Mục đích nghiên cứu Mục tiêu 1: Xác định các nhân tố tiền đề ảnh hưởng đến sự liên kết giữa các tổ chức tham gia vào chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre; Mục tiêu 2: Xác định mối quan
Trang 1GIỚI THIỆU
Tầm quan trọng của quản trị chuỗi cung ứng được chú trọng hơn khi mà
các tổ chức nhận thức được lợi ích của việc tham gia liên kết, hợp tác với nhau
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì tính chuyên môn hóa ngày càng tăng
(Lummus và Vokurka, 1999), các tổ chức sẽ có xu hướng tăng cường hợp tác
với các thành viên khác trong chuỗi cung ứng để sử dụng các nguồn lực có chất
lượng của đối tác với chi phí thấp hơn là tự sản xuất nhưng không hiệu quả Do
đó, các tổ chức ngày càng muốn xích lại gần nhau nhằm quản lý hiệu quả các
nguồn cung cũng như các kênh phân phối để vừa tối ưu hóa chi phí, đồng thời
tăng sự thỏa mãn của khách hàng, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh và
cải thiện lợi nhuận của các tổ chức tham gia (Lee, 2000; Anderson và Narus,
1990) Vì vậy, rất nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: sự cạnh tranh
đang diễn ra giữa chuỗi cung ứng với chuỗi cung ứng, không phải diễn ra giữa
doanh nghiệp và doanh nghiệp (Christopher, 1998)
Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm kiếm và xác định các điều kiện tiền
đề đối với các tổ chức tham gia liên kết chuỗi cung ứng Nhiều học giả cho rằng
liên kết chuỗi cung ứng là do áp lực cạnh tranh toàn cầu (Handfield và Nichols,
1999), hoặc rủi ro do sự biến động của môi trường bao gồm thay đổi về cung,
cầu và công nghệ (Chen và Paulraj, 2004; Mentzer và cộng sự, 2000), các cơ
hội từ thị trường mới (Frohlich và Westbrook, 2002) Tuy nhiên, theo các
chuyên gia trong ngành thủy sản thì ngoài áp lực cạnh tranh toàn cầu, rủi ro liên
quan đến chuỗi cung ứng (nguồn cung, thị trường, nguồn thông tin và môi
trường) và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng
Sự tác động của rủi ro lên mức độ liên kết phù hợp với lý thuyết mối quan
hệ giữa môi trường và tổ chức (Aldrich và Pleffer, 1976) Khi môi trường thay
đổi thì tổ chức cũng nên thay đổi theo để tồn tại và phát triển Các tổ chức có xu
hướng tăng cường các mối quan hệ để hạn chế sự tác động từ sự không ổn định
của cung, cầu, công nghệ và môi trường nói chung (David, 1993; Mentzer,
2000; Chen và Paulraj, 2004) Tuy nhiên, quan điểm về mối quan hệ này cũng
đang còn trái chiều Một số tác giả cho rằng đây là mối quan hệ thuận chiều,
2 nghĩa là môi trường càng bất ổn, rủi ro cao thì các tổ chức có xu hướng tăng cường liên kết (Afuah, 2001; Lui và cộng sự, 2010; Germain và cộng sự, 2008) Trong khi đó, một số nghiên cứu khác thì xác định quan hệ này là ngược chiều, rủi ro càng cao, các tổ chức càng không có xu hướng liên kết với nhau, thay vào
đó họ chỉ phát triển quan hệ bình thường với các đối tác để dễ dàng thay đổi khi môi trường biến động (Zhao và cộng sự, 2013) Do đó, tiếp tục kiểm định và lý giải về mối quan hệ này là cần thiết
Sự tác động của chiến lược kinh doanh lên liên kết chuỗi cung ứng cũng phù hợp với lý thuyết về mối quan hệ giữa chiến lược, cấu trúc và kết quả kinh doanh (SSP) (Chandler, 1962; William, 1975) Lý thuyết này cho rằng chiến lược là yếu tố thúc đẩy sự thay đổi của cấu trúc và quá trình kinh doanh (Miles
và Snow, 1978) và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh (Habib và Victor, 1991) Tuy nhiên, chiến lược nào sẽ thúc đẩy tổ chức thay đổi theo hướng tăng cường liên kết chuỗi cung ứng và mối quan hệ giữa chúng ảnh hưởng như thế nào đến kết quả kinh doanh vẫn là một câu hỏi cần phải được giải đáp thêm
Khá nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (Droge và các cộng sự, 2004; Flynn và các cộng sự, 2010) Tuy nhiên, các nghiên cứu không cho kết quả thống nhất với nhau Do đó, cần phải định nghĩa rõ ràng, chuẩn lại thang đo và tìm kiếm các biến hoàn cảnh có thể ảnh hưởng điều tiết đến mối quan hệ trên (Fabbe-Costé và Jahre, 2008) Kết luận này cũng đồng nhất với lý thuyết hoàn cảnh hay ngẫu nhiên (Contigency theory) của Woodward (1965) Vì vậy, nghiên cứu này sẽ mở rộng sự hiểu biết của chúng ta về liên kết trong chuỗi cung ứng thông qua việc nghiên cứu và xác định rõ ràng hơn các yếu tố ảnh hưởng cả bên trong và bên ngoài đến sự liên kết này cũng như sự ảnh hưởng của liên kết đến kết quả kinh doanh Nghiên cứu này cũng sẽ kiểm định sự tác động điều tiết của yếu tố văn hóa tổ chức đến các mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết chuỗi cung ứng Cuối cùng, một số biến kiểm soát cũng sẽ được xem xét như các công đoạn trong chuỗi, loại hình tổ chức tham gia và qui mô các tổ chức này Ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và của tỉnh Bến Tre nói riêng chịu
