021

Thu nhập bình quân hàng tháng của cá nhân anh

Động cơ tìm kiếm thông tin trên MXH -.030 -.030 -.010 Động cơ tìm kiếm thông tin sản phẩm trên

Động cơ giao lưu trên MXH -.006 -.006 056

Chuẩn mực chủ quan về xem QC trên MXH 119 068 Kiểm soát hành vi được cảm nhận về xem QC

Mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH 091 068 Lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên

Trang 9

Thay đổi R2 210 275 200

Từ kết quả phân tích trên, ta có bảng tổng hợp sau về kết quả kiểm định

các giả thuyết nghiên cứu:

Bảng 4.17: Tổng kết kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Giả

Kết quả Mẫu sinh viên

Mẫu người

đi làm

trên MXH có quan hệ thuận chiều

với hành vi xem quảng cáo trên

MXH của người tiêu dùng tại Việt

Nam

Ủng hộ Ủng hộ

cáo trên MXH có quan hệ thuận

chiều với ý định xem quảng cáo trên

MXH của người tiêu dùng tại Việt

Nam

Ủng hộ Ủng hộ

về xem quảng cáo trên MXH có quan

hệ thuận chiều với ý định xem quảng

cáo trên MXH của người tiêu dùng

tại Việt Nam

Ủng hộ Không ủng

hộ

hành vi được cảm nhận về xem

quảng cáo trên MXH có quan hệ

thuận chiều với ý định xem quảng

cáo trên MXH của người tiêu dùng

Việt Nam

Ủng hộ Không ủng

hộ

quảng cáo trên MXH với bản thân

Không ủng

hộ

Không ủng

hộ

người sử dụng điều tiết tác động của thái độ đến ý định xem quảng cáo trên MXH: khi mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH với bản thân càng cao, tác động của thái độ lên ý định xem quảng cáo trên MXH càng mạnh và ngược lại

điều tiết tác động của thái độ đến ý định xem quảng cáo trên MXH: khi lòng tin với MXH càng cao, mối quan hệ giữa thái độ và ý định xem quảng cáo trên MXH càng mạnh và ngược lại

Không ủng

hộ

Ủng hộ

hiệu được quảng cáo trên MXH điều tiết tác động của thái độ đến ý định xem quảng cáo trên MXH: khi lòng tin với nhãn hiệu được quảng cáo trên MXH càng cao, mối quan hệ giữa thái độ và ý định xem quảng cáo trên MXH càng mạnh và ngược lại

Ủng hộ Không ủng

hộ

Trang 10

CHƯƠNG 5: LUẬN BÀN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT

SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP QUẢNG CÁO

Trong chương này, tác giả sẽ trình bày các nội dung chính bao gồm: đóng

góp của luận án, các hạn chế của luận án và các hướng nghiên cứu tiếp theo

5.1 Bàn luận kết quả nghiên cứu

Quảng cáo trên MXH nổi lên là một hình thức mới mang tính tương tác

và quảng cáo MXH khác với quảng cáo truyền thống ở chỗ quảng cáo trên

MXH cung cấp cho khách hàng sự kiểm soát và yêu cầu xem một cách chủ

động Với số lượng người sử dụng Internet và MXH ngày càng tăng trên thế

giới nói chung và Việt Nam nói riêng, bối cảnh này đang tạo điều kiện rất thuận

lợi cho sự phát triển của quảng cáo trên MXH Vì vậy, đánh giá các nhân tố ảnh

hưởng đến hành vi xem quảng cáo trên MXH dưới góc nhìn của lý thuyết nền

tảng về hành vi người tiêu dùng đem lại những đóng góp đáng kể cả về mặt lý

luận và thực tiễn Với ý nghĩa như vậy, nghiên cứu này sử dụng lý thuyết hành

vi có kế hoạch để nghiên cứu hành vi xem quảng cáo trên MXH tại Việt Nam

Cụ thể, nghiên cứu này đánh giá các nhân tố tác động đến hành vi xem quảng

cáo trên MXH của người sử dụng MXH (Facebook) tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cho thấy các giả thuyết H1 và H2 được ủng hộ từ dữ

liệu nghiên cứu Cụ thể, ý định xem quảng cáo có mối quan hệ thuận chiều

đến hành vi xem quảng cáo trên MXH của người tiêu dùng Việt Nam Tiếp

theo là thái độ đối với quảng cáo trên MXH tác động thuận chiều đến ý định

xem quảng cáo trên MXH của người tiêu dùng Việt Nam Nghiên cứu của tác

giả tìm thấy ý định xem quảng cáo ảnh hưởng tích cực đến hành vi xem

quảng cáo trên MXH của người sử dụng MXH tại Việt Nam, kết quả này

thống nhất với một số nghiên cứu trước đó (Vd: Wu và Wang 2008; George,

2002; Muk, 2013) Đối với quảng cáo di động, nghiên cứu của Wu và Wang

(2008) thực hiện với mẫu nghiên cứu chủ yếu là sinh viên đại học chiếm

73,55% trong mẫu nghiên cứu, kết luận rằng ý định thực hiện hành vi sử dụng

các hoạt động thương mại trên di động (mobile commerce) bao gồm các hoạt

động như ngân hàng trực tuyến, mua sắm trực tuyến, đầu tư trực tuyến và các

dịch vụ trực tuyến ảnh hưởng tích cực đến hành vi sử dụng thực Tương tự, phát

hiện của nghiên cứu này cũng phù hợp với kết luận của George (2002) kết luận

rằng ý định mua hàng trên Internet ảnh hưởng tích cực đến hành vi mua hàng trên Internet Ngoài ra, trên môi trường MXH, với mẫu nghiên cứu là sinh viên đại học, Muk (2013) cũng kết luận ý định tham gia vào trang thương hiệu (brand pages) ảnh hưởng tích cực đến ý định mua hàng trên các trang này Thêm nữa, các nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng thái độ đối với quảng cáo ảnh hưởng tích cực đến ý định thực hiện hành vi đối với quảng cáo đó (Chu và Kamal, 2011; Wolin và cộng sự, 2002; Muk, 2013) Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng tìm thấy kết quả tương tự là thái độ đối với quảng cáo trên MXH ảnh hưởng tích cực đến ý định xem quảng cáo trên MXH

Giả thuyết H3 trong nghiên cứu này cho rằng “Chuẩn mực chủ quan về xem quảng cáo trên MXH có quan hệ thuận chiều với ý định xem quảng cáo trên MXH của người sử dụng tại Việt Nam” và giả thuyết H4 cho rằng “Khả năng kiểm soát hành vi được cảm nhận về xem quảng cáo trên MXH có quan hệ thuận chiều với ý định xem quảng cáo trên MXH” Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với mẫu nghiên cứu là sinh viên xác nhận nhân tố “Chuẩn mực chủ quan về xem quảng cáo trên MXH và khả năng kiểm soát hành vi được cảm nhận về xem quảng cáo trên MXH” ảnh hưởng tích cực đến ý định xem quảng cáo trên MXH Tuy nhiên, đối với mẫu nghiên cứu là người đi làm thì mối quan hệ này lại không được ủng hộ từ dữ liệu nghiên cứu Trên thực tế, các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy ảnh hưởng tích cực của nhân tố chuẩn mực chủ quan và khả năng kiểm soát hành vi được cảm nhận lên ý định thực hiện hành vi (vd: Lin và cộng sự, 2014; George, 2004; Muk, 2013)

Đối với giả thuyết H5a: Mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH với bản thân người sử dụng điều tiết tác động của thái độ đến ý định xem quảng cáo trên MXH: khi mức độ liên quan của quảng cáo trên MXH với bản thân càng cao, tác động của thái độ đến ý định xem quảng cáo trên MXH càng mạnh và ngược lại Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối với cả hai mẫu nghiên cứu, giả thuyết này không được ủng hộ Đặc biệt, đối với mẫu người đi làm, kết quả xác nhận mức độ liên quan của bản thân với quảng cáo lại cản trở tác động của thái

độ đến ý định xem quảng cáo trên MXH (ngược lại với giả thuyết) Do vậy, khi mức độ liên quan của bản thân với quảng cáo càng cao thì tác động của thái độ đến ý định xem quảng cáo trên MXH càng giảm và dẫn tới việc thực hiện hóa hành vi xem quảng cáo có thể khó khăn hơn Điều này dường như phù hợp với nghiên cứu của Aguirre và cộng sự (2015) cho rằng các nhà bán lẻ thu thập dữ

Ngày đăng: 25/05/2018, 17:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w