sự tác động rất lớn của nhiều yếu tố Trong đó, cũng giống như ngành nông sản nói chung, rủi ro luôn là vấn đề quan trọng được đặt lên hàng đầu khi tham gia
Trang 23 vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành thủy sản và ảnh hưởng
không nhỏ đến sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành trên cả phương
diện liên kết dọc và liên kết ngang Tuy nhiên, cho đến nay các doanh nghiệp
thủy sản, trong đó có doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bến Tre, vẫn đang còn lúng
túng trong việc xác định các chiến lược và phối hợp chúng như thế nào để có thể
hạn chế các rủi ro cũng như thúc đẩy phát triển liên kết trong chuỗi cung ứng
Vì vậy, nghiên cứu đề tài ‘Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết chuỗi
cung ứng ngành thủy sản - Nghiên cứu tại tỉnh Bến Tre’ không chỉ cần thiết về
mặt lý luận mà phần nào đem lại sự đóng góp thiết thực đối với vấn đề thực tiễn
Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu 1: Xác định các nhân tố tiền đề ảnh hưởng đến sự liên kết giữa các
tổ chức tham gia vào chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre;
Mục tiêu 2: Xác định mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng với kết quả
kinh doanh của các tổ chức tham gia chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre;
Mục tiêu 3: Xác định các yếu tố điều tiết có thể ảnh hưởng đến mối quan
hệ giữa các nhân tố tiền đề với mức độ liên kết giữa các tổ chức tham gia vào
chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre
Câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Các yếu tố nào cả bên trong và bên ngoài là các yếu tố tiền đề
ảnh hưởng đến mức độ liên kết chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre?
Câu hỏi 2: Mức độ liên kết trong chuỗi cung ứng hiệu quả tác động như
thế nào đến kết quả kinh doanh của các tổ chức tham gia vào chuỗi cung ứng
thủy sản tỉnh Bến Tre?
Câu hỏi 3: Các yếu tố điều tiết nào sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa
rủi ro trong chuỗi cung ứng và mức độ liên kết trong chuỗi cung ứng?
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này kết hợp phương pháp định tính và định lượng Sau khi
tổng quan lý thuyết nghiên cứu, xây dựng mô hình và các giả thiết nghiên cứu,
tác giả thực hiện nghiên cứu định tính bằng cách phỏng vấn trực tiếp hơn 10
nhà quản lý về chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Việt Nam để kiểm tra mô
hình đã phát triển nhằm loại bỏ những biến không phù hợp với đặc thù bối cảnh
4 tại tỉnh Bến Tre Ngoài ra, thông qua nghiên cứu định tính, tác giả đánh giá, so sánh và lựa chọn các thang đo của các biến được lựa chọn nghiên cứu
Từ nghiên cứu định tính, tác giả chỉnh sửa và phát triển mô hình mới Tiếp theo, tác giả phát triển phiếu điều tra và điều tra thử ở qui mô nhỏ để kiểm định độ tin cậy của phiếu điều tra Sau khi kiểm định thử, tác giả thực hiện điều tra trên diện rộng tại các tổ chức tham gia vào chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre Số phiếu phát ra là 300 phiếu, số phiếu thu về và lựa chọn sử dụng nghiên cứu là 153 phiếu Kết quả điều tra được phân tích bằng phương pháp định lượng Dạng dữ liệu được kiểm tra trước khi đánh giá độ tin cậy và giá trị của các thang đo Cuối cùng, phương pháp cấu trúc tuyến tính được sử dụng để kiểm định các giả thiết nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu được chia làm 5 chương theo cấu trúc như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về liên kết chuỗi cung ứng
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu về liên kết chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre
Chương 3: Phân tích thực trạng chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010 - 2016
Chương 4: Phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng, mức độ liên kết và kết quả kinh doanh của các tổ chức tham gia trong chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre
Chương 5: Kết luận và đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh liên kết trong chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre
Trang 3CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ
LIÊN KẾT CHUỖI CUNG ỨNG
Phần tổng quan nghiên cứu sẽ gồm hai phần cơ bản, phần một sẽ đề cập
các khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng và liên kết chuỗi cung ứng Phần tiếp
theo sẽ trình bày kết quả và các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết chuỗi cung ứng
Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng cũng có thể hiểu là mạng lưới liên kết các tổ chức, gồm
liên kết ngược (upstream linkages) và liên kết xuôi (downstream linkages),
thông qua các quá trình và hoạt động nhằm tạo ra giá trị cho các sản phẩm và
dịch vụ cung cấp trên thị trường (Lambert và Stock, 1993)
Khái niệm liên kết chuỗi cung ứng
Bechtel và Jayaram (1997) đã phân chia bốn trường phái quan niệm khác
nhau về liên kết chuỗi cung ứng: (1) trường phái liên kết chuỗi chức năng (the
“functional chain awareness school”), trường phái này phân chia liên kết chuỗi
cung ứng thành liên kết bên ngoài (liên kết giữa các doanh nghiệp) và liên kết
bên trong (liên kết giữa các phòng ban); (2) trường phái logistics/liên kết (the
“lingkage/logistics school”), cho rằng liên kết chuỗi cung ứng là liên kết các hoạt
động logistics; (3) trường phái liên kết thông tin (the “information school”), hàm
ý liên kết các dòng thông tin cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp; và (4)
trường phái quá trình/liên kết (the “integration/process school”), khái niệm liên
kết các quá trình kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng
Mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh của tổ chức
Mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh của tổ chức và liên kết chuỗi cung
ứng được phân tích dưới gốc độ lý thuyết dựa vào nguồn lực Mối quan hệ giữa
liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh của các tổ chức được nghiên cứu
dưới các gốc độ khác nhau Dưới gốc độ chuỗi cung ứng nói chung, liên kết hàm
ý liên kết với nhà cung cấp và với khách hàng (Li và cộng sự, 2006) Khái niệm
này cũng có thể hàm ý đến mối quan hệ giữa người mua và người bán dưới gốc
độ hậu cần (Paulraj và Chen, 2007) Nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu đều cho
rằng liên kết bên ngoài có sự tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
6
Ví dụ, quản lý và liên kết chuỗi cung ứng có ảnh hưởng trực tiếp và dài hạn đến kết quả tài chính và marketing của doanh nghiệp (Li và cộng sự, 2006) Liên kết các hoạt động hậu cần với các nhà cung ứng và khách hàng sẽ cải thiện được kết quả của cả người bán lẫn người mua (Paulraj và Chen, 2007)
Giả thiết H1: Liên kết với nhà cung ứng có ảnh hưởng tích cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Giả thiết H2: Liên kết với khách hàng có ảnh hưởng tích cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng
Mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng sẽ được phân tích dưới gốc độ lý thuyết về mối quan hệ giữa môi trường và các tổ chức Aldrich
và Pfeffer (1976) cho rằng các tổ chức không thể tự mình tạo ra tất cả những nguồn lực và do đó phải phát triển các quan hệ và huy động một số nguồn lực
từ bên ngoài Khi tính chuyên môn hóa và phân công lao động giữa các tổ chức càng cao thì mối quan hệ giữa các tổ chức, hay giữa tổ chức với môi trường bên ngoài ngày càng trở nên quan trọng, bởi vì thông qua mối quan hệ này các tổ chức mới có được đầy đủ các nguồn lực cần thiết
Rủi ro trong chuỗi cung ứng
Mối quan hệ giữa sự bất ổn hay rủi ro và liên kết trong chuỗi cung ứng được kiểm định trong một số nghiên cứu Ví dụ, rủi ro cung ứng như giao hàng không đúng hạn, không đáp ứng yêu cầu về mặt số lượng và chất lượng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến liên kết chuỗi cung ứng (Zhao và cộng sự, 2013) Khi rủi ro cung ứng tăng cao sẽ khiến các nhà sản xuất không muốn đầu tư vốn cũng như tăng cường cam kết mối quan hệ lâu dài với nhà cung ứng Thay vì liên kết và trung thành với một hoặc một số nhà cung ứng, họ sẽ lựa chọn phương án quan hệ với nhiều nhà cung ứng để giảm rủi ro và tăng sự an toàn
cho việc sản xuất kinh doanh Do đó:
Giả thiết H3: Rủi ro từ nguồn cung có mối quan hệ ngược chiều với mức
độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng (H3a); và mức độ liên kết
giữa doanh nghiệp với khách hàng (H3b)
Tương tự, rủi ro do thị trường không ổn định, nhu cầu biến động liên tục, khó dự báo cũng ảnh hưởng đến sự liên kết của chuỗi cung ứng Khi rủi ro thị
Trang 47 trường cao sẽ khiến cho nhà sản xuất phải thường xuyên thay đổi sản phẩm, sản
lượng và đơn hàng (Trkman và McCormack, 2009) Điều này sẽ ảnh hưởng đến
việc cung ứng nguyên vật liệu từ nhà cung ứng đến doanh nghiệp sản xuất
Cuối cùng, nhu cầu thị trường biến động và thay đổi sẽ khiến nhà sản xuất khó
xác định được nhu cầu thị trường và phản hồi từ khách hàng, việc liên kết với
khách hàng cũng trở nên khó khăn hơn (Calantone và cộng sự, 2003)
Giả thiết H4: Rủi ro từ thị trường có mối quan hệ ngược chiều với mức
độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng (H4a) và mức độ liên kết
giữa doanh nghiệp với khách hàng (H4b)
Thông tin là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phối hợp hiệu quả
giữa các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp cũng như giữa các thành viên
trong chuỗi cung ứng (Lee và cộng sự, 1997) Thông tin không đầy đủ là một
trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả Chia sẻ thông tin và cải
thiện chất lượng nguồn thông tin sẽ làm giảm rủi ro, nâng cao tính chính xác
của các quyết định và tăng sự liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung
ứng Do đó, những rủi ro do thiếu thông tin, thông tin chậm trễ, hệ thống thông
tin gặp vấn đề hay tính bảo mật thông tin thấp đều có thể ảnh hưởng đến kết quả
hoạt động và sự liên kết giữa các thành viên cũng như trong các tổ chức
(Christopher và Lee, 2004)
Giả thiết H5: Rủi ro từ nguồn thông tin có mối quan hệ ngược chiều với
mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng (H5a) và mức độ liên
kết giữa doanh nghiệp với khách hàng (H5b)
Rủi ro trong chuỗi cung ứng có thể xuất hiện do sự tác động của môi
trường chính trị, kinh tế, xã hội, tự nhiên,… và những rủi ro này càng tăng khi
chuỗi cung ứng ngày càng được mở rộng và phức tạp hơn (Khan và Burnes,
2007) Những rủi ro trên thông thường là khách quan và ngoài tầm kiểm soát của
từng thành viên trong chuỗi Do vậy, các thành viên thường có xu hướng đa dạng
hóa các mối quan hệ để giảm thiểu các rủi ro trên thay vì tăng cường hợp tác, liên
kết chặt chẽ với một số ít các đối tác
Giả thiết H6: Rủi ro từ môi trường có mối quan hệ ngược chiều với mức
độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng (H6a) và mức độ liên kết
giữa doanh nghiệp với khách hàng (H6b)
8
Định hướng chiến lược của công ty và liên kết chuỗi cung ứng
Nghiên cứu này sẽ áp dụng kết hợp hai lý thuyết gồm: (1) lý thuyết mối quan hệ giữa chiến lược, cấu trúc và kết quả thực hiện (SSP: strategy – structure – performance) và lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV: resource – based view)
để phân tích sự tác động của chiến lược lên mức độ liên kết chuỗi cung ứng Chiến lược là kế hoạch tổng thể nhằm đạt tới các mục tiêu dài hạn của tổ chức (Higgins và Vincze, 1989) Nói cách khác, chiến lược ảnh hưởng đến việc thực hiện các hoạt động của tổ chức (Porter, 1996) Định hướng chiến lược là cách tiếp cận cụ thể mà tổ chức lựa chọn để triển khai các chiến lược nhằm tạo ra các lợi thế cạnh tranh và nâng cao hiệu quả kinh doanh (Gatignon và Xuereb, 1997) Định hướng chiến lược xác định các mục tiêu chiến lược và định hướng toàn bộ các hoạt động của tổ chức, trong đó có các hoạt động liên quan đến liên kết chuỗi cung ứng Từ tổng quan trong lĩnh vực quản trị chuỗi cung ứng cho thấy
có hai định hướng chiến lược cơ bản liên quan đến liên kết chuỗi cung ứng là định hướng chiến lược chi phí thấp và hướng đến khách hàng (Porter, 1996) Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần phải có sự kết hợp giữa định hướng chi phí thấp và định hướng tới khách hàng vì quản lý và liên kết chuỗi cung ứng hiệu quả đòi hỏi
sự cân bằng giữa chi phí và dịch vụ khách hàng (Cooper và Ellram, 1993)
Giả thiết H7: Định hướng chiến lược chi phí thấp có mối quan hệ thuận chiều với mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với nhà cung ứng (7a) và mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng (7b)
Giả thiết H8: Định hướng chiến lược khách hàng có mối quan hệ thuận chiều với mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với nhà cung ứng (8a) và mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng (8b)
Giả thiết H9: Sự kết hợp hiệu quả giữa định hướng chiến lược chi phí thấp và định hướng chiến lược khách hàng có mối quan hệ thuận chiều với mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với nhà cung ứng (9a) và mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng (9b)
Văn hóa tổ chức và sự tác động tới mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng
Sự tác động của văn hóa tổ chức lên mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng sẽ được xem xét trên gốc độ lý thuyết ngẫu nhiên hay tình huống (The contingency theory)
Trang 510
Mô hình nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh
Chiến lược chi phí thấp kết hợp
Chiến lược khách hàng
Rủi ro chuỗi cung ứng
Rủi ro từ nguồn cung
Rủi ro từ thị trường
Rủi ro từ thông tin
Rủi ro từ môi trường
Định hướng chiến lược kinh
doanh
Chiến lược chi phí thấp
Chiến lược khách hàng
Liên kết chuỗi cung ứng
Liên kết với nhà cung cấp chính
Liên kết với khách hàng
Văn hóa tổ chức
Kiểm soát – Linh hoạt
Hướng nội – Hướng ngoại
Kết quả kinh doanh
Trang 6CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ LIÊN KẾT CHUỖI CUNG ỨNG
THỦY SẢN TỈNH BẾN TRE
Chương 2 sẽ trình bày các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong
luận án Phần đầu của chương sẽ đề cập đến các phương pháp luận nghiên cứu
Tiếp theo là các phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp thu thập và
phân tích dữ liệu Cuối cùng, kết quả kiểm định thử bảng hỏi và thang đo được
phân tích ở cuối chương
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế bảng câu hỏi
Các thang đo được tổng hợp từ tổng quan nghiên cứu Sau đó chúng được
phân tích và so sánh để lựa chọn những thang đo phù hợp nhất với mục tiêu và
bối cảnh nghiên cứu Bảng câu hỏi điều tra bao gồm 56 thang đo (phụ lục 1)
Phần A bao gồm các thang đo về kết quả và tiền đề của liên kết chuỗi cung ứng;
phần B chứa những nội dung đo lường văn hóa doanh nghiệp; phần C là những
thông tin cá nhân và tổ chức của người trả lời đang công tác
Nghiên cứu thí điểm
Nghiên cứu thí điểm là một bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu
với mục tiêu kiểm tra bảng câu hỏi để phát hiện ra những vấn đề cần chỉnh sửa
trong bản phác thảo và cách thức nghiên cứu (Cooper và Schindler, 1998; Fink,
2003) và để đảm bảo không có vướng mắc khi trả lời bảng câu hỏi và ghi lại dữ
liệu (Saunders, Lewis và Thornhill, 2000) Phần mềm SPSS được sử dụng để
kiểm tra số liệu, kiểm định độ tin cậy của các thang đo và mối tương quan giữa
các nhân tố nghiên cứu Căn cứ vào nghiên cứu thí điểm này sẽ có thể có một
vài sự thay đổi đối với bảng hỏi
Xác định mẫu và thu thập dữ liệu
Danh sách các tổ chức được điều tra được lấy ngẫu nhiên từ danh sách các
tổ chức tham gia trong chuỗi cung ứng từ Sở Kế hoạch và Đầu tư kết hợp với Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre Các tổ chức này được phân
nhóm theo các công đoạn trong chuỗi cung ứng từ khâu nuôi, chế biến và xuất
khẩu Sau đó, các tổ chức này tiếp tục được phân loại thành các nhóm khác nhau
12 dựa trên tính chất vốn sở hữu và qui mô doanh nghiệp Phiếu điều tra sẽ được gửi trực tiếp, qua bưu điện hoặc qua email đến một số tổ chức trong từng nhóm được phân loại ở trên Số phiếu phát ra tối thiểu là 156 phiếu và tối thiểu thu về 120 phiếu Để đảm bảo an toàn, số phiếu phát ra dự kiến khoảng 200 và thu về mong đợi khoảng 150 phiếu Thời gian thự hiện điều tra dự kiến khoảng 8 tuần
Phương pháp phân tích số liệu
Quá trình phân tích dữ liệu được thực hiện qua một số bước cơ bản (Neuman, 2000) Bước thứ nhất là phải rà soát, kiểm tra và đánh giá dữ liệu để hiểu một cách tổng quát về dữ liệu được thu thập như là thống kê mô tả, kiểm tra dữ liệu không được điền đầy đủ hay bị thiếu và sự phân bố của dữ liệu Bước tiếp theo là kiểm tra độ tin cậy và giá trị của các thang đo Độ tin cậy được sử dụng để đánh giá tính nhất quán của các thang đo, trong khi tính giá trị
là để đánh giá liệu các thang đo đã đo đúng cái cần được đo không Cuối cùng, chạy hồi qui sẽ kiểm định các giả thiết và mô hình nghiên cứu đã được đề xuất trong chương tổng quan lý thuyết
Trang 7CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG THỦY SẢN
TỈNH BẾN TRE GIAI ĐOẠN 2010 – 2016
Phần phân tích thực trạng chuỗi cung ứng sẽ bao gồm 3 phần Phần đầu
phân tích chuỗi cung ứng thủy sản Bến Tre gồm 3 công đoạn: đầu vào, nuôi
trồng và chế biến, xuất khẩu; phần 2 phân tích mối quan hệ, mức độ liên kết giữa
các thành viên trong chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre; phần 3 phân tích
thực trạng các nhân tố có thể ảnh hưởng đến liên kết chuỗi cung ứng: rủi ro trong
chuỗi cung ứng, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp và văn hóa tổ chức
Phân tích chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre giai đoạn 2010 – 2016
Đầu vào
Con giống là yếu tố quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của
quá trình nuôi vì chất lượng con giống ảnh hưởng đến chi phí nuôi và chất
lượng của thủy sản thành phẩm khi xuất khẩu
Chi phí thức ăn cho các loài thủy sản rất cao nhưng kết quả khảo sát của
tác giả cho thấy rất ít hộ gia đình ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh
nghiệp chế biến thủy sản hoặc bất kỳ hình thức cam kết nào khác về vấn đề thu
mua sản phẩm đầu ra nên trong trường hợp không tìm được nguồn thu mua,
người nuôi có nguy cơ lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính
Nuôi trồng
Trong những năm qua, ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản của Tỉnh
Bến Tre không ngừng phát triển với diện tích nuôi trồng thủy sản được mở rộng
qua hằng năm từ 43.000 ha lên 46.800 ha từ năm 2011 đến năm 2016 Tốc độ
tăng trưởng bình quân về sản lượng tăng khoảng 5%/năm, tuy nhiên, đến năm
2016 thì có sự suy giảm khoảng 2.877 tấn do tình trạng xâm nhập mặn
Chế biến và xuất khẩu
Mặc dù tổng công suất chế biến của các doanh nghiệp khá lớn nhưng sản
lượng thủy sản thành phẩm xuất khẩu hàng năm chỉ đạt khoảng 25.000 tấn và
cơ cấu sản phẩm kém đa dạng, chỉ tập trung vào 02 mặt hàng chủ yếu là cá tra
fillet và nghêu nguyên con (chiếm trên 85% cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất
khẩu) Trong khi đó, sản lượng tôm (tôm sú, tôm chân trắng) nuôi hàng năm
của Tỉnh đạt trên 35.000 tấn nguyên liệu nhưng không được chế biến tại các
nhà máy của Tỉnh Tổng giá trị sản xuất của Tỉnh Bến Tre theo giá trị thực tế
toàn ngành thủy sản năm 2015 đạt 11.560 tỷ đồng (VASEP, 2015)
14 Mặc dù sản lượng thủy sản xuất khẩu của Tỉnh Bến Tre ngày càng tăng nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng nuôi trồng thủy sản của Tỉnh Sản lượng thủy sản nguyên liệu được dùng để chế biến so với sản lượng toàn Tỉnh đạt trung bình khoảng 9,94% trong 7 năm trở lại đây cho thấy một lượng lớn sản lượng được thu mua đem ra khỏi Tỉnh
Nhìn chung, các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Tỉnh Bến Tre còn nhiều tiềm năng để đa dạng hóa thị trường xuất khẩu vào các khu vực EU, Châu
Á, Bắc Phi và Trung Đông Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sẽ giúp các doanh nghiệp phân loại được sản phẩm theo chất lượng phù hợp với quy định của thị trường và yêu cầu của đối tác nhập khẩu nhằm tối đa hóa hiệu quả kinh doanh
Biểu đồ 3.2: Sản lượng chế biến, xuất khẩu thủy sản từ năm 2010 - 2016
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của Sở Công thương tỉnh Bến Tre
Mức độ hợp tác giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre và các yếu tố ảnh hưởng
Mối quan hệ giữa người nuôi trồng với các nhà cung cấp đầu vào
Người nuôi thường phải mua thức ăn, thuốc hóa chất với giá cao hơn so với giá thị trường đồng thời phải cam kết khi thu hoạch phải bán giá sản phẩm cho chính những chủ đại lý bán thức ăn với giá thấp hơn giá thị trường Điều này tạo ra một tiền lệ không tốt trong kinh doanh, gây ra sự chèn ép của lực lượng trung gian đối với người nuôi về giá đầu vào (cao), giá đầu ra (thấp) (Cục Nuôi trồng thủy sản, 2009)
Trang 8Mối quan hệ giữa doanh nghiệp sản xuất, chế biến và người nuôi trồng
Hộ gia đình nuôi trồng thủy sản theo kinh nghiệm và tư duy sẵn có, không tiếp
cận được nhiều thông tin về yêu cầu đối với sản phẩm đầu ra; trong khi đó, khi mua
cá tra để phục vụ chế biến, doanh nghiệp chỉ mua sản phẩm của các hộ nuôi đạt yêu
cầu Sự khác biệt giữa nhận thức của hộ gia đình nuôi trồng thủy sản và yêu cầu của
doanh nghiệp rất dễ xảy ra, đặc biệt trong bối cảnh thị trường xuất khẩu luôn đặt ra
những quy định mới theo hướng khắc khe hơn đối với thủy sản Việt Nam
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu với khách hàng
Sự cạnh tranh về giá là rất căng thẳng, việc hợp tác giữa các doanh nghiệp
xuất khẩu thủy sản về giá là bất khả thi vì sự tôn trọng cam kết vào lợi ích
chung không được các doanh nghiệp quan tâm nên gây thiệt hại cho toàn
ngành Đặc biệt, thời gian qua, do những bất ổn về tình hình tài chính công
trong khu vực, thị trường các nước EU chịu áp lực cạnh tranh gay gắt hơn, do
đó các thương nhân nhập khẩu thủy sản tại EU gây áp lực về giá, nếu doanh
nghiệp không đáp ứng họ sẽ thay đổi đối tác; đây là khó khăn rất lớn cho các
doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Tỉnh Bến Tre
Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ liên kết chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre
Rủi ro trong chuỗi cung ứng
- Rủi ro từ nguồn cung
- Rủi ro từ thị trường
- Rủi ro từ thông tin
- Rủi ro từ môi trường
Chiến lược kinh doanh của các tổ chức sản xuất kinh doanh tỉnh Bến Tre
Hiện nay, các cơ sở sản xuất còn hoạt động và kinh doanh tốt đều phải
định hướng đến khách hàng cũng như kết hợp với chiến lược chi phí thấp Qua
quá trình tồn tại và phát triển, các cơ sở có chiến lược kinh doanh tốt đã tạo ra
sự liên kết và hình thành nên chuỗi cung ứng
Văn hóa tổ chức của các tổ chức sản xuất kinh doanh tỉnh Bến Tre
Đặc thù của các doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bến Tre là doanh nghiệp vừa
và nhỏ, do đó khả năng chịu đựng sự tác động của thị trường là không cao
Theo các nhà quản lý doanh nghiệp thì các doanh nghiệp có sự cạnh tranh
không lành mạnh; tình trạng mua sản phẩm chất lượng thấp, cố tình bán dưới
giá vốn sản xuất cho các nhà nhập khẩu nước ngoài đã gây thiệt hại cho các
doanh nghiệp khác Các doanh nghiệp hướng nội có ít mối quan hệ trong chuỗi
cung ứng sẽ chịu thiệt hại nặng nề đối với sự cạnh tranh không lành mạnh trên
16
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG, MỨC
ĐỘ LIÊN KẾT VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC TỔ CHỨC THAM GIA TRONG CHUỖI CUNG ỨNG THỦY SẢN TẠI
TỈNH BẾN TRE
Nội dung chương 4 sẽ tập trung vào phân tích sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ liên kết giữa các tổ chức tham gia vào chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre và kết quả kinh doanh của các tổ chức tham gia chuỗi Phần đầu sẽ kiểm tra sự tác động của các yếu tố lên liên kết và kết quả kinh doanh của các tổ chức tham gia chuỗi cung ứng, bao gồm: rủi ro trong chuỗi cung ứng và chiến lược kinh doanh Phần tiếp theo sẽ kiểm định sự tác động của văn hóa tổ chức lên mối quan hệ giữa rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng Cuối cùng là kiểm định ANOVA đối với các biến kiểm soát (các công đoạn trong chuỗi cung, loại hình và qui mô của các tổ chức tham gia chuỗi cung ứng) Quy trình để phân tích các nội dung trên gồm các bước sau: Bước đầu tiên sẽ đánh giá đặc điểm của mẫu điều tra và dạng phân phối của các biến quan sát dựa trên mẫu điều tra Tiếp theo là các kiểm định về giá trị và độ tin cậy được thực hiện Các giả thiết sẽ được kiểm định bằng phương pháp cấu trúc tuyến tính SEM Cuối cùng là các kiểm định về sự khác biệt giữa các nhóm dựa trên kỹ thuật phân tích ANOVA
Kiểm định dạng phân phối của dữ liệu
Giá trị biến thiên của các thang đo từ giá trị thấp nhất (Min) đến giá trị cao nhất (Max) trong khoảng từ 1 đến 7 Giá trị trung bình của các giá trị này xoay xung quanh điểm 3.5 Giá trị tuyệt đối của hai thống kê Skewness và Kutosis tương ứng đều nhỏ hơn 3 và 5 Do vậy, có thể kết luận là phân phối của các thang đo có dạng gần với phân phối chuẩn, đáp ứng yêu cầu đối với các phân tích tiếp theo
Phân tích nhân tố các biến nghiên cứu
Phần này tập trung vào phân tích nhân tố Các nhóm nhân tố được phân tích bao gồm: các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến liên kết giữa các tổ chức trong chuỗi cung ứng, mức độ liên kết, kết quả kinh doanh và văn hóa tổ chức Kết quả cho
Trang 917 thấy hầu hết các biến quan sát đều hội tụ về nhân tố theo như lý thuyết
Phân tích độ tin cậy các nhân tố
Độ tin cậy của các thang đo được xác định bằng Cronbach’s Alpha Kết
quả từ nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả các biến đều có hệ số Cronbach’s Alpha lớn
hơn 0.7 và các hệ số tương quan biến-tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total
Correlation) đều lớn hơn 0.3 Do vậy, có thể kết luận là các thang đo của các
nhân tố có độ tin cậy cao
Kiểm định giả thiết
Phần này kiểm định các giả thuyết đã đề xuất trong Chương 1 Cụ thể là kiểm
định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ liên kết giữa các thành viên trong chuỗi
cung ứng thủy sản tại tỉnh Bến Tre và kết quả của việc tham gia liên kết Phương
pháp phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để kiểm định các mô hình
và mối quan hệ giữa các biến
Tổng hợp kết quả nghiên cứu
Bảng Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết
Giả thiết H1: Liên kết với nhà cung ứng có ảnh hưởng tích
cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Chấp nhập
Giả thiết H2: Liên kết với khách hàng có ảnh hưởng tích cực
đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Chấp nhận
Giả thiết H3: Rủi ro từ
nguồn cung có mối
quan hệ ngược chiều
với
(a) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng
Chấp nhập
(b) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng
Không chấp nhận
Giả thiết H4: Rủi ro từ
thị trường có mối quan
hệ ngược chiều với
(a) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng
Chấp nhập
(b) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng
Chấp nhập
Giả thiết H5: Rủi ro từ
nguồn thông tin có mối
(a) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng
Chấp nhập
18 quan hệ ngược chiều
với
(b) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng
Không chấp nhận
Giả thiết H6: Rủi ro từ môi trường có mối quan
hệ ngược chiều với
a) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng
Không chấp nhận
(b) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng
Không chấp nhận
Giả thiết H7: Định hướng chiến lược chi phí thấp có mối quan hệ thuận chiều với
(a) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng
Chấp nhập
(b) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng
Chấp nhập
Giả thiết H8: Định hướng chiến lược khách hàng có mối quan hệ thuận chiều với
(a) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng
Không chấp nhận
(b) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng
Chấp nhập
Giả thiết H9: Sự kết hợp hiệu quả giữa định hướng chiến lược chi phí thấp và định hướng chiến lược khách hàng
có mối quan hệ thuận chiều với
(a) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung ứng
Chấp nhập
(b) mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với khách hàng
Không chấp nhận
Giả thiết H10: Văn hóa
tổ chức là biến điều tiết mối quan hệ giữa rủi ro
từ nguồn cung với mức
độ liên kết với nhà cung ứng Điều này hàm ý
(a) doanh nghiệp có văn hóa hướng đến sự linh hoạt thì sự tác động của rủi ro từ nguồn cung lên mức độ liên kết với các nhà cung ứng chính
sẽ thấp hơn so với các doanh nghiệp có văn hóa kém linh hoạt
Chấp nhập (tác động toàn phần)
(b) Tương tự, doanh nghiệp có văn Chấp nhập (tác
Trang 1019 hóa hướng ngoại thì sẽ làm giảm mức độ tác động của rủi ro từ nguồn cung lên mức độ liên kết với nhà cung ứng chính so với các doanh nghiệp có văn hóa hướng nội
động toàn phần)
Giả thiết H11: Văn hóa
tổ chức là biến điều tiết
mối quan hệ giữa rủi ro
từ thị trường với mức
độ liên kết với khách
hàng Điều này hàm ý
(a) doanh nghiệp có văn hóa hướng đến sự linh hoạt thì sự tác động của rủi ro từ thị trường lên mức độ liên kết với khách hàng sẽ thấp hơn so với các doanh nghiệp có văn hóa kém linh hoạt
Chấp nhập (tác động bán phần)
(b) Tương tự, doanh nghiệp có văn hóa hướng ngoại thì sẽ làm giảm mức độ tác động của rủi ro từ thị trường lên mức độ liên kết với khách hàng so với các doanh nghiệp có văn hóa hướng nội
Chấp nhập (tác động bán phần)
20
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH LIÊN KẾT
CHUỖI CUNG ỨNG THỦY SẢN TỈNH BẾN TRE
Chương 5 sẽ tập trung đánh giá và phân tích các kết quả của nghiên cứu này
so với các nghiên cứu đã thực hiện Phần tiếp theo sẽ đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh sự liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng thủy sản tỉnh Bến Tre
Mối quan hệ giữa rủi ro, liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh
Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến rủi ro trong chuỗi cung ứng có ảnh hưởng đến liên kết chuỗi cung ứng, bao gồm các rủi ro từ nguồn cung ứng và rủi
ro từ thị trường, rủi ro từ nguồn thông tin Cụ thể, rủi ro từ nguồn cung ứng có quan hệ ngược chiều với liên kết với nhà cung ứng Điều này thống nhất với quan điểm với các nghiên cứu đã thực hiện (Frohlich, 2002; Zsidisin, 2003; Zhao và cộng sự, 2013) nhưng nó trái ngược với lý thuyết về mối quan hệ giữa môi trường
và tổ chức Trong khi lý thuyết này cho rằng: môi trường càng bất ổn định thì doanh nghiệp càng có nhu cầu tăng cường liên kết với nhau nhằm hạn chế sự bất
ổn đó Kết quả của nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng rủi ro từ nguồn cung ứng không có tác động đến liên kết với khách hàng Điều này trái ngược với các kết quả nghiên cứu trước (Frohlich, 2002; Zsidisin, 2003; Zhao và cộng sự, 2013) Rủi
ro từ thị trường có tác động đến các hình thức liên kết với cả khách hàng và với nhà cung ứng Điều này phù hợp với các nghiên cứu đã thực hiện của Jaffee và cộng sự (2010) Rủi ro từ nguồn thông tin chỉ có tác động đến mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp với các nhà cung ứng (Christopher và Lee, 2004) Tuy nhiên, rủi ro này không có ảnh hưởng đến sự liên kết với khách hàng, trái ngược với kết quả các nghiên cứu của Lee và cộng sự (1997) Ngoài ra, rủi ro từ môi trường đem lại kết quả khá ngạc nhiên khi không có sự tác động nào đến liên kết chuỗi cung ứng Kết quả này hoàn toàn đi ngược lại với các kết quả nghiên cứu trước đây (Khan và Burnes, 2007) Cuối cùng, liên kết chuỗi cung ứng đến lượt nó
có tác động tích cực đến kết quả kinh doanh Kết quả trong tình huống nghiên cứu này cũng thống nhất với các nghiên cứu trước đây khi cho rằng các hình thức liên kết với các nhà cung ứng và với khách hàng đều ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh (Rosenzweig và cộng sự, 2003; Paulraj và Chen, 2007; Li và cộng sự,